Chính khí ca

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

  正氣歌       天地有正氣雜然賦流形下則爲河嶽,上則為日星。於人曰浩然,沛乎塞蒼冥,皇路當清夷,含和吐明廷。時窮節乃見,一一垂丹青,在齊太史簡,在晋董孤筆,在秦張良椎,在漢蘇武節,爲嚴將軍頭,爲嵇侍中血。爲張睢陽齒,爲顏常山舌。或爲遼東帽,清操厲冰雪,或爲出師表,鬼神泣壯烈,或爲渡江楫,慷慨吞胡羯。或爲擊賊笏,逆竪頭破裂。是氣所磅礴,凛烈萬古存。當其貫日月,生死安足論。地維頼以立,天柱頼以尊。三綱實繫命,道義爲之根,嗟予遘陽九,隷也實不力。楚囚纓其冠,傳車送窮北。鼎鑊甘如飴,求之不可得。陰房閴鬼火,春院閟天黑,牛驥同一皁,鷄栖鳳凰食。一朝蒙霧露,分作溝中瘠,如此再寒暑,百沴自辟易。哀哉沮洳塲,爲我安樂國。豈有他謬巧,陰陽不能賊。顧此耿耿在,仰視浮雲白。悠悠我心憂,蒼天曷有極,哲人日已遠,典刑在宿昔,風簷展書讀,古道照顏色,

CHÁNH KHÍ CA

Thiên địa hửu chánh khí, tạp nhiên phú lưu hình; hạ tăc vi hà nhạc, thượng tăc vi nhựt tinh; ư nhơn viêt hạo nhiên, phái hồ tăc thương minh; hoàng lộ đương thanh dy, hàm hòa thổ minh đình; thời cùng tiêt nải hiện, nhưt nhưt thùy đơn thanh.— Tại Tề Thái-sử giản, tại Tấn Đổng-hồ but; tại Tần Trương-lương chùy, tại Hán Tô-vỏ tiêt; vi Nghiêm tướng-quân đầu, vi Kê thị-lang huyêt; vi Trương Thơ-dương xỉ, vi Nhan Thường-sơn thiệt; hoặc vi Liêu-đông mạo, thanh tháo lệ băng tuyêt; hoặc vi xuât sư biểu, quỉ thần khâp tráng liệc; hoặc vi độ giang tiệp, khản khái thân Hồ-yếc; hoặc vi kich tặc hôt, nghịch thụ đầu phá liệc. — Thị khí sở bàn bạc, lẩm liệc vạn cổ tồn; đương kỳ quán nhựt nguyệt, sanh tử yên tuc lôn; địa duy lại dỉ lập, thiên trụ lại dỉ tôn; tam cang thiệt hệ mạng, đạo nghỉa vị chi căn.— Ta dư cấu dương cửu, lệ dá thiệt bât lực; sở tù anh kỳ quan, truyến xa tông cùng băc; đảnh hoạch cam như di, cầu chi bât khả đăc; âm phòng xú quỉ hoả, xuân viện bí thiên hăc; ngưu ký đồng nhứt tạo; kê tế phụng hoàng thực; nhứt triêu mông vụ lộ, phận tac câu trung tich; như thử tái hàng thử, bá điển tự tịch dịch; ai tai thơ nhự trường, vi ngả an lạc quâc; khởi hửu tha mậu xảo, âm dương bât năng tặc; cố thử cảnh cảnh tại; ngưởn thị phù vân bạch; du du ngả tâm ưu, thương thiên hạt hửu cực; triêt nhân nhựt dỉ viển, điển hình tại tuc tich; phong thiềm triển thơ độc, cổ đạo chiếu nhan săc.

Khí trời chánh, khí đất tinh, xen làm cho vật nên hình nên thân;
Dưới thì sông tỏa núi phân, trên thì nhựt nguyệt tinh thần bủa dăn;
Nơi người khí lớn không ngằn, phới đầy ra đẩy lấp vầng mờ xanh;
Đường to đương lặng đương bình, ngậm hòa phun chốn triều đình thảnh thơi;
Thuở cùng bèn rỏ nêt người, thảy đều chep để rạng ngời sử kinh;
Tại Tề Thái-sử thẻ xanh, Đổng-hồ tại Tấn củng rành but son;
Tại Tần dùi săt Trương-lương, Hán thời Tô-vỏ giử thường tiêt mao;
Đầu ông Nghiêm-tướng chi nao, máu ông Kê-thiệu thấm vào áo vua;
Thơ-dương liều that mắng đùa, lưởi ông Nhan-cảo chẳng lùa cùng ai;
Đội mủ đen, mặc áo gai, Liêu-đông ngợi nêt khen tài Quản-ninh;
Hoặc là lời biểu Khổng-minh, quỉ hung nơp sợ, thần linh phò trì;
Hoặc chèo gỏ giửa sông thề, gồm thâu Hồ-yêc đam về Trung-nguyên;
Hoặc là vụt hôt đánh lên, quơ ngang dọc tráng, gạt xiên xẹo đầu;
Ấy là khí khái làu làu, cho hay lừn lẩy bao lâu củng còn;
Dương chen nhựt rạng nguyệt tròn, sống đâu có tưởng, that dường chẳng lo;
Đât diềng nhờ lấy lập cho, cột trời nhờ lấy cao so chi tày;
Ba diềng thiệt mạng buột ngay, trong đàng đạo nghỉa gôc nầy là chung;
Gặp hồi Tống mạt thảm hung, tôi ngây không sưc, tớ khùn hêt phương;
Sở tù cột dải mảo trung, cho xe đưa tới băc cùng thảm thương;
Đảnh đồng vạc săt tợ đường, cầu không hay đặng, nào tường bởi ai;
Phòng mờ êm lửa ma trơi, viện xuân đóng bit ngở trời tối luôn;
Ngựa trâu cầm nhôt một chuồng, gà ăn đậu chổ phụng hoàng vì ai;
Chịu mưa chịu moc một mai, phận đành gầy ốm that nơi rạch ngòi;
Như vầy hai nắng lạnh rồi, khí hung trăm giống đổi dời mình chăng;
Thương thay bùn lấm một trường, làm cho ta tưởng nươc bằng an vui;
Có đâu khéo tới dối lui, tại âm dương chẳng đặng xui hại người;
Nhìn đây rở rở còn hoài, ngươc xem mây trắng dăn bài trên không;
Ta lo thảm thảm trong lòng, trời xanh sao có quanh vòng vẩn xa;
Người hay ngày đả cach ta, song le phep tăc ghi là từ xưa;
Gió thềm đọc sach đong đưa, gương xưa dọi mặt, đạo xưa soi lòng.
Copyright.svg PD-icon.svgTác phẩm này là một bản dịch và có thông tin cấp phép khác so với bản quyền của nội dung gốc.
Bản gốc:

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1925, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.

 
Bản dịch:

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1925, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.