Hiệp ước Harmand

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hiệp ước Harmand  (1883) 
Hiệp ước Harmand được ký kết vào ngày 25 tháng 8 năm 1883 tại kinh đô Huế giữa đại diện của Pháp là Harmand - Tổng ủy, đại diện ngoại giao cho nước Cộng hòa Pháp và đại điện của triều Nguyễn là Trần Đình Túc - Hiệp biện Đại học sĩ (Trưởng đoàn), Nguyễn Trọng Hợp - Thượng thư bộ lại (Phó đoàn). Hiệp ước có tất cả 27 điều khoản với nội dung chính là xác lập quyền bảo hộ lâu dài của Pháp trên toàn bộ Việt Nam. Hiệp ước này chính thức đánh dấu thời kỳ, 1883-1945, toàn bộ Việt Nam trở thành thuộc địa của Thực dân Pháp (thời Pháp thuộc).


Giữa những người kí tên sau đây:

Một bên là J. Harmand, tổng ủy, (đại diện ngoại giao cho nước Cộng hòa Pháp), nhân danh nước Pháp;

Một bên là hiệp biện đại học sĩ Trần Đình Túc (trưởng đoàn ngoại giao) và Lại bộ thượng thư Nguyễn Trọng Hợp (phó đoàn), nhân danh triều đình vương quốc Đại Nam;

Đã cùng nhau thỏa thuận như sau:

  • + Điều khoản I: Nước Nam thừa nhận và chịu sự bảo hộ của nước Pháp trong các mối quan hệ về phương diện pháp luật, ngoại giao châu Âu, nghĩa là nước Pháp sẽ chủ trì mọi việc giao thiệp của nước Nam với tất cả các nước khác, bao gồm cả nước Tàu. Triều đình nước Nam sẽ chỉ giao thiệp về ngoại giao với các nước nói trên qua sự môi giới của nước Pháp mà thôi.
  • + Điều khoản II: Tỉnh Bình Thuận sáp nhập vào xứ Nam Kì của Pháp.
  • + Điều khoản III: Một đội binh Pháp chiếm đóng thường xuyên dãy núi đèo Ngang từ dãy núi này chạy ra đến mũi đất Vũng Chùa; binh Pháp cũng đóng các đồn Thuận An và các đồn ở cửa sông Huế. Các đồn này sẽ được xây dựng lại tùy theo ý muốn cuả các nhà cầm quyền Pháp.
  • + Điều khoản IV: Triều đình nước Nam sẽ gọi về ngay các đạo quân đã phái ra Bắc Kì để thực thi hòa bình.
  • + Điều khoản V: Triều đình nước Nam sẽ ra lệnh cho quan lại ở Bắc Kì trở lại lị sở, bổ nhiệm các quan lại mới để điền vào những nơi khuyết, và sẽ lâm thời công nhận những sự bổ nhiệm của nhà cầm quyền Pháp sau khi đã có sự thỏa hiệp của đôi bên.
  • + Điều khoản VI: Quan lại các tỉnh từ đường biên phía bắc tỉnh Bình Thuận ra đến đường biên Bắc Kì, lấy đèo Ngang làm giới hạn, sẽ tiếp tục do triều đình cai trị như xưa, không có bất cứ một sự kiểm soát nào của nước Pháp, trừ những công việc thuộc về thương chính hay công chính, và nói chung là những công việc cần có một sự chủ trương duy nhất và khả năng của các nhân viên kĩ thuật châu Âu.
  • + Điều khoản VII: Triều đình nước Nam sẽ tuyên bố mở cửa cho thương mại châu Âu, ngoài cửa biển Quy Nhơn, còn có các cửa biển Đà Nẵng và Xuân Đài (Phú Yên). Sau này, sẽ thảo luận xem có nên mở thêm các cửa biển khác nữa không, để có lợi cho cả hai nước; và cũng sẽ định giới hạn cho các khu nhượng địa của Pháp ở những cửa biển đã mở. Nước Pháp sẽ đặt ở đấy những nhân viên dưới quyền trú sứ Pháp tại Huế.
  • + Điều khoản VIII: Nước Pháp có thể dựng một hải đăng ở mũi đất Varella hoặc ở mũi đất Padaran hay Poulo Cécir, tùy theo lời phúc bẩm của các sĩ quan và kĩ sư Pháp.
  • + Điều khoản IX: Sau khi đôi bên thỏa hiệp, và phí tổn chịu chung, chính phủ nước Nam sẽ tu sửa lại con đường lớn từ Hà Nội đến Sài Gòn, quản lí sao cho tốt để xe cộ đi lại được. Nước Pháp sẽ cung cấp những kĩ sư để phụ trách những công việc như cầu cống, đường hầm.
  • + Điều khoản X: Một đường dây điện báo sẽ đặt trên con đường lớn này, rồi do nhân viên của nước Pháp phụ trách. Một phần thuế thu được sẽ giao cho chính phủ nước Nam, vì đã nhượng đất đai để làm các trạm điện báo.
  • + Điều khoản XI: Ở Huế sẽ có một trú sứ là một vị quan cao cấp. Trú sứ không can thiệp vào những công việc nội trị của địa phương Huế, nhưng sẽ là người đại diện chính phủ bảo hộ, đặt dưới quyền kiểm tra của tổng ủy viên chính phủ Cộng hòa Pháp; vị này sẽ chủ trì những công việc ngoại giao của vương quốc An Nam, nhưng có thể sẽ ủy quyền toàn bộ hoặc một phần quyền bính cho trú sứ ở Huế.
Trú sứ Pháp tại Huế sẽ được quyền một mình vào diện kiến vua nước Nam, nhà vua không thể từ chối không tiếp, nếu không có lí do chính đáng.
  • + Điều khoản XII: Ở Bắc Kì sẽ có một trú sứ ở Hà Nội, một ở Hải Phòng, một ở các thành phố duyên hải sẽ được thiết lập sau, và một tại tỉnh lị mỗi tỉnh lớn. Ngay sau khi thấy có nhu cầu tại các tỉnh lị ở các tỉnh nhỏ, cũng sẽ đặt những viên chức người Pháp thuộc quyền quan trú sứ tỉnh lớn, mà tỉnh nhỏ ấy phụ thuộc theo khu vực hành chính trong xứ.
  • + Điều khoản XIII: Các quan trú sứ hoặc phó sứ sẽ có những người giúp việc và những người cộng tác cần thiết và được bảo vệ bởi một toán lính Pháp hoặc bản xứ đủ cho họ được tuyệt đối an toàn.
  • + Điều khoản XIV: Các quan trú sứ sẽ tránh không can thiệp sâu vào công việc nội trị các tỉnh. Các quan lại bản xứ sẽ tiếp tục cai trị và điều hành dưới quyền kiểm soát các quan trú sứ, nhưng họ sẽ có thể bị thay thế bởi người khác theo yêu cầu của các nhà cầm quyền Pháp nếu họ tỏ ra có điều không tốt với quan Pháp.
  • + Điều khoản XV: Các quan lại, viên chức Pháp thuộc các công sở như bưu điện, công khố, thương chính, công chính, giáo dục Pháp, nếu có tư trình gì với nhà cầm quyền nước Nam thì sẽ chỉ do các quan trú sứ chuyển đạt.
  • + Điều khoản XVI: Các quan trú sứ xét xử các án kiện về dân sự và thương mại của người châu Âu tranh chấp với người bản xứ, của người bản xứ tranh chấp với người các nước châu Á muốn hưởng sự bảo hộ của người Pháp. Nếu không đồng ý với các án xử của các quan trú sứ thì khiếu nại ở Sài Gòn.
  • + Điều khoản XVII: Các viên trú sứ sẽ kiểm soát việc trị an ở các đô thị, và quyền kiểm soát của họ đối với các quan chức bản xứ sẽ mở rộng ra theo sự phát triển của các đô thị đó.
  • + Điều khoản XVIII: Các viên trú sứ với sự giúp đỡ của quan bố chánh, sẽ tập trung trong tay việc thuế má mà họ kiểm soát việc thu chi.
  • + Điều khoản XIX: Việc thương chính được sắp đặt lại sẽ được hoàn toàn giao cho các quan cai trị Pháp. Chỉ có các trạm thuế cửa biển và đường biên giới sẽ được đặt khắp các nơi cần thiết. Về ngạch thương chính do các quan binh ở Bắc Kì đặt ra thì không được kêu nài gì cả.
  • + Điều khoản XX: Công dân hay dân thuộc quốc tịch Pháp sẽ được hưởng tự do hoàn toàn về nhân thân và tài sản của họ trong toàn xứ Bắc Kì và tại các cửa biển khai thương ở Trung Kì. Ở Bắc Kì và trong giới hạn các cửa biển khai thương ở xứ Trung Kì, họ sẽ có thể tự do đi lại, cư trú và sở hữu tài sản. Tất cả những người ngoại quốc xin được hưởng sự bảo hộ của Pháp thường xuyên hoặc tạm thời cũng sẽ được như vậy.
  • + Điều khoản XXI: Những người vì mục đích khoa học hay vì mục đích nào khác mà muốn đi du lịch trong nước Nam sẽ chỉ được phép qua môi giới của trú sứ Pháp ở Huế, Pháp súy ở Nam Kì hay là tổng ủy viên chính phủ Pháp ở Bắc Kì. Các vị này sẽ cấp cho họ những giấy thông hành, rồi họ trình triều đình An Nam phê chiểu.
  • + Điều khoản XXII: Nước Pháp sẽ đóng những đồn binh dọc theo sông Hồng khi xét thấy sự đề phòng đó là cần thiết để bảo đảm cho sự tự do giao thông trên sông. Nước Pháp cũng sẽ có thể lập những đồn binh vĩnh viễn ở khắp những nơi mà xét thấy có lợi.
  • + Điều khoản XXIII: Từ nay về sau, nước Pháp cam đoan bảo đảm sự vẹn toàn của các xứ của nhà vua An Nam, bảo vệ nhà vua chống lại mọi cuộc ngoại xâm từ bên ngoài, hay các cuộc nội loạn và ủng hộ những yêu sách chính đáng của ngài với người nước ngoài.
Nước Pháp một mình cam đoan đánh đuổi ra khỏi Bắc Kì những đội quân được biết tới dưới cái tên “Quân Cờ đen” và bảo đảm bằng những phương sách của mình sự trị an và tự do buôn bán trên sông Hồng.
Vua nước Nam sẽ tiếp tục cai trị các xứ của mình như trước, trừ những điều hạn chế do hiệp ước này quy định.
  • + Điều khoản XXIV: Nước Pháp sẽ cung cấp cho vua nước Nam tất cả những người huấn luyện, kĩ sư, bác học, sĩ quan v.v… mà nhà vua sẽ cần dùng.
  • + Điều khoản XXV: Nước Pháp sẽ coi mọi người An Nam, ở mọi nơi, ở trong cũng như ở ngoài nước, như những người được bảo hộ đích thực của mình.
  • + Điều khoản XXVI: Những món nợ hiện nay của nước Nam đối với nước Pháp sẽ được coi như đã thanh toán, do việc cắt nhượng tỉnh Bình Thuận.
  • + Điều khoản XXVII: Sẽ có những cuộc bàn bạc để quyết định số tiền giao cho triều đình nước Nam trong số quan thuế cước phí điện tín v.v… trong nước, số quan thuế ở Bắc Kì và thuế vế các cuộc chuyên mại độc quyền, như cơ sở kĩ nghệ sẽ được phép lập ở Bắc Kì. Món tiền trích giao ở số thuế thu đó không được dưới hai triệu quan tiền Pháp.

Đồng bạc Mễ Tây Cơ và các tiền tệ bằng bạc của xứ Nam Kì thuộc Pháp sẽ cùng với các tiền tệ của nước Nam đồng thời cưỡng bách lưu hành trên khắp vương quốc.

Bản hiệp ước này sẽ được trình lên giám quốc nước Pháp cộng hòa và đức hoàng đế nước Nam chuẩn y. Việc xác nhận và hỗ giao sẽ được trao đổi càng sớm càng tốt. Nước Pháp và nước Nam bổ nhiệm các vị đại diện ngoại giao, sẽ họp tại Huế để xem xét và định ra mọi chi tiết. Các vị đại diện ngoại giao đó sẽ nghiên cứu trong một cuộc họp chế độ thương mại có lợi nhất cho hai nước, cũng như quy chế quan thuế lấy điều khoản XIX trên đây làm căn bản, và những vấn đề thuộc về độc quyền ở Bắc Kì, về các nhượng địa để khai mỏ, về chuyên chở tàu thuyền, về ruộng muối và các ngành công nghiệp.

Hòa ước này được kí kết vào ngày hai mươi ba (23), tháng bảy (07), năm Tự Đức thứ ba mươi sáu (36), Quý Mùi (25-08-1883).