Hoàng tộc lược biên/Cách lựa tên của các vị Chúa và các vị Vua
Giao diện
Cách lựa tên của các vị Chúa và các vị Vua
Tên các vị vua Tiền Triều đều dùng bộ Thủy (水), từ đời đức Thế-Tôn-Hiếu-Võ Hoàng-Đế dùng cả bộ Nhật (日) và bộ Thủy (水), và Triều Gia-Long trở về sau mới chuyên dùng bộ Nhật (日).
Năm 1823, vua Minh-Mạng có lựa sẵn hai mươi chữ (toàn bộ Nhật) để đặt tên cho các vị vua kế-thống sau nầy.
Ngài lại làm một bài thơ « Ngự Chế Mạng Danh Thi » gồm có 20 bộ, các triều vua sau cứ noi theo thế thứ mà đặt tên các Hoàng-Tử:
| MIÊN | NHƠN | KỲ | SƠN | NGỌC |
| 宀 | 亻 | 示 | 山 | 玉 |
| PHỤ | NHƠN | NGÔN | TÀI | HÒA |
| 阜 | 亻 | 言 | 才 | 禾 |
| BỐI | LỰC | TÀI | NGÔN | TÂM |
| 貝 | 力 | 才 | 言 | 心 |
| NGỌC | THẠCH | HỎA | HÒA | TIỂU |
| 玉 | 石 | 火 | 禾 | 小 |
Tên các vị Hoàng-Tử con vua Minh-Mạng đều dùng bộ Miên (宀), còn vua Thiệu-Trị bộ Nhơn (亻), đến đức Đông-Cung Hoàng Thái-Tử Bảo-Long là bộ Phụ (阜) (bộ thứ sáu của bài ấy).