Lĩnh Nam chích quái/Truyện rùa vàng

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Sau khi An Dương Vương diệt nước Văn Lang, cải hiệu là Âu Lạc liền cho đắp thành ở đất Việt Thường; thành cứ đắp xong lại sập. Nhà vua rất lo lắng mới lập đàn, trai giới cầu đảo liền ba tháng thì một hôm bỗng thấy một ông già theo phương tây mà đến thẳng cửa thành, vừa đi vừa than rằng:

- Xây đắp thành này thì bao giờ cho xong!

Nhà vua nghe thế vội rước vào trên điện, lạy và khóc rằng:

- Ta đắp thành này đã xong lại đổ, hao tổn công sức mà rồi không thành là tại làm sao?

Ông già thưa:

- Ngày nào có sứ giả Thanh Giang cùng đắp với Vương thì thành ấy mới xong. Nói đoạn cáo từ.

Rạng ngày, nhà vua đứng ở cửa Đông trông ra thì thấy một con rùa vàng theo hướng Đông mà bơi lại. Rùa đứng trên mặt nước, nói được tiếng người, tự xưng là Thanh Giang sứ giả, biết rõ lẽ trời đất, âm dương, quỷ thần. Vua mừng, hỏi vì cớ gì mà thành không đắp được. Kim Quy nói:

- Đó là do tinh khí núi sông vùng này bị con vua trước phụ vào để báo thù nước, nấp ở núi Thất Diệu. Trong núi có con quỷ, đó là người con hát thời trước chôn ở đấy hóa làm quỷ. Cạnh núi có cái quán, chủ quán tên là Ngộ Không, có một đứa con gái và một con gà trắng, đó là dư khí của tinh, phàm người qua lại ngủ đêm ở đấy đều phải chết vì bị quỷ làm hại. Chúng có thể gọi nhau họp đàn lũ, làm cho sụp thành. Bây giờ ta nên bắt con gà trắng và đứa con gái của chủ quán mà giết đi thì tinh quái sẽ hết. Nhưng chắc là nó lại hóa ra yêu thư, sai chim cú ngậm thư bay lên trên cây, để tâu với Thượng Đế để xin phá thành ấy đi. Thần này xin cắn cho rơi cái thư ấy xuống, Vương lập tức thu lấy thì thành đắp mới xong.

Vua nghe lời liền đem rùa vàng đến quán ấy, giả làm người ngủ trọ. Chủ quán nói:

- Quán này có yêu tinh, đêm thường giết người. Ngài là quý nhân không nên ở lại, vả nay trời cũng chưa tối, nên đi mau đến chỗ khác để tránh họa

Vua cười nói:

- Sống chết có mệnh, ma quỷ làm gì nổi ? Nói xong rồi ngủ lại quán.

Trong đêm có quỷ tinh đến ngoài kêu rằng:

- Ai ở trong nhà này phải mở cửa ra mau.

Kim Quy mắng rằng:

- Cửa đóng thì mày làm gì nào?

Quỷ tinh biến ra vạn trạng, quỷ dị hình hài để khủng bố nhưng rốt cuộc cũng chẳng vào được nhà. Đến lúc gà gáy, các quỷ đều chạy tan, Kim Quy bảo nhà vua đuổi theo đến núi Thất Diệu thì quỉ tinh biến mất. Nhà vua liền trở lại quán trọ. Sáng ngày, chủ quán đem người đến để chôn thi thể của khách ngủ lại hôm qua, thấy nhà vua vẫn ngồi đó, nói cười như không có gì cả. Chủ quán chủ bước đến, vái lạy rằng:

- Quí nhân đúng là thánh nhân rồi, xin ban linh thuật để cứu sinh linh.

Nhà vua liền bảo:

- Hãy giết con gà trắng của ngài mà tế thì quỷ thần tan hết.

Chủ quán nghe lời liền mang con gà trắng ra làm thịt, đứa con gái tự nhiên cũng nhào xuống chết. Nhà vua lập tức bảo người đào núi Thất Diệu, được một nhạc khí đời cổ và một hài cốt, sai đốt trộn thành tro mà quăng ra sông. Lúc bấy giờ trời đã gần chiều, nhà vua cùng Rùa Vàng leo lên núi Việt Thường, quỷ tinh đã hóa ra chim ngậm 1 lá thư bay lên cây. Rùa Vàng bèn hóa ra một con chuột mà bò theo sau lưng cắn chân chim; thư rơi xuống đất; Vương lập tức thu lấy. Từ đó, quỷ tinh tan hết, không lại phá phách như xưa nữa. An Dương Vương đắp thành nửa tháng đã xong. Thành dài và rộng nghìn trượng, xoáy tròn như hình con ốc.

Kim Quy ở lại với Vương ba năm rồi cáo từ ra về. Vua cảm tạ, hỏi rằng:

- Đội ơn ngài thành đắp đã vững, nếu có giặc ngoài đến, thì lấy gì mà chống giữ ?

Rùa vàng bèn rút chiếc móng trao cho vua và nói:

- Nước nhà yên hay nguy đều do số trời, nếu có giặc đến thì dùng móng thiêng này làm lẫy nỏ, nhằm vào giặc mà bắn thì không phải lo gì. Nói rồi liề trở về Đông Hải.

Vua sai bề tôi là Cao Lỗ làm nỏ thần, lấy móng rùa làm lẫy, đặt tên là Linh Quang Kim Trảo Thần Nỏ.

Sau Triệu Đà đem quân đến xâm lăng. An Dương Vương sai lính dùng thần nỏ mà bắn, quân Triệu Đà thua chạy, đóng đồn ở núi Trâu Sơn, đối diện vởi quân Âu Lac. Triệu Đà biết nhà vua có nỏ thần nên không dám tái chiến mới khiến sứ thỉnh hòa. An Dương Vương mừng, cắt từ sông Tiểu Giang trở về phương Bắc cho Triệu Đà cai trị, trở về phương Nam thì do nhà vua cai trị (nay là sông Nguyệt Đức).