Bước tới nội dung

Luận ngữ (Dương Bá Trạc dịch)/Quyển trên/Loại thứ I

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Luận ngữ của Khổng Tử, do Dương Bá Trạc dịch
Loại thứ I. Nói về vệ sinh

LUẬN-NGỮ

DỊCH-BẢN

Loại thứ I

Nói về vệ sinh

1. Đương thử chẩn hy khích tất biểu nhi xuất chi. Tiết cừu trường, đoản hữu quệ. Tất hữu tẩm y trường nhất thân hữu bán. Hồ lạc chi hậu dĩ cư. Trai tất hữu minh y bố.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Hương-đảng tờ thứ 27).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử vệ-sinh về y-phục, cốt lấy sạch-sẽ thích thể làm chủ; đương khi nóng nực, ngoài mặc áo vải đơn mỏng, thì trong tất có áo lót thịt không ở trần, để giữ khỏi khi nắng cảm vào trong mình. Áo cừu mặc thường thì dài, mà tay áo bên hữu thì ngắn cho tiện làm việc. Khi nằm ngủ thì mặc áo dài một thân rưỡi cho kín mình để giữ phong hàn. Khi ở thường thì mặc áo cừu lông con Hồ-lạc dày để cho ấm. Khi ở chay (Lễ cổ trước ngày tế tự một vài hôm phải ở chay ăn chay) nhất định phải có áo vải mới mà sạch.

2. Thực bất yếm tinh; khoái bất yếm tế; tự ế nhi ải, ngư nỗi nhi nhục bại, bất thực; sắc ác bất thực; xú ác bất thực; thất nhẫm bất thực; bất thời bất thực; cát bất chính bất thực; bất đắc kỳ tương bất thực; nhục tuy đa bất sử thắng tự khí; duy tửu vô lượng bất cặp loạn; cô tửu thị bô bất thực; bất triệt khương thực; bất đa thực; tế ư công bất túc nhục; tế nhục bất xuất tam nhật, xuất tam nhật bất thực chi hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Thương-luận về thiên Hương-đảng tờ thứ 28)

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử vệ-sinh về sự ăn uống, cốt lấy sạch-sẽ thích thời làm chủ; ngài ăn cơm thì muốn gạo giã cho thật kỹ; ăn gỏi thì muốn cá thái cho thật nhỏ; cơm nát mà khê, cá ươn, thịt nát, hoặc là vật đã mất máu, hoặc là vật đã có mùi hôi, hoặc là thịt cá nấu còn sống hay rừ quá, hoặc là vật trái mùa thì ngài đều không ăn; vật gì cắt thái không được ngay-ngắn thì ngài không ăn; không kiếm được đủ đồ gia vị thì ngài không ăn; bữa ăn tuy có nhiều thịt nhưng vẫn ăn cơm nhiều hơn; uống rượu không có hạn lượng bao nhiêu, nhưng không khi nào đến say quá; rượu mua, nem mua, không được tinh sạch thì ngài không ăn; gừng trừ được uế-khí thì ngài ăn luôn không bao giờ triệt; ngài không từng ăn nhiều quá, chỉ ăn vừa phải thì thôi; khi ngài làm quan đi trợ-tế nơi công-miếu được thịt phần về thì phân phát hết ngay, không để cách đêm; khi tế gia-miếu có thịt tế thì trong hai ngày phân phát cho hết, không để ra quá ba ngày, nếu quá ba ngày thì bỏ đi mà không ăn nữa.

3. Khang-tử quĩ dược, bái nhi thụ chi, viết Khâu vị đạt, bất cảm thường.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho, quyển Thượng-luận về thiên Hương đảng, tờ thứ 28).

DỊCH NGHĨA — Ông Khang-tử là quan đại-phu nước Lỗ cho đức Khổng-tử thuốc; ngài lạy mà nhận lấy rồi nói thực rằng: Tôi không biết tính thuốc thế nào, không dám uống thử.

4. Tấn lôi phong liệt tất biến.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Hương đảng tờ thứ 29).

DỊCH NGHĨA. — Gặp lúc sấm dữ gió to là lúc khí trời biến thường dễ hay sinh bệnh, nên những lúc ấy ngài phải cẩn thận gìn giữ hơn lúc thường.

5. Tẩm bất thi; cư bất dung.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn quyển Thượng-luận về thiên Hương đảng tờ thứ 29).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử nằm không ruỗi thẳng tay chân ra như tử-thi, ở thường không trang sức làm dáng.

6. Trai tất biến thực; cư tất thiên tọa.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Hương-đảng tờ thứ 27.

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử khi ăn chay nhất định phải đổi cả các món ăn; ở chay nhất-định phải thay chỗ ngồi.