Bước tới nội dung

Luận ngữ (Dương Bá Trạc dịch)/Quyển trên/Loại thứ IV

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Luận ngữ của Khổng Tử, do Dương Bá Trạc dịch
Loại thứ IV. Nói về nhân nghĩa đạo đức

Loại thứ IV

Nói về nhân-nghĩa đạo-đức

85. Tử viết: Xảo ngôn lệnh sắc, tiển hĩ nhân.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Học-nhi tờ 1.)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: Kẻ nào nói khéo siểm nịnh, mặt khéo xu mị, hẳn là người ấy ít có lòng nhân vậy.

86. Tử viết: Lý nhân vi mỹ. Trạch bất xử nhân, yên đắc trí.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Lý-nhân tờ 8).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: Trong làng có thói nhân-hậu là làng tốt; không chọn được nơi có người nhân mà ở, sao gọi là khôn.

87. Tử viết: Bất nhân giả bất khả dĩ cửu xử ước, bất khả dĩ trường xử lạc. Nhân giả an nhân. Trí giả lợi nhân.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Lý-nhân tờ 8).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Người bất nhân gặp phải cảnh cùng-quẫn thì bất cố liêm sỉ mà làm càn, không có thể ở lâu được, gặp cảnh yên vui thì sinh ra kiêu xa mà thêm lỗi, cũng không có thể ở lâu được. Người nhân thì chỉ lấy làm nhân là yên; người trí thì chỉ lấy làm nhân là lợi: cảnh vui cảnh khổ đều không hề động lòng được người ta.

88. Tử viết: Duy nhân giả năng hiếu nhân năng ố nhân.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Lý-nhân tờ 8).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Chỉ có người nhân trong lòng công-chính, yêu người ghét người đều không sai lầm.

89. Tử viết: Cẩu chí ư nhân hĩ, vô ác dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Lý-nhân tờ 8)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Người thực hay có chí làm nhân, thì giữ được lương tâm, hẳn không đến làm việc ác vậy,

90. Tử viết: Phú dữ quí thị nhân chi sở dục dã; bất dĩ kỳ đạo đắc chi, bất xử dã. Bần dữ tiện thị nhân chi sở ố dã; bất dĩ kỳ đạo đắc chi bất khử dã Quân-tử khử nhân ô hồ thành danh Quân tử vô chung thực chi gian vi nhân, tháo thứ tất ư thị, điên bái tất ư thị.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Lý-nhân tờ 8)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Giàu với sang thì người ta ai cũng muốn; nhưng nếu không lấy đạo phải mà được giàu sang, thì người quân-tử cũng không cầu ở cái giầu sang ấy vậy. Nghèo với hèn thì người ta ai cũng ghét; nhưng nếu không lấy đạo phải mà khỏi được nghèo hèn, thì người quân-tử cũng không cần bỏ cái nghèo hèn ấy vậy. Người quân-tử nếu bỏ nhân thì sao cho thành danh được. Người quân tử không có một lúc trọn bữa ăn nào là làm trái điều nhân, dẫu lúc lật đật vội vàng cũng cứ ở nhân, dẫu lúc hiểm-nghèo gấp khúc cũng cứ ở nhân.

91. Tử viết: Ngã vị kiến hiếu nhân giả ố bất nhân giả; hiếu nhân giả vô dĩ thượng chi; ố bất nhân giả, kỳ vi nhân hĩ, bất sử bất nhân giả gia hồ kỳ thân. Hữu năng nhất nhật dụng kỳ lục ư nhân hĩ hồ, ngã vị kiến lực bất túc giả; cái hữu chi hĩ, ngã vị chi kiến dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Lý-nhân tờ 9)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Ta chưa thấy người nào thật yêu điều nhân ghét điều bất nhân. Này! Người thật yêu điều nhân thì chỉ lấy nhân làm quí, coi vật gì trong thiên-hạ cũng không hơn được nữa. Người thật ghét điều bất nhân, thì chủ ý làm nhân, không hề chịu để điều bất-nhân dây vào đến mình. Có ai thử trong một ngày hay cố dụng lực làm nhân không? Cố làm thì được, ta chưa thấy ai không đủ sức làm; hoặc-giả cũng có chăng? nhưng ta thì thật chưa từng thấy vậy.

92. Tử viết: Triêu văn đạo, tịch tử khả hĩ.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Lý-nhân tờ 9).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Sớm ngày được nghe đạo lý, thì trong lòng vui-sướng, dù đến tối có chết cũng không hối-hận gì.

93. Tử viết: Quân-tử chi ư thiên-hạ dã, vô thích dã, vô mịch dã, nghĩa chi dữ tị.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Lý-nhân tờ thứ 9).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Người quân-tử xử việc thiên-hạ không việc gì là cố ý làm, không việc gì là cố ý không làm, chỉ xem hợp nghĩa thì làm, không hợp nghĩa thì không làm.

94. Phàn-Trì vấn trí. Tử viết: Vụ dân chi nghĩa, kính quỉ thần nhi viễn chi, khả vị trí hĩ. — Vấn nhân. — Viết: Nhân giả tiên nan nhi hậu hoạch, khả vị nhân hĩ.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Ung-dã tờ 16).

DỊCH NGHĨA. — Ông Phàn-Trì hỏi thế nào là trí? Đức Khổng-tử đáp rằng: Chỉ chăm làm việc phải đối với người; còn quỉ thần thì kính mà xa ngài, đừng nên cầu khấn tiết độc, như thế đáng gọi là trí vậy. Ông Phàn-Trì lại hỏi thế nào là nhân? Đức Khổng-tử đáp rằng: Làm nhân trước phải cố sức những sự khó, sau sẽ cầu được thành công, như thế đáng gọi là nhân vậy.

95. Tử viết: Trí giả nhạo thủy; nhân giả nhạo sơn; trí giả động; nhân giả tĩnh; trí giả lạc; nhân giả thọ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Ung-dã tờ 16).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử nói: Người trí tính thông hoạt cũng giống như nước nên thường ưa nước; người nhân tính trọng hậu cũng giống như núi nên thường ưa núi; người trí thích động, người nhân thích tĩnh; người trí hoạt động nên vui luôn: người nhân trầm-tĩnh nên sống lâu.

96. Tể-Ngã vấn viết: Nhân giả, tuy cáo chi viết: Tỉnh hữu nhân yên. Kì tòng chi dã. Tử viết: Hà vi kỳ nhiên dã. Quân-tử khả thệ dã bất khả hãm dã, khả khi dã bất khả võng dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Ung-dã tờ 16).

DỊCH NGHĨA. — Ông Tể-Ngã hỏi rằng: Người có nhân thì tính hẳn thương người; dẫu có người báo rằng: dưới diếng có người sa xuống đấy; chắc cũng tin theo lời người ta nói mà xuống cứu hay sao? Đức Khổng-tử đáp rằng: Sao lại có ngu đến thế. Đã là người quân-tử thì tất minh lý, người ta bảo đi tới mà xem thực hư thế nào thì được, lừa cho xuống giếng để hãm hại mình thì không được, người ta đem chuyện có lý mà nói dối thì được, đem chuyện vô lý mà nói gạt thì không được.

97. Tử-Cống viết: Như hữu bác thí ư dân nhi năng tế chúng, hà như? Khả vị nhân hồ? Tử viết: Hà sự ư nhân, tất dã thánh hồ, Nghiêu Thuấn kỳ do bệnh chư. Phù nhân giả, kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân, năng cận thủ thí, khả vị nhân chi phương dã dĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Ung-dã tờ 16).

DỊCH NGHĨA. — Ông Tử-Cống hỏi rằng: Như có người gia ơn cho dân rất rộng mà giúp được người rất nhiều, thế nào? có đáng gọi là nhân hay không? Đức Khổng-tử đáp rằng: Như thế sao chỉ gọi là nhân, hẳn là bậc thánh mới có thể làm được, dẫu vua Nghiêu vua Thuấn cũng còn lấy thế làm khó thay. Này, người nhân mình muốn thành lập thì cũng giúp người cho thành lập, mình muốn thông đạt thì cũng giúp người cho thông đạt. Nay muốn làm nhân, chỉ nên gần lấy bụng mình ví với bụng người khác mà suy ta ra người, thế tức là cái phương-pháp làm nhân vậy.

98. Tử viết: Nhân viễn hồ tai? Ngã dục nhân tư nhân chí hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thuật-nhi tờ thứ 19).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dạy rằng: Nhân có xa gì đâu? Hễ ta muốn nhân thì nhân đến ngay vậy. Chỉ sợ mình không muốn làm nhân mà thôi.

99. Tử viết: Nhược thánh dữ nhân, tắc ngô khởi cảm, ức vi chi bất yếm, hối nhân bất quyện, tắc khả vị nhân nhĩ dĩ hĩ. Công-tây-Hoa viết: Chính duy đệ-tử bất năng học dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thuật-nhi tờ thứ 20),

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử nói: Như bậc thánh cùng bậc nhân thì ta đâu dám nhân, hoặc là biết ham hoc đạo thánh đạo nhân mà không chán, lấy đạo thánh đạo nhân dạy người mà không mỏi, thì gọi là được đến thế mà thôi. Ông Công-tây-Hoa (học-trò cao-đệ đức Khổng-tử) nói: Ấy chính chỗ đó là chỗ đệ-tử chúng ta không sao học kịp được thầy ta vậy.

100. Nhan-Uyên vấn nhân. Tử viết: Khắc kỷ phục lễ vi nhân. Nhất nhật khắc kỷ phục lễ, thiên-hạ qui nhân yên. Vi nhân do kỷ nhi do nhân hồ tai. Nhan-Uyên viết: Thỉnh vấn kỳ mục. Tử viết: Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động. Nhan-Uyên viết:: Hồi tuy bất mẫn. thỉnh sự tư ngữ hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Nhan-Uyên tờ thứ 5).

DỊCH NGHĨA. — Ông Nhan-Uyên hỏi làm nhân phải thế nào? Đức Khổng-tử đáp rằng: Bỏ tư-dục của mình đi, đem lẽ phải tự nhiên lại, ấy là cái việc làm nhân. Một ngày mà bỏ hết được tư-dục, giữ trọn được lẽ phải rồi, tức thì thiên-hạ đều khen ngợi mình là nhân. Làm nhân chỉ bởi sức mình mà có phải bởi sức người đâu. Ông Nhan-Uyên lại hỏi: Xin hỏi cái điều mục làm nhân thế nào? Đức Khổng-tử nói: Điều gì không phải lễ thì mắt đừng trông tới, điều gì không phải lễ thì tai đừng nghe tới, điều gì không phải lễ thì miệng đừng nói tới, điều gì không phải lễ thì mình đừng làm tới. Ông Nhan-Uyên nói; Hồi này tuy không minh mẫn, cũng xin cố giữ lời dạy ấy mà theo làm không dám sai.

101. Trọng-Cung vấn nhân. Tử viết: Xuất môn như kiến đại-tân; sử dân như thừa đại-tế; kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân; tại bang vô oán, tại gia vô oán. Trọng-Cung viết: Ung tuy bất mẫn, thỉnh sự tư ngữ hĩ.

(Xem trong bộ Tứ thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Nhan-Uyên tờ thứ 5).

DỊCH NGHĨA. — Ông Trọng-Cung (học-trò cao-đệ đức Khổng-tử) hỏi làm nhân phải thế nào? Đức Khổng-tử đáp rằng: Bước ra cửa một lúc nào cũng kính trọng như thấy người khách quí; sai khiến dân một việc gì cũng kính cẩn như thừa hành việc tế lớn; điều gì mình không muốn thì cũng suy ta ra người mà chớ ở với người ta những điều ấy; ở nước không ai oán giận mình, ở nhà cũng không ai oán giận mình. Ông Trọng-Cung nói: Ung (tên ông Trọng-Cung) này tuy không được minh-mẫn, cũng xin giữ lời ấy mà theo làm không dám sai.

102. Tư-mã-Ngưu vấn nhân. Tử viết: Nhân giả kỳ ngôn dã nhận. Viết: Kỳ ngôn dã nhận, tư vị chi nhân hĩ hồ? Tử viết: Vi chi nan, ngôn chi đắc vô nhận hồ?

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Nhan-Uyên tờ thứ 5).

DỊCH NGHĨA — Ông Tư-mã-Ngưu (học-trò đức Khổng-tử) hỏi làm nhân phải thế nào? Đức Khổng-tử đáp rằng: Người có nhân nói ra thường dè dặt không khinh suất. Ông Tư-mã-Ngưu lại hỏi: Chỉ dè dặt lời nói thế đã gọi là nhân dư? Đức Khổng-tử đáp rằng: Nói ra câu nào kỳ làm được câu ấy; làm rất khó thì nói không dè dặt được ư?

103. Phàn-Trì vấn nhân. Tử viết: Ái nhân. Vấn trí. Tử viết: Tri nhân. Phàn-Trì vị đạt. Tử viết: Cử trực thố chư uổng, năng sử uổng giả trực. Phàn-Trì thoái, kiến Tử-Hạ, viết: Hướng giả ngô kiến ư Phu-tử nhi vấn trí. Tử viết: Cử trực thố chư uổng, năng sử uổng giả trực. Hà vị dã? Tử-Hạ viết: Phú tai ngôn hồ! Thuấn hữu thiên-hạ, tuyển ư chúng cử Cao-Giao, bất nhân giả viễn hĩ. Thang hữu thiên-hạ, tuyển ư chúng cử Y-Doãn, bất nhân giả viễn hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Nhan-Uyên tờ thứ 8).

DỊCH NGHĨA — Ông Phàn-Trì hỏi thế nào là nhân? Đức Khổng-tử đáp rằng: Yêu người là nhân. Lại hỏi thế nào là trí? Đáp rằng: Biết người là trí. Ông Phàn-Trì chưa hiểu, có ý nghi yêu người với biết người ý-nghĩa khác nhau hẳn, vậy thì đạo nhân cùng đạo trí không tương thông được với nhau ư? Đức Khổng-tử lại bảo rằng: Cất người thẳng bỏ người cong, khiến được người cong hóa làm thẳng. Ông Phàn-Trì lui, đến ra mắt ông Tử-Ha nói chuyện lại rằng: Hôm trước hầu thầy m hỏi thế nào là trí. Thầy bảo rằng: Cất người thẳng bỏ người cong, khiến được người cong hóa làm thẳng, là ý nói làm sao? Ông Tử-Hạ bảo rằng: Thầy nói đạo trí mà gồm cả đạo nhân, ý thực là rộng thay! Xem như đời xưa vua Thuấn có thiên-hạ, kén ở trong chúng nhân mà cử dùng ông Cao-Giao, thời người bất-nhân hóa làm nhân, hình như kẻ bất nhân nó tránh xa vậy; vua Thang có thiên-hạ, kén ở trong chúng nhân mà cử dùng ông Y-Doãn, thời người bất nhan cũng hóa làm nhân, hình như kẻ bất-nhân nó tránh xa vậy. Thế là làm trí mà gồm được cả đạo làm nhân.

104. Phàn-Trì vấn nhân. Tử viết: Cư xử cung; chấp sự kính; dữ nhân trung; tuy chi di-địch, bất khả khí dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Tử-Lộ tờ 12).

DỊCH NGHĨA — Ông Phàn-Trì hỏi đạo làm nhân. Đức Khổng-tử đáp rằng: Ở thường thì cung, giữ việc thì kính; giao-thiệp với người thì hết lòng; cố làm ba điều ấy, dẫu đi đến rợ mọi cũng không nên bỏ vậy.

105. Tử viết: Cương nghị mộc nột cận nhận.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Tử-Lộ tờ 13).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: Cương-trực, kiên-nghị, chất phác, ít nói, có bốn đức tính tốt ấy là gần được bậc nhân vậy.

106. Tử viết: Hữu đức giả tất hữu ngôn, hữu ngôn giả bất tất hữu đức, Nhân giả tất hữu dũng; dũng giả bất tất hữu nhân.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ 13).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dạy rằng: Người có đức thời nghi-luận chính đại, hẳn có tài nói; người chỉ nói giỏi chưa chắc đã là có đức. Người có nhân thời chí khí cường-nghị, hẳn có dũng-lực; người chỉ mạnh tợn chưa chắc đã là có nhân.

107. Tử viết: Quân-tử nhi bất nhân giả hữu hĩ phù; vị hữu tiểu nhân nhi nhân giả dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ 14).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dạy rằng: Người quân-tử mà không cẩn tiểu-tiết, hoặc cũng có khi phạm điều bất nhân chăng; chưa có đứa tiểu-nhân nào mà có làm được điều nhân nào vậy.

108. Tử viết: Chí-sĩ nhân-nhân, vô cầu sinh dĩ hại nhân, hữu sát thân dĩ thành nhân.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ-Linh-công tờ 20).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dạy rằng: Kẻ sĩ có chí, người có nhân không chịu cầu tạm sống để hại mất nhân, có khi đành giết mình để thành tiếng nhân.

109. Tử-Cống vấn vi nhân. Tử viết: Công dục thiện kỳ sự, tất tiên lợi kỳ khí. Cư thị bang dã, sự kỳ đại-phu chi hiền giả, hữu kỳ sĩ chi nhân giả.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ-Linh-công tờ 20).

DỊCH NGHĨA — Ông Tử-Cống hỏi đạo làm nhân. Đức Khổng-tử đáp rằng: Kìa xem thợ muốn làm việc cho tốt, hẳn trước phải sắm đồ cho sắc rồi mới khéo được, cũng như mình muốn làm nhân, phải nhờ người giúp, Vậy ở trong nước này, nên chọn ai là quan đại-phu hiền thì thờ làm thầy, ai là người sĩ có nhân thì kết làm bạn, có thầy hay bạn tốt mới giúp mình làm nhân được.

110. Tử viết: Dân chi ư nhân dã, thậm ư thủy hỏa; thủy hỏa ngô kiến đạo nhi tử giả hĩ, vị kiến đạo nhân nhi tử giả dã.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ Linh-công tờ 22)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: Đạo nhân thiết dụng cho người ta kể còn hơn nước lửa; nước lửa còn có khi hại, làm nhân chỉ có lợi mà không có hại chút nào, ta thấy có người dẵm vào nước lửa mà chết, chưa thấy ai dẵm vào điều nhân mà chết bao giờ. Nhân chẳng là có ích cho người lắm dư?

111. Tử viết: Đương nhân bất nhượng ư sư.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ Linh-công tờ 22).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dạy rằng: Gặp điều nhân thì làm, dẫu đến thầy cũng không phải tốn-nhượng.

112. Tử-Trương vấn nhân ư Khổng-tử. Khổng-tử viết: Năng hành ngũ giả ư thiên hạ, vi nhân hĩ. Thỉnh vấn chi. Tử viết: Cung, khoan, tín, mẫn, huệ; cung tắc bất vũ; khoan tắc đắc chúng; tín tắc nhân nhiệm yên; mẫn tắc hữu công; huệ tắc túc dĩ sử nhân.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Dương-Hóa tờ 27).

DỊCH NGHĨA. — Ông Tử-Trương hỏi đức Khổng-tử làm nhân phải thế nào? Đức Khổng-tử đáp rằng: Làm được năm điều này, suy hành đến khắp cả thiên-hạ, thế là nhân vậy. Lại xin hỏi năm điều đó là những gì? Ngài đáp rằng: Cung để xử mình; khoan để đãi người; tín thực mà không nói dối: cần mẫn mà không làm biếng; có ơn huệ mà không biển lận; cung thì không ai dám khinh rể mình; khoan thì được lòng chúng; tín thực thì được người tin dụng; cần mẫn thì làm có công hiệu; có ơn huệ thì sai bảo người ta được.

113. Tử viết: Sâm hồ! Ngô đạo nhất dĩ quán chi. Tăng-tử viết: Dụy! Tử xuất. Môn nhân vấn viết: Hà vị dã? Tăng-tử viết: Phu-tử chi đạo, trung thứ nhi dĩ hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Lý-nhân tờ 9)

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử gọi ông Tăng-tử bảo rằng: Trò Sâm ơi! Đạo ta chỉ có một lẽ gốc để suốt cả muôn việc. Ông Tăng-tử lĩnh ý, bèn thưa rằng: dạ! Đức Khổng-tử đi ra khỏi rồi. Các học-trò hỏi ông Tăng-tử rằng: Lời ngài nói ý làm sao vậy? Ông Tăng-tử đáp rằng Cái đạo thầy ta chỉ có trung (làm việc gì hết lòng thành thực là trung) với thứ (suy bụng ta ở cho vừa bụng người là thứ) mà thôi.

114. Tử viết: Thùy năng xuất bất do hộ. Hà mạc do tư đạo dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Ung-dã tờ thứ 15).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng tử dạy rằng: Ai đi ra khỏi nhà mà không qua cửa được. Đạo cũng là cái đường người ta tất phải đi qua: vậy sao người ta lại không noi theo đạo mà làm.

115. Tử viết: Phạn sơ-tự, ẩm thủy, khúc quăng nhi chẩm chi, lạc diệc tại kỳ trung hĩ. Bất nghĩa nhi phú thả quí, ư ngã như phù-vân.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thuật-nhi tờ thứ 18).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: ăn cơm gạo lứt, uống nước lã, cong khuỷu tay mà gối đầu, vậy mà ở trong đó vẫn có cái vui về đạo nghĩa. Còn nếu làm điều bất nghĩa mà được giàu và sang, ta cũng coi như đám mây nổi trên trời, thoảng qua mà không cầu vậy.

116. Tử tại xuyên thượng, viết: Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ.

(Xem trong bộ Tứ thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Tử-hãn, tờ thứ 25).

DỊCH NGHĨA. — Một hôm, đức Khổng-tử dừng chơi ở trên bờ sông, có cám mà than rằng: Ch y đi như nước đó, suốt ngày ấy đêm khác không lúc nào ngừng: đạo-thể lưu-hành ở trong trời đất cũng vậy.

117. Tử viết: Dĩ hĩ hồ! Ngô vị kiến hiếu đức như hiếu sắc giả dã.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Tử-hãn tờ 25).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử than rằng: Thôi thôi! ta chưa thấy người nào yêu đức được như yêu sắc vậy.

118. Tử viết: Trí giả bất hoặc, nhân giả bất ưu, dũng giả bất cụ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Tử-hãn tờ 26).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dạy rằng: Người có trí thì hiểu sự-lý mà không hoặc. Người có nhân thì yên nghĩa mệnh mà không lo. Người co dũng thì vững gan dạ mà không sợ.

119. Tử viết: Nam nhân hữu ngôn viết: Nhân nhi vô hằng bất khả dĩ tác vu y; thiện phù! Bất hằng kỳ đức, hoặc thừa chi tu. Tử viết: Bất chiêm nhi dĩ hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên -Lộ tờ 12).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dạy rằng: Người miền Nam thường có câu rằng: Người mà không giữ được bụng thường thì dẫu muốn làm thầy cúng để cầu thần, làm thầy thuốc để chữa bệnh, cũng không thể làm được. Lời nói ấy phải lắm thay! Trong kinh Dịch quẻ Hằng có nói: Những người không giữ được đức-hạnh của mình cho có thường, thì sự sỉ-nhục có nhiều khi tiến đến. Đức Khổng-tử đọc kinh Dịch nhân nói: Những người như thế là không biết xem quẻ Dịch đó mà thôi.

120. Tử viết: Quân-tử đạo giả tam; ngã vô năng yên: Nhân giả bất ưu. Trí giả bất hoặc. Dũng giả hất cụ. Tử-Cống viết: Phu-tử tự đạo dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ 17).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử nói: Đạo quân-tử có ba điều: ta không hay làm được một điều nào: một là có nhân thì yên nghĩa mệnh mà không lo gì; hai là có trí thì hiểu sự lý mà không hoặc gì: ba là có dũng thì vững gan dạ mà không sợ gì. Ông Tử-Cống nói: Thầy ta không phải không hay, chỉ nói nhún mình vậy.

121. Tử viết: Ký bất xứng kỳ lực, xứng kỳ đức dã.

(Xem trong bộ Tứ thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ 17).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: Ngựa Ký được tiếng khen là ngựa tốt, không phải khen về cái sức nó khỏe, mà khen về cái đức nó thuần. Người được khen là quân-tử cũng bởi đức mà không phải bởi tài vậy.

122. Tử viết: Tứ dã! Nhữ dĩ dư vi đa học nhi chí chi giả dư? Đối viết: Nhiên, phi dư? Viết: Phi dã. Dư nhất dĩ quán chi.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ Linh-công tờ 19).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử gọi ông Tử-Cống bảo rằng: Trò Tứ (tên ông Tử-Cống) kia, mi tưởng ta học nhiều mà nhớ hết cả có phải không? Ông Tử-Cống thưa rằng: Phải, mà thực không phải thế hay sao? Ngài đáp rằng: Không phải vậy; ta chỉ lấy một lẽ mà thông suốt muôn việc, học vụ chuyên nhất, mà không phải cầu nhiều đâu.

123. Tử viết: Do! Tri đức giả tiển hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ Linh-công tờ 19).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử gọi ông Tử-Lộ b o rằng: Trò Do (tên ông Tử-Lộ) kia, người thật biết đức có ít lắm!

124. Tử viết: Quần cư chung nhật, ngôn bất cập nghĩa, hiếu hành tiểu tuệ, nan hĩ tai!

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ Linh-công tờ 21)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: Cả ngày ở tụ với nhau, nói không được câu chuyện gì phải, chỉ thích dùng những trí-tuệ nhỏ mọn: những người như thế, thật khó mà nên người được thay!

125. Tử viết: Quân-tử nghĩa dĩ vi chất, lễ dĩ hành chi, tốn dĩ xuất chi, tín dĩ thành chi Quân-tử tai!

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ Linh-công tờ 21).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: Người quân-tử phàm làm việc gì cũng lấy lẽ phải làm cốt, lấy lễ mà thực hành cái lẽ phải đó, lấy thuận-hòa mà ra làm việc. lấy tin thực mà thành việc, thật là quân-tử thay!

126. Tử viết: Xảo ngôn loạn đức; tiểu bất nhẫn tắc loạn đại mưu.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ Linh-công tờ thứ 21).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: Nói khéo thì biến đổi phải trái, tất làm loạn mất đức hay. Việc nhỏ mà không biết nhịn, thì nóng nảy làm càn, tất làm loạn mất mưu lớn.

127. Tử viết: Nhân năng hoằng đạo, phi đạo hoằng nhân.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ Linh-công tờ thứ 22).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: Làm đạo cốt ở người; người ta làm cho đạo rộng được, chẳng phải đạo làm cho người ta hay được vậy.

128. Tử viết: Quân-tử mưu đạo bất mưu thực. Canh dã nỗi tại kỳ trung hĩ; học dã lộc tại kỳ trung hĩ. Quân-tử ưu đạo bất ưu bần.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ Linh-công tờ 22)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử day rằng: Người quân tử chỉ mưu làm đạo, mà chẳng mưu được ăn. Kìa như kẻ đi cày chí tại mưu được ăn, mà gặp khi mất mùa, trong sự cày có cái đói ở đó; người đi học chí tại làm đạo, mà đắc thời hành đạo, trong sự học có cái lộc ở đó. Người quân-tử chỉ lo đạo chẳng lo nghèo.

129. Tử viết: Đạo bất đồng bất tương vi mưu.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ Linh-công tờ 22).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: Người ta đã không đồng đạo với nhau thì không có thể cùng nhau mà cùng mưu việc được.

130. Tử viết: Hương-nguyện đức chi tặc dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Dương-Hóa tờ 28).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dạy rằng: Những người giả bộ cung cẩn, trong làng đều gọi là người tín thực, lấy giả loạn chân, thật là hại đức vậy.

131. Tử viết: Đạo thính nhi đồ thuyết, đức chi khí dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Dương-Hóa tờ 28).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: Những người nghe chuyện ngoài đường, lại đi nói mách lẻo ngoài đường, toàn những lời vô căn-cứ, không được gì ở trong lòng, chỉ tự bỏ mất đức hay của mình vậy.

132. Tử-Lộ viết: Quân-tử thượng dũng hồ? — Tử viết: Quân-tử nghĩa dĩ vi thượng. Quân-tử hữu dũng nhi vô nghĩa vi loạn. Tiểu-nhân hữu dũng nhi vô nghĩa vi đạo.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Dương-hóa tờ 3).

DỊCH NGHĨA — Ông Tử-Lộ hỏi đức Khổng-tử rằng: Người quân-tử có chuộng mạnh không? Đức Khổng-tử đáp rằng: Người quân-tử chỉ lấy nghĩa làm hơn mà tôn chuộng. Nếu người quân-tử có dũng mà không có nghĩa thì tất đến làm sự bạo loạn; kẻ tiểu-nhân có dũng mà không nghĩa thì tất đến phạm điều trộm cướp: chớ nên chuyên chuộng dũng vậy.

133. Tử-Trương viết: Chấp đức bất hoằng, tín đạo bất đốc, yên năng vi hữu, yên năng vi vô.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Tử-Truơng tờ 33).

DỊCH NGHĨA. — Ông Tử-Trương nói: Người mà giữ đức không rộng lớn, tin đạo không thành thực, thì là người vô-dụng, dẫu có cũng chẳng ích gì, dẫu không cũng chẳng tổn gì.

134. Tử-Hạ viết: Tuy tiểu-đạo tất hữu khả quan giả yên; trí viễn khủng nê, thị dĩ quân-tử bất vi dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Tử-Trương tờ 33).

DỊCH NGHĨA — Ông Tử-Hạ nói: Dẫu các đạo thuật nhỏ cũng có điều hay coi được, nhưng suy ra làm việc viễn đại thì sợ trệ nệ mà không thông; bởi thế người quân-tử chuyên cầu đại-đạo mà không cầu tiểu-đạo vậy.

135. Tử-Hạ viết: Đại-đức bất du nhàn, tiểu-đức xuất nhập khả dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Tử-Trương tờ 33).

DỊCH NGHĨA — Ông Tử-Hạ nói: Đức để ngăn cầm lòng người, cũng như cửa để ngăn cầm người đi lại; mà đức có đức lớn đức nhỏ; người ta giữ được đức lớn đừng để cho qua khỏi cửa ngăn, còn đức nhỏ thì hoặc khi ra khi vào cũng không hại gì lắm.