Bước tới nội dung

Luận ngữ (Dương Bá Trạc dịch)/Quyển trên/Loại thứ VIII

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Luận ngữ của Khổng Tử, do Dương Bá Trạc dịch
Loại thứ VIII. Nói về cách xử kỷ tiếp vật

Loại thứ VIII
Nói về cách xử kỷ tiếp vật

179. Tử-Cầm vấn ư Tử-Cống viết: Phu-tử chi ư thị bang dã, tất văn kỳ chính; cầu chi dư ức dữ chi dư? — Tử-Cống viết: Phu-tử ôn lương cung kiệm nhượng dĩ đắc chi. Phu-tử chi cầu chi dã, kỳ chư dị hồ nhân chi cầu chi dư.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Học-nhi tờ 2).

DỊCH NGHĨA — Ông Tử-Cầm (học trò đức Khổng-tử) hỏi ông Tử-Cống rằng: Thầy ta đi đến nước nào, tất là cũng được dự nghe chính sự nước ấy; chẳng biết tự thầy ta cầu xin nghe, hay tự người ta cho nghe? — Ông Tu-Cống trả lời rằng: Bởi thầy ta ôn-hòa, lương-thiện, cung-kính, kiệm-ước, tốn-nhượng, đối với người có năm cái đức-tính tốt ấy, nên người ta kính tin, lấy chính-sự trong nước hỏi thầy ta, mà thầy ta được nghe; thế thì cái cách thầy ta cầu cũng khác với cái cách người ta cầu vậy.

180. Tử viết: Bất hoạn nhân chi bất kỷ tri; hoạn bất tri nhân dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Học-nhi tờ 3).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: Không lo người ta không ai biết mình; chỉ lo mình lầm không biết được người hay người dở vậy.

181. Tử viết: Nhân nhi vô tín, bất tri kỳ khả dã. Đại xa vô nghê, tiểu xa vô ngột, kỳ hà dĩ hành chi tai?

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Vi-chính tờ 5).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dạy rằng: Người ta nói mà không thực, thì không biết làm sao mà làm nên việc được. Cũng ví như xe lớn (xe tải đồ dùng trâu kéo) không có cái nghê (miếng gỗ ngang ở chỗ đầu tay xe để mắc trâu), xe nhỏ (xe chở người dùng ngựa kéo) không có cái ngột (miếng gỗ cong ở chỗ đầu tay xe để mắc ngựa), còn lấy cái gì mà đi được?

182. Tử viết: Phi kỳ quỉ nhi tế chi, siểm dã. Kiến nghĩa bất vi, vô dũng dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Vi-chính tờ 5).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: Không phải thần đáng tế mà tế, thế là siểm-mị vậy. Thấy việc phải mà không hay làm, thế là không có chí dũng-quyết vậy.

183. Vương-tôn-Giả vấn viết: Dữ kỳ mị ư áo, ninh mị ư táo. Hà vị dã? Tử viết: Bất nhiên, hoạch tội ư thiên, vô sở đảo dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Bát-dật tờ 7).

DỊCH NGHĨA — Vương-tôn-Giả (quan đại-phu nước Vệ) hỏi đức Khổng-tử rằng: Tục ngữ nói: Dữ-kỳ siểm-mị thần áo (là thần trên nhà, ví như quốc-quân), thà siểm-mị thần táo (là thần dưới bếp, ví như quyền-thần) hơn, là nghĩa sao vậy? Đức Khổng-tử đáp rằng: Lời nói ấy không phải. Nếu đã làm điều ác mà phải tội với trời, thì mị thần nào cũng đều vô ích, không cầu khấn đâu mà khỏi tội được vậy.

184. Nghi phong-nhân thỉnh kiến, viết: Quân-tử chi chí ư tư dã, ngô vị thường bất đắc kiến dã. Tụng giả kiến chi. Xuất viết: Nhị tam tử hà hoạn ư táng hồ. Thiên-hạ chi vô đạo dã cửu hĩ. Thiên tương dĩ Phu-tử vi mộc-đạc.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Bát dật tờ 8).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử đi đến nước Vệ. Quan phong-nhân (quan giữ nơi ranh cõi) ấp Nghi xin vào yến kiến, nói: Xưa nay người Quân-tử nào đến ở ấp này, không từng có ông nào tôi không được yết kiến; nay ngài đến, tôi cũng xin vào yết kiến ngài. Những học-trò theo hầu ngài cho vào yết kiến. Lúc ra nói: Hai ba gã lo gì ngài không đắc thời hành đạo. Tôi thiết nghĩ trong thiên-hạ vô đạo đã lâu lắm rồi, loạn cực tất trị; chắc lòng trời sẽ cho ngài đắc thời hành đạo, mà giáo-hóa bốn phương, cũng như cái mõ gỗ đi rao ngoài đường để truyền hiệu-lệnh vậy.

185. Tử viết: Phỏng ư lợi nhi hành đa oán.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Lý-nhân tờ 9).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng Cứ theo cái lợi mà làm, chắc là nhiều người oán.

186. Tử viết: Bất hoạn vô vị, hoạn sở dĩ lập. Bất hoạn mạc kỷ tri, cầu vi khả tri dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Lý-nhân tờ 9)

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dạy rằng: Chẳng lo mình không được ngôi, chỉ lo làm sao đứng ở ngôi mà xứng chức. Chẳng lo không ai biết mình, chỉ cầu có cái gì giỏi đáng để cho người ta biết.

187. Tử viết: Xảo ngôn lệnh sắc tú cung, Tả-khâu-Minh sỉ chi; Khâu diệc sỉ chi. Nặc oán nhi hữu kỳ nhân, Tả-khâu-Minh sỉ chi, Khâu diệc sỉ chi.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Công-dã-trường tờ 13).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Khéo nói, đẹp dáng mặt, cung kính quá lễ, thế là người siểm nịnh mà mất hết lương-tâm: ông Tả-khâu-Minh lấy thế làm sỉ: Khâu (tên đức Khổng-tử) này cũng lấy thế làm sỉ. Mình có thù oán với người mà giấu không cho người biết, ngoài giả làm bạn để rình báo oán, thế là người hiểm độc mà lập tâm bất nhân: ông Tả-khâu-Minh lấy thế làm sỉ; Khâu này cũng lấy thế làm sỉ.

188. Tử viết: Dĩ hĩ hồ! Ngô vị kiến năng kiến kỳ quá nhi nội tự tỉnh giả dã.

(Xem trong bộ Tứ thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Công-dã-trường tờ 13).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Thôi mà thôi! Ta chưa thấy được người nào thấy điều lỗi của mình mà trong bụng biết tự kiện mình vậy.

189. Tử-Hoa sứ ư Tề. Nhiễm-Hữu vị kỳ mẫu thỉnh túc. Tử viết: Dữ chi hũ. Thỉnh ích. Viết: Dữ chi dũ, Nhiễm-Hữu dữ chi túc ngũ bỉnh. Tử viết: Xích chi thích Tề dã, thừa phì mã, ý khinh cừu. Ngô văn chi dã: Quân-tử chu cấp bất kế phú. Nguyên-Tư vi chi tể, dữ chi túc cửu bách, từ. Tử viết: Vô, dĩ dữ nhĩ lân lý hương đảng hồ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Ung-dã tờ 14).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử sai ông Tứ-Hoa sang sứ nước Tề. Ông Nhiễm-Hữu ở nhà vì mẹ ông Tử-Hoa xin thóc. Ngài bảo cho một hũ. Ông Nhiễm-Hữu xin thêm. Ngài bảo cho một dũ. Ông Nhiễm-Hữu tự ý cho thóc đến năm bỉnh, (bỉnh, dũ, hũ đều là đồ đong đời xưa. Bỉnh nhiều hơn dũ, dũ nhiều hơn hũ). Ngài nói: Trò Xích đi sứ đến nước Tề, cỡi ngựa béo, mặc áo cừu nhẹ, đủ biết là nhà đã giàu rồi. Ta nghe người quân-tử dùng của, chỉ giúp cho người túng bấn, chứ không nối thêm cho người giàu. Ông Nguyên-Tư (học-trò đức Khổng-tử) làm quan tể trị tư-ấp cho ngài. Ngài cho lương chín trăm hộc thóc, ông Nguyên-Tư từ không lấy. Ngài nói: Chớ, lộc thường của mình đáng lấy, không nên từ; nếu có dư thì để cho xóm-diềng làng-mạc mi chẳng được ư?

190. Quí thị sử Mẫn-tử-Khiên vi Phí tể. Mẫn-tử-Khiên viết: Thiện vị ngã từ yên. Như hữu phục ngã giả tắc ngô tất tại Vấn thượng hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Ung-dã tờ 15).

DỊCH NGHĨA. — Họ Quí (quyền-thần nước Lỗ) sai người triệu ông Mẫn-tử-Khiên (học-trò cao-đệ đức Khổng-tử) làm quan tể ấp Phí (tư-ấp của họ Quí). Ông Mẫn-tử nói với người sứ-giả rằng: Vì ta từ khéo với họ Quí; như lại triệu ta nữa, thì ta đành đi trốn ở trên sông Vấn mà không nhận chức đâu.

191. Tử viết: Nhân chi sinh dã trực; võng chi sinh dã hạnh nhi miễn.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Ung-giã tờ 16)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Người ta bẩm thụ tính trời mà sinh ra, chỉ có ngay thẳng mà không tà-khúc: tà khúc mà sống được là may mà khỏi đấy thôi.

192. Tử kiến Nam-tử. Tử-Lộ bất duyệt. Phu-tử thỉ chi viết: Dư sở phủ giả, thiên yếm chi, thiên yếm chi.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Ung-giã tờ 17).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử ở nước Vệ, vào yết kiến nàng Nam-tử (Phu-nhân vua nước Vệ, người có dâm-hạnh). Ông Tử-Lộ không bằng lòng. Ngài thề rằng: Ta mà làm sự gì không hợp lý thì trời hại ta. (Người quân tử đến ở nước nào theo lễ phải vào yết kiến vua cùng phu-nhân. Ngài vào yết kiến nàng Nam-tử là giữ lễ thường vậy).

193. Tử viết: Phú nhi khả cầu dã, tuy chấp tiên chi sĩ, ngô diệc vi chi; như bất khả cầu, tòng ngô sở hiếu.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thuật-nhi tờ 18).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Giàu mà có thể cầu được, thì dẫu làm kẻ cầm roi là việc rất ti tiện, ta cũng chịu làm; nếu không cầu được, thì ta cứ theo cái chí ta sở-thích, giữ nghĩa thuận mệnh, cầu mà làm gì.

194. Tử chi sở thận: trai, chiến, tật.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thuật-nhi tờ 19).

DỊCH NGHĨA — Những điều đức Khổng-tử rất lấy làm cẩn-thận: 1º việc trai khiết để kính thờ quỉ thần. 2º việc chiến trận có quan-hệ đến nhân-mệnh. 3º việc bệnh-tật có quan-hệ đến tử sinh.

195. Nhiễm-Hữu viết: Phu-tử vị Vệ quân hồ? Tử-Cống viết: Nặc, ngô tương vấn chi. Nhập viết: Bá-Di Thúc-Tề hà nhân dã? — Viết: Cổ chi hiền nhân dã. — Viết: Oán hồ? — Viết: Cầu nhân nhi đắc nhân; hựu hà oán? — Xuất viết: Phu-tử bất vị dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thuật-nhi tờ 18).

DỊCH NGHĨA — Ông Nhiễm-Hữu hỏi ông Tử-Cống rằng: Thầy ta có giúp vua nước Vệ không? (vua nước Vệ bấy giờ tên là Triếp, tranh nước với cha) ông Tử-Cống nói: Vâng, để tôi sắp vào hỏi thầy xem thế nào. Ông Tử-Cống vào hầu đức Khổng-tử, hỏi rằng: Ông Bá-Di ông Thúc-Tề (hai người con vua nước Cô trúc; ba anh em, ông Di là trưởng, ông Tề là út; cha di chúc lập ông Di, ông Di nhượng ông Tề, rồi hai người đều không chịu làm vua mà trốn đi, người nước lập người con giữa) là người bậc nào? Đức Khổng-tử đáp rằng: là người hiền đời xưa vậy. Ông Tử-Cống lại hỏi: Hai người không được lập làm vua, có lòng oán không? Ngài lại đáp rằng: Hai ông ấy cầu điều nhân mà được điều nhân, còn oán gì. Ông Tử-Cống thấy ngài khen người nhượng nước, biết ngài hẳn không giúp người tranh nước, ra ngoài b o ông Nhiễm-Hữu rằng: Thầy ta không giúp vua nước Vệ đâu.

196. Tử viết: Tam nhân hành, tất hữu ngã sư yên, trạch kỳ thiện giả nhi tòng chi, kỳ bất thiện giả nhi cải chi.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thuật-nhi tờ 19)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Ba người cùng đi, hẳn có thầy ta trong ấy. Ta chọn trong hai người kia, người nào thiện thì ta lấy làm mẫu mà noi theo, người nào bất thiện thì ta lấy làm răn mà đổi khác; hai người đó đều tức là thầy ta vậy.

197. Hỗ-hương nan dữ ngôn. Đồng-tử hiện; môn-nhân hoặc. Tử viết: Dữ kỳ tiến dã, bất dữ kỳ thoái dã. Duy hà thậm, nhân khiết kỷ dĩ tiến; dữ kỳ khiết dã, bất bảo kỳ vãng dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thuật-nhi tờ 19).

DỊCH NGHĨA — Người làng Hỗ-hương tập làm ác, kho cùng nói làm điều thiện. Đức Khổng-tử cho một đứa trẻ con làng ấy vào yết kiến; các học-trò có ý nghi hoặc. Ngài bảo rằng: Ta cho nó tiến lên làm thiện, không cho nó lui xuống làm ác. Sao nên khắc trách người lắm. Người ta biết sửa sạch mình để cầu tiến, thì ta khen cho nó đã biết sửa sạch mình, chẳng kể ngày trước nó làm gì.

198. Tử dữ nhân ca nhi thiện, tất sử phản chi, nhi hậu họa chi.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thuật-nhi tờ 20).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử cùng với người ta hát, mà người ta hát hay, thì ngài tất bắt người ta hát lại, rồi ngài mới hát họa theo. Tính ngài ung-dung mà tường-tất như thế.

199. Tử viết: Văn mạc ngôn do nhân dã; cung hành quân-tử tắc ngô vị chi hữu đắc.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thuật-nhi tờ 2(văn bản không rõ)).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Văn từ thì ta hoặc-giả cũng bằng được người; đến như bậc quân-tử lấy mình mà thực hành, thì ta chưa có làm được một chuyện nào. Ngài nói nhún mình như thế.

200. Tử chi yến cư, thân-thân như dã, yên yên như dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thuật-nhi tờ 17).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử khi ở thường trong nhà, khoan-khoan hòa-hòa, dáng-mặt rất là ôn-nhã.

201. Tử tật bệnh, Tử-Lộ thỉnh đảo. Tử viết: Hữu chư? Đối viết: Hữu chi. Lụy viết: Đảo nhĩ ư thượng hạ thần kỳ. Tử viết: Khâu chi đảo cửu hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thuật-nhi tờ 20).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử phải đau nặng. Ông Tử-Lộ xin cầu đảo quỉ thần. Ngài hỏi rằng: Xưa có việc ấy chăng? Ông Tử-Lộ thưa rằng: Có. Đời xưa có lời văn khấn rằng: Cầu đảo cho mày với trên thiên-thần dưới địa-kỳ. Ngài bảo rằng: Khâu này sinh bình không làm việc gì đắc tội với quỉ-thần, cầu đ o đã lâu rồi; nay không cần lại cầu đảo nữa.

202. Tử viết: Xa tắc bất tốn; kiệm tắc cố; dữ kỳ bất tốn dã ninh cố.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thuật-nhi tờ 20).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dạy rằng: Xa-xỉ thì không thuận lẽ; kiệm-ước thì cố-lậu; dữ-kỳ làm không thuận lẽ, thà mang tiếng cố-lậu còn hơn.

203. Tử ôn nhi lệ, uy nhi bất mãnh, cung nhi an.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thuật-nhi tờ 20)

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dung mạo ôn-hòa mà nghiêm-trang, có oai-vệ mà không dữ tợn, cung-kính mà vẫn có vẻ an-nhàn.

204. Tăng-Tử hữu tật, triệu môn đệ tử viết: Khải dư túc, khải dư thủ. Thi vân: Chiến-chiến căng-căng, như lâm thâm-uyên, như lý bạc-băng. Nhi kim nhi hậu, ngô tri miễn phù. Tiểu-tử!

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thái-bá tờ 20).

DỊCH NGHĨA. — Ông Tăng-Tử có bệnh nặng, vời các học-trò đến bảo rằng: Mở chân tay ta ra mà coi. Trong kinh Thi có câu: Năm-nắm nem-nép, sợ hãi như tới vực sâu, như dày váng mỏng. Nhất sinh ta giữ-gìn cái thân-thể của cha mẹ để lại cho ta cẩn-thận như thế. Từ nay về sau, ta mới biết chắc rằng khỏi lỗi. Các anh em học-trò ta ơi!

205 Tăng-tử hữu tật. Mạnh-kính-tử vấn chi, Tăng-tử ngôn viết: Điểu chi tương tử, kỳ minh dã ai. Nhân chi tương tử, kỳ ngôn dã thiện. Quân-tử sở quí hồ đạo giả tam; động dung mạo tư viễn bạo mạn hĩ; chính nhan sắc tư cận tín hĩ; xuất từ khí tư viễn bỉ-bội hĩ. Biên đậu chi sự tắc hữu-ti tồn.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thái-bá tờ 21).

DỊCH NGHĨA — Ông Tăng-tử có bệnh, ông Mạnh-kính-tử (quan đại-phu nước Lỗ) đến hỏi thăm. Ông Tăng-Tử nói rằng: Con chim sắp chết, tiếng kêu rất thương; người ta sắp chết, lời nói rất phải. Tôi nay sắp chết, xin nói với ngài câu này: Người quân-tử có ba điều đạo-lý lấy làm quí trọng: 1º Động dáng mạo thì bỏ cái lối bạo ngược khinh nhờn; 2º Sửa nét mặt thì ra cái vẻ thành tín ngay thật; 3º Xuất từ-khí thì tránh những lời bỉ-ổi trái lẽ. Người quân-tử chỉ trọng ba điều ấy, còn đến cai việc biên đậu (biên đậu là những đồ thờ để dựng tế-phẩm: việc biên đậu là việc tế-tự) thì đã có chức hữu-ti coi giữ, người quân-tử không lấy làm trọng vậy.

206. Tử viết: Hiếu dũng tật bần, loạn dã. Nhân nhi bất nhân, tật chi dĩ thậm, loạn dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thái-Bá tờ 21).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: Người hiếu dũng thì hẳn cậy huyết-khí mà làm liều, ghét nghèo thì hẳn không yên phận mà làm bậy, tất sinh loạn vậy. Người mà bất nhân, mình ghét nó quá lắm, thì nó không chỗ dung thân, cũng tất sinh loạn vậy.

207. Tử viết: Như hữu Châu-công chi tài chi mỹ, sử kiêu thả lận, kỳ dư bất túc quan dã dĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thái-Bá tờ 21).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Dù có tài tốt như ông Châu-công, nếu kiêu và lận thì những tài khác cũng không có gì coi được nữa. Người ta kiêu lận sao nên.

208. Tử viết: Đốc tín hiếu học; thủ tử thiện-đạo; nguy-bang bất nhập; loạn-bang bất cư; thiên hạ hữu đạo tắc hiện, vô đạo tắc ẩn. Bang hữu đạo bần thả tiện yên, sỉ dã. Bang vô đạo phú thả quí yên, sỉ dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thái-Bá tờ 22).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: Nên đốc hậu thành-tín mà ham học, có chết giữ cho toàn đạo, nước nguy thì đừng vào, nước loạn thì đừng ở, lúc thiên-hạ có đạo thì ra, lúc thiên-hạ vô đạo thì ẩn. Nếu lúc nước có đạo, vô tài mà phải bần tiện, thì là sỉ vậy; lúc nước vô đạo, tham lợi mà được phú quí, cũng là sỉ vậy.

209. Tử viết: Bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chính.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thái-Bá tờ 22).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử nói: Mình không ở ngôi thì không nên việt phận mà mưu chính-sự làm gì.

210. Đạt hãng đảng nhân viết: Đại tai Khổng-tử, bác học nhi vô sở thành danh. Tử văn chi, vị môn-đệ tử viết: Ngô hà chấp, chấp ngự hồ, chấp xạ hồ? Ngô chấp ngự hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Tử-hãn tờ 23).

DỊCH NGHĨA — Người đãng Đại-hãng nói: Lớn thay ông Khổng-tử, học rộng không gì là không biết, mà không thành tiếng về một nghề gì. Đức Khổng-tử nghe người ta nói thế, bảo các học-trò rằng: Ta nên giữ chuyên một nghề gì để thành tiếng, giữ nghề đánh xe chăng, hay giữ nghề bắn chăng? Thôi, ta giữ nghề đánh xe vậy. Ngài nói nhún mình như thế.

211. Tử tuyệt tứ: Vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Tử-hãn tờ 23).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử tuyệt không có bốn điều lỗi này: 1º là không việc gì để ý riêng vào; 2º là không việc gì kỳ tất như thế; 3º là không việc gì cố-chấp: 4º là không việc gì chỉ thiên về mình.

212. Tử kiến tư thôi giả, miện y thường giả dữ cổ giả, kiến chi tuy thiếu tất tác, quá chi tất xu.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Tử-hãn tờ 24).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử thấy người mặc đồ xô gai thì ngài thương người có tang! thấy người đội mũ miện mặc áo xiêm thì ngài trọng người có tước vị, thấy người mù thì ngài thương người bất thành nhân, nên ngài thấy ba hạng người ấy, dẫu bé ngài cũng đứng dậy, đi qua ngài tất bước dảo chân.

213. Tử Cống viết: Hữu mỹ-ngọc ư tư, uẩn quĩ nhi tàng chư? cầu thiện giá nhi cô chư? Tử viết: Cô chi tai Cô chi tai! Ngã đãi giá giả dã.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Tử-hãn tờ 24).

DỊCH NGHĨA — Ông Tử-Cống thấy đức Khổng-tử có tài đức mà không làm quan, mới đặt lời hỏi rằng: Giá như có hòn ngọc tốt ở đây, thì bỏ vào hòm mà giấu đi chăng? hay là cầu được giá đắt mà bán chăng? Đức Khổng-tử đáp rằng: Bán chứ, bán chứ, ta còn đợi giá đây.

214. Tử viết: Xuất tắc sự công-khanh, nhập tắc sự phụ-huynh, tang sự bất cảm bất miễn, bất vi tửu khốn, hà hữu ư ngã tai.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Tử-hãn tờ 24)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử tự khiêm rằng: Ra ngoài thì biết thờ quan Công quan Khanh cho phải phép, vào trong nhà thì biết thờ cha anh cho phải đạo, gặp việc tang không dám không cố sức, không bị rượu làm khốn mình, bốn đức tốt ấy ta có được điều gì đâu.

215. Tử viết: Pháp-ngữ chi ngôn, năng vô tòng hồ, cải chi vi quí. Tốn ngữ chi ngôn, năng vô duyệt hồ, dịch chi vi quí. Duyệt nhi bất dịch, tòng nhi bất cải, ngô mạt như chi hà dã dĩ!

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Tử-hãn tờ 25).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: Như mình có lỗi mà người ta lấy lời phép-tắc răn cái lỗi cho mình, chắc là mình phải nghe theo, song phải biết đổi lỗi đi mới là quí. Mình có lỗi mà người ta lấy lời hòa thuận bảo cái lỗi cho mình, chắc là mình phải đẹp lòng, song phải biết suy nghĩ ý câu nói của người ta mới là quí. Nếu chỉ đẹp lòng mà không chịu suy nghĩ, chỉ nghe theo trước mặt mà không hay đổi lỗi, người như thế thì ta cũng không làm sao được nữa!

216. Tử-Lộ vấn hà như tư khả vị chi sĩ hĩ? Tử viết: Thiết-thiết ti-ti, di-di như dã, khả vị chi sĩ hĩ. Bằng-hữu thiết-thiết ti-ti. Huynh đệ di di.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Tử-Lộ tờ 13).

DỊCH NGHĨA — Ông Tử-Lộ hỏi thế nào thì đáng gọi là người sĩ? Đức Khổng-tử đáp rằng: Đãi với người thiết-tha chu-chí hòa vui, thế đáng gọi là người sĩ vậy. Ở với bầu bạn thiết-tha chu-chí, ở với anh em thì hòa vui.

217. Nguyên-Hiến vấn sỉ. Tử viết: Bang hữu đạo cốc, bang vô đạo cốc, sỉ dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ 13).

DỊCH NGHĨA — Ông Nguyên-Hiến hỏi điều gì là điều đáng lấy làm hổ-thẹn? Đức Khổng-tử đáp rằng: Lúc nước có đạo không làm được việc gì mà chỉ biết ăn lộc, lúc nước vô đạo, không biết toàn thân tránh họa mà cũng tham ăn lộc, như thế thật đáng lấy làm hổ-thẹn vậy.

218. Khắc phạt oán dục bất hành yên, khả dĩ vi nhân hĩ. Tử viết: Khả dĩ vi nan hĩ, nhân tắc ngô bất tri dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ 13).

DỊCH NGHĨA — Ông Nguyên-Hiến lại hỏi: Người mà ngăn cấm được những điều hiếu thắng, khoe khoang, oán giận, tham muốn không làm, có gọi được là nhân không? Đức Khổng-tử đáp rằng: Người được như thế cũng đã khó lắm rồi, nhưng gọi là nhân thì ta không dám biết vậy.

219. Tử viết: Bang hữu đạo, nguy ngôn nguy hạnh. Bang vô đạo, nguy hạnh ngôn tốn.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ 13).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: Lúc nước có đạo thì nói cao nết cao, không phải kị húy gì cả. Lúc nước vô đạo thì nết cao mà nói tốn-thuận, mới toàn thân mà tránh họa được.

220. Tử viết: Bần nhi vô oán nan. Phú nhi vô kiêu dị.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến vấn tờ 14).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử nói: Nghèo mà không oán, khó Giàu mà không kiêu, dễ.

221. Tử viết: Kỳ ngôn chi bất tạc, tắc vi chi dã nan.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ 16).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử nói: Những người nói ra mà không biết thẹn, thì là người hay nói khoác, hẳn khó sao thực hành được.

222. Cừ-bá-Ngọc sử nhân ư Khổng-tử. Khổng-tử dữ chi tọa nhi vấn yên viết: Phu-tử hà vi? Đối viết: Phu-tử dục quả kỳ quá nhi vị năng dã. Sứ giả xuất: Tử viết: Sứ hồ! sứ hồ!

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ 16).

DỊCH NGHĨA. — Ông Cừ-bá-Ngọc (quan đại-phu hiền nước Vệ) sai người sứ sang đức Khổng-tử. Ngài cho ngồi mà hỏi thăm rằng: Quan lớn ở nhà làm gì? Người sứ thưa rằng: Thầy tôi chỉ muốn làm sao cho ít lỗi mà tự mình vẫn thấy chưa làm được vậy. Khi sứ giả ra. Ngài khen rằng: thế mới đáng là sứ! thế mới đáng là sứ!

223. Tăng-tử viết: Quân-tử tư bất xuất kỳ vị.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ 16).

DỊCH NGHĨA — Ông Tăng-tử nói: Người quân-tử lo nghĩ việc gì, chẳng ra ngoài chức vị mình, chỉ cầu hết việc bổn-phận mà thôi.

224. Tử viết: Quân-tử sỉ kỳ ngôn nhi quá kỳ hạnh.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ 16).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Người quân-tử đã nói thì nhất định làm; nếu nói quá cái việc làm của mình thì lấy làm sỉ mà không hề nói.

225. Tử-Cống phương nhân. Tử viết: Tứ dã hiền hồ tai; phù ngã tắc bất hạ.

Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ 17).

DỊCH NGHĨA — Ông Tử-Cống thường lấy người nọ sánh với người kia mà bàn người hơn người kém. Đức Khổng- bảo rằng: Trò Tứ giỏi có sức thừa mà làm thế; như ta thì không rỗi.

226. Tử viết: Bất hoạn nhân chi bất kỷ tri, hoạn kỳ bất năng dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ 17)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Không lo người ta không ai biết mình, chỉ lo mình không giỏi mà thôi.

227. Tử viết: Bất nghịnh trá, bất ức bất tín, ức diệt tiên giác giả, thị hiền hồ.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ 17).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Không cần phải nghịnh liệu nó là người gian trá, không cần phải ức-đạc nó là người bất tín, mà cũng biết trước được nó là người gian-trá, là người bất tín, ấy là người có trí tiên giác, thật hiền thay!

228. Vi-sinh-Mẫu vị Khổng-tử viết: Khâu hà vi thị thê-thê giả dư? Vô nãi vi nịnh hồ? Khổng-tử viết: Phi cảm vi nịnh dã, tật cố dã

(Xem trong bộ Tứ thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ 17).

DỊCH NGHĨA — Ngươi Vi sinh-Mẫu bảo đức Khổng-tử rằng: Ông Khâu làm sao cứ đi mãi không thôi. chẳng là chực đem miệng lưỡi để đi nịnh người ta đấy hay sao? Đức Khổng-tử nói: Không phải dám làm nịnh vây, là ghét người cố-chấp mà không thông vậy.

229 Hoặc viết: Dĩ đức báo oán, hà như? Tử viết: Hà dĩ báo đức? Dĩ trực báo oán, dĩ đức báo đức.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ 17).

DỊCH NGHĨA. — Có người hỏi: Người ta có oán với mình mà mình lại lấy ơn mà báo thì sao? Đức Khổng-tử báo rằng: Lấy ơn báo oán, thì lấy gì báo ơn? Chi bằng kẻ có oán với mình thì cứ lấy lẽ thẳng mà báo, để kẻ có ơn với mình sẽ lấy ơn mà báo.

230. Tử viết: Mạc ngã tri dã phù! Tử-Cống viết: Hà vi kỳ mạc tri tử dã. Tử viết: Bất oán thiên, bất vưu nhân, hạ học nhi thượng đạt, tri ngã giả kỳ thiên hồ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ 17.)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Đời chẳng có ai biết ta, thương ôi! Ông Tử-Cống hỏi rằng: Làm sao mà không ai biết thầy vây? Ngài bảo rằng: Ta vận chẳng đạt mà chẳng oán trời, đạo chẳng làm mà chẳng trách người, học từ bậc dưới mà tiến lên bậc trên, biết ta chỉ hoặc là có trời chăng?

231. Tử-Lộ túc ư Thạch-môn. Thần-môn viết: Hề tự? Tử-Lộ viết: Tự Khổng thị. Viết: Thị tri kỳ bất khả nhi vi chi giả dư?

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ 18).

DỊCH NGHĨA — Ông Tử-Lộ nằm trọ ở cửa Thạch-môn nước Vệ. Người giữ cửa hỏi rằng: Gã từ đâu lại đây? Ông Tử-Lộ nói: Từ chỗ họ Khổng ở mà đi lại đây. Người giữ cửa nói: Người ấy là người đã biết đời không làm gì được mà còn làm mãi không thôi, có phải không?

232. Tử kích khánh ư Vệ. Hữu hạ quĩ nhi quá Khổng thị chi môn giả, Viết: Hữu tâm tai kích khánh hồ! Kỳ nhi viết: Bỉ tai khanh-khanh hồ! Mạc kỷ tri dã, tư dĩ nhi dĩ hĩ. Thâm tắc lệ, thiển tắc kệ. Tử viết: Quả tai mạc chi nan hĩ.

(Xem trong bộ Tứ thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ 18).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử đánh khánh ở nước Vệ. Có người gánh đụn cỏ mà đi qua cửa nhà họ Khổng, nghe tiếng khánh, nói rằng: Người đánh khánh ấy có lòng lo đời lắm thay! Rồi mà lại chê rằng: Bỉ lậu thay! Người chắc lòng chắc ruột quá. Đương lúc đời chẳng ai biết mình, nên thôi mà thôi. Kìa như nội nước gặp chỗ sâu thì dấn cả áo, chỗ nông thì vén áo. Người ta phải biết thời thế mà tự-xử cũng như thế. Đức Khổng-tử nói: Quyết chí quên đời vậy có khó gì đâu.

233. Tử-Lộ vấn quân-tử. Tử viết: Quân-tử tu kỷ dĩ kính. Viết: Như tư nhi dĩ hồ? Viết: Tu kỷ dĩ an nhân. Viết: Như tư nhi dĩ hồ? Viết: Tu kỷ dĩ an bách tính. Tu kỷ dĩ an bách tính, Nghiêu Thuấn kỳ do bệnh chư.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ thứ 18).

DỊCH NGHĨA — Ông Tử-Lộ hỏi thế nào là người quân-tử? Đức Khổng-tử đáp rằng: Người quân-tử sửa mình lấy kính. Ông Tử-Lộ lại hỏi: Chỉ như thế mà thôi hay sao? Ngài đáp rằng: Sửa mình để mà yên người. Lại hỏi: Chỉ như thế mà thôi hay sao? Ngài đáp rằng: Sửa mình để mà yên cả trăm họ. Người mà sửa được mình để mà yên cả trăm họ dẫu bậc đại-thánh như vua Nghiêu, vua Thuấn cũng còn lấy làm chưa đủ thay!

234. Nguyên-Nhưỡng di sĩ. Tử viết: Ấu nhi bất tốn đễ, trưởng nhi vô thuật yên, lão nhi bất tử, thị vi tặc. Dĩ trượng khấu kỳ hĩnh.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ 18).

DỊCH NGHĨA — Ông Nguyên-Nhưỡng thấy đức Khổng-tử đến, ngồi ruỗi chân mà đợi. Đức Khổng-tử bảo rằng: Người lúc nhỏ không tốn thuận, lúc lớn không có điều gì đáng khen, đã già mà không chết, thế là hư sinh mà hại đời. Ngài nói rồi, lấy gậy gõ vào ống chân ông Nhưỡng.

235. Tử-Trương vấn hành. Tử viết: Ngôn trung tín, hành đốc kính, tuy man mạch chi bang hành hĩ. Ngôn bất trung tín, hành bất đốc kính, tuy châu lý hành hồ tai. Lập tắc kiến kỳ tham ư tiền dã, tại dư tắc kiến kỳ ỷ ư hành dã, phù nhiên hậu hành. Tử-Trương thư chư thân.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ-Linh-công tờ 19).

DỊCH NGHĨA — Ông Tử-Trương hỏi làm sao mà thi-thố ra đời được? Đức Khổng-tử đáp rằng: Nói mà trung tín, nết mà hậu kính, thì dẫu ở nơi mọi rợ cũng làm được cả. Nói mà chẳng trung tín, nết mà chẳng hậu kính, thì dẫu gần ngay ở nơi châu-lý mình cũng có làm được đâu. Gã nên lúc nào cũng giữ trung-tín hậu kính, đứng thì hình như thấy nó chen ở trước mặt, ngồi xe thì hình như thấy nó tựa ở cái hành xe, dụng công thiết-thực như thế, rồi sau mới mong thi-thố ra đời được. Ông Tử-Trương biên lời nói thầy vào giải lưng để thường trông thấy cho khỏi quên.

236. Tử viết: Khả dữ ngôn nhi bất dữ chi ngôn thất nhân. Bất khả dữ ngôn nhi dữ chi ngôn thất ngôn. Trí giả bất thất nhân diệc bất thất ngôn.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ-Linh-công tờ 20).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: Có ngư i khá cùng nói chuyện, mà mình không cùng nói, thì bỏ mất người hay, có người không khá cùng nói chuyện, mà mình lại cùng nói, thì phí mất lời nói Người trí-giả nên nói thì nói, không bỏ mất người hay, không nên nói thì không nói, cũng không phí mất lời nói.

237. Tử viết: Cung tự hậu nhi bạc trách ư nhân, tắc viễn oán hĩ.

(Xem trong bộ Tứ thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ-Linh-công tờ 20).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: Mình tự trách mình thì hậu mà trách người thì bạc, thế thì tránh khỏi người ta thù oán.

238. Tử viết: Bất viết như chi hà như chi hà giả, ngô mạt như chi hà dã dĩ hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ Linh-công tờ 21).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Người lâm sự mà không biết suy nghĩ rằng nên làm thế nào, nên làm thế nào, thì là người không có tư-tưởng, ta cũng không làm sao mà dẫn-dụ được vậy.

239. Tử viết: Quân-tử bệnh vô năng yên, bất bệnh nhân chi bất kỷ tri dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ Linh-công tờ 21).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Người quân-tử chỉ lấy mình không hay làm bệnh, chứ không lấy người chẳng biết mình làm bệnh vậy.

240. Tử viết: Quân-tử tật một thế nhi danh bất xưng yên.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ Linh-công tờ 21).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Nếu suốt đời mà không có tiếng khen, thì người quân-tử rất lấy làm bệnh vậy.

241. Tử viết: Quân-tử căng nhi bất tranh, quần nhi bất đảng.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ Linh-công tờ 21).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử nói: Người quân-tử tự-trọng mà không tranh thắng với ai, hợp quần mà không phe đảng với ai.

242. Tử viết: Quân-tử bất dĩ ngôn cử nhân, bất dĩ nhân phế ngôn.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ Linh-công tờ 21).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Người quân-tử không lấy nói giỏi mà cử dụng người ấy lên ngay, cũng không lấy người hư mà bỏ lời nói phải của người ta.

243. Tử-Cống vấn viết: Hữu nhất ngôn nhi khả dĩ chung thân hành chi giả hồ? Tử viết: Kỳ thứ hồ; kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ Linh-công tờ 21).

DỊCH NGHĨA. — Ông Tử-Cống hỏi: Có một chữ gì mà có thể làm được suốt đời không? Đức Khổng-tử đáp rằng: Có chữ « thứ » chăng: điều gì mình không muốn thì chớ ở thế với người, ấy là thứ vậy.

544. Tử viết: Ngô chi ư nhân dã, thùy hủy thùy dư; như hữu sở dư giả, kỳ hữu sở thí hĩ. Tư dân dã tam đại chi sở dĩ trực đạo nhi hành dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ Linh-công tờ 21).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử nói: Ta xử với người, có chê ai xấu đâu, có khen ai tốt đâu. Chê thì hẳn không rồi, còn nếu có khen ai, hẳn là có thử trước mà biết chắc rồi. Dân bây giờ cũng tức là dân đời xưa, đương lúc thịnh-thời ba đời Hạ, Thương và Chu, thưởng kẻ lành, phạt kẻ ác, cứ lấy đạo thẳng mà làm với dân ấy, nên ta cũng chỉ lấy đạo thẳng mà đối với dân bây giờ vậy.

245. Tử viết: Chúng ố chi, tất sát yên; chúng hiếu chi, tất sát yên.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ Linh-công tờ 21).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: Chúng nhân ghét ai, mình phải xét xem có thật là ác chăng; chúng-nhân yêu ai, mình phải xét xem có thật là thiện chăng; không nên theo chúng mà thiên yêu ghét vậy.

246. Tử viết: Quá nhi bất cải, thị vị quá hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ Linh-công tờ 22).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: Có lỗi mà không biết đổi, thế mới thật là lỗi vậy.

247. Tử viết: Quân-tử trinh nhi bất lượng.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ Linh-công tờ 22).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Người quân-tử chỉ giữ đạo ngay mà không câu chấp đều tín nhỏ.

248. Tử viết: Từ đạt nhi dĩ hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ Linh-công tờ 22)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Văn-từ cốt cầu cho đạt được ý tưởng mà thôi.

249. Sư Miện hiện, cập giai. Tử viết: Giai dã. Cập tịch. Tử viết: Tịch dã. Giai tọa. Tử cáo chi viết: Mỗ tại tư, mỗ tại tư. Sư Miện xuất. Tử-Trương viết: Dữ sư ngôn chi đạo dư? Tử viết: nhiên, Cố tướng sư chi đạo dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ Linh-công tờ 23)

DỊCH NGHĨA — Nhạc-sư tên là Miện vào yết kiến đức Khổng-tử, đi đến thềm, ngài b o rằng: Thềm đấy. Đi đến chiếu. Ngài bảo rằng: Chiếu đấy. Cùng khách đều ngồi. Ngài bảo rằng: Người này ngồi ở đấy, người kia ngồi ở đấy. Lúc nhạc-sư ra rồi, ông Tử-Trương hỏi: Đó là cái đạo nói với nhạc-sư (người lòa làm nhạc-công) phải thế chăng? Ngài đáp rằng: Ph i, vốn là cái đạo giúp người lòa phải thế vậy.

250. Khổng tử viết: Ích giả tam hữu. Tổn giả tam hữu. Hữu trực, hữu lượng, hữu đa văn; ích hĩ. Hữu biền tích, hữu thiện nhu, hữu biền nịnh; tổn hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Quí-thị tờ 21)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Có ba bậc bạn chơi có ích. Có ba bậc bạn chơi có hại. Bạn với người thẳng, bạn với người tín thực, bạn với người nghe biết nhiều, thế là ích vậy. Bạn với người quen thói gian-cong, bạn với người quen bề nhu mị, bạn với người quen lối xảo nịnh, thế là tổn vậy.

251. Tử viết: Ích giả tam nhạo. Tổn giả tam nhạo. Nhạo tiết lễ nhạc, nhạo đạo nhân chi thiện, nhạo đa hiền-hữu, ích hĩ. Nhạo kiêu lạc, nhạo dật du, nhạo yến lạc; tổn hĩ.

(Xem trong bộ Tứ thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Quí-thị tờ 24)

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử nói; Có ba điều ưa muốn có ích. Có ba điều ưa muốn có hại. Ưa muốn lấy lễ-nhạc mà tiết chế tính tình mình, ưa muốn nói điều hay của người ta, ưa muốn có nhiều bạn hiền, thế là ích vậy. Ưa muốn kiêu vui, ưa muốn rồi chơi, ưa muốn yến lạc, thế là tổn vậy.

252. Tử viết: Thị ư quân-tử hữu tam khiên: Ngôn vị cập chi nhi ngôn, vị chi táo. Ngôn cập chi nhi bất ngôn, vị chi ẩn. Vị kiến nhan sắc nhi ngôn, vị chi cổ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Quí-thị tờ 24)

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử nói: Ngồi hầu người quân-tử nhỡ ra thì có ba điều lỗi: Người quân-tử chưa nói đến mình mà mình đã vội nói, gọi là táo. Người quân-tử đã nói đến mình mà mình không nói, gọi là ẩn. Chưa nhận biết nhan-sắc người quân-tử thế nào mà đã nói, gọi là lòa.

253. Khổng-tử viết: Quân-tử hữu tam úy: Úy thiên-mệnh, úy đại-nhân, úy thánh-nhân chi ngôn. Tiểu-nhân bất tri thiên-mệnh nhi bất úy dã, hiệp đại-nhân, vũ thánh nhân chi ngôn.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Quí-thị tờ 25)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Người quân-tử có ba điều sợ: sợ mệnh trời, sợ người có đại đức, sợ lời nói ông thánh-nhân. Kẻ tiểu-nhân không biết mệnh mà không sợ, nhờn người có đại-đức, khinh bỏ lời nói ông thánh-nhân.

254. Khổng-tử viết: Quân-tử hữu cửu tư: thị tư minh, thính tư thông, sắc tư ôn, mạo tư cung, ngôn tư trung, sự tư kính, nghi tư vấn, phẫn tư nạn, kiến đắc tư nghĩa.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Quí-thị tờ 25)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Người quân-tử có chín điều nghĩ. Mắt trông nghĩ sao cho sáng, tai nghe nghĩ sao cho tinh, sắc mặt nghĩ sao cho ôn-hòa, hình dáng nghĩ sao cho nghiêm chỉnh, nói ra nghĩ phải thực lòng, lâm sự nghĩ phải kính cẩn, có nghi hoặc gì nghĩ phải hỏi cho kỳ biết, có tức giận gì nghĩ sợ nạn không dám liều, thấy có được lợi thì nghĩ nghĩa-lý mà không tham lấy.

255. Dương-Hóa dục kiến Khổng-tử; Khổng-tử bất kiến, qui Khổng-tử đồn, Khổng-tử thời kỳ vô dã nhi vãng bái chi, ngộ chư đồ. Vị Khổng-tử viết: Lai, dư dữ nhĩ ngôn. Viết: Hoài kỳ bảo nhi mê kỳ bang, khả vị nhân hồ. Viết: Bất khả. — Hiếu tùng sự nhi cức thất thời, khả vị trí hồ? Viết: Bất khả. — Nhật nguyệt thệ hĩ, tuế bất ngã dữ. Khổng-tử viết: Nặc, ngô tương sĩ hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Dương-Hóa tờ 26).

DỊCH NGHĨA — Ngươi Dương-Hóa (gian-thần nước Lỗ) muốn triệu đức Khổng-tử đến yết-kiến; đức Khổng-tử không chịu yết-kiến. Ngươi Dương-Hóa rình đức Khổng-tử đi vắng đưa cho ngài con lợn chín, ý muốn để ngài phải lại tạ mà tiếp-kiến; ngài cũng rình lúc y đi vắng mà đến tạ; bất-kỳ gặp nhau ở đường. Dương-Hóa gọi đức Khổng-tử bảo rằng: Lại đây, ta nói chuyện với ngươi. Y hỏi: Như giấu cái tài đức quí báu của mình mà để cho trong nước mê loạn, có gọi là nhân được không? Ngài đáp rằng: Không được. Y lại hỏi: Như muốn làm việc mà thường bỏ mất thời-hội không làm, có được gọi là trí không? Ngài lại đáp rằng: Không được. Y nói: ngày tháng đi qua, tuổi không đợi ta nữa, nên ra làm quan, kẻo nữa một tuổi một già. Ngài nói: phải, tôi sắp ra làm quan đây.

256. Phật-Bật triệu. Tử dục vãng. Tử-Lộ viết: Tích giả Do dã văn chư phu-tử viết: Thân ư kỳ thân vi bất thiện giả quân-tử bất nhập dã. Phật-Bật dĩ Trung-mâu bạn, Tử chi vãng dã như chi hà? Tử viết: Nhiên, hữu thị ngôn dã. Bất viết kiên hồ, ma nhi bất lận. Bất viết bạch hồ, nát nhi bất truy. Ngô khởi bào qua dã tai, yên năng hệ nhi bất thực.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Dương-Hóa tờ 27).

DỊCH NGHĨA. — Ngươi Phật-Bật (loạn-thần nước Lỗ) đón đức Khổng-tử. Đức Khổng-tử muốn đi, ông Tử-Lộ hỏi rằng: Ngày xưa Do này có được nghe thầy nói: Người nào đích thân nó làm điều không phải thì người quân-tử không hề vào đảng với nó, nay ngươi Phật-Bật giữ ấp Trung-mâu làm phản, mà thầy lại muốn đi theo nó, là nghĩa làm sao? Ngài đáp rằng: Phải, ta ngày xưa có nói thế thật, song ta lại chẳng thường nói rằng: giống thực bền thì dẫu mài cũng chẳng mòn; giống thực trắng thì dẫu nhuộm cũng chẳng đen; dẫu người không phải, có lây xấu được ta hay sao? Vả ta sinh ra là người có dụng ở đời, há phải như vỏ quả bầu kia đâu, sao lại cứ treo hoài mà không ăn.

257. Nhụ-Bi dục kiến Khổng-tử Khổng-tử từ dĩ tật. Tương mệnh giả xuất hộ; thủ sắt nhi ca, sử chi văn chi.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Dương-Hóa tờ 29).

DỊCH NGHĨA. — Ngươi Nhụ-Bi muốn vào ra mắt đức Khổng-tử; ngài từ rằng có bệnh mà không tiếp. Người tương mệnh mới ra đến cửa; ngài ở trong nhà lấy đàn sắt mà hát khiến cho y nghe tiếng (Nhụ-Bi là một đứa tiểu-nhân, nên ngài không muốn tiếp).

258. Tử viết: Bão thực chung nhật, vô sở dụng tâm, nan hĩ tai, bất hữu bác dịch giả hồ, vi chi do hiền hồ dĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Dương-Hóa tờ 29).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Người ăn no cả ngày, không dụng tâm nghĩ việc gì, khó thành người lắm thay! Chẳng có việc đánh cờ kia hay sao, làm việc đó cũng còn hơn là không làm gì vậy.

259. Tử viết: Duy nữ-tử dữ tiểu-nhân vi nan dưỡng dã; cận chi tắc bất tốn, viễn chi tắc oán.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Dương-Hóa tờ 30)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Chỉ có con gái với tiểu-nhân là khó xử lắm; xử ra tình thân cận quá thì nó vô phép; xử ra tình sơ-viễn thì nó sinh oán gián.

260. Tử-Cống viết: Quân-tử diệc hữu ố hồ? Tử viết: Hữu ố; ố xưng nhân chi ác giả; ố cư hạ-lưu nhi sán thượng giả; ố dũng nhi vô lễ giả; ố quả cảm nhi trất giả. Viết: Tứ dã diệc hữu ố hồ? đối viết: Ố kiểu dĩ vi trí giả; ố bất tốn dĩ vi dũng giả; ố hãn dĩ vi trực giả.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Dương-Hóa tờ 3(văn bản không rõ)).

DỊCH NGHĨA — Ông Tử-Cống hỏi rằng: Người quân-tử cũng có ghét người nào không.?. Đức Khổng-tử đáp rằng: có ghét; ghét kẻ hay nói xấu người ta; ghét kẻ ở bậc dưới mà chê người trên; ghét kẻ dũng-mãnh mà vô lễ; ghét kẻ quá-cảm mà không đạt lẽ. Ngài lại hỏi ông Tử-Cống rằng: Vậy trò Tứ cũng có ghét người nào không? Ông Tử-Cống thưa rằng: Tôi ghét kẻ dình xét người ta mà tự lấy làm trí; ghét kẻ không tốn thuận mà tự lấy làm dũng; ghét kẻ hay nói hành người ta mà tự lấy làm thẳng.

261. Sở cuồng Tiếp-Dư ca nhi quá Khổng-tử viết: Phụng hề phụng hề! Hà đức chi suy. Vãng giả bất khả gián; lai giả do khả truy. Dĩ nhi dĩ nhi! Kim chi tùng chính giả đãi nhi; Khổng-tử há xa, dục dữ chi ngôn. Xu nhi tị chi, bất đắc dữ chi ngôn.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vi-tử tờ 31).

DỊCH NGHĨA — Người cuồng nước Sở tên là Tiếp-Dư đi qua trước xe đức Khổng-tử mà hát rằng: Chim phụng kia! Chim phụng kia! Đời vô đạo mà không đi ẩn, sao đức suy lắm thế? Từ nay về trước không can được nữa rồi; từ nay về sau cũng còn truy-hối được, nên thôi đi, nên thôi đi; tùng-chính ở đời này nguy thay! (Tiếp-Dư gọi đức Khổng-tử là chim phụng, khuyên ngài nên đi ẩn) Đức Khổng-tử xuống xe muốn cùng nói chuyện. Tiếp-Dư đảo bước mà tránh, không cùng nói chuyện được.

262. Trường-Thư, Kiệt-Nịch ngẫu nhi canh. Khổng-tử quá chi, sử Tử-Lộ vấn tân yên. Trường-Thư viết: Phù chấp dư giả vi thùy? Viết: Vi Khổng-Khâu. Viết: Thị Lỗ Khổng-Khâu dư? Viết: Thị dã. Viết: Thị tri tân hĩ. Vấn ư Kiệt-Nịch. Kiệt-Nịch viết: Tử vi thùy? Viết: Vi Trọng-Do. Viết: Thị Lỗ Khổng-Khâu chi đồ dư? Đối viết: Nhiên. Viết: Thao-thao giả thiên-hạ giai thị dã, nhi thùy đĩ địch chi. Thả nhi dữ kỳ tòng tị nhân chi sĩ dã, khởi nhược tòng tị thế chi sĩ tai. Ưu nhi bất suyết. Tử-Lộ hành đĩ cáo. Phu-tử vũ-nhiên viết: Điểu thú bất khả dữ đồng quần; ngô phi tư nhân chi đồ dữ nhi thùy dữ. Thiên-hạ hữu đạo. Khâu bất dữ dịch dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vi-tử tờ 31).

DỊCH NGHĨA — Ngươi Trường-Thư, ngươi Kiệt-Nịch đánh đôi mà đi cày. Đức Khổng-tử đi qua, sai ông Tử-Lộ hỏi thăm bến đò chỗ nào. Ngươi Trường-Thư hỏi ông Tử-Lộ rằng: Này, người cầm cương ngồi trên xe ấy là ai? Ông Tủ-Lộ nói: Là ông Khổng-Khâu. Lại hỏi: Phải ông Khổng-Khâu nước Lỗ chăng? Nói: Phải. Trường-Thư nói: Ngỡ ai chứ ông ấy thì chu-du đã chán, tất biết bến đò rồi. Ông Tử-Lộ lại hỏi ngươi Kiệt-Nịch. Ngươi Kiệt-Nịch hỏi: Gã là ai? Ông Tử-Lộ nói: Tôi là Trọng-Do. Lại hỏi: Là học-trò ông Khổng-Khâu nước Lỗ phải không? Nói: Phải. Kiệt-Nịch nói: Đời loạn đã lâu, như nước chảy cuồn-cuộn chẳng thôi, thiên-hạ chỗ nào cũng đều thế cả, cùng với ai mà đổi loạn làm trị được bây giờ. Vả mi dữ-kỳ theo ông Khổng-Khâu là kẻ sĩ tránh người (đi đến người nào, họ cũng không dùng được, lại phải tránh đi chỗ khác), sao bằng theo ta là kẻ sĩ tránh đời (tránh hẳn đời đi ẩn một chỗ) chẳng hơn dư? Nói rồi cứ việc bừa cỏ mà không nghỉ, cũng không chịu bảo bến đò. Ông Tử-Lộ đi nói lại chuyện ấy với đức Khổng-tử. Ngài ngậm-ngùi than rằng: Người không thể cùng đàn với chim muông được; ta chẳng cùng ở với người đời này mà cùng ở với ai? Nếu gặp được lúc thiên-hạ có đạo, thì Khâu này còn cần phải lo gì đổi loạn làm trị nữa.

263. Tử-Lộ tòng nhi hậu, ngộ trượng-nhân dĩ trượng hạ điễu. Tử-Lộ vấn viết: Tử kiến phu-tử hồ? Trượng-nhân viết: Tứ thể bất cần, ngũ cốc bất phân, thục vi phu-tử. Thực kỳ trượng nhi vân. Tử-Lộ củng nhi lập, chỉ Tử-Lộ túc, sát kê vi thử nhi tự chi, kiến kỳ nhị tử yên. Minh nhật, Tử-Lộ hành dĩ cáo. Tử viết: Ẩn giả dã sử. Tử-Lộ vãng kiến chi. Chí tắc hành hĩ. Tử-Lộ viết: Bất sĩ vô nghĩa. Trưởng ấu chi tiết, bất khả phế dã. Quân thần chi nghĩa như chi hà kỳ phế chi. Dục khiết kỳ thân nhi loạn đại luân. Quân-tử chi sĩ dã, hành kỳ nghĩa dã. Đạo chi bất hành, dĩ tri chi hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vi-tử tờ 31).

DỊCH NGHĨA — Ông Tử-Lộ theo đức Khổng-tử đi mà lạc ở sau, gặp người đã có tuổi lấy gậy gánh đụn cỏ. Ông Tử-Lộ hỏi rằng: Cụ có thấy thầy tôi không? Người ấy đáp rằng: Gã không chịu làm nhọc đến chân tay, không biết phân biệt năm giống thóc. Ta biết ai là thầy gã. Nói rồi cắm cái gậy trên bờ mà làm cỏ. Ông Tử-Lộ chắp tay đứng để tỏ ý kính người già. Người ấy lưu ông Tử-Lộ về nhà ngủ, giết gà làm gạo mà mời ăn, cho hai người con ra mắt. Đến ngày mai ông Tử-Lộ đi gặp đức Khổng-tử thuật chuyện cùng ngài. Ngài nói: Ấy là người ẩn-giả vậy. Sai ông Tử-Lộ trở lại nói chuyện; đến nơi thì người ấy đã đi khỏi rồi. Ông Tử-Lộ nói: Chẳng ra làm quan thì là không biết nghĩa vua tôi. Như ông già đây đã biết cho hai con ra mắt khách, thế là cái thứ-tự lớn nhỏ còn không nên bỏ; huống chi cái nghĩa vua tôi làm sao lại bỏ đi. Muốn đi ẩn cho sạch mình mà loạn mất cái đại-luân vua tôi. Này. người quân-tử ra làm quan là cốt để làm cái nghĩa vua tôi vậy: đạo không làm được vẫn đã biết rồi.

264. Tử-Hạ chi môn-nhân vấn giao ư Tử-Trương. Tử Trương viết: Tử-Hạ vân hà? Đối viết: Tử-Hạ viết: Khả dả dữ chi, kỳ bất khả giã cự chi. Tử-Trương viết: Dị hồ ngô sở văn: quân-tử tôn hiền nhi dung chúng, gia thiện nhi căng bất năng. Ngã chi đại-hiền dư, ư nhân hà sở bất dung; ngã chi bất hiền dư, nhân tương cự ngã, như chi hà kỳ cự nhân dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Tử-Trương tờ 33).

DỊCH NGHĨA — Học-trò ông Tử-Hạ hỏi ông Tử-Trương đạo giao-tế với người thế nào? Ông Tử-Trương hỏi lại rằng: Ông Tử-Hạ bảo sao? Học-trò thưa rằng: Thầy Tử-Hạ tôi bảo: Người nào khá thì chơi; người nào không khá thì cự tuyệt. Ông Tử-Trương nói: Điều ta sở-văn thì khác thế. Ta nghe người quân-tử tôn người hiền mà dung kẻ chúng-nhân, khen người lành mà thương kẻ chẳng hay. Ta mà là người đại-hiền dư, thì người nào là chẳng dung-nạp được; ta mà à người bất hiền dư, thì người ta sẽ cự-tuyệt ta, làm sao mà ta lại cự-tuyệt ngươi vậy.

265. Tử-Hạ viết: Quân tử hữu tam biến, vọng chi nghiễm-nhiên; tức chi dã ôn; thính kỳ ngôn dã lệ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Tử-Trương tờ 33).

DỊCH NGHĨA — Ông Tử-Hạ nói: Người quân-tử có ba cái vẻ người khác nhau: đứng xa mà trông thì ra vẻ tôn-trọng; đến gần tới nơi thì ra vẻ ôn-hòa; nghe tiếng nói thì ra vẻ nghiêm-lệ.

266. Tử Hạ viết: Quân-tử tín nhi hậu lao kỳ dân, vị tín tắc dĩ vi lệ kỷ dã. Tín nhi hậu gián, vị tín tắc dĩ vi báng kỷ dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Tử-Trương tờ 33).

DỊCH NGHĨA — Ông Tử-Hạ nói: Người quân-tử làm cho dân tin mình rồi sau mới sai làm việc khó nhọc; nếu dân chưa tin mà sai làm việc khó nhọc, thì dân hẳn lấy làm hại nó vậy. Làm cho người tin mình rồi sau sẽ can gian; nếu người chưa tin mà vội can-gián, thì người ta hẳn lấy làm nói xấu người ta vậy.

267. Tử-Hạ viết: Trụ chi bất thiện bất như thị chi thậm dã. Thị dĩ quân-tử ố cư hạ-lưu, thiên-hạ chi ác giai qui yên.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Tử-Trương tờ 34).

DỊCH NGHĨA — Ông Tử-Hạ nói: Vua Trụ bất thiện không đến quá lắm như thế đâu, mà mang tiếng ác đến thế. Cho nên người quân-tử lấy phạm phải điều quá ác mà đặt mình ở vào đám hạ-lưu làm ghét lắm, bao nhiêu cái ác thiên-hạ đều đổ về mình cả.

268. Tử-Cống viết: Quân-tử chi quá dã như nhật nguyệt chi thực yên; quá dã nhân giai kiến chi; canh dã nhân giai ngưỡng chi.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Tử-Trương tờ 34).

DỊCH NGHĨA — Ông Tử-Cống nói: Người quân-tử có lỗi như mặt trời mặt trăng phải xâm-thực, lúc có lỗi người đều trông thấy; lúc đổi lỗi đi rồi người đều ngưỡng-vọng; không có chút gì ám-muội cả.

269. Tử viết: Bất tri mệnh vô dĩ vi quân-tử dã. Bất tri lễ vô dĩ lập dã. Bất tri ngôn vô dĩ tri nhân dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Nghiêu-viết tờ 37).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: Không biết mệnh trời không lấy gì làm người quân-tử được. Không biết lễ, không lấy gì lập thân được, không biết lời nói phải trái, không lấy gì biết người hay dở được.