Bước tới nội dung

Luận ngữ (Dương Bá Trạc dịch)/Quyển trên/Loại thứ II

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Luận ngữ của Khổng Tử, do Dương Bá Trạc dịch
Loại thứ II. Nói về luân lý

Loại thứ II

Nói về luân-lý

7. Hữu-tử viết: Kỳ vi nhân giã hiếu-đễ nhi hiếu phạm thượng giả tiển hĩ; bất hiếu phạm thượng như hiếu tác loạn giả vị chi hữu giã. Quân-tử vụ bản; bản lập nhi đạo sinh. Hiếu đễ dã giả kỳ vi nhân chi bản dư.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Học-nhi tờ thứ 1).

DỊCH NGHĨA. — Ông Hữu-tử (học trò cao-đệ đức Khổng-tử) nói: Phàm kẻ làm người mà đã biết hiếu với cha mẹ, thuận với huynh-trưởng thì hẳn ít muốn làm sự xâm phạm đến người trên; đã không muốn làm sự xâm-phạm đến người trên thì hẳn không muốn làm sự loạn nghịch. Người quân-tử chỉ chăm làm điều gốc; gốc đứng vững mà bao nhiêu đạo lý khắc tự-nhiên bởi đó mà sinh ra. Điều hiếu đễ đó chẳng là cái gôc làm nhân dư?

8. Tăng-tử viết: Ngô nhật tam tỉnh ngô thân: Vị nhân mưu nhi bất trung hồ? dữ bằng hữu giao nhi bất tín hồ? truyền bất tập hồ?

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn quyển Thượng luận về thiên Học-nhi tờ thứ 1)

DỊCH NGHĨA. — Ông Tăng-tử (học trò cao đệ đúc Khổng-tử) nói: ta thường ngày lấy ba việc xét trong mình ta: một là có vị người ta mưu việc gì mà chẳng hết lòng hay không? Hai là chơi với bầu bạn mà nói chẳng thực lời hay không? Ba là có điều gì thầy dạy bảo mà mình chẳng chịu tập học hay không? Có thì ta gấp sửa mình ta ngay, mà không thì ta cố giữ mình ta cho khỏi bao giờ mình phạm phải những điều lỗi ấy

9. Tử viết: Đệ-tử! Nhập tắc hiếu; xuất tắc đễ; cẩn nhi tín; phiếm ái chúng nhi thân nhân; hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn.

(Xem trong bộ tứ-thư chính-văn quyển Thượng-luận về thiên Học-nhi tờ thứ 1.)

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử nói: Các học-trò còn nhỏ tuổi! vào trong nhà thì phải hiếu với cha mẹ, ra ngoài thì phải thuận với huynh-trưởng; việc làm thì phải cẩn thận mà nói ra thì phải tin thực; rộng yêu kẻ chúng nhân mà thân cận người nhân đức; làm bấy nhiêu điều mà có thừa sức thì đem cái sức dư ấy mà học thêm khoa văn-học,

10. Tử-Hạ viết: Hiền hiền dịch sắc. sự phụ mẫu năng kiệt kỳ lực, sự quân năng trí kỳ thân, dữ bằng hữu giao ngôn nhi hữu tín, tuy viết vị học, ngô tất vị chi học hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Học-nhi tờ thứ 1).

DỊCH NGHĨA. — Ông Tử-Hạ (học-trò cao-đệ đức Khổng-tử) nói: Như có người hay đổi bụng hiếu-sắc làm bụng hiếu-hiền, thờ cha mẹ hay hết cái sức của mình, thờ vua hay hiến cả cái thân của mình cho vua, chơi với bầu bạn, nói câu gì thì hẳn tin thực câu ấy, người thế dẫu nói rằng chưa học, ta nhất-định bảo người đó đã có học rồi.

11. Tử viết: Phụ tại quan kỳ chí, phụ một quan kỳ hạnh, tam niên vô cải ư phụ chi đạo, khả vị hiếu hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Học nhi, tờ thứ 2)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Muốn biết con người có hiếu cùng không, đương lúc cha còn thì xem người ấy chí hướng thế nào, lúc cha mất thì xem người ấy làm việc thể nào; nếu cha mất đã ba năm rồi mà cái lề thói của cha giữ được không thay đổi, thì là người ấy có lòng kính mến đứng thân, nên khen rằng hiếu vậy.

12. Mạnh-ý-tử vấn hiếu. Tử viết: vô vi. Phàn-Trì-ngự; Tử cáo chi viết: Mạnh-tôn vấn hiếu ư ngã; ngã đối viết vô vi. Phàn Trì vị đạt. Tử viết: sinh sự chi dĩ lễ; tử táng chi dĩ lễ; tế chi dĩ lễ

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Vi-chính tờ 3).

DỊCH NGHĨA. — Ông Mạnh-ý-tử (quan đại-phu nước Lỗ) hỏi thế nào là hiếu. Đức Khổng-tử đáp rằng: Con thờ cha mẹ đừng làm điều gì trái lễ, là hiếu. Một hôm, ông Phàn-Trì (học-trò cao đệ đức Khổng-tử) hầu ngài đánh xe đi; ngài dạy chuyện lại rằng: Hôm trước, Mạnh-tôn có hỏi thế nào là hiếu; ta đáp rằng chớ làm điều gì trái lễ. Ông Phàn Trì chưa hiểu, ngài cắt nghĩa rõ rằng: Thờ cha mẹ lúc ngài còn thì cứ theo lễ mà phụng sự, lúc đã mất thì cứ theo lễ mà tống táng, theo lễ mà tế-tự, làm việc gì cũng hợp lễ, thế gọi là vô vi vậy.

13. Mạnh-vũ-bá vấn hiếu. Tử viết: phụ-mẫu duy kỳ tật chi ưu.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng luận về thiên Vi-chính tờ 3).

DỊCH NGHĨA. — Ông Mạnh vũ-bá (học trò đức Khổng-tử) hỏi thế nào là hiếu. Đức Khổng-tử đáp rằng: Cha mẹ yêu mình, chỉ sợ mình hoặc có bệnh hoạn, điều đó là lấy làm lo hơn cả. Vậy thì làm con phải thể lòng cha me, mà giữ mình cho cẩn-thận cho khỏi mắc bệnh-hoạn, thế gọi là hiếu

14. Tử-Du vấn hiếu. Tử viết: Kim chi hiếu giả thị vị năng dưỡng; chí ư khuyển mã dai năng hữu dưỡng, bất kính hà dĩ biệt hồ.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng luận về thiên Vi-chính tờ 3).

DỊCH NGHĨA — Ông Tử Du (học trò cao-đệ đức Khổng-tử) hỏi thế nào là hiếu. Đức Khổng-tử đáp rằng: Đời nay gọi là hiếu là bảo những người hay nuôi cha mẹ; song, nghĩ như chó ngựa, người ta cũng đều có nuôi; nếu ở với cha me, chỉ biết nuôi mà không biết kính trọng, thì lấy gì làm phân biệt dư? Hay nuôi mà lại phải hay kính, mới là hiếu vậy.

15. Tử hạ vấn hiếu. Tử viết: Sắc nan. Hữu sự đệ tử phục kỳ lao, hữu tửu tự tiên sinh soạn, tằng thị dĩ vi hiếu hồ.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho về thiên Vi-chính tờ 4).

DỊCH NGHĨA. — Ông Tử-hạ hỏi thế nào là hiếu. Đức Khổng-tử đáp rằng: Con thờ cha mẹ phải có sắc mặt vui-vẻ cho đẹp lòng ngài, điều ấy rất là khó. Còn như khi cha mẹ có công việc thì con chịu khó nhọc mà làm, khi con có cơm rượu thì dâng lên cha mẹ xơi, ấy đã được gọi là hiếu đâu.

16. Định-công vấn quân sử thần, thần sự quân như chi hà. Khổng-tử đối viết: Quân sử thần dĩ lễ; thần sự quân dĩ trung.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho về thiên Bát-dật tờ 7).

DỊCH NGHĨA. — Vua Định-công (vua nước Lỗ) hỏi cái đạo ông vua sai khiến người bề-tôi, người bề-tôi thờ ông vua nên thế nào? Đức Khổng-tử thưa rằng: Vua sai khiến bề-tôi nên lấy lễ-ý; bề tôi thờ vua nên lấy trung-thành.

17. Tử viết: Sự phụ mẫu cơ gián, kiến chí bất tùng, hựu kính bất vi, lao nhi bất oán.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho về thiên Lý-nhân tờ 10).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dạy rằng: Con thờ cha mẹ, như biết ngài có lỗi thì dịu dàng sẽ nói mà can; thấy ý ngài không theo thì lại kính sợ không dám trái, dẫu ngài bắt làm khó nhọc thế nào cũng không oán giận; đạo làm con phải như thế.

18. Tử viết: Phụ mẫu tại, bất viễn du, du tất hữu phương.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho về thiên Lý-nhân tờ 10).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dạy rằng: Đạo làm con đương lúc cha mẹ còn, chớ có đi chơi xa, đi chơi đâu phai có phương sở nhất định để ngài được biết.

19. Tử viết: Phụ mẫu chi niên bất khả bất tri giã; nhất tắc dĩ hỉ; nhất tắc dĩ cụ.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho về thiên Lý-nhân tờ 10).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dạy rằng: Làm con không nên không biết cái tuổi của cha mẹ; một là để biết ngài tuổi thọ sống lâu thì mừng; một là để biết ngài tuổi già suy yếu thì sợ; rồi mới biết dốc lòng phụng dưỡng mà không quên.

20. Hương nhân na, triều-phục nhi lập ư tạc giai.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho về thiên Hương-đảng tờ 28).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử khi đã thôi làm quan ở nhà, đương lúc người làng tế na (như ta lễ cầu mát, đánh trống để khu trừ lệ khí) thì ngài mặc áo trào đứng ở phía đông thềm nhà.

21. Tật, quân thị chi, đông thủ gia triều phục đả thân.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho về thiên Hương-đảng tờ 28).

DỊCH NGHĨA. — Khi đức Khổng-tử có bệnh, vua đến thăm ngài, thì ngài nằm trở đầu hướng đông để chịu lấy sinh khí, dầu không mặc được mũ áo, cũng mình khoác áo trào mà để đai lên; ấy là ngài kính vua, dẫu lúc có bệnh mà cũng giữ lễ.

22. Diệp-công ngữ Khổng-tử viết: ngô đảng hữu trực cung giả, kỳ phụ nhương dương, nhi tử chứng chi. Khổng-tử viết: ngô đảng chi trực dị ư thị, phụ vị tử ẩn, tử vị phụ ẩn, trực tại ký trung hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Tử-lộ tờ thứ 10).

DỊCH NGHĨA. — Ông công-tước huyện Diệp (người nước Sở) nói chuyện với đức Khổng-tử rằng: Trong bọn tôi có người cứ giữ đạo thẳng mình mà làm; tức như một người kia cha đi lấy trộm dê mà con đứng làm chứng việc đó, chẳng là thẳng lắm dư? Đức Khổng-tử nói: Cái người thẳng của bọn tôi không giống thế, cha có lỗi thì con vị cha mà giấu, con có lỗi thì cha vị con mà giấu, thế ln hợp với thiên-lý, thuận với nhân tình, đạo thẳng tức ngụ ở trong đó rồi.

23. Trần-thành-tử thí Giản-công. Khổng-tử mộc dục nhi triều, cáo ư Ai-công viết: Trần-Hằng thí ký quân, thỉnh thảo chi. Công viết: cáo phù tam tử. Khổng-tử viết: Dĩ ngô tùng đại phu chi hậu, bất cảm bất cáo giã; quân viết cáo phù tam tử giả. Chi tam tử cáo, bất khả. Khổng-tử viết: Dĩ ngô tùng đại-phu chi hậu, bất cảm bất cáo giã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ thứ 14).

DỊCH NGHĨA — Ngươi Trần-thành-tử (quyền-thần nước Tề) giết vua Giản-công (vua nước Tề). Khi ấy đức Khổng-tử ở nước Lỗ đã cáo quan về nhà rồi, nghe tin, tắm gội mà vào chầu, thưa với vua Ai-công (vua nước Lỗ) rằng: Ngươi Trần-Hằng giết vua nó, xin phát binh hỏi tội nó. Vua Ai-công nói: Việc ấy để phải nói với ba quan đại-phu. Đức Khổng-tử nói một mình rằng: Bởi ta cũng dự theo sau hàng quan đại-phu, nên khi gặp việc có quan-hệ đến danh-nghĩa như thế, không dám không nói. Vậy mà vua ta lại bảo phải nói với ba quan đại-phu. Ngài bèn đi đến ba quan đại-phu mà nói. Ba quan đại-phu cho việc ấy là không nên. Đức Khổng-tử than rằng: Bởi ta cũng dự theo sau hàng quan đại-phu, nên khi gặp việc có quan-hệ lớn đến danh-nghĩa như thế, mà phải nói đó thôi.

24. Tử viết: Ái chi năng vật lao hồ? Trung yên năng vật hối hồ?

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ thứ 14).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: Cha mẹ thương con mà không bắt nó chịu khó nhọc, cố học siêng làm. được ư? Bề tôi có lòng trung với vua mà không hết lời khuyên bảo nên ư?

25. Tử-Lộ vấn sự quân. Tử viết: Vật khi giã nhi phạm chi.

(Xem trong hộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ thứ 14).

DỊCH NGHĨA. — Ông Tử Lộ (học-trò cao-đệ đức Khổng-tử) hỏi đạo thờ vua. Đức Khổng-tử đáp rằng: Nên hết lòng thành thực, đừng có dối giá mà lại chính trực, can ngăn vua, dù có xúc phạm đến oai nghiêm cũng không sợ, thế mới là hết đạo làm tôi.

26. Tử-Du viết: Sự quân sác tư nhục hĩ. Bằng hữu sác tư sơ hĩ.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Lý-nhân tờ 10)

DỊCH NGHĨA. — Ông Tử-Du (học trò cao đệ đức Khổng tử) nói: Thờ vua khuyên can mà vua không nghe thì thôi, nếu cứ tần-sác mà khuyên can mãi, ấy là mình tự làm cho mình bị nhục đấy. Ở với bàu bạn, khuyên can mà bạn không nghe thì thôi, nếu cứ tần-sác mà khuyên can mãi, ấy là mình tự làm cho mình bị sơ đấy.

27. Tể-Ngã vấn: Tam niên chi tang, cơ dĩ cửu hĩ. Quân-tử tam niên bất vi lễ, lễ tất hoại, tam niên bất vi nhạc, nhạc tất băng. Cựu cốc ký một, tân cốc ký thăng, toàn toại cải hỏa, cơ khả dĩ hĩ. Tử viết: Thực phù đạo, ý phù cẩm, ư nhữ an hồ? — Viết: an. — Nhữ an tắc vi chi. Phù quân-tử chi cư tang, thực chỉ bất cam, văn nhạc bất lạc, cư xử bất an, cố bất vi giã. Kim nhữ an tắc vi chi. Tể-ngã xuất. Tử viết: Dư chi bất nhân giã. Tử sinh tam niên nhiên hậu miễn ư phụ mẫu chi hoài. Phù tam niên chi tang, thiên-hạ chi thông tang giã. Dư giã hữu tam niên chi ái ư kỳ phụ mẫu hồ?

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Dương-hóa tờ 29).

DỊCH NGHĨA. — Ông Tể-Ngã (học trò đức Khổng-tử) hỏi: cái tang ba năm là cái tang con phải để tang cha mẹ; tôi thiết tưởng cái tang ấy giảm xuống một năm cũng đã lâu rồi. Này người quân-tử trong lúc ở tang, không tập lễ nhạc; vậy nếu ba năm không làm lễ thì lễ hẳn phải nát: ba năm không làm nhạc thì nhạc hẳn phải mất. Trong khoảng một năm tròn, lúa cũ đã hết, lúa mới đã gặt vào, giùi cây đổi lửa (Đời xưa giùi cây lấy lửa, cứ lệ mỗi mùa lại đổi một thứ cây khác, hết năm lại bắt đầu lại) tôi thiết tưởng ở tang một năm cũng đã nên thôi rồi. Đức Khổng-tử hỏi lại rằng: Con có tang cha mẹ chưa đoạn ba năm mà ăn gạo thơm, mặc áo gấm thì trong bụng ngươi có yên được không? Ông Tể-Ngã thưa rằng: Thiết tưởng cũng có thể yên bụng được. Đức Khổng-tử nói: ngươi yên bụng được thì ngươi cứ việc làm; này, người quân-tử lúc ở tang cha mẹ, dãu ăn của ngon cũng không biết thích, nghe nhạc cũng không biết vui, cư xử cũng áy-náy không yên, cho nên không làm được cái việc đoản tang vậy. Nay ngươi yên bụng được thì ngươi cứ việc làm. Khi ông Tể-Ngã ra rồi, ngài nói: Trò Dư bất nhân quá! Này, con người ta sinh ra ba năm rồi sau mới khỏi phải cha mẹ ôm ẵm, cho nên con để tang cha mẹ ba năm, suốt thiên hạ đều như thế cả. Trò Dư vậy không biết nó có cái ân-ái ba năm với cha mẹ nó hay không?

28. Tử viết: Sự quân kính kỳ sự nhi hậu kỳ thực.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ-linh-công tờ 22)

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dạy rằng; Bề tôi thờ vua phải kính cẩn cái chức sự của mình trước mà sau mới dám nghĩ tới cái lộc thực của mình.

29. Quân mệnh triệu, bất sĩ giá hành hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho về thiên Hương-đảng tờ 28).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử khi đương làm quan, lúc nào vua sai người lại triệu thì ngài lập tức đi ngay, không đợi xe ngựa, ấy là ngài kính lệnh vua vậy.

30. Quân tứ thực, tất chính tịch tiên-thường chi. Quân tứ tinh tất thục nhi tiến chi. Quân tứ sinh tất súc chi.

(Xem trong bộ tứ thư chính văn chữ nho về thiên Hương-đảng tờ 28)

DỊCH NGHĨA — Vua cho đồ ăn chín thì ngài ngồi giữa chiếu mà nếm thử đồ ăn ấy. Vua cho đồ sống thì ngài nấu chín mà dâng gia-tiên. Vua cho vật sống thì ngài để nuôi. Ấy là ngài tôn kính vua vậy.

31. Thị thực ư quân, quân tế tiên phạn.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho về thiên Hương-đảng tờ 28)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử khi ngồi hầu ăn với vua, trong lúc vua còn đương tế chưa ăn thì ngài ăn trước, như thể ngài nếm đồ ăn trước cho vua, chứ không dám cùng vua ngồi ăn như ăn khách. (Người đời xưa lúc ăn uống đều có lễ người sáng thủy ra sự ăn uống rồi mới ăn uống sau. Lúc dâng cơm vua ăn, người nhà bếp phải nếm các thứ đồ ăn trước).

32. Bằng hữu tử vô sở qui, viết ư ngã thấn.

(Xem trong bộ tứ thư chính văn chữ nho về thiên Hương-đảng tờ 29.)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử khi gặp người bạn mất mà không có chỗ thân-thích nào nương tựa được, thì ngài nói ta vì bạn mà làm lễ quyền táng, ấy là ngài hậu tình bằng hữu vậy.

33. Bằng hữu chi quĩ, tuy xa mã phi tế nhục bất bái.

(Xem trong bộ tứ thư chính văn chữ nho về thiên Hương-đảng tờ 29)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử xử với bạn, dẫu bạn có đem cho xe ngựa là vật quí trọng, song cũng là nghĩa bàu-bạn giúp đỡ cho nhau, thì ngài cứ lấy mà không lạy tạ, chỉ có khi nào bạn cho thịt tế, thì ngài lạy tạ rồi mới nhận, ấy là ngài kính tổ tiên bạn cũng như tổ tiên mình.

31. Vấn nhân ư tha bang, tái bái nhi tống chi.

(Xem trong tứ thư chính văn chữ nho về thiên Hương-đảng tờ 28)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử khi có sai người đi hỏi thăm người ở nước khác, lạy hai lạy mà tiến đi, ấy là trọng nghĩa bạn vậy.

35. Tử Cống vấn hữu. Tử viết: trung cáo nhi thiện đạo chi, bất khả tắc chỉ, vô tự nhục yên.

(Xem trong bộ tứ thư chính văn chữ nho về thiên Nhan-uyên tờ 9)

DỊCH NGHĨA — Ông Tử-cống (học-trò cao-đệ đức Khổng-tử) hỏi đạo chơi bạn. Đức Khổng-tử đáp rằng: Đạo xử với bạn, như bạn có lỗi thì hết lòng răn bảo mà thiện từ dẫn dụ; nếu bạn không nghe thì thôi, đừng để đến nỗi tuyệt giao mà tự thủ nhục.