Bước tới nội dung

Luận ngữ (Dương Bá Trạc dịch)/Quyển trên/Loại thứ V

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Luận ngữ của Khổng Tử, do Dương Bá Trạc dịch
Loại thứ V. Nói về lễ nhạc

Loại thứ V

Nói về lễ-nhạc

136. Hữu-tử viết: Lễ chi dụng hòa vi quí; tiên-vương chi đạo tư vi mĩ, tiểu đại do chi; hữu sở bất hành, tri hòa nhi hòa, bất dĩ lễ tiết chi, diệc bất khả hành dã.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Học-nhi tờ 2).

DỊCH NGHĨA — Ông Hữu-tử nói: Lễ chủ tại kính mà dùng lễ thì quí tại hòa. Đạo đứng tiên-vương thật là tốt, việc nhỏ việc lớn đều bởi hòa mà nên; vậy mà có điều không làm được, là vì biết hòa là quí mà nhất thiết dụng hòa, không biết lấy lễ ngăn ngừa, thành ra phóng đãng quá cũng không sao làm được.

137. Khổng-tử vị Quí-thị bát-dật vũ ư đình, thị khả nhẫn dã, thục bất khả nhẫn dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Bát-dật tờ 5).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Họ Quí là nhà quan đại-phu mà múa tám hàng nhạc công ở sân miếu (đời xưa có việc tế tự yến hội, dùng đến nhạc công. thì thiên-tử được dùng tám hàng nhạc công, tám hàng nhạc thì mỗi hàng sắp tám người; vua các nước hầu thì chỉ được dùng sáu hàng, mỗi hàng sắp sáu người: đại-phu thì chỉ được dùng bốn hàng, mỗi hàng sắp bốn người; quan sĩ thì chỉ được dùng hai hàng, mỗi hàng sắp hai người); sự thất lễ đến thế mà còn nhẫn tâm làm được, thì còn cái ác gì mà không nhẫn tâm làm được vậy.

138. Tam gia giả dĩ Ung triệt. Tử viết: Tướng duy tích-công; thiên-tử mục mục, hề thủ ư tam-gia chi đường?

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Bát-dật tờ thứ 5).

DỊCH NGHĨA — Ba nhà quan đại-phu nước Lỗ khi tế ở gia-miếu, lễ Triệt-soạn hát thơ Ung (thơ Ung là một khúc hát lúc lễ Triệt-soạn trong miếu đức thiên-tử) Đức Khổng-tử cười rằng: Trong thơ Ung có câu: Tướng lễ là các vua chư-hầu; đức thiên-tử đứng chủ tế, hình dung chăm chắm rất là kính cẩn. Nay ba nhà là quan đại phu, có ai là tích-công, ai là thiên-tử? Không hiểu lấy nghĩa gì mà dùng thơ ấy ở trong tư-miếu ba nhà?

139. Tử viết: Nhân nhi bất nhân, như lễ hà! Nhân nhi bất nhân, như nhạc hà?

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Bát-dật tờ 5)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: Nếu người mà bất nhân, thì xử mình tất không kính, đãi người tất không hòa; không kính thì dùng lễ làm sao được! Không hòa thì dùng nhạc làm sao được!

140. Lâm-Phóng vấn lễ chi bản. Tử viết: Đại tai vấn. Lễ dữ kỳ xa dã ninh kiệm. Tang dữ kỳ dị dã ninh thích.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Bát-dật tờ 6).

DỊCH NGHĨA — Ông Lâm-Phóng (học-trò đức Khổng-tử) hỏi thế nào là gốc lễ? Đức Khổng-tử khen rằng: Học lễ mà biết hỏi đến chỗ gốc, có chí lớn lắm thay! Này, làm lễ mà chuyên chuộng xa-xỉ, dữ-kỳ thế thà chủ kiệm-ước còn hơn. Cư tang mà chỉ chuộng văn sức, dữ kỳ thế thà chủ thương xót còn hơn. Kiệm-ước và thương-xót tức là gốc lễ vậy.

141. Quí-thị lữ ư Thái-sơn. Tử vị Nhiễm-Hữu viết: Nhữ phất năng cứu dư? Đối viết: Bất năng. Tử viết: Ô-hô! Tằng vị Thái-sơn bất như Lâm-Phóng hồ?

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Bát-dật tờ 6).

DỊCH NGHĨA. — Họ Quí (quan đại-phu nước Lỗ) tế lữ (tế thần núi) ở núi Thái-sơn. Đức Khổng-tử bảo ông Nhiễm-Hữu rằng: Họ Quí tiếm lễ như thế; mi không cứu chính được hay sao? (Ông Nhiễm-Hữu làm gia-thần họ Quí) Ông Nhiễm-hữu thưa rằng: Không thể được. Đức Khổng-tử than rằng: Than ôi! Lâm-Phóng còn biết hỏi gốc lễ: ai bảo thần núi Thái-sơn lại không biết lễ bằng Lâm-Phóng mà hưởng đồ tế phi lễ của họ Quí dư? (cổ lễ vua chư-hầu phụng mệnh thiên-tử mới được tế thần núi),

142. Tử viết: Hạ lễ ngô năng ngôn chi; Kỷ bất túc trưng dã. Ân lễ ngô năng ngôn chi; Tống bất túc trưng dã. Văn hiến bất túc cố dã; túc tắc ngô năng trưng chi hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Bát-dật tờ 6).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử nói: Lễ nhà Hạ ta có thể nói được, mà nước Kỷ là con cháu nhà Hạ không còn có gì đủ chứng lời ta. Lễ nhà Ân ta có thể nói được, mà nước Tống là con cháu nhà Ân không còn có gì đủ chứng lời ta. Vì sách vở cùng di-hiền không đủ, nên không lấy gì làm chứng được; nếu đủ thì ta lấy đó mà làm chứng được, chẳng là tốt lắm ru?

143. Tử viết: Đế tự ký quán nhi vãng giả, ngô bất dục quan chi hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Bát-dật tờ 6).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Nước Lỗ tế Đế (tế Đế là tế ông sinh ra ông Thủy tổ, một lễ tế lớn của ngôi Thiên-tử, chư hầu đều không được làm) đã là phi lễ, mà trong khi tế từ lúc đã rót rượu trở đi, lại càng trễ-nải bất kính lắm, ta không còn muốn xem nữa.

144. Hoặc vấn Đế chi thuyết. Tử viết: Bất tri dã; tri kỳ thuyết giả chi ư thiên-hạ dã, kỳ như thị chư tư hồ. Chỉ kỳ chưởng.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Bát-dật tờ 6).

DỊCH NGHĨA — Có người hỏi lễ tế Đế là thế nào? Đức Khổng-tử đáp rằng: Tôi không biết; nếu biết được nghĩa tế Đế, thì rõ hết sự lý, suy ra trị thiên hạ cũng như trông ở đây này. Ngài nói rồi chỉ vào bàn tay, ý bảo minh bạch dễ thấy cũng như vậy. (Nước Lỗ tế Đế là tiếm lễ. Ngài nói ra thì rõ lỗi vua, nên trả lời không biết).

145. Tế như tại. Tế thần như thần tại.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Bát-dật tờ 6).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử tế tiên-tổ thì tưởng như tiên-tổ ngồi ở trên; tế các vị thần khác thì cũng tưởng như các vị thần ngồi ở trên; lòng ngài thành-kính như thế.

146. Tử viết: Ngô bất dự tế như bất tế.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Bát-dật tờ 6).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Ta hoặc có khi nhân việc gì mà không được dự vào tế, thì trong bụng vẫn áy-náy như là chưa tế.

147. Tử viết: Chu giám ư nhị đại, úc úc hồ văn tai. Ngô tòng Chu.

(Xem trong bộ Tứ thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Bát-dật tờ 7)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Nhà Chu xem lễ của nhà Hạ nhà Ân hai đời trước, mà chỗ thêm chỗ bớt, lễ văn rờ rỡ thịnh lắm thay! Ta quyết theo lễ nhà Chu.

148. Tử nhập Thái-miếu, mỗi sự vấn. Hoặc viết: Thục vị Trâu nhân chi tử tri lễ hồ? Nhập Thái-miếu, mỗi sự vấn. Tử văn chi viết: Thị lễ dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Bát-dật tờ 7).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử vào trong nhà Thái-miếu nước Lỗ, thấy mỗi sự gì cũng hỏi người ta. Có kẻ cười rằng: Ai bảo con người ấp Trâu biết lễ; (Đức Khổng-tử là con ông Thúc-lương-Ngột làm quan ấp Trâu) vào trong nhà Thái-miếu mà mỗi việc mỗi hỏi, người biết lễ như thế ư? Ngài nghe nói, bảo rằng: Lễ chủ kính; bởi lòng kính cẩn mà mỗi việc mỗi hỏi, thế tức là lễ vậy.

149. Tử viết: Sự quân tận lễ, nhân dĩ vi siểm dã.

(Xem trong bộ Tử-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Bát-dật tờ 7).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Thờ vua mà hết lễ, người ta lại cho là siểm nịnh vậy.

150. Tử-Cống dục khử Cốc-sóc chi ký-dương. Tử viết: Nhĩ ái kỳ dương, ngã ái kỳ lễ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Bát-dật tờ 7.)

DỊCH NGHĨA — Ông Tử-Cống muốn bỏ con dê sống làm lễ Cốc-sóc (Lễ, vua chư-hầu chịu lịch của thiên-tử ban cho, mỗi mồng một đầu tháng giết dê làm lễ chịu ngày sóc, gọi là Cốc-sóc; bấy giờ nước Lỗ đã không làm lễ ấy nữa, mà quan hữu-ti còn mỗi tháng cung một con dê, nên ông Tử-Cống muốn bỏ). Đức Khổng-tử bảo rằng: Mi tiếc con dê, mà ta tiếc lễ ấy: để con dê thì lễ ấy vẫn còn, chẳng hơn bỏ con dê thì đến cái tên lễ ấy cũng mất nốt ru?

151. Tử ngữ Lỗ Thái-sư nhạc viết: Nhạc kỳ khả tri dã: Thủy tác, hấp như dã; túng chi, thuần như dã, hiệu như dã, dịch như dã, dĩ thành.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Bát-dật tờ 8).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói chuyện nhạc với quan Thái-sư nước Lỗ rằng: Nhạc có thể biết được; lúc mới khởi nhạc thì hợp đủ mọi tiếng: đến lúc nhạc đại khởi, thì tiếng nọ hòa với tiếng kia, tiếng nào rõ ra tiếng ấy, tiếng này nối liền với tiếng khác; thế là thành một khúc nhạc vậy.

152. Tử vị Thiều tân mỹ hĩ, hữu tận thiện dã. Vị Vũ tận mỹ hĩ, vị tận thiện dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Bát-dật tờ 8).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Nhạc là cái ảnh để tượng công đức một đời vua. Vua Thuấn, vua Vũ trị-công đều thịnh mà thánh-đức có hơn kém nhau; cho nên nhạc Thiều của vua Thuấn đã hết tốt rồi lại hết lành nữa, mà nhạc Vũ của vua Vũ hết tốt rồi nhưng chưa được hết lành vậy.

153. Tử viết: Năng dĩ lễ nhượng vi quốc hồ hà hữu; bất năng dĩ lễ-nhượng vi quốc, như lễ hà.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Lý-nhân tờ 9).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng tử dạy rằng: Hay lấy lễ nhượng mà trị nước thì nước trị có khó gì; nếu không hay lấy lễ-nhượng trị nước thì dùng gì được lễ.

154. Tử tại Tề văn Thiều, tam nguyệt bất tri nhục vị, viết: Bất đồ vi nhạc chi chí ư tư dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thuật-nhi tờ 18).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử ở nước Tề, nghe nhạc Thiều, trong bụng vui về nhạc, suốt ba tháng trời ăn không biết mùi thịt. Khen rằng Không ngờ vua Thuấn làm nhạc hay đến như thế.

155. Trần Tư-bại vấn Chiêu-công tri lễ hồ? Khổng-tử viết: Tri lễ. Khổng-tử thoái, ấp Vu-mã-Kỳ nhi tiến chi viết: Ngô văn quân-tử bất đảng; quân-tử diệc đảng hồ? Quân thú ư Ngô vi đồng tính, vị chi Ngô Mạnh-tử. Quân nhi tri lễ, thục bất tri lễ. Vu-mã-Kỳ dĩ cáo. Tử viết: Khâu dã hạnh; cẩu hữu quá, nhân tất tri chi.

(Xem trong bộ Tứ-thư chinh-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thuật nhi tờ 19).

DỊCH NGHĨA — Quan Tư-bại nước Trần hỏi đức Khổng-tử rằng: Vua Chiêu-công nước Lỗ là người biết lễ không? Đức Khổng-tử đáp rằng: Vua ta biết lễ. Ngài lui khỏi. Quan Tư-bại vái ông Vu-mã-Kỳ (học-trò đức Khổng-tử) mà hỏi rằng: Ta nghe người quân-tử không có tư-đảng với ai; nay người quân-tử cũng có tư-đảng hay sao? Vua Chiêu-công lấy con gái ở nước Ngô là người cùng họ, gọi tránh tên là Mạnh-tử (nước Ngô với nước Lỗ đều họ Cơ) nước Ngô; nếu vua như thế mà bảo là người biết lễ, thì còn ai là người không biết lễ. Ông Vu-mã-Kỳ thuật chuyện lại với ngài. Ngài nói: Khâu này may quá, nếu có điều gì lỗi thì người ta hẳn biết ngay. (Vua Chiêu-công vẫn là người không biết lễ; đức Khổng-tử không nỡ nói xấu vua mà đành nhận lỗi mình).

156. Tử viết: cung nhi vô lễ tắc lao; thận nhi vô lễ tắc ti; dũng nhi vô lễ tắc loạn; trực nhi vô lễ tắc giảo.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn quyển Thượng-luận về thiên Thái-bá tờ 20).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dạy rằng: Cung kính mà không biết lễ thì thành ra nhọc-nhằn, cẩn-thận mà không biết lễ thì thành ra nhút nhát. Dũng hãn mà không biết lễ thì thành ra bội loạn. Trực-tiệt mà không biết lẽ thì thành ra cấp-bách.

157. Tử viết: Sư Chí Chi thủy, Quan-thư chi loạn, dương dương hồ doanh nhĩ tai.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn quyển Thượng luận về thiên Thái-bá tờ 22)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Quan nhạc-sư Chí lúc mới làm nhạc quan. hát đến chương rốt thơ Quan-thư, tiếng nhạc êm-ái đầy tai, tốt lắm thay!

158. Tử viết: ma miện lễ dã, kim dã thuần, kiệm; ngò tòng chúng. Bái hạ lễ dã, kim bái hồ thượng, thái dã; tuy vi chúng, ngô tòng hạ.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển thượng-luận về thiên Tử-hãn tờ 23).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử nói: Đời xưa dùng mũ-miện làm bằng gai là cổ lễ vậy; đời nay dùng tơ thì bớt công mà dễ làm, có ý kiệm-ước; ta cũng theo chúng dùng tơ. Bề tôi lạy vua ở dưới thềm là cổ-lễ vậy; đời nay lạy vua ở trên thềm thì là quá phận; tuy trái chúng, ta cứ theo lễ lạy ở dưới thềm.

159. Tử tật bệnh. Tử-Lộ sử môn nhân vi thần. Bệnh nhàn, viết: cửu hĩ tai. Do chi hành trá dã, vô thần nhi vi hữu thần. Ngô thùy khi, khi thiên hồ. Thả dư dữ kỳ tử ư thần chi thủ dã, vô ninh tử ư nhị tam tử chi thủ hồ. Thả dư túng bất đắc đại táng, dư tử ư đạo-lộ hồ.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Tử-hãn tờ 24).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử có bệnh nặng. Ông Tử-lộ định bắt môn-nhân làm gia thần để trị tang. Đến khi ngài bệnh hơi bớt, bảo rằng: Trò Do cứ làm sự giả dối hoài. Theo lễ, ta không có gia-thần, mà làm ra có gia-thần, (theo lễ quan thượng-đại-phu mới được có gia-thần) Ta dối ai? dối được trời chăng? Vả ta dữ kỳ chết ở trong tay bọn gia-thần, chẳng thà chết ở trong tay hai ba gã học-trò còn hơn. Vả ta dù không được lễ đại táng, ta há đến nỗi chết ở đường sá hay sao?

160. Tử viết: ngô tự Vệ phản Lỗ nhiên hậu Nhạc chính, Nhã Tụng các đắc kỳ sở.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Thượng luận về thiên Tử-hãn tờ 24)

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử nói: Ta từ nước Vệ về nước Lỗ sửa soạn kinh Nhạc rồi sau bộ Nhạc mới chính, thi Nhã thi Tụng ở trong nhạc chương đều có thứ tự, đắc sở mà không sai lầm.

161. Tử viết: thượng hiếu lễ tắc dân dị sử dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ 18)

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử nói rằng: Người trên ham lấy lễ mà dậy dân, thì dân có lễ phép mà dễ sai khiến.

162. Tử-Du viết: tang trí hồ ai nhi chỉ.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Tử-Trương tờ 34).

DỊCH NGHĨA. — Ông Tử-du nói: Việc tang cột tại hết lòng thương xót thì thôi.

163. Tăng-tử viết: Ngô văn chư Phu-tử: nhân vị hữu tự trí giả dã; tất dã thân tang hồ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Tử-Trương tờ 34).

DỊCH NGHĨA — Ông Tăng-tử nói: Ta nghe thầy ta có dạy rằng: Người ta chưa có việc gì tự nhiên mà cố sức làm; họa chỉ có khi gặp tang cha mẹ chăng?

164. Tử viết: Lễ vân lễ vân, ngọc bạch vân hồ tai. Nhạc vân nhạc vân, chung cổ vân hồ tai.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho về thiên Dương-hóa tờ 28).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: Gọi là lễ, gọi là lễ, há phải chỉ là ngọc lụa mà thôi đâu! Gọi là nhạc, gọi là nhạc, há phải chỉ là chuông trống mà thôi đâu! Kính mới là gốc lễ, mà hòa mới là gốc nhạc vậy.

165. Tử viết: Tiên tiến ư lễ nhạc, giả-nhân dã. Hậu tiến ư lễ nhạc, quân-tử dã, như dụng chi tắc ngô tòng tiên tiến.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về Thiên tiên tiến tờ 1).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Lễ nhạc của các bậc tiên tiến vừa co văn vừa có chất, thì người đời bây giờ cho là giã-nhân vậy. Lễ nhạc của các người hậu tiến văn nhiều hơn chất, thì người đời bây giờ lại cho là quân-tử vậy. Nếu có dùng lễ nhạc thì ta theo các bậc tiên tiến.