Bước tới nội dung

Luận ngữ (Dương Bá Trạc dịch)/Quyển trên/Loại thứ VII

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Luận ngữ của Khổng Tử, do Dương Bá Trạc dịch
Loại thứ VII. Nói về chí khí

Loại thứ VII
Nói về chí khí

169. Tử viết: Sĩ chí ư đạo nhi sỉ ác y ác thực giả, vị túc dữ nghị dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn quyển Thượng-luận về thiên Lý-nhân tờ 9).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: Kẻ sĩ có chí muốn cầu đạo mà lại còn lấy mặc xấu ăn xấu làm sỉ, thì chưa đủ cùng bàn đạo lý vậy.

170. Nhan-Uyên Quí-Lộ thị. Tử viết: Hạp các ngôn nhĩ chí? Tử-Lộ viết: Nguyện xa mã ý khinh cừu dữ bằng hữu cộng, tệ chi nhi vô hám. Nhan-Uyên viết: Nguyện vô phạt thiện, vô thi lao. Tử Lộ viết: Nguyện văn tử chi chí? Tử viết: Lão giả an chi; bằng hữu tín chi; thiếu giả hoài chi.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Công-giã-trường tờ 13).

DỊCH NGHĨA — Ông Nhan-Uyên. ông Quí-Lộ ngồi hầu đức Khổng-tử. Ngài hỏi rằng: Chí các ngươi thế nào? Sao không cùng nói ra để ta nghe. Ông Tử-Lộ thưa rằng: Chí tôi muốn có xe ngựa mặc áo lông cừu nhẹ, cùng dùng chung với bè-bạn, dẫu đến rách nát cũng không lấy làm ân-hận. Ông Nhan-Uyên thưa rằng: Chí tôi muốn không khoe điều hay với người, không kể công-lao với người. Ông Tử-Lộ hỏi: Chúng tôi muốn được nghe chí thầy. Ngài đáp rằng: Ta muốn khiến cho người già đều được yên vui với ta, bè-bạn đều tin ta, người trẻ đều mến ta, ấy là chí ta vậy.

171. Tử viết: Thậm hĩ ngô suy dã; cửu hĩ ngô bất phục mộng kiến Châu-công.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thuật-nhi tờ 17).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử than rằng: Khi nhỏ chí-khí ta còn đương hăng-hái, muốn làm đạo ông Châu-công, cho nên thường nằm chiêm bao thấy; bây giờ ta suy lắm mất rồi; đã lâu nay ta không lại nằm chiêm bao thấy ông Châu-công.

172. Tăng-tử viết: Sĩ bất khả dĩ bất hoằng nghị; nhiệm trọng nhi đạo viễn; nhân dĩ vi kỷ nhiệm, bất diệc trọng hồ; tử nhi hậu dĩ, bất diệc viễn hồ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thái-bá tờ 21).

DỊCH NGHĨA — Ông Tăng-tử nói: Kẻ sĩ phải có cái chí-khí rộng lớn cương-nghị mới được, bởi vì gánh vác thì nặng mà đường đi thì xa; lấy làm nhân là cái trách-nhiệm của mình, gánh vác chẳng là nặng lắm ru? làm nhân đến chết thì thôi, đường đi chẳng là xa lắm ru?

173. Tử viết: Tam niên học bất chí ư cốc, bất dị đắc dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thái-bá tờ 22)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Người học lâu đến ba năm mà không có chí cầu lộc, không dễ được mấy người như thế vậy.

174. Tử viết: Tam quân khả đoạt súy dã; thất-phu bất khả đoạt chí dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Tử-hãn tờ 23).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Ba quân dẫu đông người mà người ta còn có thể đánh được, cướp lấy quan súy; kẻ thất-phu mà lập chí kiên cố, thì không ai cướp được chí nó nổi. Người ta lại chẳng nên lập chí cho vững dư?

175. Tử viết: Tuế hàn nhiên hậu tri tùng bách chi hậu điêu dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Tử-hãn tờ 24).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Năm đến mùa rét, cây cỏ khô rụng hết. rồi mới biết cây thông cây trắc là khô rụng về sau vậy, cũng như đến lúc loạn rồi mới biết tôi trung.

176. Tử-Lộ, Tăng-Tích, Nhiễm-Hữu, Công-tây-Hoa thị tọa. Tử viết: Dĩ ngô nhất nhật trưởng hồ nhĩ, vô ngô dĩ dã. Cư tắc viết: bất ngô tri dã; như hoặc tri nhĩ, tắc hà dĩ tai? Tử-Lộ suất nhĩ nhi đối viết: Thiên thặng chi quốc, nhiếp hồ đại quốc chi gian, gia chi dĩ sư lữ, nhân chi dĩ cơ cận. Do dã vi chi, tị cập tam niên, khả sử hữu dũng thả tri phương dã. Phu-tử sẩn chi. — Cầu nhĩ hà như? — Đối viết: Phương lục thất thập, như ngũ lục thập. Cầu dã vi chi, tị cập tam niên, khả sử túc dân; như kỳ lễ nhạc, dĩ sĩ quân-tử. — Xích nhĩ hà như? — Đối viết: Phi viết năng chi, nguyện học yên. Tôn-miếu chi sự, như hội-đồng, đoan chương-phủ, nguyện vi tiểu tướng yên. — Điểm nhĩ hà như? — Cổ sắt hi khanh nhĩ, xạ sắt nhi tác. Đối viết: dị hồ tam tử giả chi soạn. Tử viết: Hà thương hồ, diệc các ngôn kỳ chí dã. — Viết: Mộ xuân giả, xuân phục ký thành; quán giả ngũ lục nhân, đồng tử lục thất nhân; dục hồ Nghi, phong hồ Vũ-vu, vịnh nhi qui. Phu-tử vị nhiên thán viết: Ngô dữ điểm dã. Tam tử giả xuất. Tăng-Tích hậu. Tăng-Tích viết: Phù tam tử giả chi ngôn hà như? Tử viết: diệc các ngôn kỳ chí dã dĩ hĩ. Viết: Phu-tử hà sẩn Do giã? Viết: Vi quốc dĩ lễ; kỳ ngôn bất nhượng, thị dĩ sẩn chi. — Duy Cầu tắc phi bang dã dư? — An kiến phương lục thất thập như ngũ lục thập nhi phi bang dã giả. — Duy Xích tắc phi bang dã dư? — Tôn-miếu hội đồng phi chư hầu nhi hà. Xích dã vi chi tiểu, thục năng vi chi đại.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Tiên tiến tờ 4).

DỊCH NGHĨA — Ông Tử-Lộ, ông Tăng-Tích, ông Nhiễm-Hữu, ông Công-tây-hoa ngồi hầu đức Khổng tử. Ngài bảo rằng: Lũ mi ngại rằng ta hơn tuổi mi ít ngày mà không dám nói, nhưng đừng ngại ta vậy. Lúc ở thường thì bảo rằng không ai biết dùng mình; như hoặc có người dùng mi, thì mi lấy gì mà ứng dụng với người? Ông Tử-Lộ đường-đột mà thưa ngay rằng: Nước nghìn cỗ xe (đời xưa đánh trận bằng xe, nước có nghìn cỗ binh-xa là một nước chư-hầu), ở xen vào giữa hai nước lớn, thêm có việc chiến-tranh, lại nhân có nạn đói khó, thời thế như thế, mà Do (tên ông Tử-Lộ) này làm liền được đến ba năm, khá khiến cho dân có dũng khí và biết mộ nghĩa vậy. Đức Khổng-tử nghe nói mỉm cười. Ngài hỏi đến ông Nhiễm-Hữu rằng: Trò Cầu (tên ông Nhiễm-Hữu) kia thế nào? Ông Nhiễm-Hữu thưa rằng: Nước vuông sáu bảy mươi dặm hay là năm sáu mươi dặm, Cầu này làm liền được ba năm, khá khiến cho dân đủ của dùng. Còn đến lễ nhạc, xin để đợi người quân-tử. Đức Khổng-tử hỏi đến ông Công-tây-Hoa rằng: Trò Xích (tên ông Công-tây-Hoa) kia thế nào? Công-tây-Hoa thưa rằng: Tôi không dam nói là hay làm lễ nhạc, nhưng bụng tôi muốn học làm. Phỏng như khi trong nước có việc tế nhà tôn-miếu hay là có việc hội-đồng; tôi muốn được mặc áo huyền-đoan, đội mũ chương-phủ (đồ lễ-phục đời xưa), xin làm tiểu-tướng mà trợ lễ được. Đức Khổng-tử hỏi đến ông Tăng-Tích rằng: Trò Điểm (tên ông Tăng-Tích) kia thế nào? Ông Tăng-Tích đương gảy đàn sắt, nghe hỏi mà gảy tiếng thưa, dư-âm còn déo-dắt, để đàn xuống mà đứng dậy thưa rằng: Chí tôi khác với việc ba người kia làm. Đức Khổng-tử bảo rằng: Hại gì đâu, cũng đều là nói chí mình cả. Ông Tăng-Tích thưa rằng: Đương tháng mộ xuân (tháng ba), áo mặc mát đã may xong, cùng với năm sáu người quán (người hai mươi tuổi trở lên, đã làm lễ gia quan rồi), bảy tám đứa trẻ con, đi tắm ở sông Nghi, hứng gió ở đàn Vũ-vu, hát mà về. Chí tôi chỉ muốn thế mà thôi. Đức Khổng-tử ngậm-ngùi than rằng: Ta khen cho cái chí cao-thượng của trò Điểm vậy. Ba người kia lui ra rồi, ông Tăng-Tích ngồi lại sau, hỏi đức Khổng-tử rằng: Lời nói của ba người kia thế nào? Ngài đáp rằng: Cũng là đều nói chí mình cả đó mà thôi. Ông Tăng-Tích lại hỏi rằng: Thầy sao cười anh Do? Ngài đáp rằng: Trị nước phải có lễ nh ợng. Câu noi của trò Do không tốn-nhượng cho nên ta cười. Ông Tăng-Tích lại hỏi: Như anh Cầu không phải là nói trị nước dư? Ngài đáp: Vuông sáu bảy mươi dặm hay là năm sáu mươi dặm không phải là một nước thì là gì? Ông Tăng-Tích lại hỏi: như anh Xích không phải là nói trị nước dư? Ngài đáp rằng: Việc tế tôn-miếu với việc hội-đồng chẳng phải là việc nước chư-hầu mà là gì? Trò Xích nói khiêm là xin l m tiểu-tướng, nếu trò Xích mà làm tiểu-tướng thì ai là người làm đại-tướng nổi?

177. Tử viết: Sĩ nhi hoài cư, bất túc dĩ vi sĩ hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ 13).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dạy rằng: Kẻ sĩ mà chỉ lo nghĩ về sự ăn ở cầu cho được yên vui, thì là chí khí đê hạ, không đáng gọi là kẻ sĩ vậy.

178. Tử viết: Quân-tử hữu tam giới: thiếu chi thời, huyết khí vị định, giới chi tại sắc; cập kỳ tráng giã, huyết khí phương cương, giới chi tại đấu; cập kỳ lão giã, huyết khí ký suy, giới chi tại đắc.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Quí-thị tờ 25).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử nói: Người quân-tử có ba điều răn: Lúc còn nhỏ huyết khí chưa định, răn về điều hiếu sắc. Kịp đến lúc lớn, huyết khí đương mạnh, răn về điều tranh đấu. Kịp đến lúc già, huyết khí đã suy, răn về điều tham được.