Nghị quyết của Ban Thường trực Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về tổ chức và lề lối làm việc của ban

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Để thực hiện Nghị quyết "Kiện toàn tổ chức Quốc hội" của Quốc hội trong khóa họp thứ 6, Ban Thường trực Quốc hội quyết nghị:

I- Nhiệm vụ cụ thể của Ban Thường trực Quốc hội[sửa]

1. Quan hệ với Chính phủ:

Cần phải thực hiện đúng các nhiệm vụ đã quy định trong các điều khoản của Nghị quyết Quốc hội ngày 24-1-1957.

a) Biểu quyết các sắc luật do Chính phủ đề ra. Những dự thảo sắc luật của Chính phủ đưa ra trình bày trước Ban Thường trực Quốc hội phải do một đại diện Chính phủ thuyết trình. Những sắc luật do Ban Thường trực biểu quyết, đều đem trình Quốc hội vào khóa họp gần nhất. Những sắc luật được Quốc hội chuẩn y trở thành những đạo luật của Nhà nước.

b) Xét và đề ra Chính phủ sửa đổi hoặc hủy bỏ những sắc lệnh và nghị định không phù hợp với những đạo luật và sắc luật.

c) Thỏa thuận với Chính phủ về việc Chính phủ cử người thay thế hoặc bổ sung các Bộ trưởng. Danh sách những Bộ trưởng được cử sẽ đưa trình Quốc hội trong khóa họp gần nhất.

d) Thỏa thuận với Chính phủ về việc thi hành những hiệp ước ký với nước ngoài. Những hiệp ước sau khi ký và được Ban Thường trực Quốc hội thỏa thuận cho thi hành phải đưa trình Quốc hội trong khóa họp gần nhất.

e) Phối hợp với Chính phủ tiến hành tuyển cử bổ sung ở các đơn vị bầu cử miền Bắc theo như Nghị quyết ngày 24-1-1957 của Quốc hội.

Về thủ tục thực hiện các nhiệm vụ trên đây, ông ủy viên thư ký sẽ liên lạc với Văn phòng Thủ tướng phủ để có quy định cụ thể.

2. Quan hệ với các đại biểu Quốc hội:

Ban Thường trực Quốc hội có nhiệm vụ:

- Giữ liên lạc với các đại biểu Quốc hội để nhận các ý kiến, phản ánh tình hình và nguyện vọng của nhân dân do đại biểu gọi đến để nghiên cứu và đề ra với các cơ quan hữu quan giải quyết. Liên lạc bằng thơ từ, gửi Công báo để giúp các đại biểu theo dõi các chính sách lớn của Nhà nước.

- Hiểu rõ tình hình các đại biểu Quốc hội: số lượng, lịch sử, công tác, hoạt động, thuyên chuyển v.v..

- Thi hành các quy định về quyền lợi vật chất và tinh thần của đại biểu Quốc hội.

- Tổ chức các Đoàn đại biểu Quốc hội đi tiếp xúc với nhân dân mỗi khi cần thiết.

3. Quan hệ với nhân dân:

Nghiên cứu và đề nghị với Chính phủ giải quyết những đơn khiếu nại, thỉnh cầu hoặc đề nghị của nhân dân gửi đến.

4. Triệu tập và tổ chức các khóa họp Quốc hội.

5. Một số công tác khác trước khóa họp thứ 7:

- Giải quyết một số vấn đề về tổ chức và lề lối làm việc:

+ Thảo nội quy Ban Thường trực Quốc hội.

+ Dự thảo nội quy Quốc hội.

+ Chấn chỉnh Văn phòng.

+ Trùng tu và trang hoàng trụ sở của Ban.

- Chuẩn bị và tổ chức khóa họp Quốc hội lần thứ 7 vào đầu tháng 7 năm 1957.

II- Tổ chức văn phòng của Ban Thường trực Quốc hội[sửa]

Căn cứ vào các nhiệm vụ của Ban Thường trực Quốc hội do Nghị quyết ngày 24-1-1957 của khóa họp thứ 6 quy định và các công tác cụ thể trên đây, Văn phòng Ban Thường trực Quốc hội sẽ gồm 2 bộ phận:

1. Phòng nghiên cứu chung với các nhiệm vụ:

- Giữ quan hệ với các đại biểu (không kể trong các vấn đề hành chánh, tài chính do phòng văn thư, hành chánh, quản trị đảm nhiệm).

- Thu nhận và nghiên cứu các đơn từ, nguyện vọng của nhân dân và để cùng ý kiến giúp ủy viên phụ trách giải quyết.

- Liên lạc với Văn phòng Thủ tướng phủ và các Bộ về các vấn đề quan hệ giữa Ban Thường trực Quốc hội và Chính phủ.

- Theo dõi việc thực hiện các Nghị quyết của Ban Thường trực Quốc hội.

- Chuẩn bị các khóa họp Quốc hội, các phiên họp của Ban Thường trực Quốc hội.

- Liên lạc với các Tiểu ban để nắm tình hình.

- Phục vụ Ban sửa đổi Hiến pháp về phương tiện làm việc.

- Thu thập tài liệu để giúp Ban Thường trực Quốc hội làm báo cáo, lập chương trình công tác.

- Sơ bộ nghiên cứu các công văn đến, trước khi trình bày Ban hay chuyển cho các Tiểu ban để giải quyết.

- Nghiên cứu các vấn đề chung về Quốc hội: Nội quy Ban Thường trực Quốc hội, Nội quy Quốc hội.

- Liên lạc với báo chí, đài phát thanh để tuyên truyền về các hoạt động của Quốc hội, của Ban Thường trực Quốc hội hoặc của các đại biểu Quốc hội.

Các ủy viên thường trực có thể phân công phụ trách một hay nhiều nhiệm vụ trên đây, với một hay nhiều cán bộ giúp việc. Các ủy viên phụ trách các vấn đề sẽ chịu trách nhiệm trước Ban Thường trực Quốc hội, Văn phòng có nhiệm vụ trình bày vấn đề, chuẩn bị ý kiến.

2. Phòng Văn thư, hành chánh quản trị với các nhiệm vụ:

- Giữ văn thư của Ban, lưu trữ hồ sơ, thư viện.

- Tiếp phát công văn, đến và đi.

- Đánh máy, in ronéo.

- Giao thông, liên lạc, điện thoại thường trực…

- Nhân sự cơ quan.

- Ngân sách Quốc hội.

- Quản lý tài sản cơ quan.

- Khánh tiết, tiếp tân.

- Tham gia tổ chức các khóa họp Quốc hội.

Văn phòng đặt dưới sự lãnh đạo của Chánh Văn phòng do ủy viên Thư ký kiêm nhiệm và Phó Văn phòng do Ban Thường trực Quốc hội cử.

III- Các tiểu ban[sửa]

Do yêu cầu của các công tác trước mắt như trên, và căn cứ trên Nghị quyết "Kiện toàn tổ chức" mà Quốc hội đã thông qua, Ban Thường trực Quốc hội thành lập 2 Tiểu ban trực thuộc.

1. Tiểu ban luật pháp có nhiệm vụ:

- Nghiên cứu các dự thảo sắc luật do Chính phủ chuyển sang để giúp ý kiến cho Ban Thường trực Quốc hội.

- Nghiên cứu các sắc lệnh, nghị định của Chính phủ ban hành từ nay về sau và đề ra cho Ban Thường trực Quốc hội xét nếu cần.

2. Tiểu ban tuyển cử bổ sung:

Nhiệm vụ Tiểu ban này là phối hợp với Chính phủ để lập kế hoạch tiến hành tuyển cử bổ sung.

Hai Tiểu ban này do Ban Thường trực Quốc hội cử trong các vị ủy viên nên chỉ có tính chất nội bộ, không chịu trách nhiệm trước Quốc hội.

IV- Lề lối làm việc của Ban Thường trực Quốc hội[sửa]

Theo Nghị quyết của Ban Thường trực Quốc hội trong phiên họp ngày 29-1-1957, Ban Thường trực Quốc hội mỗi tháng họp một phiên thường kỳ và trong những trường hợp cần thiết sẽ họp phiên bất thường. Phiên họp thường kỳ sẽ tiến hành vào ngày thứ sáu cuối cùng trong tháng. Các ủy viên thường trực phân công nghiên cứu các vấn đề và trình bày để Ban Thường trực Quốc hội thảo luận và quyết định. Các ủy viên thường trực có thể không thoát ly công tác chuyên môn của mình, trừ Trưởng ban, Phó Trưởng ban và ủy viên Thư ký thường xuyên chuyên trách công việc của Ban. Tùy theo nhu cầu công tác, Ban Thường trực Quốc hội có thể yêu cầu một hay nhiều ủy viên thoát ly công tác chuyên môn để chuyên trách công việc của Ban.

- Trưởng ban phụ trách công việc chung, đại diện cho Ban trong mọi trường hợp, chủ trì các cuộc hội nghị của Ban và ký các giấy tờ quan trọng.

- Phó Trưởng ban giúp Trưởng ban trong các nhiệm vụ trên và thay mặt khi Trưởng ban vắng mặt.

- Ủy viên Thư ký chuẩn bị các cuộc hội nghị của Ban, giới thiệu hoặc thuyết trình các vấn đề đưa ra thảo luận, phụ trách Văn phòng và thay mặt Ban giải quyết các công việc thường trực của Ban, ký các giấy tờ hàng ngày và quản lý ngân sách Quốc hội.

- Các ủy viên chuyên trách cùng với ủy viên Thư ký phân công đảm nhiệm những công tác thường trực của Ban hoặc tham gia các Tiểu ban.

- Các ủy viên khác phân công phụ trách các Tiểu ban hoặc những nhiệm vụ khác do Ban quyết định.

- Các ủy viên dự khuyết sinh hoạt hội nghị và nhận phân công như các ủy viên chính thức, nhưng không biểu quyết trong Hội nghị.

V- Quy chế của đại biểu Quốc hội[sửa]

1. Phụ cấp: Để giúp đỡ các đại biểu có thêm phương tiện làm nhiệm vụ, các đại biểu Quốc hội được hưởng một khoản phụ cấp toàn niên là ba mươi sáu vạn đồng (360.000đ). Phụ cấp này sẽ trả từng quý một vào đầu các tháng 1, 4, 7, 10 trong năm.

Ngoài phụ cấp trên đây, mỗi đại biểu khi đi dự khóa họp Quốc hội được lĩnh một khoản “Hội nghị phí” bằng tiền tương đương với hội nghị phí cao nhất của Chính phủ đã quy định.

2. Đi tàu, xe: Đại biểu Quốc hội, khi đi làm nhiệm vụ ở các địa phương ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình, sẽ dùng các phương tiện giao thông thông thường (tàu hỏa, ô tô, ca nô…) tùy theo quãng đường theo hạng cao nhất. Các phí tổn về tàu xe, sẽ do Ban Thường trực Quốc hội thanh toán theo các thể lệ tài chính hiện hành.

Trong trường hợp Ban Thường trực Quốc hội tổ chức những Đoàn đại biểu với những nhiệm vụ công tác nhất định, Ban Thường trực Quốc hội sẽ cung cấp phương tiện đi lại.

3. Chữa bệnh, nằm bệnh viện: Khi đau ốm cần được điều trị hoặc nằm bệnh viện, các đại biểu Quốc hội được hưởng các tiêu chuẩn về y tế (chỗ nằm, thuốc men, bồi dưỡng) tương đương với Chủ tịch Uỷ ban hành chính tỉnh; đại biểu nào giữ những chức vụ cao hơn, hưởng tiêu chuẩn đã quy định cho chức vụ ấy.

4. Các điểm trong Quy chế này sẽ thi hành bắt đầu từ 1-1-1957.

5. Huy hiệu: Về hình thức và cách sử dụng huy hiệu đã ghi trong nghị quyết của Quốc hội, cần nghiên cứu gấp để Ban Thường trực Quốc hội quyết định trong một phiên họp sau.

VI- Quy chế Ủy viên Thường trực Quốc hội[sửa]

Các ủy viên Ban Thường trực Quốc hội chính thức và dự khuyết đều được hưởng một khoản phụ cấp hàng tháng theo các cấp bậc sau đây của tháng lương 17 bậc ngành hành chánh:

Trưởng ban: bậc 2

Phó Trưởng ban: bậc 3

Ủy viên chính thức: bậc 4

Ủy viên dự khuyết: bậc 5

Các ủy viên có kiêm nhiệm một chức vụ khác có lương trong Chính phủ hay trong đoàn thể, sẽ hưởng khoản lương nào cao hơn.

Về việc chữa bệnh, nằm bệnh viện, các ủy viên Ban Thường trực Quốc hội hưởng chế độ tương đương với các cấp bậc như ở trên.

Vì tính chất, phạm vi và khối lượng công tác của các vị ủy viên Ban Thường trực không giống như các nhân viên Chính phủ cùng cấp bậc, nên về các phương tiện khác tạm quy định như sau:

Về nhà ở: Các ủy viên thường trực, thường xuyên chuyên trách công tác của Ban Thường trực Quốc hội, sẽ được đài thọ nhà ở. Các ủy viên không chuyên trách, không hưởng tiêu chuẩn nhà cửa như nói trên.

Về nhân viên phục vụ: Các ủy viên trong Ban Thường trực Quốc hội đều được đài thọ một nhân viên phục vụ có thể trả bằng tiền.

Về xe ô tô: Ngoài những xe dành riêng cho Trưởng ban và Phó Trưởng ban, Ban Thường trực Quốc hội có một số xe ô tô dành cho các ủy viên trong Ban dùng để đi lại làm nhiệm vụ.

Ban quy định các chi tiết về chế độ phụ cấp nhà ở, và đồ đạc, nhân viên phục vụ của ủy viên Ban Thường trực Quốc hội sẽ được nghiên cứu và đưa trình Ban thông qua trong phiên họp sau.


Nghị quyết này đã được Ban Thường trực Quốc hội thông qua trong phiên họp ngày 19 tháng 2 năm 1957.

Tác phẩm này thuộc phạm vi công cộng vì theo Điều 15, Khoản 2, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam thì "Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó" không phải là đối tượng bảo hộ bản quyền. Còn theo Nghị định số 22/2018/NĐ-CP, Điều 19, khoản 2 của Chính phủ Việt Nam, văn bản hành chính bao gồm "văn bản của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân".