Nghị quyết của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc sửa đổi Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Căn cứ vào điều 45 và điều 50 của Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà;

Theo đề nghị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội,

QUYẾT NGHỊ:

Sửa đổi điều 11 và điều 12 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ngày 31 tháng 12 năm 1959 như sau:

Điều 11 (mới):

Đại biểu Quốc hội do từng đơn vị bầu cử bầu ra.

Số đại biểu định cho mỗi đơn vị bầu cử là căn cứ vào số dân của dơn vị đó: cứ bảy vạn (70.000) dân được cử một đại biểu; nếu số lẻ còn lại quá ba vạn năm nghìn (35.000) thì được thêm một đại biểu.

Ở những khu công nghiệp tập trung và ở những thành phố trực thuộc trung ương thì có thể từ hai vạn (20.000) đến năm vạn (50.000) dân được cử một đại biểu.

Điều 12 (mới):

Dựa vào dân số dân tộc thiểu số so với dân số toàn quốc, số đại biểu Quốc hội dành cho các dân tộc thiểu số bằng khoảng một phần sáu tổng số đại biểu Quốc hội.

Số đại biểu Quốc hội dành cho các dân tộc thiểu số do Uỷ ban thường vụ Quốc hội phân phối, nhằm bảo đảm cho các dân tộc thiểu số có số đại biểu tương xứng trong Quốc hội.


Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá thứ IV, kỳ họp thứ 5 thông qua trong phiên họp ngày 28 tháng 12 năm 1974.

Tác phẩm này thuộc phạm vi công cộng vì theo Điều 15, Khoản 2, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam thì "Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó" không phải là đối tượng bảo hộ bản quyền. Còn theo Nghị định số 22/2018/NĐ-CP, Điều 19, khoản 2 của Chính phủ Việt Nam, văn bản hành chính bao gồm "văn bản của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân".