Nghị quyết số 345 NQ/HĐNN7

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Căn cứ vào Điều 100 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Điều 30 của Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước;

Theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng,

QUYẾT NGHỊ:

1. Bổ nhiệm:

- Đồng chí Văn Bá Kiếm, làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại nước Cộng hòa Dân chủ Ápganixtan, thay đồng chí Nguyễn Sĩ Hoạt.

- Đồng chí Trần Văn Thanh, làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại nước Cộng hòa Irắc, kiêm nhiệm Đại sứ tại Vương quốc Hasimít Gioócđani và Nhà nước Côoét, thay đồng chí Trần Kỷ Long.

- Đồng chí Trần Văn Đào, làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại nước Êtiôpi xã hội chủ nghĩa, kiêm nhiệm Đại sứ tại nước Cộng hòa Gana, thay đồng chí Nguyễn Duy Kinh.

- Đồng chí Nguyễn Khắc Huỳnh, làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại nước Cộng hòa Môdămbích, kiêm nhiệm Đại sứ tại nước Cộng hòa Dimbabuê và nước Cộng hòa Dămbia thay đồng chí Nguyễn Ngọc Vũ.

- Đồng chí Trần Xuân Mận, làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại nước Cộng hòa Nhân dân Cônggô, kiêm nhiệm Đại sứ tại nước Cộng hòa Nhân dân Bênanh và Cộng hòa Liên bang Nigiêria, thay đồng chí Vũ Sơn.

- Đồng chí Phan Thị Minh Hiền, làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại nước Cộng hòa Dân chủ Mađagátxca, kiêm nhiệm Đại sứ tại nước Cộng hòa Xâysen, thay đồng chí Đoàn Văn.

- Đồng chí Nguyễn Đình Bin, làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại nước Cộng hòa Nicaragoa, kiêm nhiệm Đại sứ tại nước Cộng hòa Êquađo.

2. Đồng chí Hoàng Lương, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại nước Cộng hòa Cuba, nay thôi kiêm nhiệm Đại sứ tại nước Cộng hòa Nicaragoa để kiêm nhiệm Đại sứ tại nước Grênađa.

Tác phẩm này thuộc phạm vi công cộng vì theo Điều 15, Khoản 2, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam thì "Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó" không phải là đối tượng bảo hộ bản quyền. Còn theo Nghị định số 22/2018/NĐ-CP, Điều 19, khoản 2 của Chính phủ Việt Nam, văn bản hành chính bao gồm "văn bản của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân".