Phong trần thảm sử/Quyển thứ hai/X
X
Vu-Hồ vốn là một người điềm-đạm, nho-nhã, thâm-trầm, khi cha mẹ mất, Vu-Hồ mới có 13 tuổi mà Mộng-Đài thì 10 tuổi. Anh em còn thơ-ấu, ngây-ngô mà ngắm cảnh bi-đát gia-đình. Mộng-Đài thì đem thân đi nhờ các bà cô ông cậu rồi phiêu-dạt (quyển nhất đã nói); còn Vu-Hồ thì khi cha mẹ còn, có cho học một ông đồ ở làng từ năm lên 8, nên sau khi cha mẹ mất, Vu-Hồ xin lậy ở với thầy học. Ông đồ nhà cũng thanh bạch, nhưng nghĩ đạo thánh là đạo rộng, thấy cảnh Vu-Hồ mà thương, nên mới nuôi làm phúc. Lạ gì cảnh học chữ nho, sáng dậy sớm từ mờ mờ đất, đun nước, quét nhà, tưới vườn, sau mới vào học ôn, chờ thầy dậy, lấy nước rửa mặt, châm đóm ăn thuốc, mài mực, mài son, trăm khoanh tứ đốm, rồi mới bắt đầu vào học, ấy là phép tiên học lễ, hậu học văn, của các con nhà dài chỏm! Khi học thì nào roi mây vút thịt, tay ấn cốp đầu, tóc cạo chọc tếch, cái chỏm để giải, sờ quanh chân thôi thì bươu nhớn bươu con, dở trong mình thì vết ngang lằn dọc, lươn trạch nằm giài. Hết một bài ám-tả thì vía đã lên mây, song một bài nghe nghĩa, thì hồn chữ đã giả hết thầy, chỉ còn dữ lại được dăm cái bướu, vài con trạch, đôi con mắt đỏ hoe, hai dòng nước mắt kéo giài, sụt-sịt thập-thò nước mũi. Ôi! thế mới thực là thứ nhất hay chữ, thứ nhì dữ đòn! Ngày nào cũng như thế, đánh quá hóa dạn. Vu-Hồ lại nhờ thầy học nuôi, nên song buổi học, lại còn phải xuống bếp thổi cơm, đun nước, bưng mâm, dúp việc bà đồ. Vợ chồng con cái thầy đồ ăn xong, mới được bưng xuống bếp ngồi ăn cơm thừa canh cận, bên cạnh con chó mực đen, liếm bát quành-quạch! Giá có nhà tâm-lý học nào mà nhìn vào cảnh ấy, hẳn cũng mủi lòng mà than thầm cho kiếp đời người. Cái óc non 13 tuổi kia, đã tội tình gì, mà đã sớm bi tê-tái, mất hết tư-cách con ngưoi, mới một tí tuổi đầu mà đã chịu nước đời cay đắng! Tiếng là thầy đồ
Cứ như vậy đến năm Vu-Hồ lên 16 tuổi. Một hôm có ông Lý-cựu ở chợ B.... Hà-đông xuống chơi với ông đồ. Nguyên ông Lý-cựu này nhà giầu, có mỗi một con giai còn nhỏ lên sáu tuổi, trước có quen thân với ông thân-sinh ra Vu-Hồ, nhưng ít hay đi lại, vì bận việc quan, nay đã từ chức, nên mới rảnh việc mà đến chơi với ông đồ. Nhân lâu ngày gập nhau, ông đồ dữ lại ăn cơm và đánh cờ. Khi đánh cờ, ông Lý nhân thấy Vu-Hồ đứng hầu điếu đóm bên cạnh, mới hỏi là con nhà ai? Ông đồ nói hết đầu đuôi. Ông Lý bấy giờ mới biết là con người bạn cũ mình, cũng thương tâm mới hỏi học hành ra sao, thì ông đồ khoe là học đã khá, câu đối câu điếc, thơ từ đều đã làm được cả. Ông Lý gật đầu, cười rồi ra cho một câu đối lấy chữ sách Đại-Học rằng: « Quân-tử tiên thận hồ đức[1] », Vu-Hồ đối ngay lại rằng: « Nhân giả dĩ tài phát thân[2] » Ông Lý lại ra một câu đối lấy chữ sách Mạnh-Tử rằng: « Dư khởi nhược tiểu trượng phu tai[3] ». Vu-Hồ đối ngay rằng: « Thiên vị dục bình thiên hạ dã[4] » Ông Lý lại ra một câu lấy chữ Tả-Truyện rằng: « Hậu thế kì hữu hưng hồ[5] » Vu-Hồ đối lại rằng: « Cựu chương bất khả vong dã[6] ». Ông Lý nhân nom ra trước hồ có đàn vịt bơi mới bảo làm bài thơ ngũ ngôn vịnh con vịt. Vu-Hồ vịnh rằng:
Không phải ngỗng ngan gà,
Đủ xương đủ cả da;
Chân hồng phô lục thủy,
Lông trắng gợn hồ ba;
Vùng-vẫy miền giăng bạc,
Ăn chơi chốn hải hà;
Gan kia đừng tưởng bé,
Sấm sét có bao xa.
Ông Lý thấy Vu-Hồ nhớ sách thuộc thơ thì đem lòng yêu dấu, mới nói với ông đồ rằng: « năm nay nó đã 16 tuổi, bây giờ đang thời buổi tây tầu, nhà nước đã bỏ thi, mà cứ cho nó học mãi chữ nho thế, thì sau này làm gì được, chữ nho học như nó thế cũng đã tiệm đủ, gió chiều nào phải che chiều nấy, thôi để tôi gửi nó lên tỉnh cho nó học quốc-ngữ, chữ tây, xem ra nó học cũng thông-minh, tính nết cũng ngoan-ngoãn, may ra sau này nó có thể làm nên được, vậy ông nghĩ sao? » Ông đồ nghe nói vui lòng, vâng ngay, có người rước được cái nợ đi cho thì còn gì bằng! Thế là cách mấy hôm sau Vu-Hồ sang ở với ông Lý, rồi ông gửi ra tỉnh học, ở nhà một người bạn ông, tháng tháng ông Lý lên thăm và giả tiền cơm nước, nhà bạn ông Lý đây có nuôi một ông giáo và có mấy người con giai nhỏ cũng đang học vỡ lòng, nên Vu-Hồ đua ăn đua học có một năm mà vần quốc-ngữ, vần tây đều đã thạo. Ông Lý coi Vu-Hồ làm con nuôi, nên nhờ ông giáo xin cho vào trường công học, thì Vu-Hồ học càng ngày càng tấn-tới, có hơn bốn năm giời mà Vu-Hồ đã đỗ được bằng Sơ-Học, đủ biết Vu-Hồ cũng có khướu thông-minh và trăm học. Vu-Hồ năm ấy đã 22 tuổi, lạ gì lối các ông Lý nhà quê, thấy con đỗ được cái bằng Sơ-Học, tưởng đã lên giời rồi, nên khi lĩnh bằng về thì nào rượu, pháo, ăn mừng đì-đẹt, lấy làm mãn nguyện lắm. Vu-Hồ lúc này đã có trí khôn, đã biết nghĩ, nên lúc nào nhớ đến cha mẹ, đến em, đến thân mình, nhà mình, thì đường kia nỗi nọ ủ-ê trăm phần. Vả vốn mấy năm ở với ông đồ lam-lũ khổ-sở nhịn-nhục đã quen, nên bây giờ Vu-Hồ thành tính ít ăn ít nói, âm-thầm; cho mới biết tuổi trẻ là một tuổi dễ cảm-hóa những tính tình ở ngoài sung-đột, mà làm thay cả tâm tính bẩm sinh của Tạo-Hóa, có khi thay cả hình dạng con người. Vu-Hồ đây chính vào cảnh ấy, nên tuy là ở nhà ông Lý đây, thôi thì tha hồ ăn mặc tiêu pha, song mà từ khi đi học cho đến lúc này, vẫn có ý tần-tiện, kín-đáo, cẩn-thận, nhu-mì, chăm-chỉ, siêng-năng, hiếu-học, đi đâu thì cái áo lương, quần vải trắng, ở nhà thì bộ quần áo vải ta, ăn uống rất là dản-tiện, chỗ ở rất là sạch-sẽ.
Vu-Hồ cũng có tài về văn nôm nhưng rất ít khi viết lắm, ngày ngày chỉ cùng người bạn ở hàng sóm là Cảnh-Du đàm-đạo luận-bàn nghĩa sách tây, và xem lại sách chữ nho. Đôi khi lại cùng viết một vài bài thơ văn nôm, xem ra bài nào cũng nghe được, vì hai người đều có học chữ nho, và tập làm thơ từ thuở bé, nên thơ cũng chín-chắn và già-dận. Nay chép qua mấy bài của hai người một đôi khi làm chơi, để các độc giả xem văn ra sao:
Đề bức tranh vẽ một cô thiếu-nữ ngồi ở vườn hoa, có vẻ nghĩ-ngợi:
| Vu-Hồ. — |
Cô ngồi chi đó hỡi cô mình? |
| Cảnh-Du. — |
Nguyệt-hoa chi nữa thêm buồn rứt, |
Than giời mưa ngâu chàn ngập cả:
| Cảnh-Du. — |
Ai lên nhắn-nhủ vợ chồng Ngâu, |
| Vu-Hồ. — |
Cả ngày tí-tách hàng châu thảm, |
Đề bức tranh vẽ sơn thủy cảnh ban đêm:
| Vu-Hồ. — |
Nét mực khen ai khéo vẽ-vời, |
| Cảnh-Du. — |
Một chiếc thuyền tình chôi lững-thững, |
Than thói đời:
| Vu-Hồ. — |
Thế gian trọng kim tiền, |
| Cảnh-Du. — |
Ít tiền khôn hoá dại, |
Xem mấy bài thơ đó, cũng đủ hiểu tính tình của hai người đã biết ngán-ngẩm cuộc đời; da chi dĩ, những tiền của ông Lý cho thì Vu-Hồ chỉ gửi mua sách tây của các nhà chứ danh văn sĩ, như những sách của Victor-Hugo, của Lamartine, của Voltaire, của Molière, của Pierre Loti vân v... Vu-Hồ đều xem hết, nên tư tưởng lại càng rộng-rãi và hiểu hầu hết sự đời. Nhờ sự xem rộng đó, mà Vu-Hồ cũng tự nẩy ra được nhiều tư-tưởng mới, chép thành một quyển sách riêng chơi, rất giầy, ngoài đề là « Ý-tưởng-cao-xa », tiện đây xin chích mấy quãng trong quyển đó để độc-giả thử xem những tư-tưởng mới ra sao:
1• — Người ta thường nói: chết đứa dại, chứ không bao giờ chết đứa khôn; nhưng đứa khôn nhiều khi cũng chết, đó là số mệnh, khôn không lại được với giời.
2• — Người thì lọc cát lấy vàng, ta thì lọc hết cát ở trong bể khổ, để lấy lòng thương bi nhân thế.
3• — Mỗi người có một khuôn mặt khác nhau, tất mỗi người cũng có một khúc lòng khác nhau, vậy ta đã dám coi ai là tri-kỷ, là đồng-tâm.
4• — Kẻ nào học thức mà còn cho một vật gì trên đời này là lạ, là cần-thiết, thì kẻ đó còn là si-ngốc.
5• — Nhời nói là hình-thức của trí khôn riêng một người, cái mặt người là hình-thức của ý-tưởng chung nhân loại.
6• — Tại sao con bướm đẹp lại muốn bắt muốn trông, con sâu không ai thích, mà lại sợ không dám mó tay tới? Con bướm đẹp kia chẳng phải là con sâu đã hoá ra sao? Thì ra cuộc đời yêu ghét chỉ do ở sự thay hình đổi lốt, cái mã đẹp, cái phấn dồi, mà không sét gốc vốn nó vẫn là con sâu, lông ngứa, nọc độc, sù-sì, gai-góc, sun-soăn, ghê-tởm, hết mùa bướm thì cánh rụng, sâu lại hoàn sâu.
| · | · | · | · | · | · | · | · | · | · | · | · | · | · | · | · | · | · | · |
Xem mấy câu đó đủ biết cái óc thiếu niên Vu-Hồ kia cũng đã hiểu được cuộc đời đôi chút.