Bước tới nội dung

Phong trần thảm sử/Quyển thứ nhất/II

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
​

II

Chín chục thiều quang thoăn thoắt thoi đưa, đào đà dụng cánh, xen đắp khoe mầu;

Líu lo quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông

Mộng-Đài một mình ngồi chốn thư phòng nghĩ vẩn thương vơ, toan lo trăm mối. Tuổi cao thêm đốt, công việc tính làm sao đây? Ở mãi nhà bạn thế này sao? Tơ tầm dứt ruột, trăm mối bên lòng. Thở dài một tiếng, sực trông ra sân, thấy cây lựu đương hoa đỏ đầy cành, nghĩ đến cây cối kia Tạo vật sinh ra, cũng còn biết đến mùa thì nở, hoa thơm quả quý, theo mùa làm việc, theo tiết nẩy mầm, trong vũ trụ công nào việc ấy răm rắp; nữa là mình nay tấm thân bẩy thước. sống trong giời đất lại chịu ngồi yên, hại cơm giời nước diếng ru? Nghĩ xa thôi lại nghĩ gần; dưới hiên cất bút mấy vần điểm hoa:

Đầu tường lửa lựu đỏ hoe hoe,
Cây cối xanh om nắng quáng lòe;

​

Ngọn gió hây hây cây tựa múa,
Tiếng ve lanh-lảnh cảnh sang hè;
Như sui gan ruột lòng heo hắt,
Thêm dục can-tràng dạ tẻ-te;
Bức bối nguồn cơn cùng nắng hạ,
Nhân tình bực bội muốn tung hê!

Viết xong đứng dậy ra sân, vin một cành đào, thấy cánh hoa đã rụng hết, còn lại trên cành những đài đang kết quả Tự nghĩ như cánh hoa kia từ lúc còn nụ lúc nở, đến lúc kết quả, công trình kể biết mấy mươi. Khi còn nụ mưa sa gió táp, khi nở ra ong bướm dập-dìu, khi kết quả sâu leo dệp đốt, phong trần chịu cũng ê-chề, thế mà dữ cho nguyên vẹn được đến lúc chín, rồi đến khi tay người cấu cuống bẻ cành, một nhát dao đưa, chia làm mấy mảnh, thơm ngon ngọt lạ, chẳng biết người ăn quả có nghĩ cho khi đeo nặng trên cành, hun-đúc bao lâu mới nên quả quý, thịt thơm nước ngọt, đem tẩm trong lòng trần tục, lẫn với máu hồng-trần, nhiễm vào óc tục-lụy, mùi thơm ngon ngọt quý vì đâu? Ấy chẳng phải là những lá kia đã hô hấp biết bao khí âm dương, gốc kia hút bao nhiêu mầu đất, cành kia đượm bao vẻ nắng mưa, mới thành nên quả quý. Công việc trong đời chẳng cũng dống thế sao? Nhân làm hai bài hoa đào dụng trên cây rằng:

1

Hoa ơi! hoa hỡi, hỡi hoa hời!
Thấy cảnh hoa nay chạnh cảnh người!
Ai kẻ chôn hoa tàn cánh rụng,
Ai người sớt nhị rữa hoa ôi!
Mưa sa gió táp thương cho phận,
Bướm lượn ong bay ngán nỗi đời.
Còn chút phấn tàn hương nhạt đó,
Lưu danh một tiếng với đời chơi!

​

2

Lưu danh một tiếng với đời chơi,
Kém cạnh chi ai đã chịu ai?
Từ đã cánh tan đài còn đó,
Song mà cuống vững nhị chưa rơi.
Có ngày kết quả cây xanh tốt,
Hẳn lúc nên công chái ngọt bùi;
Đào chủ huênh-hoang khoe của quý,
Có vườn đất tốt cảnh đua tươi!

Đang lúc thẩn-thơ ngâm vịnh, Lạc-Dạ vừa đi làm về, vỗ vai mời vào nhà ăn cơm, vừa ăn vừa nói truyện rằng: « Sáng hôm nay, tôi vừa tiếp được một lá thơ ở sở, của bác Nam-Hương dưới Nam-Định gửi lên, tỏ ý muốn mời bác xuống chơi với hắn, vì hắn nhớ bác lắm, cũng là cơ-hội hay, bác ấy quen nhiều biết rộng, may ra có dúp được công việc gì cho bác chăng? Bác cũng nên xuống cho khuây sầu một thể. » Vừa nói vừa dút ví ra lấy cái giấy năm đồng, đưa cho Mộng-Đài, nói: « Bác cầm lấy món tiền này để đi tầu, và mua thêm cái bánh cái trái gì, xuống làm quà cho các con bác ta thì phải hơn. » Mộng-Đài nghe nói, tay cầm tiền, giả lời rằng: « Thế này thì cứ phiền bác quá mãi, tôi rất áy-náy trong lòng, bao giờ tôi báo đền được chút ơn thâm. » Lạc-Dạ gạt ngay đi rằng : « Khéo bác rõ dở hơi, chỗ tình anh em mới thế, tôi làm ơn có mong gì là sau bác phải giả đâu, bác đừng nghĩ quẩn, tôi không phải hạng người như ai đâu, bác ở đây với tôi đã hơn năm giời, thì đã biết tính, hà tất phải nói lời tha-thiết đưa đẩy làm vậy, chẳng hóa ra phụ lòng tôi lắm. Bác đã ở cùng nhà như tình anh em ruột, của tôi như của bác, hề gì phải nói đến những câu ân-oán cho rẻ dá người đi vậy! » Mộng-Đài không biết nói sao, đành phải vâng, sáng mai xin đi. Buổi tối đi mua ​chục bánh cốm sáng mai đi Nam Định, về nhà bác Nam-Hương. Anh em tay bắt mặt mừng, kể nỗi hàn huyên. Mộng-Đài đưa chục bánh làm quà cho các cháu, nhân hỏi đến bác gái đâu thì thấy Nam-Hương tự nhiên hai hàng nước mắt dưng dưng. Rõ thực là: Người đứt duột lại gặp người duột đứt, kẻ đau lòng lại gặp kẻ lòng đau. Ngán quá, Mộng-Đài vội nắm lấy hai tay bạn, bất dác cũng ứa hai hàng nước mắt, hỏi: « Vậy bác gái qua đời rồi sao? » Nam-Hương nói: « Vâng, qua đời rồi, tôi vừa bị một cảnh thảm kịch trong gia đình, tưởng bác Lạc-Dạ biết, đã nói truyện với bác rồi, thế ra bác chưa biết sao? Để tôi kể bác nghe, không dám dấu, mà dấu cũng chẳng được, vì truyện nhà tôi, ầm cả tỉnh, ai cũng biết. Khốn nạn nhà tôi hư quá, bác ạ, tôi đi làm cả ngày, tưởng ở nhà nó trông nom con cái cửa nhà, nào ngờ đâu ngày nào cũng vậy, hễ tôi đi là ở nhà nó cũng đi đánh bạc, trước có người nói mong manh tôi cũng không tin, sau nhân vụ tết mới rồi, tôi mới mở hòm ra để lấy sống áo tết cho các cháu mặc, thì thấy chỉ còn cái sác hòm không, bao nhiêu quần áo, các đồ nữ-trang, cùng là vòng khánh của các cháu, cho chí tiền bạc đều mất sạch sành sanh. Tôi mới hỏi nhà tôi và dọa dẫm ít câu, thế là nó vùng vằng cãi nhau với tôi, rồi bỏ nhà đi ngay từ hôm 28 tết. Bấy giờ tôi mới cho những nhời mong manh ngoài là thực. Tôi chết đắng chết cay cả người, mình đi làm cả ngày còm cọm, ngờ đâu vợ ở nhà lại hư đến như vậy. Đến hôm mồng ba tết, tôi hỏi dò mãi xem nó đi đâu, có người mới mách là ngày thường nó vẫn có tư tình với một tay con bạc, nay cả hai đứa nó đã đem nhau đi Hà-nam rồi. Tôi chết ngã ngửa người, thì ra nó vào trong đám đen đỏ, đã hại hết cả tiền cả của, lại còn bán rẻ cả chữ trinh nữa, không biết cờ bạc nó có cái ma-lực gì, mà hại ​đến như vậy. Bác thử trông nó ăn ở với tôi đã hai mụn con thế kia, con sống có, con chết có, mà nó bỏ nó đi, có khổ tôi không? Tôi cũng đành với số phận gà sống nuôi con, còn mong gì nó về nữa. Tôi mãi mới nuôi được thằng ở, để nó thổi nấu, và trông nom các cháu. Mấy hôm tết khổ quá, không có đứa ở, khách vào phải đi đun nước lấy, bữa ăn làm cơm lấy, vừa trông con, vừa thổi nấu, dặt dịa lấy, nghĩ bao nhiêu cứ đứt từng khúc ruột. Đến hôm mồng 6 tháng 3 mới rồi, tôi có chút việc sang Thái-Bình, khi dở về, qua phố Khách, giời gần tối, thấy một người đàn bà đi đằng trước tôi, trông dáng đi tôi đoán đích là nhà tôi, nhưng lại thấy ăn mặc rách rưới, nên nghi không dám gọi, tôi mới dảo cẳng bước lên đi sát qua mặt, thì quả thực là nhà tôi. Lúc bấy giờ tôi như điên, như dại, năm bẩy thứ cảm tình nó sô-sát tranh dành nhau ở trong óc tôi, vừa dận, vừa tức, vừa uất, vừa buồn, vừa thương, vừa như ghen. Tôi mới nắm lại hỏi sao lại bỏ nhà đi như vậy? Nhà tôi vừa khóc lướt mướt, vừa kể tình cảnh chót dại chơi bời, và bị một chàng Sở nó lừa dỗ lấy hết cả đồ nữ trang rồi nó bỏ, trong lúc thua và say mê cờ bạc cũng có chót dại, nay đã biết dại, và nhớ con quá muốn dở về thăm con và xin tội. Tôi nghe nói cũng hơi gợn lòng, song lúc bấy giờ tôi đang máu điên và uất-ức, nghĩ cái tình vợ chồng, mà nó đang tâm bỏ đi hư thân mất nết chơi bời như thế, thì con người ấy còn cầu làm chi, mình mà cho về thì vợ chồng ăn ở với nhau còn có tình gì nữa, mất hết lòng tin yêu, thật là đời vô-vị còn ra sao, lại làm cái bia cho miệng thế mỉa mai. Nghĩ thế tôi mới mắng mỏ cho nhục-nhã, và dút cho 4 cái giấy năm đồng và bảo đi cho khuất mắt. Song tôi về thẳng nhà, bụng chưa ăn cơm mà không thấy đói, nguồn-cơn nghĩ đến mà ngán thay cho thiên-hạ, cùng một cảnh này cũng đã lắm người chải qua, gớm ghê thay cho ​con ma cờ bạc, hại người đến thế thời thôi! Nào ngờ đâu cách đó 7, 8 hôm, tôi xem nhật trình, thấy mục thời sự, có một đoạn như sau này, tôi hãi còn dữ tờ báo đây, để tôi dở đọc bác nghe:

« Sáng hôm nay chuyến xe lửa thứ nhất từ Hanoi vào Vinh, khi xe chạy quá Nam Định, cách ga Trình-Xuyên chừng 8 ki lô-mét, có một người đàn bà tuổi độ 29, 30, đi dữa đường sắt, không biết người đó điếc hay định tự tử, mà tầu đã hít còi hai ba lượt mà vẫn không chánh, xe đang chạy nhanh, hãm không kịp, nên người đàn bà ấy đã bị nghiến dừ, trông rất thảm thương. Sau sét ra người đàn bà ấy tên là Lê-thị-T. ... quán tại N .... Th. Bình nghe đâu người đàn bà này vì thua cờ-bạc, bỏ chồng con, bị bợm lừa, hết chốn tựa nương, nên mới liều mình như vậy. Ôi! con ma cờ-bạc ........ ».

Bác tính tình vợ chồng, dù nó cũng có chót dại. nhưng nghe thấy thế ai chẳng đứt ruột, tôi vội vàng xé ngay khăn xô cho các cháu nó để chở, và sang bên Thái-Bình, xem bên nhà vợ tôi có ai biết không. Thì ra việc đó sẩy ra, người nhà vợ tôi cũng biết, có người dì ruột nhà tôi lên nhận sác mang về chôn. Tôi ra mộ viếng, hôm sau mới cho các cháu về nhà. Khốn nạn bác ạ, tôi cũng tưởng là nó cũng không có gan đến thế, định cho nó món tiền ấy, thì tưởng nó sẽ về quê quán hay làm gì kiếm ăn, ngờ đâu nó lại gan đến thế, thực tôi không có bụng hại nó, mà tự nó sấu hổ nên liều mình như vậy. Tôi sở dĩ gặp nó mà không cho về là có phải tự mình phụ bạc gì đâu, chẳng qua là tôi sét đến chân lý, nếu cho về thì vợ chồng ăn ở với nhau còn ra sao, nó trông thấy tôi sấu hổ cũng đến tự tử mà chết, chẳng trước thời sau. Ấy ở đời ai cũng có cái tòa án lương tâm như vậy, khi làm việc gì mà phạm đến luân-thường, thì dù ngoài mặt điềm-nhiên, song mà trong bụng ​có thể chết đi được, ai nói một câu, ai cười nửa tiếng, cũng đủ làm cho bay linh hồn; cũng như là một kẻ đã giết người, hễ thấy ai to nhỏ một câu là đủ giật mình mà thú tội. Bác tính câu truyện như thế có đau lòng không? tôi thấy hai đứa con tôi kia, chợt nghĩ đến mà khôn ngăm cầm nước mắt. Tôi độ này buồn quá, nhân nhớ bác, mới mời xuống chơi cho đỡ phiền. Còn cảnh bác bây giờ ra sao? ». Mộng Đài nghe xong câu truyện mà ngậm-ngùi cho thế-sự, lại thấy hỏi đến cảnh mình, càng thêm chua-sót, mới giả lời rằng: « Thực là mỗi người một cảnh khổ, nghe câu truyện bác gái mà tôi ngán-ngẩm cuộc đời còn tôi vẫn ở nhà bác Lạc-Dạ. Trí tôi bây giờ muốn xoay về đường kinh-tế, chứ không muốn đi làm, tôi còn đang nhờ anh em ít vốn, rồi tôi xoay ra buôn bán, bác Lạc-Dạ cũng đã nhận lời dúp cho một ít, còn chờ anh em mỗi người một món, vào chừng tháng bẩy tháng tám tôi cũng thôi không ở nhà bác Lạc-Dạ nữa. Bác ở dưới này, xem có đường gì có thể kinh doanh được, xin bác mách dúp cho. » Nam-Hương nói: « Vâng, bác nói tôi cũng xin lĩnh ý, tiếc rằng giá mới rồi không sẩy ra tấn bi kịch ở nhà tôi, thì may ra tôi cũng dúp bác được ít nhiều. Nay sẩy ra như vậy, thôi thì hằng sản chả có thì hằng tâm, tôi xin hết sức dùm bác về công việc sau này; hễ có cơ-hội nào tốt, tôi sẽ viết giấy cho bác ngay. » Đêm hôm đó Mộng Đài ra đi chơi phố với Nam Hương một lúc, rồi về, Suốt đêm Mộng-Đài chằn chọc không sao ngủ được, có lẽ vì khác chỗ cũng có, nhưng nghĩ về âu chuyện ban ngày thì nhiều. Tưởng rằng tìm chỗ mua vui, ai ngờ lại là chỗ nghe câu truyện sầu thêm. Nên Mộng-Đài ở có hai hôm rồi xin về, Nam-Hương cố dữ không được, đành phải để về: Khi về Hanoi, Lạc Dạ hỏi sao đi chơi chóng thế? Mộng-Đài thở dài mà kể câu chuyện Nam-Hương lại cho nghe, lại đèo thêm mấy câu rằng: « ........ tôi nghĩ ​chuyện đời thực lắm bề oan-trái chua cay, phỗng đá cũng phải nhăn mặt cau mày. Nghĩ làm đời người, mà chỉ loanh quanh về gia-đình, về thân thế, mà rồi hết đời, lần-lữa mãi mà bạc đầu tráng-sĩ, chả làm được việc gì, nghĩ đến gương anh hùng hào-kiệt mà thẹn bóng nam-nhi. Tôi đã buồn lại đi gập một cảnh buồn hơn, có biết hôm đó chẳng đi cho xong. Tôi nghĩ đến câu truyện bác Nam-Hương lúc nào thì lại nhớ đến bài thơ của ông Chu-Mãi-Tuần khi xưa đề ở mả vợ rằng:

Thanh thảo kỳ biên nhất cổ khu,
Thiên niên mai cốt bất mai tu;
Đinh ninh ký ngữ nhân dan phụ,
Tự cổ tao khang đáo bạch đầu.

Thực là câu truyện nước đổ khó bốc lại đầy, đáng đề vào mả vợ bác Nam-Hương! »

Bên gò một nấm cỏ xanh,
Nghìn thu xương nát ô danh vẫn còn;
Đinh ninh nhắn khách hồng quần,
Trước sau tấm cám trăm năm chớ rời.