Phong trần thảm sử/Quyển thứ nhất/III
III
Lò cừ nung-nấu, đá chảy vàng phai, ngoài đường giời nắng chang chang, trong nhà khí giời hâm hấp, gió lặng cây im, người ngồi trướng gấm mồ hôi chã. kẻ hái rau tần nước bọt xe. Thuỷnh-thoảng chỉ nghe thấy mấy tiếng gà gáy buổi chưa, ve kêu tức cật, cảnh thực buồn thay! Mộng-Đài đương ngồi lẩn-thẩn viết một bài thơ bèo trên mảnh giấy trắng rằng:
Giời sinh mang lấy phận mong-manh,
Khi hợp khi chia luống bập-bềnh;
Chơ một mầu xanh phơi với nước,
Lênh đênh đâu nữa cũng lênh-đênh!
Viết song đặt bút trước án thở giài, tưởng chừng như hơi thở buồn-dầu ấy, cùng tan vào trong vòng viêm-nhiệt mà thiêu-đốt cỏ cây. Bỗng cạnh tường có tiếng hát, cất lên lanh-lảnh, tiếng ai như tiếng chuông vàng, tiếng ai như tiếng láng diềng bèn kia; Mộng-Đài lắng tai nghe, thì là dọng đàn bà đang ngâm mấy câu kiều lẩy rằng:
Tẻ vui cũng một kiếp người,
Hồng-nhan phải dống ở đời mãi du?
Kiếp xưa đã vụng đường tu,
Kiếp này chẳng kẻo đền bù mới xuôi!
Dọng hát nghe não-nuột mà ai oán. Mộng Đài tưởng chắc rằng người đó, cũng có cảnh sầu chi đây, biết đâu vì câu hát đó mà ta đây bên này cũng đứt ruột. cùng một câu hát mà hai cảnh đau lòng. Buồn gì bằng mùa hè, dữa buổi chưa im lặng mà xa nghe mấy câu kiều lẩy, một dịp đàn tranh, tiếng võng kĩu-kịt, tiếng trẻ dao bán nước ngoài đường, tiếng gà gáy bên chuồng. tiếng hát ngao của người thợ, tiếng ve sầu dang dảng, tiếng trẻ con khóc ngây thơ, thì đố ai mà cằm lòng cho đậu, mà chẳng buồn tanh! Mộng-Đài buồn quá, nhân nghĩ cách cho khuây-khỏa, mới dở một quyển sách tây ra xem, nhan đề là quyển Atala của ông Chateaubriand là một nhà danh-sĩ nước Pháp về thế kỷ thứ XVIII, mở ngay vào trang có câu rằng: « Homme, tu n'es qu'un songe rapide, un rêve douloureux; tu n'existes que par le malheur: tu n'es quelque chose que par la tristesse de ton âme et l'éternelle mélancolie de ta pensée! ». Rõ ngán quá, định xem sách giải buồn, văn lại làm buồn thêm, bực mình để sách xuống bàn, ngồi ngẫm nghĩ câu vừa đọc qua mà đau lòng cho cảnh phù du thân thế, đời người khác thể dấc hoàng-lương, vinh nhục lợi danh một tràng ổi-lỗi, chẳng qua một dấc kê vàng, bừng con mắt dậy thấy mình tay không; mới với cái bút chì dịch mấy câu văn tây ấy ra bốn câu tứ tuyệt, cũng là một cách luyện văn và khuây khỏa lòng. Dịch rằng:
Đời người khác thể dấc hoàng lương,
Lăn-lóc lầm than cảnh đoạn-trường;
Bể thảm thành sầu hồn mộng điệp,
Đau lòng trăm nỗi mối tơ vương!
Dịch xong ngâm đi ngâm lại mà chan hòa nước mắt, nghĩ muốn bỏ phăng cái kiếp văn chương mà học võ viền, biết ra cho lắm chỉ càng đau. Đang lúc hồn thơ lai-láng, liền ngâm tiếp một bài rằng:
Biết ra cho lắm chỉ càng đau,
Thà hẳn ngu xi lại đỡ sầu;
Mặt nước vơi đầy cơn khổ nhục,
Ngọn chào lên xuống cảnh nương dâu;
Nhân tình tuôn ứa đôi hàng lệ,
Chuyện thế cong khoằm nứt lưỡi câu;
Nói lắm càng thêm ngao-ngán lắm,
Cửa thuyền thôi liệu ngả mùi nâu!
Cái duyên văn tự là đời đa tư, Mộng-Đài đang say cuồng ở ngọn sóng văn chương, chợt có tiếng gõ cửa, Mộng-Đài gọi thằng bếp ra mở, thời là người đội giây thép đưa thơ. Thằng bếp đem thơ vào đóng cửa lại. Mộng-Đài thấy thơ gửi đề tên mình liền giở ra xem, té ra là thơ của Nam-Hương. Thơ rằng:
Bác Mộng Đài,
« Hồi tháng tư bác có xuống chơi, và tỏ ý muốn lo đường kinh doanh buôn bán sau này. Tôi cũng đã hết lòng để ý vào việc bác. Song mà nghĩ đến đường buôn bán bây giờ thực khó. Đang buổi cạnh-tranh này, hễ tính sai một li là đi ngay một dậm. Tôi làm qua đã biết, định mở cửa hàng thì nào tiền thuê nhà, tiền đèn, tiền nước, tiền môn bài, tiền thuế, tiêu pha ăn uống, mỗi đồng mỗi tốn, đóng mấy cái tủ và sang-sửa cửa hàng cho tươm-tất, cũng mất đứt ngay hai ba trăm bạc ấy là chưa kể đến tiền buôn hàng. Lúc buôn lại phải buôn những thứ hàng chạy, chứ lại buôn đồ hàng ngâm thì thủng vốn ngay, lại còn nỗi bán chịu bán đựng, mất mát cũng nhiều, nói sao cho siết; vả lại bác mới ra buôn lần đầu, tôi cũng e ngại cho bác lắm. Tiền thì bác vay của anh em, may ra lên thì chớ, nhỡ hao-hụt, bác vừa thiệt-thòi vừa phụ mất bụng anh em. Còn như bác nói muốn chung phần công-ti thì lại càng bồng bềnh lắm. Bác còn lạ gì lối công ti của người mình, chẳng mấy công-ti đứng vững và càng ngày mở được to tát thêm, cũng chỉ vì lòng tư lợi mà rồi tan-nát hết. Bác thử xem như hội gì trước ở Hanoi đấy, dặt bọn thượng lưu công ti cả đấy, mà rồi đến ăn cắp ăn nẩy, ra đến tòa, ầm ầm cả lên đấy, Bác thử xem buôn bán bây giờ khó thế, không thể tin ai được, bác mà có muốn ra buôn, thì phải đi mới được, buôn tận gốc, bán tận ngọn, chịu khó vất-vả, thì mới chóng khá được, còn muốn mở ngôi hàng cực to, rồi ngồi vểnh làm ông chủ thì hỏng ngay. Ấy tình anh em, tôi cứ xin nói thực, biết điều gì nói điều ấy, bác nên sét kỹ. Nay tôi có một việc này, có lẽ là cơ-hội may cho bác, tôi vừa được tin bác Thái-Ngọc và bác Hợp-Bảo mở một xưởng chữa ô-tô dưới Haiphong, chữa xe và cho thuê xe chạy chuyến các nơi, xem có bề phát đạt lắm. Vả lại hai bác ấy cũng quen bác, vậy hai bác ấy đang cần người đỡ chân tay về việc sổ sách tiền nong, vì hai bác ấy về máy thì dỏi, còn về chữ cũng soàng, vả lại bận trông nom thợ, không dỗi mà kiêm cả làm dấy được, nay muốn tìm một người nào cẩn-thận, để trông nom sổ sách. Hôm nọ có viết giấy cho tôi, tôi nghĩ ngay đến bác, nên phải vội viết thơ bác hay. Tôi thiết tưởng nên lắm bác ạ, còn hơn cứ ở lì mãi nhà bác Lạc-Dạc sao? Bác chớ nề đi làm cho anh em là nhục đâu, chớ nghĩ thế, người Khách trước khi ra buôn, tay có hàng vạn, người ta còn đi làm công, làm phu tải, làm hầu sáng trong các hiệu to đã nổi tiếng, người ta vừa làm vừa học việc, đến khi thông thạo mới về mở mang biệt lập, lúc đó người ta không còn lép nước gì, làm thầy cũng được, làm công việc cũng được, không ai man-trá được người ta. Bác xem đó thì biết, vậy bác nên nghe tôi, xuống ngay dưới Hai-phong, hỏi hai bác ấy, sẽ được trọng dụng ngay. Bác đi hay không cũng viết dấy cho tôi biết, xin kính chúc bác và bác Lạc-Dạ được vạn an.
Kính-thư
NAM-HƯƠNG »
Mộng-Đài xem xong thơ, nghĩ đi nghĩ lại cũng có nhẽ, cứ ở mãi thế này mà ngâm thơ láo thì còn gì là đời, vừa hại anh em, vừa mất thì giờ ngày tháng, nên viết thơ giả lời Nam-Hương ngay là nhất định đi. Rồi sắp sửa thu sếp quần áo, chờ đến chiều, Lạc-Dạ đi làm về mới đưa thơ của Nam-Hương cho xem và tỏ ý muốn đi. Lạc-Dạ ngần ngừ một lúc rồi nói: « Cũng phải, bác Nam-Hương tính đường đất cho bác thế cũng hay, bác nên đi xem sao, nếu xem có thể lâu giài được sẽ ở nếu không bác lại về đây, tôi sẽ liệu cách sau này dúp bác. Tuy là anh em thân thiết, nhưng đã lâm-lụy đến đồng tiền nong, cơm ăn tiền lấy, bác có xuống hai bác ấy, cũng nên dữ hết nhẽ, kẻo sau này lúc ưa đã vậy lúc không ưa rồi lại tiếng tăm, xin có mấy lời tâm-phúc nói để bác hay. Hiềm vì bác ở với tôi hơn năm nay, anh em đang quen hơi bén tiếng, nay chợt bác đi cũng buồn, nhưng mà thôi, bác còn phải lo đường danh-phận bác, tôi không dám ngăn cản, tạm gác lòng nhớ mong tối nay xin tiễn bác mấy chén quan-hà, gọi là tỏ chút tình bằng hữu, chỉ xin bác một đều rằng: bác xuống dưới ấy có điều gì bất như ý, xin bác lại về với tôi, chớ có quản đều đi đi lại lại nhé! »