Phong trần thảm sử/Quyển thứ nhất/V
V
Mộng Đài ở đó đã được ba ngày, mà mỗi bận xin từ-dã đi thì bà cụ lại cố dữ dịt; không sao nỡ đành lòng mà đi cho thoát, vả lại cái va-li cậu Ngọc đã cất biến. Mộng Đài ở đó ba bốn hôm, thường đàm-đạo truyện đời và bàn luận văn chương thì cậu Ngọc lấy làm tâm đầu ý hiệp với Mộng-Đài lắm, vả lại cậu Ngọc cũng thích thơ nôm, thấy Mộng-Đài làm bài nào cũng hay, nên lại càng đem lòng quyến-luyến khăng-khít, một bước không rời. Một hôm cậu Ngọc lấy bức ảnh cheo trên tường xuống, cậu nói: « Đây là bức ảnh tôi chụp tháng trước, ở một nơi cổ-tích, có quan-hệ về lịch-sử ở Haidương này, xin bác đề cho một bài tứ tuyệt hoặc lục-bát. » Mộng-Đài thấy ảnh cậu Ngọc chụp một mình đứng ngắm bức bia tàn đổ bên cạnh, mặt có vẻ rầu-rĩ, mới đề một bài rằng:
Một mình lặng ngắm vẻ tang thương,
Rầu-rĩ bia tàn rãi tuyết sương.
Mảnh đá vô tình mưa gió táp,
Sui lòng cố-quốc duột tầm vương!
Cậu Ngọc khen nức-nở, rồi lấy giấy viết lại bài thơ dán vào ảnh, rồi lại treo lên. Bên cạnh tủ sách có một bức ảnh vẽ cô Kiều ngồi như than thân trách phận, trên có bốn chữ « Bạc-Mệnh-Hồng-Nhan », mé dưới viết hai chữ « Thúy-Kiều », cậu Ngọc cũng lấy xuống nhờ đề cho một bài. Mộng-Đài hỏi: « Bức tranh này ai vẽ? » cậu Ngọc đáp: « Thưa bác, tôi tập vẽ chơi, nét bút còn kém lắm! » Mộng Đài lại hỏi bốn chữ nho ai viết mà non tệ? » Cậu Ngọc đáp: « Ấy chị tôi viết, sau khi tôi vẽ song. » Mộng-Đài hỏi: « Thế bác ấy cũng biết nhiều chữ nho à? » Cậu Ngọc đáp: « Chị tôi cũng võ-vẽ, đọc được, viết được, trước còn một ma thầy tôi, chúng tôi cũng có học được đôi chút, sau thầy tôi mất, tôi lại soay ra học chữ tây; tôi đi học về, thường cũng chỉ bảo cho chị tôi ít chữ Pháp, nên chị tôi cũng biết cả chữ tây nữa, nhưng cũng gọi là ít thôi, thường những văn tự cho vay, cho cấy rẽ, cầm bán ruộng nương, hoặc bằng chữ nho hay chữ quốc-ngữ; chị tôi đều viết đọc được cả. Từ khi tôi thôi học về nhà trông nom, thì chị tôi dao phó mặc tôi hết, chỉ chuyên tâm về quốc-văn, cũng có tập làm đôi bài, nhưng còn non-nớt lắm. » Mộng-Đài nói: « Kể thế cũng thông-minh lắm đấy chứ, khi nào rồi cậu cho tôi xem những văn bác ấy biên ra sao nhé! » Lúc đó cậu Ngọc đã tháo bức ảnh ở trong khung kính ra đưa Mộng-Đài và nhờ đề mấy câu. Mộng-Đài liền viết lên góc bên tay trái mấy câu rằng:
Tại cô mang lấy sắc tài,
Giang hồ cô phải lạc loài nước non!
Cũng đừng chuốc giận mua hờn,
Càng khôn ngoan lắm lại càng dan-chuân!
Chữ tài so với chữ tâm!
Cậu Ngọc thích quá, lại lồng bức tranh vào trong khung kính, cheo lên ngắm mãi, đọc đi đọc lại lấy làm thích ý nói: « Bức ảnh bây giờ trông tôn vẻ đẹp hơn trước nhiều. » Mộng-Đài đáp: « Cậu khen quá làm chi vậy » Cậu Ngọc lại mời Mộng-Đài sang phòng bên, chỗ cậu cheo các thứ đàn và hỏi Mộng-Đài có biết chơi không? Mộng Đài nói có biết võ-vẽ. Cậu Ngọc nói: « Chỗ này là chỗ tôi tập đàn, tôi muốn đề đôi câu đối cheo chơi, mà vẫn chưa nghĩ được câu nào hay, nhờ bác nghĩ giúp cho đôi câu đối, tôi sẽ cheo lên hai bên tường kia, ở dữa tôi cheo các thứ đàn thì trông nhã lắm. » Mộng-Đài thấy cậu Ngọc lòng thực thích ngâm đề, nên cũng nghĩ dúp cho đôi câu đối rằng:
Dịp Bá đường tơ, chọn khách lên cung sơn thủy khúc;
Đàn Tương dạo phiếm, nắn giây đưa dịp tính tình cao.
Cậu Ngọc cả ngày thôi cứ lăn-lóc mê-man về dọng thơ Mộng-Đài, muốn bắt chước những cách lập ý làm văn. Hết trong nhà lại mời Mộng-Đài ra sân xem cảnh và nói muốn làm đôi câu đối bằng mảnh sứ vỡ, đề lên tường cảnh vườn hoa kia, nhưng tôi muốn đặt hai câu nào thực buồn mới thích. Mộng-Đài hỏi: « Cậu muốn đề chữ hay nôm? » Cậu Ngọc nói: « Tôi muốn đề bằng nôm thì ai xem cũng được rõ ý hơn. đề chữ sợ nghĩa sâu-xa quá, không mấy người hiểu ngay chăng. Vậy bác đề cho đôi câu đối nôm chơi. » Mộng-Đài nghĩ rồi đọc cho hai câu rằng:
Cười nguyệt nay tròn mai nguyệt khuyết,
Khóc hoa sớm nở tối hoa tàn.
Cậu Ngọc lấy làm bằng lòng lắm, vì hai câu ý tứ nhiều mà buồn tệ, nên hôm sau cậu nhất định gọi thợ đến đắp đôi câu đối ấy lên tường hoa ở sân. Ai ngờ đâu vì mấy câu đề của Mộng-Đài trong phòng sách và ngoài tường hoa đó, đã làm cho khách tài sắc trong khuê-khổn để ý đến lời văn, ngắm-nghía mấy bức đề trên nhà học, câu đối ngoài vườn, mà tan lòng nát giạ, lâm li dọt lệ, sót khách tài-hoa, thương phường bạc mệnh, một lòng trộm nhớ thầm yêu. Một hôm cô Lan không biết định tìm cái gì trên nhà dữa, chỗ ngồi chơi, thấy cái áo trắng dài của Mộng-Đài vừa thay vứt đó, có cái ví dấy để bên, vì cái tính cẩn thận của cô nên mới cầm cái ví định cất vào chỗ tủ chè, cho là Mộng-Đài lơ-đễnh, nhà có kẻ ăn người ở mà lại vứt quăng ví ra dường như vậy. Khi cô cầm cái ví thấy nhiều giấy má quá, không biết những giấy gì mà nhiều thế, vì cái tính tò-mò và sẵn tình yêu dấu thương thầm, nên mới quay mặt vào dở ra xem, thì ra dặt những thơ từ ngâm vịnh và thơ của anh em gửi, một cái thẻ và mấy đồng bạc giấy, sau nữa vì cô đang thích ưa quốc-văn và mê dọng thơ Mộng-Đài, nên mới dở một tờ giấy ra coi thì thấy một bài thi-ca giài, bài này tức là bài hôm mới đến, Mộng-Đài ngủ ngoài hiên, ngồi xem giăng đêm khuya mà làm, đã chép ở trên, nhời-nhẽ rất thấm-thía và buồn quá, luôn tay dở sang tờ khác, thấy một bài rằng:
Nghĩ thân thêm ngán nỗi cho thân,
Chìm nổi long-đong biết mấy lần;
Ấy bởi công danh xui lận-đận,
Hay vì số kiếp chịu lầm-than.
Hơi đâu mang lấy cơn hờn giận,
Thôi cũng liều xem cuộc truyển-vần;
Đành nhẽ tới đâu hay tới đó,
Tới đâu ta sẽ liệu soay dần.
lại dở một mảnh giấy con khác, thy mấy bài rằng:
Một mình càng nghĩ lại càng thương,
Ông Tạo bầy chi cảnh đoạn-trường!
Réo-rắt năm canh hồn quốc thảm,
Đau lòng thêm mắc nợ tình vương.
Mảnh tình u-uất khôn bầy tỏ,
Vạt áo đầm-đìa dọt lệ trong;
Gan sắt nấu-nung lò Tạo-Hóa,
Nên câu tuyệt diệu ngụ bên lòng.
⁂
Cảnh đấy người đây luống ngại-ngùng,
Nói ra chẳng tiện nín không song,
Chung tình hai chữ khen ai đặt,
Mà ruột tơ tầm giạ dối bong.
vừa xem vừa thở giài, lạ gì lòng nhi-nữ dễ cảm lại sẵn có óc văn-chương, có hồn thơ lai-láng, thì tài nào mà chẳng sinh một mối ái-tình mơ-màng trong vòng bào-ảnh mà vướng vào cuộc ái-ân. Cô vừa xem vừa thương cho số phận người yêu, vừa cảm dọng văn-chương, vừa hiểu hết sự tình, vừa ngơ-ngẩn nghĩ duyên-phận mình, tấm thân bồ-liễu, bạch-diện hồng-nhan, thôi cũng trong khuôn bạc-mệnh, ba bốn mươi năm, năm sáu mươi năm, cũng một kiếp người đầy-đọa, đội đá ở đời, nghĩ tới đó mà hai hàng nước mắt dưng dưng. Cô đứng quay mặt dở vào mà xem, ngờ đâu Mộng-Đài đứng đằng sau lúc nào không biết. Nguyên Mộng-Đài chân đi dép dừa, ở nhà bên chợt thấy cô Lan đứng xem ví của mình rất lâu, mười phần tâm-sự đã hiểu đến chín, mới khẽ dón dén lại gần đứng đằng sau cô. Cô thấy bóng người dật mình quay lại, thôi thế là mối ái-tình không nói cũng hiểu, mắt còn đỏ hoe kia, tay còn cầm ví kia, mảnh giấy còn mở kia, bốn mắt trông nhau, bốn hàng lệ nhỏ, không ai nói với ai, mà như trong mắt biết bao nhiêu nhời phân-trần tình-tự, muốn nói mà hai người cùng nghẹn nhời. Sau Mộng-Đài dơ tay đỡ lấy cái ví và mấy mảnh giấy, bỏ vào túi áo, chợt đâu có tiếng giầy ở ngoài sân, vội vàng lá dụng hoa rơi, Mộng-Đài ngồi ngay vào ghế quay lại, cô Lan cũng vớ lấy cái hộp trong tủ chè. Kể từ hôm Mộng-Đài đến đây cho chí ngày hôm nay có cái cuộc ái-tình nồng mặn này là đúng hai mươi hôm.