Bước tới nội dung

Phong trần thảm sử/Quyển thứ nhất/VI

Văn thư lưu trữ mở Wikisource

VI

Mộng-Đài từ khi vướng cuộc ái-tình, thời đem ái-tình ra làm cuộc khuây-khỏa. Lạ gì dống dai nhân tài-tử, cũng kiếp văn-chương, cũng hồn tư-tưởng, nhưng biết nhau chỉ để mà yêu mà quý, mà làm người tri-kỷ, chứ không có một mẩy tâm nào là đem lòng tà-dục; chỉ yêu nhau về văn-chương, mến nhau về nhời nói việc làm, cảm nhau về tình-tứ, quyến-luyến nhau về tư-tưởng, thương nhau về tính-tình, còn ngoại ra không như ai mà mơ hồ về cuộc thỏa-thích, chuy-hoan về đường sắc-dục. Vẫn hay rằng: má đỏ hây hây, răng đen rưng-rức, lưng cong chữ cụ, da trắng phau phau, con mắt long lanh, v.v... cái vẻ đẹp thiên-nhiên đó, Hóa Công đã phú cho một kẻ nữ nhi, đủ làm cho tấm lòng người êm-ái, đang buồn nên vui, đang tức phải cười, đang giận phải nguôi, nhưng sự đẹp đó đối với Mộng-Đài, chỉ là một sự dúp cho thêm vẻ nồng-nàn ân-ái, mối ái-tình được lâu giài. Vả lại cái đẹp của cô Lan là cái đẹp đáng tôn đáng kính, không phải là cái đẹp chai-lơ như ai, mà chỉ để cho người đàn ông say mắt đa-tình, nổi sóng Tề-Tuyên. Cô đối với Mộng Đài vẫn có vẻ nghiêm trang kín đáo, tuy là yêu nhau về nết, mệt nhau về tình, nhưng cái tình cô là cái tình cao-thượng, của những bậc dai-nhân tài-tử biết yêu nhau, chứ không phải là thứ tình dâm-ô ra đụng vào chạm, cười cợt lả lơi, toan bề liễu ép hoa nài. Cô tự nghĩ, phàm đã yêu nhau thì nên phải yêu nhau về tinh-thần, chứ không nên yêu nhau về đường thể-chất, vì yêu nhau về thể-chất thì khi chết là hết, là tan như vạn vật trong vũ-trụ, làn thu thuỷ nét xuân sơn, hoa khen thua thắm, liễu hờn kém xanh, trong ngọc trắng ngà, một tòa thiên nhiên Tạo-Hóa đúc nên, cũng đến vùi sâu tam sích thổ, lấp ván thiên vùi đất sét, nào đâu màn loan trướng huệ, nào đâu cung quế phòng hoa, một phen thay đổi sơn hà, mảnh thân chiếc lá, lầu cao nước chẩy, châm gẫy bình rơi, đến khi nhắm mắt cũng là nát xương, một nấm mồ hoa, xanh vàng ngọn cỏ. Nếu biết yêu nhau về tinh-thần thì nghìn thu còn mãi, sống là thể-phách, thác là tinh-anh, hồn tinh anh còn quấn-quít không rời, khối tình còn mãi, dắt nhau xuống thuyền-đài chưa tan. Cô nghĩ vậy, nên hai người tuy là yêu nhau, mà vẫn điềm nhiên không có vẻ nồng nàn ra mặt, cô Lan quý Mộng-Đài về cách đứng-đắn, mà Mộng-Đài cũng nể cái cách cử-chỉ nghiêm trang của cô, hai đàng cùng giữ ý. Tuy vậy mặc dầu mà hàng sóm láng diềng thấy Mộng-Đài bấy lâu ở đấy, thuỷnh-thoảng lại ra phố chơi, những lúc đi về, thì cũng có ý dòm nom to nhỏ, cho mới biết người đời phần nhiều hay có cái thói tò-mò nghe ngóng việc nhà người ta, rồi ngồi đâu lại mách lẻo, đặt để nên nhời, nghe được dòm được nhà ai việc gì kín thì lấy làm hả gịa, thì ra cái tính tò-mò cũng như cái tính hay ăn vụng ăn tham, dòm được nghe được truyện gì kín tức như là anh ăn tham đã « ngoạm » được một miếng to. Mộng-Đài thấy thế cũng để ý, nên lại càng cẩn-thận kín-đáo hơn. Ôi còn khổ gì bằng đang lúc ái-tình nồng-nàn mà cứ phải im hơi lặng tiếng, ra vào như không, thì lòng nào mà chẳng khô héo. Cái đau đớn của Mộng-Đài làm sao thì cái đau đớn của cô Lan làm vậy, nên mỗi khi trông nhau, chỉ lấy mắt mà biểu tình nông nỗi. Thứ nhất Mộng-Đài càng phải giữ dìn tăm hơi, vì bà cụ và cậu Ngọc, hết cách chiều quý, yêu vì hạnh, trọng vì tài, nếu hở ra có câu truyện gì thì còn mặt mũi nào nữa, nên cứ đành sống dở chết dở trong lòng, Còn cô Lan thì thường cơm nước trông nom, rất bề săn-sóc, Mộng-Đài hơi ngạt mũi là có dầu xoa, hơi khó ở là có thuốc uống, rất thể-tất ân cần, đủ biết lòng cô yêu quý Mộng-Đài biết bao!

Một hôm Mộng-Đài ngồi một mình, nghĩ đến đường kia nỗi nọ, trăm phần bối-rối, mới tự trách mình rằng: « Thôi ta nhầm rồi, sao ta lại tự quăng mình vào sóng ái-tình làm chi cho vùi-dập như vầy, ta ở đây mãi được sao? Tính cuộc trăm năm với nàng được sao? Ai chủ chương? Ai mối manh? Mình dám mở môi ra nói lấy cho mình được chăng? Bà cụ chắc khi nào gả cho mình. Mình một thân một cật đến đây, giả thử có được, người ta cũng cho là chuột sa chĩnh gạo, làm đời tài giai lại chịu tiếng ấy sao? Vả lại lấy vợ giầu cũng là cái nguy, thế mà mình lại ở nhà vợ thì lại càng tối nguy, cái thân câu-thúc, mất chữ tự-do, sau này mình có làm nên, cũng là mang tiếng nhờ nhà vợ. Ta đang tuổi thiếu niên này, là tuổi hăng-hái, ta phải nghĩ đến nước đến xã-hội, đến tấm thân bẩy thước này, chứ sao ta lại chịu đắm vào bể tình cho hủy tiếng nam-nhi. Ta phải đi mới được, ta phải buông tha nàng ra mới được, sao ta lại lấy cái bả văn-chương mà lợi dụng làm dây buộc dắt nàng vào nơi hang sâu hố thẳm làm vậy? Ta phải nói dảng-dải cho nàng nghe, cho nàng hiểu, ta phải bỏ nàng mà đi mới được; ta đành chịu tiếng là người không chung tình, còn hơn là ta để nàng lâm-lụy vì tình. Thôi ý ta đã quyết, tối nay ta phải ngỏ cùng bà cụ, để mai kia ta xin đi. » Đến chiều tối ăn cơm xong, Mộng-Đài mới sẽ ung-dung uyển-chuyển thưa với bà cụ rằng: « Thưa cụ, tôi ở đây cũng đã lâu, làm phiền cụ nhiều lắm rồi, nay tôi còn phải lo bổn-phận về đường làm ăn, không thể ở đây mãi được. xin cụ cho phép tôi mai kia xin đi, kẻo anh em tôi mong đợi, xin cụ xét tình cho tôi được như nguyện. » Bà cụ nghe xong nói gay một câu rằng: « Sao thầy lại thế, hay là thầy chê nhà tôi chật hẹp, hay có điều gì trái ý thầy chăng, mà thầy lại nhất quyết đòi đi như vậy? » Mộng-Đài nằn-nì đòi ba phen, viện hết nhẽ, nói hết nhời, bà cụ mới nguôi nguôi nói rằng: « Thôi có phải thầy nhất quyết định đi, tôi cũng không dám giữ, song mà thầy hãi thư lại vài ngày, chúng tôi sẽ xin có câu chuyện nói với thầy. » Mộng-Đài nghe qua chột dạ, dờn dợn cả tóc gáy, bụng bảo dạ, chết nỗi bà cụ định nói truyện gì đây, hay là chuyện mình lộ chăng, có phải thế, thôi cũng đành mặt dạn mày dầy, tới đâu hay đó, ta cũng vâng lời ở lại vài hôm nữa xem sao. Lúc đó cô Lan ngồi gần bà cụ, nghe câu truyện cứ chết điếng mà cứ như không, cúi gầm mắt xuống têm giầu, một chốc xuống bàn học ngồi, không nói qua nửa tiếng. Còn cậu Ngọc tối hôm đó lại đi Hanoi vắng, nên không biết truyện. Vào hồi mười giờ đêm trước khi đi ngủ, Mộng-Đài thấy con Xen còn lên pha nước, Mộng-Đài mới bảo: « Thôi đi ngủ rồi, ai uống nữa mà pha. » Con Xen nom trước nom sau, rồi thò tay vào túi, lấy một mảnh giấy gập vuông để trước mặt Mộng-Đài mà nói rằng: « Cô con có cái giấy này đưa thầy! » Rồi nó đi thẳng xuống nhà bếp. Dưới ngọn đèn khuya, Mộng-Đài dở ra xem, thấy mấy câu rằng:

Kính gửi anh Mộng-Đài,

Người đâu gặp-gỡ làm chi,
Trăm năm biết có duyên gì hay không?
Trách lòng hờ-hững với lòng,
Chưa vui sum họp đã hòng chia phôi!

« Anh ơi! anh định bỏ em đi thực đó sao? Anh đã lấy ái-tình mà dắc cho nẩy mầm, mà anh lại định đổ đi cho đứt dễ hay sao? Có phải thế thì anh nhẫn tâm thực! Anh ơi! chửa chăn gối cũng vợ chồng, lòng nào mà lại dứt lòng cho đang. Em nói ra thì cũng bàng-hoàng, mà nín đi thì áo-não can-chàng xiết bao; nghĩ trách thay cho con Tạo kia, sui em biết anh làm gì cho thêm cực! Kể từ khi em gập anh ở trên tầu, trộm liếc dung-quang, chẳng sân ngọc-bội cũng phường kim-chi, sẩy ra câu truyện em bỏ quên cái va-li, sau nữa là vì lòng trọng nghĩa khinh tài của anh mà anh dở lại mang giả, thì em mới được biết anh, gần anh. Sau khi anh ở nhà em ít lâu, em sét tài học và được đọc những bài thơ của anh tả tình, tả cảnh, đề ảnh đề vườn, và những bài em thấy ở ví giấy anh mà anh đã bắt được em đương đọc, thì em thực đã mang lòng yêu anh, rằng tài nên trọng mà tình nên thương. Song vì còn nhà huyên trông xuống, gia pháp còn nghiêm, nên đành ghi mối đồng tâm bên lòng. Em lại thấy anh cử chỉ rất đứng đắn, kín đáo mà lòng em càng thêm phục thêm yêu. Nhưng em chắc rằng, lòng vả cũng như lòng sung, những lúc em trông anh trong đôi khóe mắt, đủ hiểu những sự đau-đớn của em làm sao thì lòng anh làm vậy? Anh ôi! anh có biết cho em nỗi khổ tâm không? Em cũng là con người biết nghĩ, em cũng biết cái cảnh phù-thế là đau, lại thấy cảnh anh mà càng dầu trong khúc duột, cho hay những dống đa tình cũng kiếp sầu chung. Anh biết khóc kiếp hồng nhan, đây em cũng biết khóc cho đời bạch diện, đồng điệu tương lân, cho hay tài tử giai nhân, cùng kiếp hoa nghiêm nặng nợ. Em yêu anh vì lẽ gì, anh đã biết, không phải vì tiền tài, không phải vì phẩm hàm, không phải vì bằng cấp; không phải vì diện mạo, không phải vì trang sức, mà em chỉ yêu anh về tài đức, yêu anh về tính tình, yêu anh về bút nghiên, anh đã biết nỗi lòng cho em chưa? Nay anh bỏ anh đi, anh đi thì anh định để lại mối tình ai mang, dễ để em liễu ủ đào phai, nát ngọc tan bình vì anh đây chắc! Này thôi mà dù anh quyết nỡ phụ tình, thì em cũng liều bỏ quá xuân xanh một đời, vì em đây cũng biết câu tòng nhất chi chung, xin anh xét lại.

Kiều-Lan bái thư »

Thôi thế mới khó nghĩ, rõ thực là khổ tâm, không trách người ta vẫn thường nói: Bao nhiêu chí khí nam-nhi đang ngang giời dọc đất, mà chỉ một câu nói của người nhi nữ, là đều dụt lại. Ngẫm ra thì Từ-Hải chết cũng không oan, Lã-Bố đem chém cũng không thương, vua Trụ mất nước thì cũng đáng! Mộng-Đài xem xong lá thơ mà chết lặng giờ lâu, suốt đêm dằn-dọc, không sao nằm yên dắm mắt được, ngồi dậy trông ra sân, thấy bóng giăng càng khuya càng tỏ, mấy bụi tre quanh nhà gió thổi đưa cành, tiếng kêu lắc-dắc, tưởng như cũng vì mình mà đứt ruột sé gan. Nghĩ đến truyện nhân duyên mình, ở đâu đưa lại bỗng nhiên, để mình thêm phiền muộn, chợt nhớ trong sách có câu châm rằng: « Sẩy ra việc gì đều là tiền định, sự ấy với ta có khi là giây nhân duyên hay mối oan nghiệt, dù thế nào ta cũng nên vui lòng mà chịu, liệu thế gỡ dần; rồi ngồi suy nghĩ sự đó bởi đâu mà ra, sẽ biết việc quá khứ vị lai. » Nếu vậy việc mình đây cũng là một duyên hai nợ, chỉ trách thay cho ông giăng già kia sao khéo đa đoan, xe tơ rắc-rối làm chi cho thêm bận, mới ngâm một bài rằng:

Làm chi độc thế hỡi giăng già?
Buộc mãi nhau chi chẳng cởi tha?
Có phải duyên giời xe quách lại,
Không đành kiếm đất bước cho xa;
Nam nhi còn nghĩ đường danh-phận,
Thục nữ ngày mong chữ thất-gia;
Ai có công đâu đeo-đuổi mãi,
Mà ông khoảnh ác thế ru mà!

Đồng hồ đã đánh năm giờ sáng, giăng tà đã nhạt hơi sương, vừng đông đã dựng. Mộng-Đài vội xuống buồng học, định biên một lá thơ giả lời cho nàng rõ sự-tình. Đang tìm giấy trắng để viết, bỗng thấy dưới giấy thẩm một bài thơ, xem qua biết là của Kiều-Lan mới viết hồi hôm. Bài thơ rằng:

Ông nguyệt ghen chi khách má hồng,
Lạnh-lùng vắng vẻ chốn phòng không;
Tơ duyên lẽo-đẽo thêm buồn nỗi,
Giăng gió đầy vơi luống chạnh lòng;
Trông bóng thở than căm với bóng,
Nghĩ công đeo đuổi tiếc cho công!
Năm canh dế khóc gà eo-óc,
Sốt ruột can tràng dọt lệ trong.

Mộng-Đài xem xong vội gập bỏ túi, sợ cậu Ngọc về thấy chăng, trách nàng sao vô ý thế vậy, lại để những bài thơ đó ở bàn, hay là ái tình đến lúc say mê, nên không nghĩ gì đến truyện xung quanh, định làm vỡ-lở đây sao? Nhưng xem bài thơ thì biết lòng nàng chua-xót trăm phần, nên mới có những câu ai-oán làm vậy, bất dác dọt lệ thiếu-niên cũng vì tình mà xa đẫm. Những cảnh đau lòng đó, ai có qua cầu, mới biết là khổ tâm, chứ những người đứng ngoài vòng, xưa nay chưa chải qua, thì chỉ cho là phường giăng gió mà không xét cho thấu nỗi. Ai đã chải qua cuộc ái-tình thì mới sẽ biết rằng: Khạc chẳng ra cho nuốt chẳng vào, Miếng tình nghẹn mãi biết làm sao? Muốn kêu một tiếng cho to lắm, Rằng ối ai ôi nó thế nào! Mộng-Đài tìm được mảnh giấy, gục đầu xuống viết, thực là mực mài nước mắt chép thơ, ruột tầm đòi-đoạn như tơ dối bời. Thơ rằng:

Kiều-Lan em hỡi,

« Bức thơ của em đã làm cho anh tan lòng nát ruột, suốt đêm trường đau buốt nguồn cơn. Em nói làm chi những câu: bỏ quá xuân xanh, liều thân hoại thể, nhời nói em đau cắt như dao, một nhời là một vận vào khó nghe! Em là người tri-kỷ cũng nên sét tâm-tình cho anh. Não lòng anh lắm, em ôi, nghĩ nguồn cơn lại sụt-suì đòi cơn. Em nghĩ như thân anh nay, bốn bể không nhà, mảnh thân chiếc bóng biết là về đâu! Anh ở mãi đây được sao? Anh cứ ăn không ngồi rồi mãi thế này sao? Làm tài giai chí ở bốn phương, nay anh hổ mình là phận nam-nhi, mà nợ nhà nợ nước chưa giả được tí gì mẩy may, càng ngày càng nợ mãi thêm vào, lần-lữa mãi mà bạc đầu niên-thiếu, nên anh phải nghĩ đường danh phận, hai vai thân thế, một gánh tang bồng, anh phải liệu soay dần mà giả nợ đời cho song. Nào có dám phụ tình em đâu, anh vẫn ghi chữ đồng tâm trong gịa. Anh vẫn biết em thực lòng yêu anh, nhưng em nên để anh đi, đừng đem lòng quyến-luyến bình-vi, mà làm anh ngã chí, uổng mất đời tài-dai. Xin em nghĩ lại cho chín, dù mà ông Xanh kia định kiếp vuông tròn cho đôi ta, thì anh đây cũng phải đi nơi khác, rồi mới liệu bài mối manh, có lẽ nào lại ở lì ngay đây thì coi sao cho tiện; vả nên chăng thì cũng còn quyền nhà huyên; nước ta chưa được văn minh như bên Âu-Châu mà tự do hôn thú ngay được, văn hiến nước mình còn phải giữ cổ-phong. Vậy thì yêu nhau ta để trong lòng, càng mận càng thắm càng nồng chóng phai. Yêu nhau thì dù xa cũng nên gần, đã biết yêu nhau về tinh thần, thì lúc nào mà chẳng ở gần bên nhau, cứ gì gập mặt mới là tình chung. Ta biết yêu nhau thương nhau, thì chỉ nên bảo cho nhau những đều hay nhẽ phải, để cho đời khỏi cười chê, còn cái duyên trăm năm là ông nguyệt xe tơ, là để di dưỡng lấy cái ái-tình trong sạch. Ngoài ra chúng ta chỉ nên nghĩ giả nợ đời, dù ít dù nhiều, cũng nên ghé vai ra gánh một thõi, dẫu yếu cánh mềm tay, vấp chân sẩy gối, cũng là có tiếng gánh vác với đời. Vậy thì em ôi! em hãi bán sầu mua vui, em hãi công-nhận những nhời anh nói đây là phải, xin em giả lại anh hết những nỗi sầu bi mà anh chót để lụy đến em từ hôm anh đến đây, để anh mang lấy một mình, quê người đất khách làm vui, chứ phận em là phận liễu-bồ, mang làm chi lấy những câu bạc mệnh hồng nhan cho uổng đời tài sắc, thiệt kiếp giai nhân. Gánh sầu nặng mấy trăm cân, một mình riêng chịu dám nhần cho ai! Thôi anh nói đã nhiều, em là người tri-kỷ, xin cũng biểu đồng tình với anh, than mà chi, khóc mà chi, thương nhớ mà làm chi, những điều đó anh van em đừng đem ra mà làm não chết lòng anh, thì thương nhau thêm lại bằng mười phụ nhau. Vẫn hay rằng kiếp văn chương là đa sầu đa cảm, nhưng ta cũng nên lấy điều học thức mà đánh đổ bớt đi, đừng để sầu cảm quá mà ra dống si tình. Mấy nhời quê kệch, anh xin dãi lòng.

Mộng-Đài kính thư ».

Mộng Đài viết song gấp lại, chờ con Xen lên pha nước sẽ nhờ nó đưa. Hôm sau Mộng-Đài định đi, giời lại mưa như tầm như tã, gió vật hoa tàn, tầu tiêu lã-chã, dọt danh lích-chích, mây kéo tối ầm, ủ-dột muôn phần. Mộng-Đài nghĩ chán quá, mình định đi mà giời lại mưa, hay là giời định lưu mình ở đây chăng? Đến bữa cơm chưa, thấy Kiều-Lan bổn thân bưng cơm lên, nhân vì giời mưa và cậu Ngọc đi vắng, nên nàng cùng ngồi ăn cơm cả một bàn với bà cụ và Mộng-Đài. Mộng-Đài lấy làm lạ, sao hôm nay nàng lại ăn cơm cùng bàn thế này, tựu chung cũng có ý gì đây. Bà cụ vì mưa gió, nên dở giời đau lưng và ho, nên ăn ít mà đứng dậy trước, súc miệng rồi vào dường nằm. Hai người còn ngồi lại ăn, bốn mắt trông nhau, thân tình khôn xiết. Kiều-Lan dót một chén rượu đưa tận tay Mộng-Đài mà nói nhỏ rằng: « Anh vui lòng uống với em chén rượu này, trước là từ biệt, sau là em nhờ chén rượu đây tưới hết lòng sầu cho anh, và em xin đọc một câu thơ cổ hợp cảnh này anh nghe: Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu, dữ ngã đồng tiêu vạn cổ sầu. Anh hãi cạn đi, em sẽ có bài thơ này đưa anh. Lá thơ của anh hôm qua đã làm cho em tỉnh-ngộ nhiều; song mà anh ôi, con tầm đến thác hãy còn vương tơ, vậy anh định bao giờ anh đi nói cho em biết? » Mộng-Đài đỡ lấy chén rượu, nưng lên đặt xuống hai ba lượt mà không sao nhắp qua cho khỏi cổ, rượu đã cay, nghe câu nói lại càng cay thêm, cố cầm nước mắt mà không sao được, vội ngảnh đi lấy vạt áo lau, rồi mới quay lại mà nói rằng: « Anh chờ giời tạnh mưa và chờ cậu Ngọc đi Hanoi về anh sẽ đi. » Chẳng nói cũng hiểu, Mộng-Đài lúc đó đau-đớn thế nào thì Kiều Lan cũng đớn-đau thập bội. Nàng cũng thổn-thức nghẹn nhời nưng giải yếm lau nước mắt rồi lấy trong túi áo ra một tờ giấy đưa cho Mộng-Đài, Mộng Đài dở ra thấy bài thơ rằng:

Gió mưa vật-vã ngọn cây sầu,
Mai chúc cùng nhau một cảnh sầu;
Chúc có nhớ mai hồn phách thảm,
Mai còn nhớ chúc nước non sầu;
Chúc mai đìu-díu cơn mưa gió,
Mai chúc chia-cay cuộc thảm sầu;
Năn-nỉ hẹn-hò mai với chúc,
Tính sao mai chúc khỏi đeo sầu!

Anh ơi, em đọc đến câu cổ thi mà em đau lòng:

Ký biệt thương tâm nhất chỉ thư,
Phong dam thanh lệ thấp phan dư;

Như quân nhược khẳng ưng lân ngã,
Vô nại Đông-Hoàng súc khứ xa!
Đau lòng gửi bức biệt thư,
Phong thư dọt lệ thấm tơ mấy hàng;
Chàng dù thương phận hồng nhan,
Còn e một nỗi chúa xuân chẳng chờ.

Mộng-Đài càng xem thơ càng dàu như dưa thương tâm này nỗi thương tâm tuyệt vời; người đâu ngọc thuyết hoa cươi, văn chương như thể ghẹo người tài hoa. Mộng-Đài tự nghĩ: « Việc ta ta phải ra đi, ai ngờ nàng một lòng đinh-ninh sắt đá, ta mà bước chân ra thì nàng đến trăm thảm nghìn sầu vì ta, thôi thì cũng là duyên giời, âu là ta thề thót đôi nhời cho yên dạ nàng, sau này ta yên trí lập thân, ta sẽ liệu bài mối manh. » Nghĩ rồi mới lật tờ giấy nàng đưa, dút ngọn bút chì trong túi, viết sang mặt chái giấy mấy câu rằng:

Dám đem gan óc dãi giời xanh,
Đau-đớn thay cho giống hữu tình!
Giời đất còn đây vàng đá đó;
Lần hồi cũng chọn nghĩa ba sinh.

Em ơi, xin em cứ yên dạ,

Đã lời thệ hải minh sơn,
Trăm năm ghi chữ đồng tâm đến già;
Nắn lòng chờ đợi cho qua,
Những nhời vàng đá phải là nói chơi!

Viết xong đưa cho nàng, hai người cùng đứng dậy, Kiều-Lan xuống nhà dưới, còn Mộng-Đài thì thu sếp sách vở quần áo, định sếp vào va-li, nhưng va-li cậu Ngọc còn dấu đâu không thấy, không biết cậu ta đã sắp về chưa? Bỗng thấy con Xen lại vờ lên pha nước, rồi đưa một lá thơ, dở ra có mấy câu rằng:

Anh Mộng-Đài,

« Chiều tối hôm nay vào hồi bẩy giờ, em ra phố có tí việc một thể, xin anh vờ đi chơi trước từ hồi bốn năm giờ, rồi đúng giờ chờ em ở con đường nhà rượu, em có câu truyện sẽ nói với anh.

Kiều-Lan »

Mộng-Đài cũng phải nghe lời, đến chiều giời đã tạnh mưa, năm giờ ăn cơm song, chàng xin phép bà cụ ra phố chơi, tối sẽ về. Chàng ra đi thơ-thẩn trong phố, rồi ra bờ sông Phú-Lương chơi mát, giời sâm sẩm tối, dở đồng hồ xem đã gần tới giờ, chàng vội dảo bước về con đường nhà rượu. Đến nơi đã thấy nàng xa xa đi lại, giời đã tối, chưa dám chắc có phải nàng không. nhưng trông dáng đi thì dống lắm, khi tới nơi thì quả thực là nàng. Hai bên gập mặt, khác nào Ngưu-Lang Chức-Nữ gập nhau, bấy lâu mắc dịp sông Ngân, tuy ở cùng nhà mà chỉ trông thấy nhau, chứ không bao giờ được gần nhau, trước vì nàng là phận con gái, nên phải dữ-dìn sau là còn mẹ và em, nên thương nhau mà không dám hở môi. Nay đến ngày tình nhân sắp đi, nên mới phải vì tình mà làm liều như vậy. Hai người lững-thững vừa đi vừa nói truyện, Kiều-Lan mở khăn tay lấy ra một cái gói con đưa tặng Mộng-Đài, và nói rằng: « Xin anh giữ lấy của tin này, và ghi nhớ lấy ngày hôm nay, em không muốn nói thêm câu gì nữa, chỉ xin chúc anh ra đi được thập phần như ý, anh đi quê người đất khách, xin dìn-dữ lấy tấm thân nghìn vàng; còn việc đôi ta, thì xin anh tính sao cho vẹn mọi đường thì vâng. Còn về phần em, em cũng xin dìn vàng dữ ngọc, nhặt cài then mây, cho đành lòng anh. Sót vì đàn chửa bén giây mà đã nẩy cung li-biệt, nỗi lòng em anh thấu cho chăng, anh ôi!..... » Nói xong gục mặt vào vai Mộng Đài mà khóc, nước mắt chan-hòa như mưa. Mộng-Đài cũng không sao cầm được nước mắt, nhưng phải cố gượng mà dỗ nàng rằng: « Thôi, em ôi, nỗi lòng em anh đã biết rồi, em nín đi, kẻo có ai qua lại bất tiện, em làm thế chỉ khổ lòng anh, em muốn cho anh mạnh-khỏe luôn, sao em lại làm như vậy, muốn cho anh ốm vì em sao? » Mộng-Đài dục-dã năm ba lần bảo nàng về, mà nàng còn thổn-thức, như còn trăm nghìn câu muốn nói mà không sao nói được, đành phải quay về trước. Một mình Mộng-Đài đứng lại, hàng tiếng đồng hồ, dữa quãng đường giài, bốn bề im lặng, làng sóm từng đám đen đen trước mặt, đom đóm lập-lòe sau lưng, nghĩ đến cuộc ái-tình mà lòng thêm ngao-ngán. Vẫn hay rằng: mùi đời cũng phải chải qua các vị, nhưng mà đến cái vị ái-tình này sao mà mùi nó cay độc làm vậy. Ta đem thân lưu-lạc mười mấy năm nay, chải bao gió táp mưa xa, biết bao cay khổ, mỗi lần một khác, không cảnh nào dống cảnh nào, không dại nào dống dại nào. Nhưng mà thôi, chẳng qua là ông Tạo thử-thách ta cả, và muốn cho ta nên người thiệp-thế, nên mới bắt vào trong nhiều cảnh -le, để cho sáng mắt, rõ hiểu cuộc đời. Ta dù gập những nỗi ấy, cũng không nên ngã lòng nản chí. Trừ bao giờ ta hết đường lui tới, hết chỗ bấu-víu, ta mới chịu, nếu còn có thể làm gì được ta cứ làm. Nếu vì những cảnh ngộ mà thay lòng đổi giạ, thì sao gọi được là nam nhi chi chí. Nghĩ lại sự đời kia, khác chi thứ gỗ làm cung, càng uốn cong bao nhiêu càng căng khỏe, nếu không có giây cung tốt thì không sao dương được, mà có dương được cũng đến đứt, dây cung tức là chí của ta, ta phải nên có chí cứng-cỏi bền-vững, thì mới chịu được nổi cái vòng cung Tạo-Hóa kia, mà dương lên được, đẩy được cây tên kia đi trăm phát trăm trúng. Mộng-Đài vừa đi vừa lẩn-thẩn nghĩ ngợi, chân tay mỏi rời-rã, phải gọi cái xe về. Sực nhớ đến cái gói con nàng đưa lúc nãy, đi qua ngọn đèn máy ngoài phố, bảo xe dừng lại, rồi dở ra xem vật chi, thì ra một chiếc nhẫn vàng có gắn hạt kim-cương nhỏ, và tờ giấy bọc thì có mấy câu lục-bát rằng:

Tặng ai của báu làm tin,
Trăm năm gắn-bó chung tình dám sai;
Chứng minh có đất có giời,
Còn về còn nhớ đến người hôm nay.

Xem song Mộng-Đài lại lên xe về nhà, may quá cậu Ngọc cũng ở Hanoi mới về tầu đêm hơn chín giờ, cậu mới về nên chưa biết truyện Mộng-Đài sắp muốn đi. Sáng hôm sau, Kiều-Lan nói truyện thì cậu mới biết, trước cậu còn lẵng-nhẵng chưa bằng lòng. sau chị cậu và Mộng-Đài nói mãi, cậu mới đem va-li dả. Nhưng bấy lâu cậu đem lòng quyến-luyến Mộng-Đài lắm, quen hơi bén tiếng, nay bỗng chốc Mộng-Đài đi thì cậu cũng có vẻ buồn-rầu. Mộng-Đài thu sếp song rồi thưa với bà cụ xin đi. Bà cụ không sao cầm được lại nữa, nên cũng ưng-thuận, song còn cố nèo mời ở lại một ngày, sáng sớm mai sẽ đi. Hôm đó bà cụ sai làm tiệc tiễn-hành, cả nhà cùng họp mặt, xem ra ai cũng có lòng bịn-rịn. Ăn uống song, đến tối bà cụ mời Mộng-Đài uống trà rồi bà cụ đưa tặng một cái gói gì vuông vuông chữ nhật. Mộng-Đài cằm thấy mềm, mới xin phép mở ra xem, thì là một tập giấy bạc rặt giấy hai mươi đồng, chừng đến vài trăm bạc. Mộng-Đài choáng cả người, bấy giờ mới biết câu truyện bà cụ muốn nói là thế mấy hôm nay cứ phấp-phỏng tưởng truyện kia thì khốn, và đoán chắc đây là tiền bà cụ bỏ quên trên tầu trước, nay bà cụ nghĩ ân tình cho lại nửa đây. Mộng Đài mới xin hoàn lại không dám nhận, bà cụ nói: « Nếu thầy chê của đó thì thực là phụ lòng tôi lắm, vả lại thầy muốn ra buôn, nên tôi có chút lòng thành, gọi là dúp thầy ít vốn, nếu thầy mà đã có công-việc làm ăn thì tôi đã không dám thế, đó là món tiền tôi bỏ quên trên tầu, nếu không có thầy dả lại thì mất cả tiền lẫn đồ nữ trang, nay tôi biếu lại thầy một nửa để tỏ cái bụng tốt của thầy, sau là muốn khuyến-khích về đường kinh-doanh sau này; bằng nay thầy ra quê người đất khách, mà tiền không có, thì thầy định buôn gì, vậy xin thầy cứ nhận đi, nếu thầy mà giả lại, thì tôi sẽ nhất định bảo cháu nó dữ thầy ở đây, không sao đi được, thầy nên nghĩ chút hảo-tình của tôi, mà nhận lấy thì hơn » Mộng Đài nói: « Vâng, thôi thì cụ đã cho, tôi cũng xin bái lĩnh, song mà cụ cho nhiều quá thế này, tôi nhận chẳng hóa ra tham lắm ru? Tôi xin hoàn lại cụ và lấy ít nhiều thôi, cũng là đủ tỏ tấm hảo-tình của cụ ban-phát ». Bà cụ nhất định không nghe, cả nhà mỗi người nói một điều, bất đắc dĩ Mộng-Đài phải xin bái lĩnh. Đêm hôm đó Mộng-Đài bối-rối như tơ vò, không sao chợp đi được, nghĩ mấy người lại được như nhà này, sao lại có hảo tình quá như vậy, ta được món tiền này, thôi mai ta lại dở về Hanoi, hỏi bác Lạc-Dạ xem định nên soay nghề gì hơn.

Sáng hôm sau Mộng-Đài ra ga, có Kiều-Lan và cậu Ngọc tiễn chân, kể sao siết nỗi phân ly, Kiều-Lan hôm đó có vẻ buồn ra mặt, lúc ở ga cậu Ngọc chạy đi lấy vé, thì Kiều-Lan nhìn Mộng-Đài mà dơm dớm hàng châu, Mộng-Đài không nỡ nhìn mặt nàng thêm đau lòng, chỉ cúi trông xuống mà lau nước mắt.

Kể sao siết nỗi phân li,
Lệ rơi thấm đá, tơ chia dũ tầm.

Tầu đã đến, Mộng-Đài lên tầu, tầu lại chạy, chị em còn trông theo mà tiễn-biệt Tầu chạy xa rồi, chị em mới thơ-thẩn dan tay ra về.

Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dậm một mình xa xôi;
Vừng giăng ai sẻ làm đôi,
Nửa in gối chiếc, nửa soi dậm trường;
Nỗi riêng riêng những bàng-hoàng,
Mối sầu sẻ nửa, bước đàng chia hai!