Bước tới nội dung

Phong trần thảm sử/Quyển thứ nhất/VII

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
​

VII

Mộng-Đài lại về nhà bác Lạc-Dạ và kể hết câu truyện từ khi anh em xa cách, vướng chút ân-tình, nay được món tiền 600$00 định về hỏi xem nên soay nghề gì, có bàn có hơn. Lạc-Dạ nghe câu truyện cũng buồn cười, cho là cái duyên may của Mộng-Đài và nói rằng: « Thôi bác mới về hãy thong thả, dăm ba hôm tôi sẽ liệu, việc buôn bán phải nghĩ chín, không thể bồn-chồn ngay được, để tôi đi chơi nói truyện một vài nơi xem sao. » Cách mấy hôm sau, Lạc-Dạ nói với Mộng-Đài rằng: « Tôi có một dịp này may ra phát-tài, cánh kiến bây giờ ở Hanoi đang khan, dá bác đi ngay được lên Chợ-Bờ buôn ít nhiều về cất cho hiệu Tân-Thành-An hàng Buồm và hiệu Hòa-Phát hàng Bồ được, thì xem có bề ăn ngay, cánh kiến đỏ bây giờ bán tới năm sáu mươi đồng một tạ và đằng trắng đến hơn một trăm, tôi đã đi ăn giá rồi vậy bác nên đi ngay, tôi có quen một người khách ở Chợ-Bờ lên là S.....O..... buôn bán to trên ấy để tôi viết giấy bác cầm lên nhờ ông ấy chỉ dẫn cho những chỗ buôn, rồi cất về mà bán; mai bác nên đi ngay, tiền nong phải dắt cho kỹ, đi đường nên cẩn-thận, lên trên ấy cứ ở nhà ông ta, chớ có ở chỗ khác mà sinh đều bất trắc..... » Mộng-Đài cũng ưng, sáng mai ra bến ô-tô Tư-Đường lấy vé đi Hòa-Bình. Xe máy chạy vùn-vụt hết địa-phận Hadong, có đỗ ở đồn-điền Đồng-Sông, đấy có M. Đ..... trước có ở Hanoi nay lên trông nom đồn-điền Mộng-Đài cũng quen, ​nên vào chơi một lát, nói truyện buôn bán trên này xem cũng khá, rồi lại lên ô-tô chạy. Từ đây là đến địa-phận Hòa-Bình, đã thấy núi non chồng-chất, kỳ hình dị trạng, đường sá quanh co, lên cao xuống thấp, cây cối um-tùm, danh sậy đầy đất, mười giờ hơn đến tỉnh Hòa-Bình, phố xá, dặt nhà tây và các sở, nhà an-nam ở dải dắc rất ít, đến chỗ màn sế ô-tô trước dinh quan Án, Mộng-Đài mua bánh ăn đỡ cơm, rồi sang sông, qua bên Phương-Lâm, tức là một nơi đô-hội to nhất ở Hòa-Bình và Chợ-Bờ. Chợ búa phố xá rất đông, lẫn cả người thổ mán, xem có bề sầm-uất. Đến đây Mộng-Đài đứng ngắm phong cảnh, chợt thấy một chiếc ô-tô nhà đang qua phà, khi đến nơi thì là chỗ bạn quen, bạn hoi đi đâu, rồi mời Mộng-Đài lên xe đi Chợ-Bờ một thể. Từ đây đường xá càng ngày càng khó đi, lắm chỗ rốc cheo-leo, đường đi chỉ vừa một chiếc ô-tô, một bên thì núi, một bên thì khe sâu hoăm hoắm, có chỗ cao đến 20 thước tây, đường khuất-khúc, dẽ quanh co luôn, người cằm máy không dỏi thì đến lăn xuống khe xuối chứ không chơi; đoái trông phong cảnh, nhà mán so-le, áo xanh lác-đác, hiềm vì ô-tô chạy vùn-vụt nên không ngắm được kỹ càng. Nghĩ lắm úc có tiền mà đi phiếm chơi sơn thủy cũng sướng thay! Nhưng Mộng-Đài đi đây là đi buôn bán, và còn lo ngay ngáy trong gịa, vả lại chứa nhiều nỗi thương tâm trong lòng, nên thấy phong cảnh đìu hiu mà thêm bát-ngát.

Ngâm câu sơn thủy tai ngây-ngố,
Nhắp chén quan hà ruột hẻo heo!

Mười hai giờ chưa tới Chợ-Bờ, vào tỉnh chỉ có hai ba phố, bạn mời Mộng-Đài về nhà chơi thết cơm, song đưa sang nhà ông S... O... nói truyện việc cánh kiến, đến nơi Mộng-Đài lại đưa cả cái thơ giới thiệu của Lạc-Dạ nữa. Ông S... O... ở đây tuy là người ​khách, nhưng ở bên ta đã lâu năm, nên cách dao-thiệp có bề rất rộng rất khéo léo, tuy mới biết Mộng-Đài mà tình thân thiết quá hơn bạn cũ. Đêm hôm đó ngủ ở nhà ông S... O... nhân có khách, ông ta dủ đánh tổ tôm, Mộng-Đài cũng phải nể ngồi một chân, người Hanoi lên không nhẽ lại nói là không biết chơi thì hủ-lậu quá. Đi ra ngoài có nhiều khi bắt buộc phải làm những đều mình không muốn làm, ấy là một cách ra đời phải chiều đời. Mộng-Đài rất thấp tổ tôm biết trước ngồi vào là thua, không có lẽ lại để ngay cái giấy bạc vào đĩa mà mời các ông ấy lấy đi cho, nên phải ép lòng ngồi chơi một vài giờ, đánh có con một lúc thế mà cũng đi ngay mất ngót chục. Mộng-Đài kiếu xin thôi, thác là đi đường mệt, rồi đi nghỉ. Hôm sau ông S.. O... lại dủ đi bắn, Mộng-Đài cũng phải vâng vì mới đến nhà người ta, mỗi mỗi điều phải chiều ý, vả người ta có quý mới mời, nên Mộng-Đài cũng phải theo lời cho song. Hôm đó bắn được ít nhiều các thứ chim, về ông ta sào dán mời mọc, xem ông ta có vẻ vui tính thực-thà, nên Mộng-Đài cũng phải nén bớt lòng sầu mà vui chung Mộng Đài đã toan về nhà người bạn ở, song bạn đã dặn nên cứ ở nhà ông S... O... đây cũng là chốn thân tình, và tiện việc buôn bán. Khi ăn tiệc Mộng-Đài hỏi han hết cách thức làm ăn ở Chợ-Bờ, phiên chợ ngày nào, có những gì, buôn bán gì hơn, và sau cùng tỏ ý muốn nhờ mua hộ ngay cho ít cánh kiến. Ông S... O... liền kể hết những đường buôn bán trên ấy, nhất nhất ông đều kể minh-bạch còn việc cánh-kiến thì ông nói trên này cũng đang cao lắm. Mộng-Đài ngồi tính ra tiền buôn tiền công chở về Hanoi, cũng không ăn thua gì mấy, giá có nhiều tiền buôn hẳn vài trăm tạ mới bõ. Nay mình chỉ có 600$00, thôi thì hãi tạm buôn độ năm sáu tạ xem sao. Nhưng hiềm vì trên ấy cũng đang khan, ​ở Hanoi đổ lên đón các đường cũng nhiều Được ông S.. O.. cũng là người rất tốt cho đi các nơi về tám chín hôm cũng được đủ số năm tạ cho Mộng-Đài. Hôm về Mộng-Đài lại gửi hàng về trước ở Hòa-Bình vì trên đó cũng có người bao đồ là M. T... nên Mộng-Đài chỉ về người không. Lần này về, ông S... O... bảo nên về bằng thoi, vừa đỡ tiền, vừa xuôi nước cũng chóng, nên Mộng-Đài nghe lời về thoi từ bẩy giờ sáng. Thoi xuôi dữa dòng, với trông phong cảnh một bề xanh xanh, non cao núi thẳm chập-chồng, một chiếc thoi lừ-lừ dữa ròng sông; Mộng-Đài tha hồ ngắm-nghía, non sông như gấm như chanh, hai bên bờ núi mọc như thành, dữa một dòng sông quanh co uốn khúc; gió lùa cửa đá, mây tỏa miệng hang, lắm chỗ trông như khói, khi đến nơi là một hốc đá đang đùn mây; xương xa buổi sớm, lá dủ đầu cành; mặt nước lăn tăn sóng gợn, bên giời sao-sác chiếc chim bay; thuyền ngư len-lói, chài mục vắt-veo, chỗ này cửa ngòi lấy gỗ, chỗ kia buộc nứa đan bè, tiếng dao đẫn gốc trong rừng, tiếng châu kéo gố sườn non, thực là tiền rừng bạc bể! Thoi vẫn từ từ xuôi, bãi cát ngọn đồi, thuỷnh-thoảng qua vài sóm mán, ánh mặt giời buổ sáng vàng soi, khi đi qua ngọn đồi mới đốt, chơ đất đen mầu, ngọn cỏ cháy sém vàng, cành cây thiêu chụi ngọn. Mộng-Đài thấy nhẹ mình thanh-thảnh, đứng trước mui thoi, quên lòng trần-tục tưởng mình như đạp sóng đi mây, liền ngâm một bài tức cảnh rằng:

Này đây phong-cảnh nước sông Bờ,
Đá mọc lô-nhô núi đứng chơ!
Một dải sông trong quanh uốn khúc,
Hai bên rừng dậm lặng như tờ;
Vàng soi đáy nước hơi man-mác,
Mây gác đầu non tỏa mịt-mờ;

​

Cao dốc so le nhà mán ở,
Đầu non lác-đác áo xanh lờ!

Mộng-Đài vừa ngắm vừa nghĩ: ước-ao gì được cảnh nhàn mà vui chơi non nước, bỏ phắt đường lợi danh. Không trách ngày xưa các cụ đem công danh đổi lấy chữ nhàn, ngày tháng tiêu dao cây cỏ, câu thơ sơn thủy, chén rượu Đào-Tiềm vui với núi non, năm ba cần câu bàn thạch, một vài nước thế cờ tiên, khinh đường danh lợi, bạn cùng cỏ hoa, các cụ mua được chữ nhàn là tiên. Lại nghĩ đến phận mình lận-đận bao phen, con đường thế lộ còn dài tình kia nghĩa nọ ngổn-ngang bời bời, biết bao giờ được khuây-khỏa trần tâm. Ôi! kiếp Trử-Đồng đâu tá, quê Tiên-tử nơi mô, xin lĩnh lấy vân đan làm tế-độ.

Thuyền đi vừa 1 tiếng đồng hồ mới tới Hòa-Bình, vừa lên bến lại gặp ngay người bạn quen làm ở một công-sở Hanoi trước, nay đổi lên đây. Anh em tay bắt mặt mừng dủ đi chơi phố, đến quá một giờ chiều từ đã ra nhận hàng cánh kiến, rồi chở lên ô-tô về Hanoi. Đến nhà Lạc-Dạ cũng hết lòng với bạn, bèn cất hàng cho hai hiệu Khách Ngờ đâu từ hôm Mộng-Đài đi Chợ-Bờ đến giờ đã gần hai chủ nhật, thì giá cánh kiến đã hơi hạ, lại còn nỗi trừ hao trừ bì, vì Mộng-Đài buôn không sành, nên có lẫn cả cành khô, đất sỏi ở dưới, khi cân người ta trừ đi, thành chuyến này lỗ vốn mất mấy chục mà lại thêm khó nhọc. Nhưng Mộng-Đài nghĩ rằng: thôi thế nhưng mà đi buôn chuyến mới rồi, tuy là lỗ song cũng được lãi cho tinh-thần nhiều, nghĩ vậy song cũng chán lắm rồi!

Hồi đó là tháng tám ta, nhân sắp đến tết trung-thu có một ông khách ở Yên-bay về chơi với Lạc Dạ và sắm ít bánh tết. Ông khách này tên là Vĩnh-Xương có hiệu buôn bán to ở Yênbay, ông có buôn củi thước, ​mở lối, và củi Haiphong để bán cho sở Si-măng. Nhân ngồi uống rượu với Lạc-Dạ và Mộng-Đài, thấy Mộng-Đài ăn nói khiêm tốn và vẻ người đứng đắn làm ăn, mà lại ngỏ ý muốn đi buôn, ông khách mới dủ lên làm chung gỗ với ông ấy. Lạc-Dạ cũng bùi tai mới bảo Mộng-Đài rằng: « Thôi, bác thua keo này bầy keo khác. nhân có ông Vĩnh-Xương về đây vậy bác lại đổi nghệ làm ông lái bè một chuyến xem sao, bác lên trên ấy cứ ở nhà ông Vĩnh-Xương đây, ông sẽ chỉ dẫn lối làm ăn, may ra cũng khá được. » Mộng Đài cũng ưng hôm sau ông khách về Yênbay, Mộng-Đài cũng theo lên. Đi tầu 9 giờ sáng mãi đến 3 giờ chiều mới đến nơi, về nhà ông Vĩnh-Xương. Đến đây lạ nước lạ non quê người.

Đoái trông phong cảnh nước non người,
Nông-nỗi đau lòng dọt lệ rơi!
Phố-xá xung quanh người lạ mặt,
Núi non sầu-uất cảnh trêu ngươi!
Lòng son héo-hắt khơi buồn thảm,
Dạ sắt chua-cay gượng nói cười;
Nào cảm, nào tình, nào hiếu nghĩa,
Mối tình san-sẻ biết cùng ai!

Nhà ông Vĩnh-Xương chật-chội khách khứa cả ngày: vả lại ông ta lại kiêm cả nghề buôn gió để chở về Hanoi làm giấy, nên khách đến cất hàng gió tấp-nập cả ngày, ông không mấy lúc rỗi việc. Mộng-Đài ở nhà ông đã hai ba hôm mà chưa thấy nói gì đến việc mình buôn bán, đành chỉ thở vắn than giài nằm dí một nơi trên gác, tối lại ra phố đi bách bộ cho đỡ buồn. Lại còn nỗi đêm nào cũng thức khuya, vì ông Vĩnh-Xương tối nào sổ sách song cũng có khách đến chơi tổ tôm đến khuya. Một mình Mộng-Đài ở trên gác buồn quá, chỉ thấy những tiếng phỗng, tiếng ù, tiếng cười, tiếng sướng, tiếng con bài deo đen-đét xuống dường, mà không sao ngủ được, lại còn nỗi chuột dúc ngoài hiên chú-chí, mọt ăn ken-két chân dường, mở cửa ​gác dòm ra phía sau nhà, ngắm cảnh sông Thao ban đêm, giăng in mặt nước, dó thổi hắt-hiu, cây cối um-tùm, non xanh một dẫy, nhân lại dở đến nguồn văn chương cho đỡ sầu:

I

Đêm sao buồn quá thế ru mà!
Tầm-tã giang-châu dọt lệ xa;
Chuột dúc ngoài thềm rêu tức tối,
Mọt ăn bén rễ dọng ta tha!
Giăng dòm cửa sổ cây dung lá,
Gió lọt hơi may chó xủa gà;
Cú nhạn kêu xương hồ tí-tách,
Quê người đất khách bóng canh tà.

II

Quê người đất khách bóng canh tà,
Tâm sự này ta lại với ta!
Ngao-ngán tấm thân hồn mộng điệp,
Âm thầm mảnh bóng kiếp phồn hoa;
Cuộc đời hồ nghĩ dường như cắt,
Truyện thế chưa lo tưởng đã già;
Hiu hắt canh khuya đèn một ngọn,
Muốn đem gan óc dãi giời xa!

Hôm sau ra phố chơi, gặp một người quen ở Lao-kay trước, dủ Mộng-Đài đi lễ đền Tuần-quán là đền thiêng nhất ở Yênbay, thờ bà Bát-Nàn-Công-Chúa, là tướng của bà Trưng-Trắc hồi xưa coi 98 cửa ngàn, đánh quân Tô-Định. Mộng-Đài cũng thành tâm giầu cau hương hoa đi lậy Mẫu. Đền cũng không xa, cách tỉnh vào chừng 4 ki lô-mết tới nơi thấy đền có vẻ u-linh, sông trước, rừng sau, núi quanh, cỏ dâm, bước vào làm lễ, song ra ngắm cảnh, có bài đề rằng:

Người dủ ta lên lễ cửa đền,
Là đền Tuần-Quán cảnh thiên-nhiên;

​

Sau lưng cỏ mọc rừng lan rộng,
Trước mặt sông quanh núi chạy liền;
Tâm động quỷ thần soi thấu nỗi,
Quang chiêu nhật nguyệt đội ơn trên;
Nén hương bát nước lòng thành kính,
Lậy Mẫu linh thiêng độ vẹn nguyền!

Đến hôm thứ năm, ông Vĩnh-Xương nhân cùng ngồi ăn cơm mới hỏi đến vốn Mộng-Đài có chừng bao nhiêu. Mộng-Đài nói thực chỉ có hơn 500$. Ông Vĩnh-Xương cười mà nói rằng: « Buôn gỗ như thế thì ít vốn quá, thôi để làm thứ gỗ Haiphong chung với tôi; nhưng còn phải chờ hằng lái Nghi nhà tôi nó ngược về mới có người làm. » Thế là lại phải chờ hàng nửa tháng giời nữa, mà cũng không thấy lái Nghi nào về, ông Vĩnh-Xương cũng nóng ruột mới đi tìm nó mất hai ba bôm mới thấy. Hôm về, Mộng-Đài thấy lái Nghi đầu cạo chọc, mắt to, mũi dọc dừa, mồm rộng, tai nhỏ, mặt đen, chít khăn lượt quấn, mặc cái áo the cũ, quần trắng, dẫm đất, trông có vẻ nhanh-nhẩu được việc, thế mà thành ra sau này rất đoảng! Hôm đó ông Vĩnh-Xương mới bắt đầu nói đến làm việc, bảo lái Nghi đi làm gỗ, được ít nào lõng ra ngòi; rồi sai làm một cái nhà bè ở chỗ cửa ngòi, để Mộng-Đài xuống bè ở, chỉ có việc ngồi mà trông gỗ và kiểm gỗ ở trong ngòi nó lõng ra cốn lại khi nào thành bè sẽ cho xuôi. Thế là mấy hôm sau Mộng-Đài xuống bè ở. bè đóng ngay ở cửa ngòi N..... cuối tỉnh Yênbay. Thoạt mới đầu thì lái Nghi còn làm chăm-chỉ vài hôm lại có gỗ ra, sau nó mê man cờ bạc thế nào mà làm chậm quá, Mộng-Đài mắng thì nó chỉ những viện lẽ nào là giời mưa dầm gió bấc, thiếu người làm, lẵng-nhẵng thế nào mà tết đến nơi rồi, bè vẫn chưa xong! Ông Vĩnh-Xương thấy lâu cũng đến xem. đành là cho nghỉ tết vậy, ra giêng sẽ làm nốt, rồi mời Mộng-Đài về Yênbay ăn tết, ​bè thì dao cho người nhà lái Nghi trông nom. Ăn tết thế nào mà hết tháng giêng cũng không thấy mặt lái Nghi đến, lại cho đi tìm mới thấy, công việc lại bắt đầu làm, ngờ đâu trong khi Mộng-Đài về Yênbay ăn tết, thì những song để neo bè, và những dùn cốn, người nhà lái Nghi không trông nom cẩn-thận, để chôi mất cả gỗ, chỉ còn sót độ 100 cây, mà khi Mộng-Đài đến thì thằng trông bè sợ đã chốn mất. Mộng-Đài lại phải đâm bổ về nói cho ông Vĩnh-Xương hay, ông gọi lái Nghi lên trách-cứ, rồi không giả cho một xu nào tiền công làm nữa, đuổi đi và kiếm người khác thay vào làm. Mộng-Đài lại về bè ở, thế là công việc bè lại thành ra bắt đầu làm lại. Trong khi ở bè, Mộng-Đà buồn quá, cả ngày chỉ ăn xong lại nằm, cơm thì gạo hẩm, thức ăn thì mắm tôm, cá khô, quanh đi quanh lại chỉ quả dọc nấu dấm. cá dán, muối vừng, hoa chuối luộc, phong vị ở bè chỉ có thế là tuyệt cú! Mộng-Đài thường cũng hay lên bộ chơi những sóm xung quanh ở đấy, ai cũng có lòng mến, vả lại ở đó đã gần nửa năm giời, bè chôi ai biết cũng ái-ngại, lại thấy bè làm lại, mà Mộng-Đài thì chỉ những thở vắn than giài, ai cũng lấy làm bùi-ngùi cho số phận Mộng-Đài hiu-hẩm Thường thường có những ông cụ bô làng xuống bè đánh cờ với Mộng-Đài chơi, vì Mộng Đài cờ rất cao, nên các cụ cũng thích. Lại có mấy ông đồ Nghệ lên ngồi dậy học trên đó, nghe tiếng Mộng-Đài là người tài hoa, cũng hay xuống bè chơi, đàm đạo văn chương sách vở, thì các ông ấy ai cũng cho Mộng-Đài là người học thức khá, có tài; thường những thơ nôm lúc xướng họa các ông đồ cũng phải chịu Mộng-Đài là lưu-loát mẫn-tiệp. Mộng-Đài lại thường hay diễn-thuyết cho những kẻ tàn-bạo trong làng để sửa đổi tính nết, thành ra ai ai cũng phục. Những khi trong làng vào đình đám gì các cụ cũng cho mời Mộng-Đài, ​Mộng-Đài cũng không dám từ chối, rượu làng thì uống, rượu mua thì đừng, nên Mộng-Đài cũng vui năm ba chén. Duy ở trên này có nhiều người hút, nhưng các cụ mời thế nào, Mộng-Đài cũng không bao giờ hút qua nửa điếu, chỉ nằm chơi bên bàn đèn, đàm luận cổ kim, có lúc rỗi, Mộng-Đài lại lững-thững vào rừng chơi, chèo lên non cao ngắm cảnh, khi chơi bến buổi sáng, khi dạo xóm mán chiều hôm, khi thăm mả cũ bên đường, khi đêm khuya ngồi ở bè trông giăng, những lúc ấy Mộng Đài đều có thơ ngâm vinh. Nay chép qua mấy bài:

Khi chèo núi:

Vin đá lại qua đèo,
Đường núi những cheo leo;
Cảnh cũng chêu người nhỉ,
Chim kêu tiếng suối reo;
Buồn teo!

Khi chơi bến buổi sáng:

Tiếng gà sao-sác điếm giăng,
Dấu chân in vết giọt xương mặt cầu.

Trông ra sáng sáng một phương giời,
Bến nước vàng soi khắp mọi nơi;
Hồi trống tan canh khua giấc điệp,
Ngọn cồn mặt sóng déo ròng khơi;
Đầu cành lá dũ sương xa dọt,
Cuối xóm mây thưa gió lạnh người.
Chim chóc líu-lo mừng vật chủ,
Bên giời san-sát bóng non phơi.

Khi dạo sóm Mán chiều hôm:

Nọ cảnh hoàng hôn bóng sế chiều,
Long lanh mặt bến nước trong veo;
Xanh loe đầu núi hàng mây chó,
Vàng đỏ non tây mấy xóm mèo;

​

Châu lội bên sông hình lố-nhố,
Chim xa làn sóng chiếc leo-teo;
Chân giời một chấm thuyền le-lói,
Vẳng tiếng chiêng dồn ruột hẻo-heo!

Khi chơi bãi tha-ma, khi qua mả cũ bên đường:

Chiều hôm qua bãi tha ma,
Kìa người thủa trước bây giờ là đâu?
Mồ ai ngọn cỏ dầu dầu,
Ấy ai khanh tướng công hầu chi đây?

Lù-lù nấm đất ở bên đường,
Ngọn cỏ xanh xanh lại nửa vàng;
Thuở trước anh-hùng hay bạc mệnh?
Khi xưa viễn-khách chớ hồng-nhan?
Thấy người nằm đó lòng thêm ngán,
Nghĩ nỗi đường xa giạ lại càng...
Giấc ngủ nghìn năm thôi thế hết,
Biết ai khanh tướng biết ai sang!

Khi đêm khuya ngồi bè trông giăng;

Một vừng giăng tỏ ló đầu non,
Bốn mặt xung quanh sóng bủa cồn;
Lấp-lánh bên giời sao ánh nước,
Hắt-hiu ngọn lá gió đưa cơn;
Đèn ai lấp-ló thuyền trong bến,
Mái nọ lơ-thơ trống đổ dồn;
Lạnh lẽo canh khuya xương nặng dọt,
Mảnh tình như gợi tấc lòng son!

Mỗi một khi gập việc gì đều có ngâm vịnh. Cơm ngày hai bữa đã có đứa bé con thổi nấu. Mộng-Đài chỉ có việc ngồi trông bè gỗ và vào sổ chi tiêu, chỉ chờ làm song bè là xuôi. Kể sao siết nỗi khổ ở nhà bè trên mặt nước, thôi thì thổi nấu, tắm rửa, rặt-riạ, nhất nhất bì-bõm xuống sông. Độ vài ngày lại có một cái sác người chết lênh-đênh dữa dòng nước, quạ đậu ​trên thây kêu riả, có khi theo luồng nước chẩy, dạt cả vào bè; châu chết, chó chết, trẻ con chết, chẩy qua trông mà sợ dởn, đêm nằm không yên. Ở trên ấy người ta cho là thường, chỉ lấy nước làm sạch. Lại còn nỗi ban đêm, nằm trên cốn nứa, nước chẩy nao nao dưới sống lưng, gió thổi vù vù, soáy vật sóng kêu, nghe mà khiếp-đảm; mỗi khi cơn mưa cơn gió, tưởng chừng như đất lở giời long, mây kéo tối ầm, mặt nước sám đen, sóng bủa nhấp-nhô, nhà bè lay-động. Ra vào nhà bè phải luồn-cúi, quần áo chóng rách chóng bửn. Lại còn nỗi thuỷnh-thoảng ban đêm cọp về bắt chó bắt lợn trong làng, chiêng đuổi trống khua rộn-rã, chó sủa líu hơi không thành tiếng, lợn éc kêu rầm bên sông, còn nhiều cảnh khác nói sao cho siết.

Tháng chín thì quít đỏ chôn,
Tháng ba ngái mọc cái con tìm về

Mãi đến ngày hạ tuần tháng tư, bè mới xuôi về được hơn nghìn cây gỗ. Ông Vĩnh-Xương cũng ngồi vào bè xuôi, thả một nước tối đến Chí-Chủ nghỉ. Bè vừa bắt cầy đỗ ở Thanh-Ba thì có ngay một bọn lính huyện ở đâu chèo thuyền đến, nhẩy hết lên bè, dơ súng bảo ai nấy ngồi im để khám thuốc phiện, lục-lọi hết trong nhà bè. Một chốc quan huyện đến, trông vẻ mặt có một bộ rất phong-lưu, thông-minh và mẫn-cán, cách-điệu rất oai-nghi đường-bệ, ăn nói rõng-rạc, thực đáng là một vị phụ mẫu! Quan huyện đến nơi, hai ngọn đèn măng-sông đi trước, quan bước lên bè, hỏi ai là chủ bè này? Ông Vĩnh-Xuơng nhường Mộng-Đài bước ra nói: « Thưa quan tôi đây. »

— Thẻ đâu?

— Thưa quan đây.

​— Bè có mấy người?

— Thưa quan, có hai chúng tôi, một người thả và thằng bé con.

— Đưa cả thẻ đây!

— Thưa quan cả bốn cái thẻ đây ạ!

— Cái bè này chờ ô-tô lên đón đây phải không?

— Thưa quan có gì mà bảo ô-tô lên đón.

— Thôi, không cần nói dằng-dai nữa, có giấy báo đây, lính đâu gọi lý-trưởng T... ra đây bảo nó cho mấy thằng tuần gác đây cả đêm, không cho ai lên xuống, nghe! Sớm mai tao khám.

Thế là quan về, để lại hai người lính gác trong bè, trên bờ sông một lát có ngay mấy tiếng tù-và, tức là tuần ra canh bè đấy. Đêm hôm đó mấy anh lính dỗ ngon dỗ ngọt Mộng-Đài rằng: « Tôi nói thực, nếu có cứ nói đi, tôi về ngay thưa lại, sẽ liệu bề châm-trước, kéo để sáng mai quan khám mà có, thì lôi thôi to chứ chẳng chơi, nên nghĩ cho chín. » Mộng-Đài nguyên là người cứng-cỏi cương-chực, nghe dọng anh lính nói đâm khùng rằng: « Có mới sợ, không có thì sợ gì ai ». Nói song ra đầu bè, bảo các tuần rằng: « Quan sai cắt anh nào canh trên bờ, cứ ở trên, anh nào dưới, cứ ở dưới, nếu ai cứ lên xuống tự nhiên là không được đâu đấy. » Suốt đêm ấy Mộng-Đài buồn bực không trừng, đèn dong cả đêm, hai anh lính nằm kèm bên cạnh, chốc chốc lại bấm cò máy súng lách-tách làm như cách dọa-dẫm, Mộng-Đài trông thấy chỉ buồn cười. Trên bờ thì cách độ vài phút lại một hơi tù-và giài, Mộng-Đài nghĩ chán quá, đi buôn bán thế này có cực không. Trông ra ngoài bè bốn phía giời tối đen như mực, gió thổi hắt-hiu, sóng dồn mặt nước suốt đêm ông Vĩnh-​Xương, Mộng-Đài và người làm công không sao chợp mắt được. Sáng mai tám giớ hơn mới thấy quan ra khám, quan đi trước, một anh cắp cái cháp cái điếu theo hầu bên cạnh, hai người thơ lại. bút thủy gài tai, tay cầm nghiên dấy, theo sau sáu bẩy người lính, tay cầm những cái thuốn sắt giài. Quan truyền lính xuống bè, quan cũng xuống sau, thôi thì xiên sọc đủ tứ bề. Có một anh lính siên đánh sịch một cái thấy nặng tay, kêu rầm lên: « Đây rồi, đây rồi thế chứ lại! » Quan sai ngay mấy anh chài bơi lội xuống đạp ra, thì ra cái mảng chuối chôi mắc dưới gậm bè. Mộng Đài từ lúc quan xuống bè, vẫn đứng luôn bên cạnh, thấy thế mà cười thầm mới nói rằng: « Thưa quan, nếu có đã xin thú thực với quan ngay, có dám để đâu phải phiền quan đến thế này, chúng tôi đi buôn bán lần này là lần đầu. chúng tôi gặp những sự không may thế, thật là thiệt hại quá, chúng tôi đi nửa năm nay làm bè, nào bị chôi, bị mất, bây giờ mới được chuyến bè về đây, lại bị khám thế này, thực lấy làm buồn quá, không trách cứ bảo cuộc thương mại nước ta, sao không được phát đạt, nào ai có xét cho những nông nỗi! » Quan nghe nói, trông mặt Mộng-Đài không phải ra cách lái bè, ra mặt học-trò, có vẻ văn-nho, mới hỏi mân-mê về cuộc thân-thế Mộng-Đài, sao lại đi buôn vất-vả thế? Mộng-Đài mới kể nông-nỗi mình muốn kinh-doanh về đường thực-nghiệp, nay vay được ít vốn đi buôn, mà gặp lắm bước gian-nan quá. Quan nghe song cũng động lòng mới bảo: « Tôi cũng không muốn làm dày-dà thế này cho thêm bận, mọi khi đây có khám chác thế này đâu, nguyên vì hôm qua nhận được cái giây thép Yênbay đánh về, là có cái bè thuốc phiện hôm nay tới đây, nên phải cho lính tuần phòng kĩ và chắn cả đường bộ, khám tất ô-tô, không phải riêng gì một bè này, ​việc quan cứ phải phép công mà làm; nhưng tôi bảo: từ giờ có về bè thì nên về vào tuần giăng sáng thì không bị nghi, đừng nên về vào đầu tháng và cuối tháng, thường bị đoan xét riết! » Quan nói thế rồi truyền cho các lính lên bờ, quan cũng lên, còn một anh đội đang lằng-nhằng gì với người làm công trong bè, Mộng-Đài vội chạy vào xem, thì ra người đội bắt được lọ thuốc cống con của thằng thả bè để ở đầu mảng, đang muốn nói với quan, còn thằng thả bè thì cứ lạy-lục kêu van. Mộng-Đài thấy vậy mới bảo anh đội rằng: « Thôi nó nghiện-ngập, không có thì không sao làm được, bè tôi sẽ phải đỗ đây, nó nhịn cơm được, chứ nó không thể nhịn thuốc được, thôi thầy nghĩ tình tha cho nó, không là bao nhiêu, thầy bắt cũng không bõ công-trạng gì, thôi đây có đồng bạc, thầy cầm lấy ăn quà và tha cho nó. » Anh đội cầm đồng bạc đi lên bờ, vừa đi vừa lẩm-bẩm rằng: « Phép quan một tí cũng bắt kia, thôi tha cho làm phúc. » Mộng Đài quay lại lên bờ chào quan, rồi sai nhổ bè đi, chiều đến Phú-thọ lại nghỉ. Đây cũng lại là một cửa Diêm-Vương nhà Đoan nữa, chỗ này thuyền bè qua lại khám kỹ lắm. Bè vừa đỗ, có ngay một người Đội Đoan đến khám, thế nào lại quen Mộng-Đài vì khi trước người đội này có làm ở nhà Đoan Hanoi. và Mộng-Đài trước cũng làm ở Đoan nên quen. Quen thì quen nhưng Mộng-Đài cũng phải mất 1$00 làm quà để khám qua-loa cho đỡ phiền. Thế là sáng hôm sau bè lại thả, đi một nước về đến Hậu-Bổ, còn sớm, nghỉ đó; mai về đến Việt-Trì. Đến đây bè phải bắt vào bến lần-lượt, để Kiểm-Lâm đếm gỗ làm thuế, lại Kiểm-Lâm nộp thuế lấy giấy, rồi bè lại thả hôm sau về đến Sơn-tây. Đêm hôm đó bị một trận mưa to gió nhớn dữ quá, bè sóng đánh nhấp-nhô. Mộng-Đài nằm trong bè mà kinh-dởn. Gần sáng, giời ngớt mưa bè lại thả, chiều về đến bến Vạn, bến này là một ​nơi buôn bán to nhất ở Trèm, bè đỗ san-sát như lá tre để bán hàng dưới nước. Trong khi đi dọc sông, Mộng-Đài rất vất-vả, người làm công thì nghiện, thằng bé con thì yếu, ông Vĩnh-Xương thì hơi có tuổi, cũng không quen làm việc nặng, nên Mộng-Đài phải mó tay vào làm, nào đâm song, nào kéo neo, nào bắt cầy, v..v..; tuy vậy mà những lúc bè lừ-đừ chôi dữa sông, Mộng-Đài cũng có ngắm phong cảnh hai bên bờ sông, chỗ non cao, chỗ đất thấp, nơi làng mạc, nơi sóm chài, đàn chim xa bãi cát, cảnh chợ chiều chân non, chiếc buồm dương chạy xế, bóng mặt giời chiều soi, tiếng chuông chùa trên núi, tiếng cát lở ùm ven sông, cảnh vật hữu tình, nói sao cho siết, bút quan-hoài khôn vẽ nét thiên-nhiên

Bè ở Vạn, nghỉ một hôm, định hôm sau sẽ thả về sông Luống ra Haiphong; ngờ đâu chiều hôm đó giời u-ám, gió tây thổi dật từng cơn, bọn thuyền chài ồn-ào nói sắp có bão to. Ông Vĩnh-Xương sai cắm cầy rất chắc, ra thêm song neo rất khỏe. Quả nhiên đến đêm gió mỗi lúc mỗi to, gió tây, gió đông, gió nam, gió bắc, rồi bốn gió cùng lên, bão thực rồi! Sáng ngày ra gió lại càng khỏe, rồi cả mưa lẫn gió. Ông Vĩnh-Xương và Mộng-Đài sợ quá, thấy đứt một mối xong bè lay chuyển lộn, gió càng ngày càng giữ, ông Vĩnh-Xương nhủ Mộng Đài hãi tạm lên bờ, vừa lên khỏi thì lại đứt một mối song nữa, dong gỗ bên ngoài, sóng đánh đứt hết lạt cốn, gỗ cứ lừ lừ chôi đi, đuơng vụ nước to, nước chẩy càng mạnh. Mộng-Đài cứ đứng trên bờ mà kêu giời kêu cứu, nhưng ai nào dám vớt dám cứu, mà cứu làm sao được, ai lo của người nấy còn chưa xong, ai dảnh đâu mà ai nghĩ đến ai!

Thôi thế là đứt nốt một mối song nữa, hai thằng làm công cũng vội nhẩy lên bờ, không thể nào dữ ​được nữa, đành phó mặc dòng nước ngọn gió chôi xuôi, chỉ trong mười lăm phút đồng hồ là hơn nghìn cây gỗ cứ kéo nhau mà chôi phăng phăng, nhà bè cũng ụp, quần áo và đồ vặt của ông Vĩnh-Xương và Mộng-Đài đều mất hết, cả mấy cánh bè to đỗ bên cạnh cũng vỡ tan, tiếng khóc như ri; xuồng, ghe, cái chìm cái đắm, trông rất thảm thương, bọn nhà chài, giang sơn có một chiếc thuyền, thuyền là nhà ở, nay thuyền mất tức là nhà tan, thôi thì bố ẵm con, vợ níu chồng, tiếng khóc ai-oán, hình như muốn nghiến-ngẩm giời xanh, nuốt tươi phong vũ. Thực là: thiên hữu bất chắc chi phong vân, nhân hữu bất chắc chi họa phúc.

Giời làm mưa gió bất thường,
Con đường họa phúc ai lường được đâu.

Mộng-Đài đứng trên bờ, ướt hết quần áo, nước mắt kêu giời, tiếc của sót ruột, muốn ước gì mà nhẩy ngay lên chín từng mây, mà hỏi ông cụ Tạo kia, sao đem lắm nỗi bất-bình ác-nghiệt mà ghẹo kẻ phong-trần chi lắm tá? Ông Vĩnh-Xương khuyên dải rồi dủ về một nhà quen ông ở gần đấy ăn uống điểm tâm qua, đành là mất rồi còn nói làm sao. Ông Vĩnh-Xương tính giả tiền công hai người làm bè cho đi, rồi nói với Mộng-Đài rằng: « thôi đừng khóc làm gì nữa, giời làm hại thế này, thực là hại cả đôi ta, tôi đành chờ hết bão phải về ngay, ở đây lâu nhà bối-rối lắm; nhưng còn ái-ngại cho ông bây giờ hết vốn, quần áo lại mất cả; kể tính ra, ông còn nợ lại tôi, nhưng mà thôi, đã đến nước này, còn nói gì nữa. » Mộng-Đài không nói chi cả, chỉ khóc ròng, ông Vĩnh-Xương thấy cũng đau lòng mới dở ví tiền ra xem còn được 35$, mới lấy 30$ đưa cho Mộng-Đài mà nói rằng: « Thôi bây giờ tôi nghĩ cảnh ông cũng thương tình tệ, tôi đã đành là thiệt-thòi, nhưng mất chuyến này còn chuyến khác, song cảnh ông thì thực khốn quá, nay ông hãy cầm tạm lấy món tiền này ​tiêu dụng cho đỡ ít lâu, rồi liệu soay nghề khác; hay là ông có muốn lên làm nữa với tôi, cũng xin vâng » Hai ba lượt ân-cần đưa, Mộng-Đài bất đắc dĩ phải gạt nước mắt mà cầm, rồi cám ơn, song mà còn cái sự lên Yênbay làm nữa thì vốn đâu, vẫn hay rằng ông Vĩnh-Xương có lòng tốt, nhưng lên nữa mà làm gì, đi làm công cho người ta ư?

Giời đến hôm sau mới ngớt gió tạnh mưa, ông Vĩnh-Xương cùng Mộng-Đài lên ô-tô Chèm về Hanoi; ông Vĩnh-Xương từ-rã ra ga, còn Mộng-Đài thì bâng-khuâng như kẻ mất hồn, đành lại thuê xe về nhà Lạc-Dạ. Đến nhà không thấy Lạc-Dạ đâu, chỉ có ông cụ thân sinh ra Lạc-Dạ và cậu em. Mộng-Đài hỏi cậu em rằng anh đâu? Cậu ta dầu nét mặt giả lời rằng: « Anh tôi không biết nghe ai dại-dột, bỏ việc làm chốn đi N... không biết định đi đâu, nhà nước bắt được, nên nay phải dam, không biết ở Hanoi hay Haiphong. Thầy tôi mới ra mấy hôm nay để thu-sếp cửa nhà, và nghe tin tức anh tôi, xem chạy chọt có nhẹ tội được không. » Mộng-Đài nghe nói, đứng không vững, nghẹn nhời không nói được câu gì, nước mắt chẩy tuôn như suối, nghĩ thương mình thương bạn, bấy lâu mình ở đây có thấy bác này có chí ấy đâu, mà nay nghe ai lại gan thế, nghĩ chừng nào như dao cắt ruột, không muốn ngồi lại nữa, áo quần lôi-thôi sốc-sếch, chào ông cụi và cậu em rồi ra, đi thơ-thẩn ngoài đường, lại mấy chỗ anh em quen, thì xem ra tình bạc đãi cả, cho hay thói đời lúc bĩ cực mới biết lòng anh em! Đến bữa Mộng-Đài ra hàng cơm khách ăn, ngồi một mình nghĩ một mình, dận thân mình, trách số phận mình, nghĩ thương bạn ngọc, lại nhớ tình-nhân, xa vắng có nửa năm giời mà cảnh tang-thương bầy ra đến như thế. Bây giờ định soay gì đây, trong túi chỉ còn mấy chục bạc của ông Vĩnh-Xương đưa, ăn hết đây rồ ​sao, làm gì buôn gì được nữa, hay là ta con cái vòng ngọc thạch của cha mẹ ta để lại, và cái nhẫn của tình-nhân ta cho đây, bán đi rồi đi buôn nữa chăng? Chết nỗi, không được, kinh Thi có câu: « Duy tang dữ tử, tất cung kính chỉ » từ cây dâu cây tử của cha mẹ giồng cũng còn phải kính trọng, nữa là của di-vật này ta bán làm sao được. Ta trông thấy vật này như trông thấy cha mẹ ta sực nhớ đến hai bức ảnh cha mẹ để trong va-li, nay đã chôi theo dòng nước, nghĩ mà cắn răng cấu duột. Còn cái nhẫn này là di-tích mối chung tình, ta sao nỡ bán. Hai vật này dù chết ta cũng không dám rời. Ăn song Mộng-Đài lại thơ-thẩn ra phố, luôn chân đi mãi lên con đường Quan-Thánh, rẽ vào đường Cỏ-ngựa, hiu hắt gió Hồ Tây. long lanh gương Trúc-Bạch, Mộng-Đài cứ đi lần lên dốc Yên-Phụ, mặt mũi âu-sầu, vẻ người buồn-bã, áo quần sốc-sếch, khăn quàng vào tay, ai đi qua cũng phải trông mà Mộng Đài thì hình như không trông thấy ai, có lúc đi dề mãi ra dữa đường, xe cộ đi qua, ếp mãi cũng không chánh, ai cũng cho là anh điên. Chợt có tiếng chuông chùa đánh, thực là tiếng chuông khua tan hồn tục-niệm, Mộng-Đài đương tê mê thế mà cũng phải ngảnh lên, thấy một cảnh chùa, ấy là chùa Trấn-Quốc, lắng tai nghe có tiếng mõ tụng kinh nghe như gõ vỡ trần tâm bụi hồng! Mộng-Đài liền đi vào chùa, đến trước Tam-Bảo lặng yên nghe tiếng tụng kinh, mà thấy nhẹ lòng trần-tục. Đứng một lúc lâu, sư già đã tụng kinh song bước xuống. Mộng Đài vái chào. Sư già mời vào nhà khách an-tọa và thết trà. Sự già thấy mặt mũi Mộng-Đài khôi ngô mà in một vẻ buồn rầu thái-thậm, mới hỏi han ân-cần, Mộng-Đài đem truyện thân-thế mình kể qua những nỗi đoạn-trường. Sư già nghe cũng gợn lòng, mới lấy đạo Phật giảng-giải rằng: « Nếu thầy đã trải qua nhiều cảnh bi ai ấy mà biết ​tu-thân định-tính thêm, thì sau này thầy sẽ nên người trác-tuyệt hoàn-toàn, như hòn ngọc đã dũa rồi, thêm bề tinh-sảo; còn nếu thầy ở những cảnh khổ não ấy ra, mà thầy chỉ biết oán giời trách đất, đem lòng hờn giận đời, thì thầy chỉ là một người đáng thương. Sách Phật có câu: Tiền thế bất thiện tu chì, sở dĩ kim sinh thụ đa thiểu chướng-não: ấy là kiếp xưa đã vụng đường tu, cho nên kiếp này phải chịu ít nhiều nghiệp-oan; vậy nên càng phải tu trì cho luân hồi kiếp sau được thanh thả. Bằng nay thầy chỉ thấy cảnh ấy mà sầu, mà khóc, tức về số phận mà giận vẩn giận vơ chẳng qua chỉ thêm đều ác-nghiệt. Phật đã dậy: Thế nhân đa ác-nghiệt, hậu lai tất trầm luân ư khổ hải như năng hồi đầu qui Phật. tắc Phật hữu từ phàm dĩ tế chi. Bởi người đời nhiều ác-nghiệt nên phải trầm luân bể khổ, nếu biết hồi đầu qui Phật, thời Phật sẽ có buồm từ mà ra tay tế-độ. Vậy cảnh đời là cảnh khổ, cứ lấy nước mắt chúng sinh trong ba nghìn thế giới này đem tích lại, thì nhiều hơn nước bốn bể. Vậy thầy nên tỉnh ngộ, đừng nên phiền nghĩ lắm làm chi ». Mộng Đài nghe mấy câu sư già nói xong mà như gần rừng tía, nhường xa bụi hồng, muốn xin ngay giọt nước cành dương mà tưới tắt hết mọi đường trần duyên. Đêm hôm đó Mộng-Đài xin ngủ tại chùa, sư già đàm đạo biết Mộng Đài là kẻ hữu tài vô duyên. Sáng hôm sau Mộng-Đài từ-giã sư già đi sớm ra thẳng ga lấy vé đi Haiduong bấy lâu cách mặt người yêu áo quần sốc-sếch cũng liền về thăm. Chín giờ sáng tới ga Haiduong, thuê xe về nhà nàng Kiều-Lan. Đi qua phố thấy đường xá chỗ lồi chỗ lóm, đá gạch ngổn-ngang, có chỗ nước đọng thành vũng dưới đồng bát-ngát, nước trông trắng xóa, lại gập mấy người tù đương khiêng cái áo quan kĩu-kịt có vết trắng vôi bột Mộng-Đài hỏi người xe, mới biết tỉnh Haiduong bị lụt hơn một tháng giời, nước vào trong ​phố phải đi thuyền cả, nước mới dút ra được vài hôm nay, lại thêm có bệnh dịch đang dữ. Mộng-Đài nghe nói chép miệng thở giài, lại nhớ đến những lời của sư già hôm trước, thế nhân đa oan nghiệt

Giời làm chi cực hỡi giời,
Đang tay vùi dập hại người trần gian!
Chẳng qua đa nghiệt đa oan,
Xui nên nước lụt, xui nên dịch truyền!

Về đến cổng thấy đường vào lõm-bõm bùn lầy, lại thấy có những thoi vàng hồ dắc đầy cả đường vào, thoi thì chìm xuống bùn, thoi thì dẫm bẹp bên tường, lòng đã sinh nghi. Đến cổng trong gõ mấy tiếng, trong nhà chó sủa vang, cậu Ngọc khăn trắng áo trắng ra mở cửa. Mộng-Đài trông thấy đã rụng rời chân tay. Vào đến nhà qua sân, nom vào nhà bên chỗ nàng Kiều-Lan thường ngồi thấy kê cái bàn thờ, khói hương nghi-ngút, ngọn nến so-le, chiếc ảnh to của nàng dựng dữa. Mộng-Đài đứng dừng hẳn lại, suýt nữa ngã, cậu Ngọc thì òa khóc, bà cụ ngồi trong nhà, thấy Mộng-Đài vào sân cảnh tình như vậy cũng khóc vang. Mộng-Đài chết đứng giữa sân, hồi lâu mới hỏi được cậu Ngọc mấy tiếng rằng: « Mất bao giờ, làm sao mà chóng thế cậu? » Cậu Ngọc gạt nước mắt nói: « Chị tôi mới mất bốn hôm nay, hôm qua là ba ngày, từ khi bác đi chị tôi cứ đau yếu luôn, nhưng cũng soàng, nhân vì nước lụt một tháng giời lại đang có bệnh dịch ở đây dữ lắm, chị tôi yếu sẵn nên bị phải có hai tiếng đồng hồ là đi, phải dấu-diếm chạy chọt mãi, không lại phải đưa vào nhà thương chôn vôi bột rồi. Khốn nạn, chị tôi không kịp đôi hồi một nhời gì cả, bác còn lạ gì bệnh ấy, thực chóng quá! »

Hỡi ôi, nói hết sự duyên,
Tơ tầm đứt ruột lửa phiền cháy gan;

​

Bây giờ ngọc vỡ gương tan,
Con người thế ấy thác oan thế này!
Tưởng rằng sum họp còn vầy,
Ai hay vĩnh-quyết là ngày đưa nhau!

Mộng-Đài bước vào nhà khách chào bà cụ, cậu Ngọc cũng theo vào. Bà cụ thấy Mộng-Đài người sút già khọm khác khi trước, râu tóc bơm sờm, quần áo lôi-thôi bửn-thỉu, bà cụ mới hỏi cách làm ăn nửa năm giời nay ra sao Mộng-Đài thấy hỏi đến, nguồn cơn như dục bi sầu, chưa nói đã hai hàng tuôn xa, kể hết nông nỗi, bà cụ và cậu Ngọc nghe cũng đau lòng. Ngồi một chốc Mộng-Đài xin ra bàn thờ viếng nàng, lễ mấy lễ, trông thấy ảnh nàng mà lòng đau như cắt ruột dát như bào, nghĩ tới câu: Nhất thất cước thành thiên cổ hận Tái hồi đầu thị bách niên thân, mà lòng thêm chua sót lòng! Mộng-Đài đứng trước bàn thờ một lúc lâu rồi bảo cậu Ngọc đưa ra mộ Mộ cũng gần, cất trên một cái gò to, bốn phía đồng nước mênh-mông, cậu Ngọc châm nắm hương, cắm lên mộ rồi lễ Mộng-Đài cũng vái theo. Mộng-Đà, bảo cậu Ngọc về trước, một mình đứng lặng trước mồi hồng nhan, chim kêu sao-sác, làng sóm xa xa, bóng nắng ngang đầu, cỏ lan mặt đất. Thò vào túi lấy cái nhẫn vàng ra ngắm nghía mà lòng thêm tức tối lòng, hai hàng nước mắt đầm đìa hạt vắn hạt giài, rơi xa trước mộ.

Thương càng nghĩ nghĩ càng đau,
Dễ ai dấp thảm quạt sầu cho khuây!

Mộng-Đài dở ví lấy mảnh giấy viết đôi câu đối viếng và bài thơ khóc nàng rằng:

Kẻ mất người còn, lưng khoang tình-nghĩa chôn vùi đất;
Sầu giài ngày ngắn, nước mắt bi-ai thảm lụt giời.

Đi đâu vội thế ối em ôi!
Luống để cho anh những ngậm-ngùi!

​

Châm gẫy bình tan đau ruột chửa,
Vàng phai ngọc nát cực không thôi!
Thương em muốn khóc không ra tiếng,
Đứt ruột khôn kêu thấu tới giời;
Những tưởng trăm năm tình cầm sắt.
Nào ngờ đứt gánh với quang rơi!

Viết song đọc đi đọc lại đọc lại khóc, tưởng như nàng cũng nghe mà tí-tách hạt châu trong mộ Mộng-Đài ngồi hơn tiếng đồng hồ bên mả, đứng day ra về, hai chân như khuỵu xuống, cố bước mới đi được, càng nghĩ càng đau càng dầu khúc ruột cố đi cho khỏi cái gò, ngảnh mặt lại còn nom theo tưởng như nàng còn đang đứng trên gò dữa bóng giời xanh xa xa tay vẫy. Tối hôm đó ngủ ở nhà cậu Ngọc suốt đêm dờn-dợn bóng, trông ra góc tường, khe cửa, cạnh án, bên màn, tưởng như chỗ nào cũng thấy nàng đang che mặt mà thổn-thức.

Bởi lòng tạc đá ghi vàng,
Tưởng nàng nên lại thấy nàng về đây.

Sáng hôm sau, Mộng-Đài xin từ-dã ra đi, bà cụ và cậu Ngọc hỏi: « Bây giờ định đi đâu? » thì Mộng Đài chỉ ấp-úng giả lời là đi tìm công việc. Bà cụ mời ở lại thế nào cũng không được mới đưa tiễn 20$00. Mộng-Đài không thể chối từ được phải nhận cầm vái chào rồi đi. Khi ra sân, qua bàn thờ nàng Mộng-Đài rẽ vào vái một cái, cậu Ngọc tiễn ra đến cổng, hai người cùng ứa nước mắt biệt nhau.

Mộng-Đài vừa đi vừa nghĩ bây giờ thực là hết nơi bấu-víu hết chốn tựa nương, chờ tầu đi Haiphong rồi ra Quảng Yên vào chơi một cảnh chùa, ông sư ở đấy nguyên là ông giáo T... trước có đi dậy học và quen Mộng-Đài, nên nay Mộng-Đài tìm đến xin thí phát; còn mấy chục bạc của ông ​Vĩnh-Xương đưa và bà cụ mới cho, trừ tiền tầu và ăn uống còn lại hơn 40$00, đem cả cúng nhà chùa, rồi tam quy ngũ giới chọn ngày xuất gia.

Phật tiền thảm lấp sầu vùi,
Ngày pho thủ tự, đêm nhồi tâm hương.

Những khi giời quang mây tạnh, gió mát giăng thanh, Mộng-Đài cùng sư T.., ra dạo chơi các chốn nước non cây cỏ, khi ra vịnh Hạ-Long, khi chơi chùa Yên-Tử.

Cửa thuyền thong-thả sớm chưa,
Gió giăng mát mặt muối dưa chay lòng!
Bốn bề bát-ngát mênh-mông,
Triều lên hôm sớm, mây lồng trước sau.