Bước tới nội dung

Tân Ngũ Đại sử/Quyển 04

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tân Ngũ Đại sử, quyển 4 của Âu Dương Tu, do Wikisource dịch
Đường bản kỷ thứ 4

Trang Tông thượng 莊宗上[1]

Trang Tông Quang Thánh Thần Mẫn Hiếu Hoàng đế [Lý Tồn Úc, 884–926], tổ tiên vốn hiệu là Chu Tà, gốc người Tây Đột Quyết. Đến đời sau, lại tự xưng là Sa Đà và lấy Chu Tà làm họ.

Thời Đường Đức Tông [trị. 780–804], có người tên là Chu Tà Tận Trung, ở tại châu Kim Mãn vùng Bắc Đình.[2] Niên hiệu Trinh Nguyên [780–804], Tán Phổ (vua) nước Thổ Phồn đánh chiếm Bắc Đình, đày Tận Trung đến Cam Châu bắt làm nô dịch. Sau đó Tán Phổ bị người Hồi Hốt đánh bại, Tận Trung cùng con là Chấp Nghi chạy về phía đông. Tán Phổ nổi giận, đuổi theo đến cửa Thạch Môn thì Tận Trung tử trận. Chấp Nghi một mình chạy thoát, về quy phụ nhà Đường, được cho ở tại Diêm Châu, thuộc quyền Tiết độ sứ Hà Tây là Phạm Hy Triều. Hy Triều dời trấn đến Thái Nguyên, Chấp Nghi đi theo, được cho ở tại Tân Thành thuộc Thần Vũ xuyên, huyện Định Tương. Bộ lạc ấy có một vạn quân kỵ, đều kiêu dũng, giỏi cưỡi ngựa bắn cung, gọi là “Sa Đà quân”.

Chấp Nghi chết, con là Xích Tâm [mất 883] nối nghiệp. Năm Hàm Thông thứ mười đời Đường Ý Tông [869], Thần sách đại tướng quân Khang Thừa Huấn thống lĩnh mười tám tướng đi đánh Bàng Huân ở Từ Châu, lấy Chu Tà Xích Tâm làm Thái Nguyên hành doanh chiêu thảo Sa Đà tam bộ lạc quân sứ. Nhờ công đánh phá Huân, được bái làm Đơn Vu đại đô hộ, Chấn Võ quân tiết độ sứ, vua ban cho tên họ là Lý Quốc Xương, ghi vào sổ tôn thất (thuộc tịch). Người Sa Đà vốn mạnh, mà Quốc Xương lại cậy công càng thêm ngang ngược phóng túng, Ý Tông lo lắm. Năm thứ mười ba [872], dời Quốc Xương làm Vân Châu thứ sử, Đại Đồng quân phòng ngự sứ. Quốc Xương cáo bệnh không đi.

Con Quốc Xương là Khắc Dụng [856–908], đặc biệt giỏi cưỡi ngựa bắn cung, có thể ngửa người bắn trúng đôi vịt trời đang bay, làm Vân Châu thủ tróc sứ. Quốc Xương đã cự mệnh, Khắc Dụng bèn giết Đại Đồng quân phòng ngự sứ là Đoạn Văn Sở, chiếm Vân Châu, tự xưng Lưu hậu. Nhà Đường lấy Thái bộc khanh Lư Giản Phương làm Chấn Võ tiết độ sứ, hội quân U, Tinh để đánh dẹp. Giản Phương đi đến Lam Châu thì quân tan vỡ. Từ đó Sa Đà xâm lược vùng Đại Bắc, trở thành cái họa biên cương vậy.

Năm sau [873], Hy Tông lên ngôi, cho rằng Tiết độ sứ Thái Nguyên cũ là Lý Nghiệp có ơn với Sa Đà, mà Nghiệp đã chết, bèn lấy con Nghiệp là Quân làm Linh Võ tiết độ sứ, Tuyên úy Sa Đà lục châu tam bộ lạc sứ, để chiêu dụ vỗ về. Vua bái Khắc Dụng làm Đại Đồng quân phòng ngự sứ. Được lâu lâu, Quốc Xương xuất quân đánh Đảng Hạng, người Thổ Hồn là Hách Liên Đa tập kích phá Chấn Võ. Khắc Dụng nghe tin, từ Vân Châu đến đón Quốc Xương, nhưng người Vân Châu cũng đóng cửa thành chống lại. Cha con Quốc Xương không còn chỗ về, nhân đó cướp bóc vùng Vệ, Sóc, được ba nghìn quân. Quốc Xương vào giữ Vệ Châu, Khắc Dụng về giữ Tân Thành. Hy Tông bèn phong Đa làm Đại Đồng quân sứ, lấy Lý Quân làm Đại Bắc chiêu thảo sứ để đánh Sa Đà.

Năm Càn Phù thứ năm [878], Sa Đà phá Già Lỗ quân, lại phá Khả Lam quân, mà quân Đường thua luôn mấy trận. Sa Đà do đó càng mạnh, phía bắc chiếm Vệ, Sóc; phía nam xâm lấn Hân, Đại, Lam, Thạch, đến tận Thái Cốc [Thái Nguyên]. Năm Quảng Minh thứ nhất [880], Chiêu thảo sứ Lý Trác hội quân U Châu của Lý Khả Cử, quân Vân Châu của Hách Liên Đa đánh Sa Đà. Khắc Dụng cùng Khả Cử chống nhau ở Hùng Võ quân. Chú của Khắc Dụng là Hữu Kim đem châu Vệ, Sóc hàng Trác. Khắc Dụng nghe tin, vội quay về. Khả Cử đuổi đến núi Dược Nhi, đánh đại bại Khắc Dụng; quân Lý Trác giáp công, lại đánh bại ở Vệ Châu. Quân Sa Đà tan vỡ lớn, cha con Khắc Dụng chạy trốn vào đất Đạt Đát [Tatar].

Khắc Dụng thuở nhỏ kiêu dũng, trong quân gọi là “Lý Nha Nhi” 李鴉兒,[3] một mắt bị mù, đến khi hiển quý lại có hiệu là “Độc nhãn long” 獨眼龍, uy danh trùm cả vùng Đại Bắc. Ở Đạt Đát lâu ngày, u uất không đắc chí, lại thường sợ người Đạt Đát mưu hại mình, nhân đó thường cùng hào kiệt nước ấy bắn tên săn thú, hoặc treo cái kim trên cây, hoặc dựng cái roi ngựa, đứng cách trăm bước bắn phát nào trúng phát ấy, hào kiệt đều phục coi như thần.

Hoàng Sào vây hãm kinh sư [Trường An], năm Trung Hòa thứ nhất [881], Đại Bắc khởi quân sứ Trần Cảnh Tư phát binh Sa Đà đã đầu hàng trước đó, cùng người Thổ Hồn, An Khánh khoảng vạn người đi cứu kinh sư. Đi đến Giáng Châu, quân Sa Đà làm loạn, cướp bóc lớn rồi về. Cảnh Tư nghĩ quân Sa Đà không có Khắc Dụng thì không ai chỉ huy được, bèn dùng chiếu thư gọi Khắc Dụng ở Đạt Đát về, thừa chế phong làm Đại Châu thứ sử, Nhạn Môn dĩ bắc hành doanh tiết độ sứ. Khắc Dụng thống lĩnh quân Phiên, Hán một vạn người ra cửa Thạch Lĩnh, qua Thái Nguyên, xin cấp tiền quân. Tiết độ sứ Trịnh Tòng Đảng chỉ cho một nghìn xâu tiền, một nghìn hộc gạo, Khắc Dụng giận, tung quân cướp bóc lớn rồi quay về phía bắc.

Tháng mười một năm thứ hai [882], Cảnh Tư và Khắc Dụng lại đem một vạn bảy nghìn quân bộ kỵ đi cứu kinh sư. Tháng giêng năm thứ ba [883], xuất quân ở Hà Trung, tiến đóng ở Càn Khanh. Đảng của Sào kinh hãi bảo nhau: “Quân Nha Nhi đến rồi!”. Tháng hai, Khắc Dụng đánh bại tướng của Sào là Hoàng Nghiệp ở thung lũng Thạch Đê; tháng ba lại đánh bại Triệu Chương, Thượng Nhượng ở Lương Điền Pha, thây phơi ba mươi dặm.

Lúc ấy quân các trấn đều hội ở Trường An, đại chiến ở cầu Vị, giặc bại tẩu vào thành, Khắc Dụng thừa thắng đuổi theo, từ cửa Quang Thái vào trước tiên, đánh nhau ở điện Thăng Dương cung Vọng Xuân. Sào thua, chạy về nam ra cửa Lam Điền. Kinh sư bình định, công Khắc Dụng đứng đầu. Thiên tử bái Khắc Dụng làm Kiểm hiệu tư không, Đồng trung thư môn hạ bình chương sự, Hà Đông tiết độ sứ; lấy Quốc Xương làm Nhạn Môn dĩ bắc hành doanh tiết độ sứ. Tháng mười, Quốc Xương mất.

Tháng mười một, Khắc Dụng sai em là Khắc Tu đánh Chiêu Nghĩa quân của Mạnh Phương Lập, lấy được hai châu Trạch, Lộ. Phương Lập chạy về Sơn Đông, lấy ba châu Hình, Minh, Từ tự lập riêng làm Chiêu Nghĩa quân.[4] Hoàng Sào chạy về nam đến Thái Châu, hàng phục Tần Tông Quyền, rồi đánh Trần Châu. Năm thứ tư [884], Khắc Dụng đem năm vạn quân cứu Trần Châu, ra Thiên Tỉnh quan, mượn đường Hà Dương, Gia Cát Sảng không cho, bèn từ Hà Trung qua sông. Tháng tư, lần lượt đánh bại Thượng Nhượng ở Thái Khang, Hoàng Nghiệp ở Tây Hoa. Sào vừa chạy vừa đánh, đến Trung Mâu, ra bờ sông chưa kịp qua thì Khắc Dụng đuổi kịp, quân giặc kinh hãi tan vỡ. Đến Phong Khâu lại đánh bại giặc, Sào thoát thân chạy trốn. Khắc Dụng đuổi theo, một ngày đêm phi ngựa hai trăm dặm đến Oan Cù, nhưng không kịp nên đành quay về.

Khi hành quân qua Biện Châu [Khai Phong], Khắc Dụng cho quân nghỉ ở chùa Phong Thiền. Chu Toàn Trung [Chu Ôn] thết tiệc Khắc Dụng ở trạm Thượng Nguyên. Đêm đến, tiệc tan, Khắc Dụng say nằm ngủ, phục binh nổi lên, lửa cháy. Người hầu là Quách Cảnh Chu dập tắt nến, giấu Khắc Dụng dưới gầm giường, lấy nước tát vào mặt cho tỉnh rồi báo có biến. Gặp lúc trời mưa to tắt lửa, Khắc Dụng cùng tùy tùng Tiết Thiết Sơn, Hạ Hồi Hốt theo ánh chớp, dùng dây thừng tụt qua cửa thành Úy Thị thoát về được trong quân. Tháng bảy, về đến Thái Nguyên, dâng sớ kiện việc ấy lên kinh sư, xin đem quân đánh Biện Châu, sai em là Khắc Tu đem một vạn quân đóng ở Hà Trung để đợi. Hy Tông hòa giải hai bên, dùng công phá Sào phong Khắc Dụng làm Lũng Tây quận vương.

Năm Quang Khải thứ nhất [885], Vương Trọng Vinh ở Hà Trung hiềm khích với hoạn quan Điền Lệnh Tư. Lệnh Tư dời Trọng Vinh đi Duyện Châu, lấy Vương Xử Tồn ở Định Châu làm Hà Trung tiết độ sứ, chiếu cho Khắc Dụng đem quân hộ tống Xử Tồn đến trấn.[5] Trọng Vinh sai người lừa Khắc Dụng rằng: “Thiên tử chiếu cho Trọng Vinh, đợi Khắc Dụng đến thì cùng Xử Tồn giết đi”. Nhân đó làm giả chiếu thư cho Khắc Dụng xem, bảo: “Đây là mưu của Chu Toàn Trung đấy!”. Khắc Dụng tin là thật, tám lần dâng biểu xin đánh Toàn Trung, Hy Tông không cho, Khắc Dụng cả giận.

Trọng Vinh đã không chịu dời trấn, Hy Tông sai Chu Mai ở Mân Châu, Lý Xương Phù ở Phượng Tường đi đánh. Khắc Dụng làm phản, đem quân giúp Trọng Vinh, đánh bại Chu Mai ở Sa Uyển, rồi phạm kinh sư, phóng hỏa cướp bóc lớn. Thiên tử phải chạy ra Hưng Nguyên, Khắc Dụng lui về đóng ở Hà Trung. Chu Mai cũng làm phản đem quân đuổi theo Thiên tử không kịp, bắt được Tương Vương Uân, ép lên ngôi xưng đế, đóng ở Phượng Tường. Hy Tông nghĩ chỉ có Khắc Dụng mới phá được Mai nhưng không sai khiến được. Nhớ khi phá Hoàng Sào ở Trường An, Thiên hạ binh mã đô giám Dương Phục Cung chơi thân với Khắc Dụng, vua bèn sai Gián nghị đại phu Lưu Sùng Vọng mang chiếu thư gọi Khắc Dụng, lại nói ý của Phục Cung, bảo tiến binh đánh bọn Mai. Khắc Dụng vờ nhận lời nhưng không đi.

Năm sau, Mạnh Phương Lập chết, em là Thiên lên thay. Năm Đại Thuận thứ nhất [890], Khắc Dụng đánh phá Mạnh Thiên, lấy ba châu Hình, Minh, Từ; bèn sai An Kim Tuấn đánh Hách Liên Đa ở Vân Châu. Lý Khuông Uy ở U Châu cứu Đa, đánh nhau ở Vệ Châu, Kim Tuấn đại bại. Thế là bọn Khuông Uy, Đa và Chu Toàn Trung đều xin nhân lúc bại mà đánh Khắc Dụng. Chiêu Tông cho rằng Khắc Dụng có công phá Hoàng Sào lớn, không thể đánh, bèn giao việc ấy cho quan tứ phẩm ở Đài, Tỉnh[6] bàn bạc. Người bàn phần nhiều nói không nên. Tể tướng Trương Tuấn lại cho rằng Sa Đà trước kia bức Hy Tông chạy ra Hưng Nguyên, tội đáng giết, nên đánh. Quân dung sứ Dương Phục Cung là chỗ thân tình của Khắc Dụng cũng cực lực can là không nên, Chiêu Tông cho là phải, hạ chiếu bảo bọn Toàn Trung. Toàn Trung ngầm đút lót cho Tuấn, khiến Tuấn giữ vững nghị luận ấy. Chiêu Tông bất đắc dĩ lấy Tuấn làm Thái Nguyên tứ diện hành doanh binh mã đô thống, Hàn Kiến làm phó sứ.

Lúc ấy tướng Lộ Châu là Phùng Bá làm phản hàng Lương, Lương sai Cát Tùng Chu vào Lộ Châu. Nhà Đường lấy Kinh Triệu doãn Tôn Khôi làm Chiêu Nghĩa quân tiết độ sứ, Khắc Dụng sai Lý Tồn Hiếu bắt Khôi ở Trường Tử, lại sai Khang Quân Lập lấy Lộ Châu. Tháng mười một, Tuấn cùng Khắc Dụng đánh nhau ở Âm Địa, quân Tuấn ba trận thua cả ba, Tuấn và Kiến bỏ chạy về. Quân Khắc Dụng cướp bóc lớn ở Tấn, Giáng, đến tận Hà Trung, đất trơ nghìn dặm. Khắc Dụng dâng biểu tự kiện, lời lẽ ngạo mạn. Thiên tử phải nhận lỗi về mình, xuống chiếu vỗ về.

Tháng hai năm thứ hai [891], lại phong Khắc Dụng làm Hà Đông tiết độ sứ, Lũng Tây quận vương, Kiểm hiệu thái sư kiêm Trung thư lệnh. Tháng tư, đánh Hách Liên Đa ở Vân Châu, vây hơn trăm ngày, Đa chạy sang Thổ Hồn. Tháng tám, duyệt binh lớn ở Thái Nguyên, xuất quân Tấn, Giáng, cướp bóc Hoài, Mạnh, đến tận Hình Châu, rồi đánh Vương Dung ở Trấn Châu. Khắc Dụng đóng trại phía tây Thường Sơn, đem hơn mười kỵ qua sông Hô Đà do thám, gặp mưa lớn, nước ngập đất bằng mấy thước. Người Trấn Châu tập kích, Khắc Dụng nấp trong rừng, khấn ngựa rằng: “Nhà ta đời đời giữ Thái Nguyên thì ngựa đừng hí!” Ngựa tình cờ không hí nên thoát. Tiền quân Lý Tồn Hiếu lấy Lâm Thành, tiến công Nguyên Thị. Lý Khuông Uy cứu Dung, Khắc Dụng rút quân về Hình Châu.

Năm Cảnh Phúc thứ nhất [892], Vương Dung đánh Hình Châu, Lý Tồn Tín, Lý Tự Huân đánh bại Dung ở Nghiêu Sơn. Tháng hai, hội quân với Vương Xử Tồn đánh Dung, chiến ở Tân Thị, bị Dung đánh bại. Tháng tám, Lý Khuông Uy đánh Vân Châu để kiềm chế quân Khắc Dụng, Khắc Dụng ngầm vào Vân Châu, quay ra đánh Khuông Uy, Khuông Uy thua liền bỏ chạy. Tháng mười, Lý Tồn Hiếu giữ Hình Châu làm phản.

Năm thứ hai [893], Tồn Hiếu cầu cứu Vương Dung, Khắc Dụng xuất binh Tỉnh Hình đánh Dung, lại viết thư chiêu dụ Dung, rồi gấp rút đánh Bình Sơn. Dung sợ, bèn giảng hòa với Khắc Dụng, hiến năm mươi vạn tấm lụa, xuất binh giúp đánh Hình Châu. Tháng ba năm Càn Ninh thứ nhất [894], bắt được Tồn Hiếu, giết đi. Mùa đông, đánh U Châu, Lý Khuông Trù bỏ thành chạy, đuổi đến Cảnh Châu thì bị giết, lấy Lưu Nhân Cung làm Lưu hậu.

Năm thứ hai [895], Vương Trọng Doanh ở Hà Trung mất, các con là Kha, Củng tranh nhau lập. Khắc Dụng xin lập Kha; Lý Mậu Trinh ở Phượng Tường, Vương Hành Du ở Mân Ninh, Hàn Kiến ở Hoa Châu xin lập Củng. Chiêu Tông ban đầu lưỡng lự, bèn lấy Tể tướng Thôi Dận làm Hà Trung tiết độ sứ, sau lại cho Khắc Dụng lập Kha. Bọn Mậu Trinh giận, ba trấn phạm kinh sư, nghe tin Khắc Dụng cũng dấy binh mới chịu rút lui. Tháng sáu, Khắc Dụng đánh Giáng Châu, chém Thứ sử Vương Dao. Dao là em Củng, giúp Củng tranh vị. Tháng bảy, đến Hà Trung, Vương Hành Ước ở Đồng Châu chạy về kinh sư, phao tin rằng: “Mười vạn quân Sa Đà đến rồi!”, mưu ép Thiên tử chạy ra Mân Châu. Con nuôi Mậu Trinh là Diêm Khuê cũng mưu cướp vua đưa về Phượng Tường, kinh sư đại loạn. Chiêu Tông chạy ra Thạch Môn.

Quân Khắc Dụng lưu lại hơn một tháng không tiến, Chiêu Tông sai Diên vương [Lý] Giới Phi, Đan vương [Lý] Doãn đến thờ Khắc Dụng như anh, và báo việc nguy cấp. Tháng tám, Khắc Dụng tiến quân đến cầu Vị, được phong làm Mân Ninh tứ diện hành doanh đô thống. Chiêu Tông về kinh sư. Tháng mười một, Khắc Dụng đánh phá Mân Châu, Vương Hành Du chạy đến Khánh Châu bị giết. Khắc Dụng về quân ở Vân Dương, xin đánh Mậu Trinh. Chiêu Tông úy lạo[7] Khắc Dụng, khuyên giải thù oán với Mậu Trinh để làm dịu nạn nước, phong Khắc Dụng là “Trung chính bình nạn công thần”, tước Tấn Vương.

Lúc ấy quân Tấn ở phía bắc sông Vị gặp mưa sáu mươi ngày, có người khuyên Khắc Dụng vào triều, Dụng chưa quyết. Đô áp nha Cái Ngụ nói: “Thiên tử từ Thạch Môn trở về, ngủ chưa yên chiếu, nếu quân Tấn qua sông Vị, lòng người há còn yên được sao? Cần vương xong rồi thôi, hà tất phải vào chầu?” Khắc Dụng cười nói: “Cái Ngụ còn chẳng tin ta, huống hồ thiên hạ!” Bèn thu quân về.

Tháng giêng năm thứ ba [896], Chiêu Tông lại dùng Trương Tuấn làm Tướng, Khắc Dụng nói: “Đây là mưu của Chu Toàn Trung”. Bèn dâng biểu: “Nếu bệ hạ sáng dùng Tuấn làm Tướng, thì thần chiều sẽ đến cửa khuyết!” Kinh sư sợ hãi, lệnh dùng Tuấn phải bãi bỏ. Khi Chu Toàn Trung đánh Duyện, Vận, Khắc Dụng sai Lý Tồn Tín mượn đường Ngụy Châu để cứu Chu Tuyên. Tồn Tín đóng ở Sân Huyện, quân sĩ cướp bóc đất Ngụy, La Hoằng Tín phục binh đánh úp, Tồn Tín bại chạy về Minh Châu. Khắc Dụng tự mình đánh Ngụy, chiến ở Hoàn Thủy, chết mất con trai là Lạc Lạc. Tháng sáu, phá hơn mười ấp Thành An, Hoàn Thủy, Lâm Chương của Ngụy. Tháng mười, lại bại quân Ngụy ở Bạch Long Đàm, tiến công cửa Quan Âm. Toàn Trung đến cứu, mới giải vây.

Năm thứ tư [897], Lưu Nhân Cung phản Tấn. Khắc Dụng đem năm vạn quân đánh Nhân Cung, chiến ở An Tắc, Khắc Dụng đại bại. Năm Quang Hóa thứ nhất [898], Chu Toàn Trung sai Cát Tùng Chu đánh lấy ba châu Hình, Minh, Từ. Khắc Dụng sai Chu Đức Uy ra cửa Thanh Sơn, gặp Tùng Chu ở cầu Trương Công, Đức Uy đại bại. Mùa đông, thủ tướng Lộ Châu là Tiết Chí Cần chết, Lý Hãn Chi chiếm Lộ Châu phản Tấn hàng Chu Toàn Trung.

Năm thứ hai [899], Toàn Trung sai Thị Thúc Tông đánh phá Thừa Thiên quân, lại phá Liêu Châu, đến Du Thứ, Chu Đức Uy đánh bại Tông ở Động Qua. Mùa thu, Lý Tự Chiêu lấy lại Trạch, Lộ. Năm thứ ba, Tự Chiêu bại quân Biện [Châu] ở Sa Hà, lấy lại Minh Châu, Chu Toàn Trung tự mình vây đánh, Tự Chiêu bỏ chạy, đến cửa Thanh Sơn gặp phục binh Biện [Châu], Tự Chiêu đại bại. Mùa thu, Tự Chiêu lấy Hoài Châu. Năm ấy, quân Biện [Châu] đánh hai châu Trấn, Định. Trấn, Định lận lượt tuyệt giao với Tấn để theo Chu Toàn Trung.

Năm Thiên Phục thứ nhất [901], Toàn Trung được phong Lương Vương. Lương Vương đánh lấy Tấn, Giáng, Hà Trung, bắt Vương Kha đem về. Tấn mất ba nước đồng minh, bèn hạ mình viết thư sai sứ sang Lương cầu hòa. Lương Vương cho là Tấn yếu có thể lấy được, bèn nói: “Tấn tuy xin liên minh, nhưng lời thư ngạo mạn”. Nhân đó đại cử đánh Tấn. Tháng tư, Thị Thúc Tông vào cửa Thiên Tỉnh, Trương Văn Kính vào Tân Khẩu, Cát Tùng Chu vào Thổ Môn, Vương Xử Trực vào Phi Hồ, Hầu Ngôn vào Âm Địa. Thúc Tông lấy Trạch, Lộ; tướng của y là Bạch Phụng Quốc phá Thừa Thiên quân; thủ tướng Liêu Châu Trương Ngạc, thủ tướng Phần Châu Lý Đường đều đón quân Lương ra hàng, người Tấn sợ hãi. Gặp lúc trời mưa dầm to, quân Lương nhiều người ốm, đều giải binh về. Tháng năm, Tấn lấy lại Phần Châu, giết Lý Đường. Tháng sáu, Chu Đức Uy, Lý Tự Chiêu lấy lại Từ, Thấp.

Năm thứ hai [902], [Toàn Trung] tiến công Tấn, Giáng, đại bại ở huyện Bồ. Quân Lương thừa thắng phá ba châu Phần, Từ, Thấp, vây Thái Nguyên. Khắc Dụng sợ lắm, toan chạy ra Vân Châu, lại muốn chạy sang Hung Nô, chưa quyết thì quân Lương bị dịch bệnh lớn, phải rút lui. Chu Đức Uy thừa cơ lấy lại ba châu Phần, Từ, Thấp.

Năm thứ tư [904], Lương dời đô nhà Đường sang Lạc Dương, đổi niên hiệu là Thiên Hữu. Khắc Dụng cho rằng kẻ ép thiên tử dời đô là Lương, Thiên Hữu không phải niên hiệu của Đường, không thể dùng, bèn vẫn xưng là Thiên Phục. Năm thứ năm [905], hội kiến với [Gia Luật] A Bảo Cơ [vua Khiết Đan] ở Vân Trung, kết làm huynh đệ.

Năm [Thiên Phục] thứ sáu [906], Lương đánh Thương Châu của Yên, Yên Vương Lưu Nhân Cung đến cầu viện. Khắc Dụng hận Nhân Cung phản phúc, định không cho, con là Tồn Úc can rằng:

Đây là lúc ta chấn hưng lại vậy. Nay thế thiên hạ, mười phần về Lương đến bảy tám, mạnh như Triệu [Vương Dung], Ngụy [La Hoằng Tín], Trung Sơn [Vương Xử Trực] đều nghe mệnh cả. Từ sông Hà về bắc, không ai làm vạ cho Lương, kẻ mà nó sợ chỉ có ta và Nhân Cung thôi. Nếu Yên, Tấn hợp thế thì không phải phúc của Lương. Phàm kẻ mưu việc thiên hạ không đoái hoài oán nhỏ, vả lại kia thường làm khốn ta nay ta gấp rút cứu nạn cho nó, có thể nhân đó dùng đức mà vỗ về, thế gọi là một cử mà lưỡng tiện, cơ hội này không thể mất”.

Khắc Dụng cho là phải, bèn xuất binh giúp Yên đánh phá Lộ Châu. Quân Lương giải vây đi, lấy Lý Tự Chiêu làm Lộ Châu lưu hậu. Năm thứ bảy [907], mười vạn quân Lương đánh Lộ Châu, đắp lũy giáp thành để vây. Khắc Dụng sai Chu Đức Uy cứu Lộ Châu, đóng ở Loạn Liễu. Mùa đông, Khắc Dụng ốm. Năm ấy, Lương diệt Đường, Khắc Dụng lại sử dụng niên hiệu Thiên Hữu năm thứ tư. Tháng giêng năm [Thiên Hữu] thứ năm [908], ngày Tân Mão, Khắc Dụng mất, [hưởng dương] 53 tuổi. Con là Tồn Úc lên ngôi, an táng Khắc Dụng ở Nhạn Môn.

Lời bàn của Âu Dương Tu

Than ôi, đời đã lâu mà sự thất truyền thì nhiều lắm, há chỉ tại lỗi của sử quan sao! Tổ tiên họ Lý, gốc người Tây Đột Quyết, vốn tên là Chu Tà, đến đời sau mới xưng là Sa Đà, lấy Chu Tà làm họ, Bạt Dã Cổ làm thủy tổ. Họ tự kể rằng: Sa Đà là bãi sa mạc ở Bắc Đình. Thời Đường Thái Tông phá các bộ Tây Đột Quyết, chia người Đồng La, Phó Cốt ở tại sa mạc này, đặt phủ Sa Đà, lấy thủy tổ Bạt Dã Cổ làm Đô đốc, truyền cho con cháu, mấy đời đều làm Sa Đà đô đốc, nên đời sau nhân đó tự hiệu là Sa Đà. Nhưng ta khảo cứu các truyện ký, thuyết ấy đều sai cả. Di địch không có họ, Chu Tà là tên bộ tộc thôi. Bạt Dã Cổ cùng thời với Chu Tà, không phải thủy tổ, mà thời Đường Thái Tông chưa từng có phủ Sa Đà nào cả.

Đường Thái Tông phá Tây Đột Quyết, chia các bộ, đặt mười ba châu, lấy Đồng La làm Quy Lâm đô đốc phủ, Phó Cốt làm Kim Vi đô đốc phủ, Bạt Dã Cổ làm U Lăng đô đốc phủ, chưa từng có phủ Sa Đà. Đương thời ấy, Tây Đột Quyết có các loài Thiết Lặc, Diên Đà, A Sử Na là lớn nhất; biệt bộ có bọn Đồng La, Phó Cốt, Bạt Dã Cổ hàng chục bộ, ấy là loại nhỏ; lại có các bộ Xử Nguyệt, Xử Mật, lại là loại nhỏ hơn nữa. Chu Tà là tên biệt bộ của Xử Nguyệt vậy. Năm Thái Tông thứ hai mươi hai [648] đã hàng phục Bạt Dã Cổ, năm sau A Sử Na Hạ Lỗ làm phản. Đến năm Vĩnh Huy thứ hai đời Cao Tông [651], Chu Tà Cô Chú của bộ Xử Nguyệt theo Hạ Lỗ đánh nhau ở Lao Sơn, bị Khiết Tất Hà Lực đánh bại, bèn mất tích không thấy nữa. Sau đó một trăm năm sáu mươi năm, thời Hiến Tông, có Chu Tà Tận Trung và con là Chấp Nghi xuất hiện ở Trung Quốc, tự xưng là Sa Đà, lấy Chu Tà làm họ vậy.

Đại để Sa Đà là bãi sa mạc lớn, ở phía nam núi Kim Sa, phía đông hồ Bồ Loại. Từ thời Xử Nguyệt đã ở bãi sa mạc này, gọi là Sa Đà Đột Quyết. Mà di địch không có văn tự truyền ghi, Chu Tà lại nhỏ bé không đủ để chép, nên đời sau tự thất truyền. Đến cháu Tận Trung mới bắt đầu được ban họ Lý. Họ Lý sau này lớn mạnh, mà người di địch bèn coi Sa Đà là giống quý vậy.

Phụ chú

[sửa]
  1. Nhân vật chính trong quyển 4 này, Lý Khắc Dụng (tức Hậu Đường Thái Tổ), chưa từng xưng đế, nên truyện về ông được đặt chung trong bản kỷ của Trang Tông.
  2. Bắc Đình ở đây chỉ Bắc Đình đô hộ phủ (北庭都護府) của nhà Đường, và vị trí trung tâm nằm gần khu vực Hami (Cáp Mật, 哈密) ngày nay ở Tân Cương.
  3. Con quạ họ Lý.
  4. Chiêu Nghĩa quân đời Đường nắm vùng Sơn Đông, Sơn Tây, cai quản 5 châu. Đến đây Trạch, Lộ nhập vào Tấn; Hình, Minh, Từ bị họ Mạnh chiếm, nên bấy giờ có hai Chiêu Nghĩa.
  5. Khắc Dụng không tiếm hiệu, nên không xưng Vương.
  6. Chỉ tam tỉnh và ngự sử đài.
  7. Úy lạo (từ cũ): Thăm hỏi để an ủi, động viên.