Bước tới nội dung

Tân Ngũ Đại sử/Quyển 52

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tân Ngũ Đại sử, quyển 52 của Âu Dương Tu, do Wikisource dịch
Tạp truyện 40: Đỗ Trọng Uy, Lý Thủ Trinh, Trương Ngạn Trạch

Đỗ Trọng Uy 杜重威

Đỗ Trọng Uy [mất 948] người Sóc Châu. Vợ là Thạch thị, em gái Tấn Cao Tổ. Khi Cao Tổ lên ngôi, phong Thạch thị làm Công chúa, phong Trọng Uy làm thứ sử Thư Châu, coi giữ cấm binh. Trọng Uy theo Hầu Ích đánh phá Trương Tùng Tân ở Tị Thủy, nhờ công ấy mà được bái làm Lộ Châu tiết độ sứ. Phạm Diên Quang làm phản ở Nghiệp Đô, Trọng Uy theo Cao Tổ đánh hàng được Diên Quang, bèn đổi sang lĩnh trấn Trung Vũ, gia phong Đồng bình chương sự. Lại đổi sang lĩnh trấn Thiên Bình, thăng làm Thị vệ thân quân đô chỉ huy sứ.

An Trọng Vinh làm phản, Trọng Uy đón đánh ở Tông Thành. Trọng Vinh bày "yển nguyệt trận",[1] Trọng Uy đánh mãi không phá được, bèn muốn lui lại một chút để xem thế giặc. Tướng phụ tá là Vương Trọng Dận nói:

Hai quân đang giao chiến, bên nào lui trước bên ấy bại.

Bèn chia quân làm ba, Trọng Uy trước tiên dùng hai đội tả hữu đánh vào hai cánh quân địch, khi trận chiến đang hăng, Trọng Dận dùng tinh binh đánh thẳng vào trung quân. Tướng của Trọng Vinh là Triệu Ngạn Chi chạy sang hàng, Trọng Vinh đại bại, chạy về Trấn Châu, đóng cửa thành không dám ra. Trọng Uy đánh phá được, nhờ công ấy được bái làm Thành Đức quân tiết độ sứ.

Trọng Uy xuất thân từ lính quèn, là người thô bạo, không có đức hạnh cũng chẳng biết mưu lược làm tướng. Khi phá Trấn Châu, bao nhiêu của cải trong kho tàng và gia sản của Trọng Vinh, y đều tịch thu làm của riêng, [Tấn] Cao Tổ biết nhưng không hỏi đến. Đến khi Xuất Đế [Thạch Trọng Quý] tuyệt giao với Khiết Đan, quân Khiết Đan hằng năm vào cướp phá, Trọng Uy chỉ đóng cửa giữ thành, mặc cho các châu huyện thuộc quyền bị tàn sát. Kỵ binh người Hồ lùa dân chúng hàng vạn đi ngang dưới chân thành, Trọng Uy chỉ lên trên trên thành đứng nhìn, chứ chưa từng ra cứu.

Năm Khai Vận thứ nhất [944], gia phong Trọng Uy làm Bắc diện hành doanh chiêu thảo sứ. Năm sau, y dẫn quân đánh Thái Châu, phá Mãn Thành, Toại Thành. Quân Khiết Đan đã rút đến Cổ Bắc, y lại đem quân đánh đuổi, Trọng Uy cùng các tướng chạy về phía nam, đến Dương Thành thì bị giặc vây khốn. Nhờ Phù Ngạn Khanh, Trương Ngạn Trạch nhân lúc gió lớn mà liều chết đánh, quân Khiết Đan mới đại bại. Các tướng muốn thừa thắng truy kích, Trọng Uy giở giọng nhà quê ra đáp rằng:

Gặp giặc còn giữ được mạng là may, lại mong lấy lại con à?[2]

Rồi thu quân, giục ngựa chạy về.

Trọng Uy ở Trấn Châu, thu thuế của dân rất nặng, hộ khẩu điêu tàn, lại sợ Khiết Đan đến, bèn liên tiếp dâng biểu xin về kinh sư. Chưa được trả lời, y đã vội lên đường, triều đình không ngăn được, đành bái Trọng Uy làm Nghiệp Đô lưu thủ. Số thóc riêng hơn mười vạn hộc y để lại ở Trấn Châu, Điện trung giám là Vương Khâm Tộ lấy sung vào quân lương, tâu lên vua, vua ban cho mấy vạn tấm lụa để đền bù. Trọng Uy cả giận nói:

Ta đâu phải là phản tặc, sao lại tịch thu gia sản của ta!

Mùa thu năm thứ ba [946], tướng Khiết Đan là Cao Mâu Hàn trá hàng, dâng châu Doanh, vua lại lấy Trọng Uy làm Bắc diện hành doanh chiêu thảo sứ.

Mùa thu năm ấy, thiên hạ lụt lớn, mưa dầm hơn sáu mươi ngày, người đói đầy đường, dân phải dỡ gỗ nhà để nấu nướng, băm chiếu cỏ để cho trâu ngựa ăn. Quân của Trọng Uy hành quân trong bùn lầy, việc điều động lương thảo khiến xa gần đều sầu khổ. Trọng Uy đến Doanh Châu, Mâu Hàn đã bỏ thành đi rồi, Trọng Uy lui về đóng ở Võ Cường. Khiết Đan cướp phá Trấn, Định, Trọng Uy chạy về phía tây đến cầu Trung Độ, cùng giặc đóng quân kẹp sông Hô Đà. Tướng phụ tá là Tống Ngạn Quân, Vương Thanh qua sông ra sức đánh, nhưng Trọng Uy án binh bất động. Ngạn Quân bại trận, Thanh chiến tử. Chuyển vận sứ Lý Cốc bày kế cho Trọng Uy dùng gỗ ba chân làm cầu, tuyển kẻ cảm tử qua sông đánh giặc, các tướng đều cho là phải, riêng Trọng Uy không nghe.

Khiết Đan sai kỵ binh ban đêm men theo Tây Sơn đánh vào Loan Thành, cắt đứt đường lui của quân Trọng Uy. Lúc ấy, Trọng Uy đã có chí khác, mà đường lương thực lại bị tuyệt, bèn ngầm sai người đến chỗ Khiết Đan xin hàng. Vua Khiết Đan cả mừng, hứa sẽ lập Trọng Uy làm hoàng đế ở Trung Nguyên. Trọng Uy tin là thật, bèn cho giấu quân giáp, gọi các tướng đến bảo phải hàng giặc. Các tướng kinh ngạc, nhưng vì thượng tướng đã hàng trước nên đành nghe lệnh. Trọng Uy viết biểu hàng, bắt các tướng ký tên, rồi ra lệnh cho quân sĩ xếp hàng ngoài trại. Quân sĩ cứ ngỡ sắp được quyết chiến nên nhảy nhót vui mừng, đến khi Trọng Uy bảo lương hết phải ra hàng, quân sĩ cởi giáp khóc rống, tiếng vang động cả đồng nội. Khiết Đan ban cho Trọng Uy áo bào màu gỉ sắt (màu hoàng đế), bắt mặc để khoe với ba quân, lại phong làm Thái phó.

Khiết Đan phạm kinh sư, Trọng Uy đem quân Tấn đóng ở Trần Kiều, sĩ tốt đói rét, khổ sở khôn xiết. Trọng Uy ra vào trên đường, người dân đi theo mắng chửi, Trọng Uy cúi đầu không dám nhìn lên. Khi Khiết Đan chiếm kinh sư, bắt người trong thành nộp tiền lụa để thưởng quân, tướng văn tướng võ đều không tránh khỏi. Trọng Uy phải nộp một vạn quan tiền, bèn kêu với vua Khiết Đan [Gia Luật Đức Quang]:

Thần đem mười vạn quân Tấn hàng đầu tiên, sao riêng thần không được miễn?

Vua Khiết Đan cười mà tha cho, sai về Nghiệp Đô. Năm sau, Khiết Đan về bắc, Trọng Uy cùng vợ là Thạch thị đến trướng của giặc để từ biệt.

Hán Cao Tổ [Lưu Tri Viễn] định yên kinh sư, phong Trọng Uy làm Thái úy, Quy Đức quân tiết độ sứ. Trọng Uy sợ, không chịu nhận lệnh. Vua sai Cao Hành Chu đi đánh, không thắng, bèn tự mình thân chinh. Sai Cấp sự trung Trần Đồng mang chiếu thư đến gọi, Trọng Uy không nghe mệnh. Quân Hán thua vài trận, vây thành hơn trăm ngày.

Hồi đầu, Khiết Đan lưu lại một nghìn năm trăm quân Yên ở kinh sư. Hán Cao Tổ từ Thái Nguyên vào, có kẻ tố cáo quân Yên sắp làm phản, Cao Tổ giết hết ở Phồn Đài. Những kẻ trốn thoát chạy về Nghiệp Đô. Tướng Yên là Trương Liên trước đó cầm hai nghìn quân ở Nghiệp, nghe tin quân Yên bị giết, bèn khuyên Trọng Uy cố thủ. Cao Tổ đã giết quân Yên, lấy làm hối hận, nhiều lần sai người chiêu dụ bọn Liên. Liên lên thành gọi to:

Vụ tàn sát ở Phồn Đài, quân Yên có tội gì? Đã không có đường sống, xin chịu chết để giữ thành!

Trọng Uy hết lương, phải nghiền men rượu mà ăn, dân phần nhiều trèo tường ra hàng, mặt mày ai nấy đều không còn sắc máu. Trọng Uy bèn sai Phán quan Vương Mẫn và vợ nối nhau ra xin hàng, Cao Tổ chấp thuận. Trọng Uy mặc đồ trắng ra kiến diện, Cao Tổ tha tội, phong làm Kiểm hiệu thái sư, Thủ thái phó, kiêm Trung thư lệnh. Vua giết hết bọn Trương Liên và tướng lại của Trọng Uy, tịch thu kho tàng riêng, rồi đem Trọng Uy về kinh sư.

Khi Hán Cao Tổ bệnh nặng, nhìn các đại thần trăng trối:

Phải phòng bị kỹ Đỗ Trọng Uy!

Cao Tổ băng, việc tang còn giấu kín, các đại thần bèn cùng nhau giết Trọng Uy, đem thây y cùng các con là Hoằng Chương, Hoằng Xán, Hoằng Toại phơi ngoài chợ. Người trong chợ xúm lại đá, mắng chửi, quan lại không ngăn nổi, thi thể bị xé xác, giẫm đạp, trong chốc lát đã nát vụn.

Lý Thủ Trinh 李守貞

Lý Thủ Trinh [mất 949] người Hà Dương. Tấn Cao Tổ trấn Hà Dương, lấy y làm Khách tướng, sau thường theo hầu Cao Tổ. Cao Tổ lên ngôi, phong làm Khách tỉnh sứ. Y giám sát quân của Mã Toàn Tiết phá được Lý Kim Toàn ở An Châu, nhờ công ấy được bái làm Tuyên huy sứ.

Xuất Đế lên ngôi, Dương Quang Viễn làm phản, gọi Khiết Đan vào cướp. Thủ Trinh lĩnh chức Nghĩa Thành quân tiết độ sứ, làm Thị vệ thân quân đô ngu hầu, theo Xuất Đế đến Thiền Châu. Tướng Khiết Đan là Ma Đáp dùng kỳ binh vào Vận Châu, qua bến Mã Gia, lập trại ở Hà Đông. Thủ Trinh phi ngựa đến đánh phá, quân Khiết Đan chết đuối rất nhiều, bắt được mấy trăm con ngựa và hơn bảy mươi tỳ tướng. Y được dời sang lĩnh trấn Thái Ninh quân, đem hai vạn quân đi thảo phạt Dương Quang Viễn. Quang Viễn hàng, viên quan cũ là Tống Nhan lấy hết của báu, gái đẹp, ngựa tốt của Quang Viễn dâng cho Thủ Trinh. Thủ Trinh mang ơn, ngầm giấu Nhan dưới trướng. Lúc ấy, phàm xuất quân phá giặc, tất có ân chiếu tha cho bè đảng còn lại, nhưng vây cánh của Quang Viễn hơn mười người đều trốn đi, triều đình tróc nã rất gắt. Khu mật sứ Tang Duy Hàn giữ tờ chế thư lại, lâu không ban xuống. Có quan ngôn sự tố cáo Nhan trốn ở chỗ Thủ Trinh, vua chiếu bắt Nhan giết đi. Thủ Trinh cả giận, từ đó có hiềm khích với Duy Hàn.

Khi luận công dẹp giặc, Thủ Trinh lấy gỗ ngâm nước chè đem ban cho lính. Quân lính phẫn uất, lấy lụa bó lại làm hình đầu người, treo lên cây mà bảo: "Đầu của Thủ Trinh đây". Thủ Trinh nhờ có công được phong làm Đồng bình chương sự, ban cho dinh thự cũ của Dương Quang Viễn. Thủ Trinh lại chiếm nhà cửa của quan dân bên cạnh để xây cất thêm, làm thành dinh thự đẹp nhất kinh sư. Xuất Đế đến thăm, ban ơn yến tiệc, lễ nghi vượt xa các tướng khác.

Khi quân Khiết Đan vào cướp, Xuất Đế lại đến Thiền Châu. Đỗ Trọng Uy làm Bắc diện chiêu thảo sứ, Thủ Trinh làm Đô giám. Quân Tấn vốn kiêu, mà Thủ Trinh, Trọng Uy làm tướng lại không biết tiết chế. Hành quân tới đâu thì trâu ngựa, gia súc của dân bị vét sạch, cỏ cây cũng chẳng còn. Lúc mới xuất quân, có tiền ban thưởng gọi là "tiền đeo giáp"; đến khi rút quân, lại ban thưởng gọi là "tiền cởi giáp". Phí tổn mỗi lần ra vào thường không dưới ba mươi vạn, do đó của công lẫn của tư nhà Tấn đều kiệt quệ. Thủ Trinh cùng bọn Trọng Uy đánh hạ Thái Châu, phá Mãn Thành, giết hơn hai nghìn người. Khi về, y làm Thị vệ thân quân đô chỉ huy sứ, lĩnh trấn Thiên Bình, lại lĩnh trấn Quy Đức.

Lúc ấy, Xuất Đế sai người đưa thư chiêu dụ Triệu Diên Thọ về nước. Diên Thọ trá xưng là nhớ nhà, muốn xin quân Tấn làm nội ứng. Tướng Khiết Đan là Cao Mâu Hàn cũng trá hàng dâng Doanh Châu. Xuất Đế tin là thật, sai Đỗ Trọng Uy đem quân đi ứng cứu. Các đại thần vốn nói Trọng Uy bất trung, có lòng oán vọng, không nên dùng, nên định dùng Thủ Trinh. Nhưng lúc ấy Trọng Uy trấn Ngụy Châu, Thủ Trinh thường đem quân qua lại đất Ngụy, Trọng Uy đãi ngộ rất hậu, thường đem binh khí, vàng lụa biếu tặng. Xuất Đế từng bảo Thủ Trinh:

Khanh thường đem gia tài phân phát cho sĩ tốt, có thể gọi là trung với nước vậy!

Thủ Trinh tạ rằng:

Đều là của Trọng Uy cho thần cả.

Nhân đó xin được đi cùng Trọng Uy lên phía bắc. Cuối cùng vua lấy Trọng Uy làm Chiêu thảo sứ, Thủ Trinh làm Đô giám, đóng ở Võ Cường. Đến khi Khiết Đan cướp Trấn, Định, bọn Thủ Trinh đóng quân ở Trung Độ, rốt cuộc cùng Trọng Uy hàng Khiết Đan. Khiết Đan phong Thủ Trinh làm Tư đồ. Khiết Đan đánh kinh sư, lại phong Thủ Trinh làm Thiên Bình quân tiết độ sứ.

Hán Cao Tổ vào kinh sư, Thủ Trinh đến chầu, được phong Thái bảo, Hà Trung tiết độ sứ. Cao Tổ băng, Đỗ Trọng Uy bị giết, Thủ Trinh sợ, lòng không yên. Y cho rằng nhà Hán mới dựng, Ẩn Đế mới lập, thiên hạ dễ mưu đồ; lại có tên tăng nhân là Tổng Luân dùng tà thuật cầu cạnh Thủ Trinh, bảo y có tướng mạo phi thường, Thủ Trinh bèn quyết kế làm phản. Triệu Tư Quán đã làm phản trước ở Kinh Triệu, sai người mang áo màu vàng đất (màu hoàng bào) tặng Thủ Trinh. Thủ Trinh cả mừng, cho là "trời người đều ứng", bèn phát binh về phía tây chiếm Đồng Quan, chiêu dụ thảo khấu, trộm cướp nổi lên khắp nơi. Triều đình sai Bạch Văn Kha, Thường Tư đem quân đến đánh. Sau đó Vương Cảnh Sùng lại làm phản ở Phượng Tường. Cảnh Sùng cùng Tư Quán sai người tôn Thủ Trinh làm Tần Vương. Thủ Trinh phong quan tước cho bọn Cảnh Sùng, lại sai người mang thư viên sáp[3] đến Ngô, Thục, Khiết Đan, xúi giục xuất binh để kiềm chế quân Hán.

Bọn Văn Kha đánh Cảnh Sùng, Tư Quán mãi không xong. Ẩn Đế bèn sai Khu mật sứ Quách Uy đem cấm binh đi kiêm đốc các tướng. Các tướng đều xin [Quách Uy] đánh Tư Quán, Cảnh Sùng trước, Uy chưa biết nên xử trí ra sao. Đi đến Hoa Châu, Tiết độ sứ Hỗ Ngạn Kha tâu với Uy rằng:

Ba tên phản nghịch liên kết với nhau, lấy Thủ Trinh làm chủ. Thủ Trinh mà bại trước thì Tư Quán, Cảnh Sùng chỉ cần truyền hịch là phá được. Nếu bỏ gần mưu xa, để Thủ Trinh xuất binh phía sau, Tư Quán, Cảnh Sùng chống cự phía trước, thì quân Hán nguy mất.

Uy cho là phải, bèn đánh Thủ Trinh trước.

Lúc ấy Phùng Đạo thôi chức [tể] tướng, lui về Hà Dương. Quách Uy mới xuất quân, qua nhà Đạo hỏi kế. Đạo nói:

Ông có biết đánh bạc không?

Uy thuở còn trẻ là phường vô lại, thích cờ bạc, tưởng Đạo nói đểu mình, mặt biến sắc giận dữ. Đạo nói:

Phàm đánh bạc, tiền nhiều thì thắng nhiều, tiền ít thì thua nhiều. Không phải vì chơi không giỏi, mà thua là do cái thế vậy. Nay hợp binh các tướng để đánh một thành, so bì nhiều ít thì biết được thắng bại.

Uy tỉnh ngộ, bèn tính kế vây hãm lâu dài để làm địch khốn đốn. Uy cùng các tướng chia ba trại, vây ba mặt thành, bỏ ngỏ mặt nam, huy động dân đinh năm huyện đắp trường lũy để nối ba trại lại. Thủ Trinh xuất binh ra phá lũy, Uy lại vá chỗ hỏng ngay; Thủ Trinh lại ra tranh, mỗi lần ra quân thường chết mất ba bốn phần mười. Cứ thế hơn một năm, trong thành Thủ Trinh quân lính chẳng còn bao nhiêu, lương lại hết, phải giết người mà ăn. Uy nói: "Được rồi", bèn hẹn ngày, đốc binh bốn mặt công phá.

Ban đầu, Thủ Trinh gọi Tổng Luân hỏi xem việc có thành không. Tổng Luân nói:

Vương đương nhiên có thiên hạ, nhưng phận dã đang gặp tai ách, đợi giết người gần hết thì việc của Vương sẽ thành.

Thủ Trinh tin là thật. Từng hội họp tướng lại uống rượu lớn, Thủ Trinh chỉ vào bức tranh vẽ hổ bảo:

Ta có thiên mệnh thì bắn trúng lòng bàn chân hổ.

Giương cung một phát trúng ngay, tướng lại đều lạy chúc mừng, Thủ Trinh lại càng tự phụ.

Thành vỡ, Thủ Trinh cùng vợ con tự thiêu. Quân Hán vào thành, trong đống tro khói chém lấy đầu, đem về kinh, bêu ở chợ Nam. Dư đảng đều bị phanh thây.

Trương Ngạn Trạch 張彥澤

Trương Ngạn Trạch [mất 947], tổ tiên vốn là người bộ Đột Quyết, sau dời đến ở Âm Sơn, rồi lại dời đến Thái Nguyên. Ngạn Trạch tính tình kiêu hãn tàn nhẫn, mắt màu vàng, ban đêm như có ánh sáng, liếc nhìn như thú dữ. Nhờ có tài thiện xạ mà được làm kỵ tướng, nhiều lần theo Trang Tông, Minh Tông chinh phạt. Y kết thông gia với Tấn Cao Tổ. Thời Cao Tổ, y đã làm Hộ thánh hữu sương đô chỉ huy sứ, Tào Châu thứ sử. Cùng đi đánh Phạm Diên Quang, được bái làm Trấn Quốc quân tiết độ sứ, trong năm ấy dời sang trấn Chương Nghĩa.

[Trương Ngạn Trạch] làm quan cai trị tàn bạo, thường giận con mình, nhiều lần đánh đập sỉ nhục. Con y trốn sang Tề Châu, quan châu bắt được giải về kinh sư, Cao Tổ giao lại cho Ngạn Trạch. Ngạn Trạch dâng sớ xin giết con, viên Chưởng thư ký là Trương Thức không chịu viết sớ, lại nhiều lần can ngăn. Ngạn Trạch giận, giương cung bắn Thức, Thức chạy thoát. Thức vốn được Ngạn Trạch coi trọng, giao cho nhiều việc, bọn tiểu nhân tả hữu vốn ghen ghét, nhân đó cùng gièm pha Thức, lại dọa rặng:

Không đi mau thì vạ đến nơi.

Thức bèn bỏ trốn. Ngạn Trạch sai Chỉ huy sứ Lý Hưng đem hai mươi kỵ binh đuổi theo, răn rằng:

Thức không chịu về thì lấy thủ cấp đem về đây!

Thức đến Diễn Châu, Thứ sử sai quân đưa đến Bân Châu, Tiết độ sứ Lý Chu giữ Thức lại, phi ngựa tâu lên, vua chiếu đày Thức sang Thương Châu. Ngạn Trạch sai Tư mã Trịnh Nguyên Chiêu đến cung khuyết tâu bày, quyết đòi lấy Thức cho bằng được, lại nói:

Ngạn Trạch nếu không bắt được Trương Thức, cái họa sẽ không lường được.

Cao Tổ bất đắc dĩ phải giao cho. Ngạn Trạch bắt được Thức, bèn moi tim, xẻ miệng, chặt tay chân rồi mới chém.

Cao Tổ sai Vương Chu thay Ngạn Trạch, lấy y làm Hữu vũ vệ đại tướng quân. Chu tâu lên hai mươi sáu điều làm trái pháp luật của Ngạn Trạch, cùng kể rõ tình trạng điêu tàn của dân đất Kính. Cha của Thức là Đạc đến cung khuyết kêu oan. Gián nghị đại phu Trịnh Thụ Ích, Tào Quốc Trân, Thượng thư hình bộ lang trung Lý Đào, Trương Lân, Viên ngoại lang Ma Đào, Vương Hi quỳ ở thềm điện dâng sớ, luận về nỗi oan giết Thức, đều không được xét. Đào gặp Cao Tổ can ngăn thống thiết, Cao Tổ nói:

Ngạn Trạch là công thần, ta từng hứa miễn tội chết cho y.

Đào lớn tiếng:

Tội Ngạn Trạch nếu dung tha được, thì thiết khoán[4] của Phạm Diên Quang đâu rồi!

Cao Tổ giận, đứng dậy bỏ đi, Đào theo sau can mãi không thôi. Cao Tổ bất đắc dĩ, triệu cha của Thức là Đạc, em là Thủ Trinh, con là Hy Phạm, đều ban cho chức quan; lại vì thế mà tha thuế cho dân Kính Châu, miễn tạp dịch một năm, xuống chiếu tự trách mình; nhưng Ngạn Trạch chỉ bị tước phẩm hàm, giáng tước mà thôi. Thế là bọn Quốc Trân lại cùng Ngự sử trung thừa Vương Dịch Giản dẫn ngự sử ba viện đến cửa cung liên tiếp dâng sớ luận tội, nhưng không được trả lời.

Thời Xuất Đế, Ngạn Trạch làm Tả long vũ quân đại tướng quân, thăng Hữu vũ vệ thượng tướng quân, lại thăng Hữu thần vũ thống quân. Từ khi Khiết Đan đánh nhau với Tấn ở Hà Bắc, Ngạn Trạch ở trong quân, nhiều lần lập chiến công, được bái làm Chương Quốc quân tiết độ sứ. Khi đánh nhau với Khiết Đan ở Dương Thành, bị Khiết Đan vây, trong quân không có nước, đào giếng thì sập, trời lại nổi gió lớn, Khiết Đan thuận gió tung bụi đánh rất hăng, trong quân sợ hãi. Ngạn Trạch hỏi các tướng, các tướng đều nói:

Nay giặc thừa thế thượng phong, ta ở hạ phong, nên đợi gió đổi chiều mới đánh được.

Ngạn Trạch cho là phải. Các tướng đi cả, riêng Tỳ tướng Dược Nguyên Phúc ở lại, bảo Ngạn Trạch:

Nay trong quân đói khát quá lắm, nếu đợi gió đổi chiều thì bọn ta làm tù binh mất! Huống hồ ngược gió mà đánh, địch cho là ta ắt không làm nổi, thế gọi là xuất kỳ bất ý.

Ngạn Trạch bèn nhổ rào cự mã ra sức chiến đấu, Khiết Đan thua chạy hơn hai mươi dặm, y đuổi đến Vệ Thôn, lại đánh đại bại giặc, Khiết Đan phải trốn đi.

Mùa thu năm Khai Vận thứ ba (946), Đỗ Trọng Uy làm Đô chiêu thảo sứ, Lý Thủ Trinh làm Binh mã đô giám, Ngạn Trạch làm Mã quân đô bài trận sứ. Ngạn Trạch qua lại giữa Trấn, Định, đánh bại Khiết Đan ở Thái Châu, chém thủ cấp hai nghìn tên. Trọng Uy, Thủ Trinh đánh Doanh Châu không được, lui về Võ Cường, nghe tin Khiết Đan dốc cả nước vào cướp, hoảng hốt không biết đi đâu. Ngạn Trạch vừa đến, nói tình hình giặc có thể phá được, bèn cùng Trọng Uy kéo về hướng tây đến Trấn Châu. Ngạn Trạch làm tiên phong, đến cầu Trung Độ thì giặc đã chiếm mất, Ngạn Trạch vẫn ra sức đánh tranh cầu, đốt cháy một nửa, giặc thua nhỏ phải lui, bèn kẹp sông mà lập trại.

Ngày Bính Dần tháng mười hai [4 tháng 1 năm 947], Trọng Uy, Thủ Trinh phản Tấn hàng Khiết Đan, Ngạn Trạch cũng hàng. Gia Luật Đức Quang phạm cung khuyết, sai Ngạn Trạch và Phó Trụ Nhi đem hai nghìn kỵ binh vào kinh sư trước. Ngạn Trạch đi gấp đôi đường, đến sông, ngậm tăm qua đò trong đêm. Đêm Nhâm Thân, canh năm, từ cửa Phong Khâu phá khóa mà vào. Một lát sau, trong cung lửa cháy, Xuất Đế cầm kiếm lùa hơn mười cung nữ định nhảy vào lửa, bị tiểu lại là Tiết Siêu giữ chặt. Ngạn Trạch từ cửa Khoan Nhân truyền thư của [Gia Luật] Đức Quang cho Hoàng thái hậu, bèn dập lửa. Đại nội đô điểm kiểm Khang Phúc Toàn túc vệ ở cửa Khoan Nhân, lên lầu dòm giặc, Ngạn Trạch gọi bảo xuống, các cửa đều mở. Ngạn Trạch đóng quân trước lầu Minh Đức, sai Phó Trụ Nhi vào truyền lời Nhung vương,[5] [Xuất Đế] cởi hoàng bào, mặc đồ trắng vái hai vái chịu mệnh. Sai người gọi Ngạn Trạch, Trạch từ chối:

Thần không còn mặt mũi nào nhìn Bệ hạ.

Lại sai gọi nữa, Ngạn Trạch cười mà không đáp.

Hôm sau, dời vua ra phủ Khai Phong, cùng Thái hậu, Hoàng hậu ngồi kiệu vai, cung tần, hoạn quan hơn mười người đều đi bộ theo sau. Ngạn Trạch sai Khống hạc chỉ huy sứ Lý Quân đem quân giám sát, trong ngoài không thông tin được. Biểu chương của vua và Thái hậu dâng lên Đức Quang đều phải đưa Ngạn Trạch xem trước mới dám gửi. Vua lấy mấy tấm lụa trong kho nội, người giữ kho bảo: "Cái này không còn là của vua nữa", không đưa cho. Lại sai xin rượu chỗ Lý Tung, Tung nói:

Nhà thần có rượu đâu dám tiếc, chỉ lo Bệ hạ ưu phiền nóng nảy, uống vào rủi có chuyện bất trắc thì thần không dám dâng.

Cô của vua là công chúa Ô Thị đút lót người giữ cửa, vào được quyết biệt với vua, về nhà thắt cổ chết. Đức Quang qua sông, vua muốn làm lễ tế giao để đón, Ngạn Trạch không nghe, sai báo cho Đức Quang. Vua Khiết Đan trả lời:

Trời không có hai mặt trời, há có lẽ nào hai thiên tử lại gặp nhau giữa đường sao!

Bèn thôi.

Hồi đầu, khi Ngạn Trạch đến kinh sư, Lý Đào bảo mọi người:

Họa của ta đến rồi! Thà trốn vào cống rãnh cũng không thoát, chi bằng đến gặp nó.

Đào gặp Ngạn Trạch, dùng lời quê mùa xin chịu chết, Trạch cười mà đãi ngộ rất hậu.

Ngạn Trạch tự cho mình có công với vua Khiết Đan, ngày đêm uống rượu mua vui, ra vào có mấy trăm kỵ binh đi theo, lại còn đề lên cờ xí chữ "Xích tâm vi chủ".[6] Ép dời Xuất Đế đi rồi, bèn sai xe chở kho tàng trong đại nội về nhà riêng, nhân đó thả cho quân sĩ cướp bóc kinh sư. Quân sĩ tuần tra bắt được "tội nhân", Ngạn Trạch say không hỏi, chỉ trợn mắt giơ ba ngón tay, quân hiểu ý liền lôi ra chém ngang lưng. Mẹ hoàng tử Diên Húc là Đinh Quốc phu nhân có nhan sắc, Ngạn Trạch sai người đòi ở chỗ Thái hậu, Thái hậu còn lưỡng lự, y bèn cướp lấy. Ngạn Trạch có hiềm khích với Cáp môn sứ Cao Huân, nhân lúc say vào nhà Huân giết mấy người rồi bỏ đi.

Gia Luật Đức Quang đến kinh sư, nghe tin Ngạn Trạch cướp bóc, cả giận, cho xiềng lại. Cao Huân cũng tự mình tố cáo với Đức Quang. Đức Quang đem tội trạng ấy cho bá quan và dân chúng xem, hỏi:

Ngạn Trạch có đáng giết không?

Bá quan đều xin không tha, mà dân chúng tranh nhau nộp đơn kể tội ác của y. Bèn sai Cao Huân giám sát việc hành hình. Con cháu các sĩ đại phu bị Ngạn Trạch giết trước kia, đều mặc đồ tang chống gậy khóc lóc, đi theo mà mắng chửi, dùng gậy đánh đập, Ngạn Trạch cúi đầu không nói một lời. Đi đến chợ Bắc, chặt cổ tay tháo xiềng rồi mới hành hình. Huân moi tim y để tế người chết, người trong chợ tranh nhau đập vỡ sọ, lấy óc, xẻ thịt mà ăn.

Lời bàn của Âu Dương Tu

Than ôi, việc nhà Tấn thật xấu xa, mà cái ác cũng đến cùng cực vậy! Cái họa diệt vong chẳng kịp trở tay, âu cũng là lẽ tất nhiên. Giả sử bọn Trọng Uy dẫu không làm phản hàng giặc, cũng chưa chắc đã không mất nước; nhưng kẻ mở đường cho giặc, bắt đầu từ một mình Cảnh Diên Quảng, mà rốt cuộc làm nên cái họa nhà Tấn, chính là ba kẻ này vậy. Nhìn cái chết của Trọng Uy, Ngạn Trạch, mà người Tấn cam lòng, thì biết cái sự căm hờn oán giận của họ với những kẻ này chẳng phải mới ngày một ngày hai. Đến nỗi tranh nhau cái xác đã chết, xẻ thịt, moi não mà ăn, xé xác giẫm đạp, trong chốc lát là hết sạch, sao mà thậm tệ đến thế! Xưa nay chưa từng có vậy. Tuy nhiên, đương lúc ấy, toàn bộ binh lực nhà Tấn đều ở phía bắc, sự tồn vong của nước nhà buộc vào sự thắng bại của ba kẻ này, thì trách nhiệm kể cũng nặng thay. Kẻ mà thiên hạ ghét cay ghét đắng như thế, nhà Tấn lại tin dùng như thế, đến chết vẫn không tỉnh ngộ, há chẳng phải cái gọi là "Vua thời loạn, ai cũng cho bầy tôi của mình là hiền" đó sao?''

Phụ chú

[sửa]
  1. Trận đồ hình bán nguyệt.
  2. Ý nói: Không chết là may rồi, đừng ham đánh nữa.
  3. Viên sáp (蠟丸): Thư mật được giấu trong một viên sáp, dùng để truyền tin bí mật thời xưa.
  4. Đan thư thiết khoán: Một loại kim bài miễn tử
  5. Chỉ vua Khiết Đan
  6. Xích tâm vi chủ (赤心為主): một lòng son sắt với chủ.