Tập bài thi bằng Sơ học yếu lược/3
3, — NÓI VỀ NHẼ PHẢI HỌC CHỮ QUỐC-NGỮ
Chữ quốc-ngữ là một thứ chữ thật có ích cho dân bản–quốc, vì chữ nho phải học lâu năm mới biết mà học chữ quốc-ngữ thì trong một vài năm, dẫu một người tư-chất tầm thường cũng đọc được thư từ vãng lai và các giấy má việc quan làm bằng tiếng ấy. Vả lại những người bận việc sinh-nhai không có thì giờ nhàn hạ học nho tự, chỉ học chữ quốc-ngữ cũng có thể khai-trí được.
Bây giờ sự tân-học xuất-hiện ở xứ này, thật là nhờ có chữ quốc-ngữ làm môi-giới. Mọi người đều xem được các sách tân-thư, cách-trí, nhật-báo, dẫu người không biết chữ nho cũng hiểu được, thời ai nấy đều phải học chữ quốc-ngữ.
CÂU HỎI
1. Cắt nghĩa chữ: tư-chất tầm thường, người bận việc, khai-trí, lưu tâm.
2. Cắt nghĩa câu này: nhờ có chữ quốc-ngữ làm môi-giới.
3. Tại làm sao người làm thợ, kẻ nhà quê cần phải đi học.
(Bắc-Ninh)
TRẢ LỜI
1. Tư-chất là các khiếu thông-minh của người ta; tư-chất tầm thường là người không được thông-minh lắm. Người bận việc là người có nhiều công việc không có thì giờ dỗi. Khai trí là mở mang trí-khôn. Lưu tâm là để bụng vào điều gì việc gì.
2. Môi-giới là đứng giữa mà làm cho hai bên được liên-tiếp với nhau. Câu này ý nói: nhờ có chữ quốc-ngữ mà sự tân-học mới mở mang ở nước ta được vì chữ ấy tiện lợi dễ học dễ biết, ai xem sách viết bằng chữ ấy cũng có thể hiểu được.
3. Người làm thợ kẻ nhà quê cũng cần phải đi học, vì ai ai cũng phải có kiến-thức phổ-thông để làm trọn được bổn-phận của mình và lo tính công việc của mình.
LỜI DẶN. — Nên nhận những chữ: tư chất, — trất đống; — giấy má, — dấy lên; — thì giờ; rờ rẫm; — trí khôn, trí thức, chí khí, hữu chí, đông chí; — xứ này, quan công–sứ, sứ thần.