Tập bài thi bằng Sơ học yếu lược/Lời khuyên học trò về bài luận
LỜI KHUYÊN HỌC TRÒ VỀ BÀI LUẬN.
Trong các bài thi bằng Sơ-học yếu-lược, bài luận là khó nhất, vì muốn làm được bài ấy, vừa phải có ý tứ, vừa phải biết viết văn. Mà muốn có ý tứ hay, phải biết xem xét, suy nghĩ và đọc sách nhiều. Muốn viết thành văn, phải biết dùng tiếng, đặt câu, sếp các đoạn mạch sao cho gọn ghẽ rõ ràng. Bởi vậy học trò nên lưu tâm đến bài luận mà luyện tập luôn.
CÁC THỂ VĂN
Các bài văn ra thi có thể chia ra làm nhiều thể: 1· văn tả; 2· kể chuyện; 3· bàn luận; 4· viết thư.
1· Tả là lấy một cảnh gì hoặc một người một vật gì mà nói rõ ra để cho người đọc bài mình trong trí cũng như được trông thấy cảnh ấy hoặc người ấy vật ấy.
Văn tả lại có nhiều lối:
a) Tả cảnh là tả một phong-cảnh nào như tả một cái hồ, một khu đền, một làng, một phố v. v.
b) Tả người là tả hình dung tính nết một người nào như là một người học trò lười, một người thợ cầy ruộng v. v.
c) Tả vật như tả cây cối đồ vật gì.
2· Kể chuyện là thuật lại việc gì tự đầu đến cuối cho người khác đọc bài mình được hiểu câu chuyện như kể chuyện đi xem hội, thuật lại cuộc đi chơi v. v.
3· Bàn luận là bàn bạc điều hay điều dở, lẽ phải lẽ trái về một việc gì, một sự gì, như bàn về sự học ých lợi thế nào, nết cần kiệm quan-hệ thế nào.
4· Viết thư tức là nói chuyện với một người ở xa mình; vì xa không thể đối diện mà nói chuyện được nên phải viết lên trên giấy. Trong bức thư có thể tả một cảnh gì, hoặc kể một chuyện gì, hoặc bàn luận về một việc gì.
Trừ các thể chính ấy, quan trường lại có thể ra đầu bài về lịch-sử, địa-dư, cách-trí nữa.
Nhưng muốn làm một bài văn về thể nào mặc lòng, cũng có ba việc sau này: 1· Tìm tòi các ý tứ; 2· sếp đặt các ý tứ; 3· diễn giải các ý tứ thành lời văn.
TÌM TÒI CÁC Ý TỨ
Trước hết phải đọc thật kỹ đầu bài để nhận nghĩa cho đúng xem người ta hỏi mình về điều gì. Nên lấy bút gạch các chữ quan-trọng trong đầu bài để chú-ý vào đấy.
Muốn tìm ý hãy nhận xem đầu bài thuộc về thể văn nào vì tuy theo mỗi thể cách làm bài có khác.
1· Tả cảnh. — Như đầu bài bảo tả cảnh một cái chùa. Chắc anh đã trông thấy nhiều cái chùa, nhưng cũng có cái anh trông ít lần không nhớ rõ, cũng có cái anh trông nhiều lần nhớ rõ hơn. Nên chọn lấy cái nào anh nhớ kỹ hơn cả mà hình-dung tưởng-tượng ra, rồi ghi lấy những điều mình nhớ ra để theo đấy mà làm bài.
Trừ ra khi nào đầu bài bảo tả rõ cảnh gì như tả làng anh ở, trường anh học thì không phải lựa chọn, cứ việc nhớ lại mà tả ra.
2· Kể chuyện. — Làm bài văn kể chuyện cũng theo cách ấy mà nhớ lại đầu đuôi công việc để thuật ra. Như đầu bài bảo kể chuyện đi xem hội, nên chọn lấy đám hội nào mình nhớ hơn cả mà kể ra.
LỜI DẶN. — Làm bài văn tả cảnh hoặc kể chuyện cần phải thành thực, nghĩa là tai mắt mình đã nghe trông thấy gì thì cứ thế mà nói ra, hoặc chính mình đã làm gì thì cứ thế mà kể ra, chớ đừng bịa đặt dả dối.
3· Bàn luận. — Lối văn bàn luận là lối khó và cao, ít khi quan trường ra mà có ra thường đặt sẵn thành câu hỏi, mình nên cứ theo đấy mà nghĩ ngợi xuy xét để trả lời lại.
Lúc tìm tứ hễ nhớ được điều gì, nghĩ được ý nào thì nên ghi lên giấy ngay, lộn sộn cũng được, kẻo sợ mình lại quên mất chăng.
SẾP ĐẶT CÁC Ý TỨ
Khi ý tứ tìm ra đã tiệm đủ rồi, bấy giờ phải soát lại một lượt xem ý nào thừa bỏ đi, ý nào thiếu thêm vào, rồi sếp đặt lại cho có thứ tự: tức là dàn bài.
Trong một bài thường phải chia ra làm vài ba đoạn lớn. Các đoạn ấy nhiều khi ngay ở đầu bài đã chia sẵn thành câu hỏi, mỗi câu là một đoạn, lúc làm bài thì cứ theo đấy lần lượt mà trả lời. (Tỉ dụ: bài Tả trường anh tr. 45)
Khi đầu bài ra không có câu hỏi thì tự mình phải dàn bài lấy. Nhiều khi các đoạn lớn tuy không kể rõ, song cũng đã ngậm ở trong đầu bài, mình cứ đọc cho kỹ thì nhận ra ngay. Tỉ như bài Kể chuyện mở hội vào đám, tr. 69) thì hễ đọc kỹ nhận ngay ra rằng bài ấy có 2 đoạn lớn, 1· kể công đức ông thần; tả cảnh ngày vào đám.
Đại loại cách dàn bài của mỗi lối văn như vầy:
1· Tả cảnh. — Một bài văn tả cảnh thường có ba đoạn lớn:
I. Cảnh (mình muốn tả) ở đâu?
II. Quang-cảnh cả khu (đứng đằng xa hoặc đứng ở ngoài trông ra thế nào hãy nói ra).
III. Trong cảnh ấy có những gì (Đoạn này dài nhất và quan-trọng nhất, tùy từng bài mà sếp đặt và chia thành các đoạn con).
Xem kỹ các bài mẫu 1· Tả trường học, tr. 45; 2· Cảnh ngày mùa, tr. 48 để nhận lấy cách dàn bài văn tả cảnh.
2· Tả người. — Thường có hai đoạn lớn:
I. Tả hình dung (nét mặt, dáng điệu, cách đi đứng, cách ăn mặc).
II. Tả tâm-tính (cách ăn nói, công việc làm, tư-tưởng, tính tình). Xem kỹ bài mẫu: Tả một người học trò giỏi và có nết na tr. 53.
3· Kể chuyện — Kể chuyện phải có đầu có đuôi, sao cho người nghe câu chuyện của mình hiểu được các tình tiết trong chuyện, nên phải có thứ tự, việc sẩy ra trước nói trước, việc sẩy ra sau nói sau. Cách dàn bài nên như vầy:
I. Việc ấy sẩy ra ở đâu? về lúc nào?
II. Trước khi việc sẩy ra, tình-hình thế nào?
III. Đương khi việc sẩy ra thế nào (kề các tình-tiết trong chuyện. Nhiều khi cần phải chia ra các đoạn nhỏ.)
VI. Việc ấy kết cục ra làm sao?
Xem kỹ các bài mẫu: 1. Kể chuyện một cơn mưa, tr. 52; 2· Kể chuyện một chuyến xe lửa đến tr. 49.)
LỜI DẶN. — Dàn bài rất cần. Trừ những bài đã có câu hỏi sẵn sàng không kể, còn bài nào cũng phải dàn, ít nào cũng phải phân tách ra làm mấy đoạn lớn, rồi hãy bắt đầu làm bài, nếu không tất là lộn sộn, không thành thứ tự gì.
III. — DIỄN GIẢI CÁC Ý TỨ
Dàn bài xong rồi thì bắt đầu viết văn. Đem các ý-tưởng đã ghi trước mà chọn chữ cho đúng, đặt câu cho lọn, sao cho rõ ràng gãy gọn, người ngoài đọc lên hiểu được ý mình muốn nói gì. Nếu nói cách này nghe còn tối nghĩa thì nên nói ra cách khác. Nên bỏ bớt những chữ đệm vô ých như những tiếng thì, mà, là, v. v. Không nên đặt những câu dài quá vì dài quá tất không được minh bạch dễ hiểu.
Tự đoạn nọ sang đoạn kia phải có câu chuyển sao cho liên tiếp với nhau, chớ để rời rạc.
Viết thư cho ai thì tùy theo người ấy vào bực nào giọng thư phải cho thích hợp: hoặc phải cung kính, hoặc phải thân thiết. Lời trong thơ cũng phải tùy theo việc mà viết: hoặc thơ hỏi thăm, hoặc thơ kể chuyện, hoặc thơ có việc.
LỜI DẶN HỌC TRÒ
Các bài luận in sau đây đã lựa chọn đủ các lối (xem mục lục thì rõ): tả cảnh, tả người, tả vật, kể chuyện, bàn luận, viết thư, mỗi lối có soạn sẵn bài làm mẫu, hoặc chỉ dẫn cách làm bài. Nên đọc kỹ các bài ấy để theo đấy làm các bài tương-tự đã liệt kể ở dưới hoặc của ông thày ra cho làm.