Tập bài thi bằng Sơ học yếu lược/Lời khuyên học trò về bài thi ám tả
Bài ám-tả chia ra làm hai phần: 1◦ bài ám-tả quan trường đọc cho mình viết; 2◦ câu hỏi, mình phải làm câu trả lời lại.
I. Bài ám-tả. — Về phần bài ám-tả cần phải theo những điều này :
1◦ Phải nghe cho kỹ để viết cho đúng, thứ nhất là phải chú-ý vào những chữ cần phải phân biệt: ch hay tr; d, gi hay r; x hay s. Những chữ nào còn hồ nghi nên nghĩ đến các chữ đồng-âm (đọc tương-tự nhau) với chữ ấy mà so sánh để viết cho khỏi sai; ví dụ trong bài mình viết có chữ trước sau thì nên nghĩ đến bắt chước, mưu chước; có chữ con trâu thì nên nghĩ đến chữ châu huyện, châu báu, v.v.
2◦ Những chữ nào vần dài lúc viết lúng túng nên đánh vần nhẩm hãy viết cho đúng, như những chữ chuyết, khoeo, khuynh, soét, v.v.
3◦ Viết chữ quốc-ngữ thường hay mất dấu, vậy khi viết xong nên đọc lại một lượt thật cẩn-thận để soát lại và chữa các dấu bỏ sót.
II. Bài trả lời câu hỏi. — Câu hỏi ra kèm với bài ám-tả thường là những câu rời, không phải là một bài luận, vậy lúc làm câu trả lời, nên làm cho gọn ghẽ vừa đủ thôi, không nên làm rườm dài quá.
Các câu hỏi có thể chia ra làm mấy hạng sau này:
1. Thích nghĩa chữ rời. — Chữ thì có chữ đơn và chữ kép:
a) CHỮ ĐƠN là chữ có một tiếng như phán (Ông vua công-bằng, 1◦, tr.13), thuần (Con trâu, 1◦, tr.26), lũy (Cây tre, 1◦, tr.27), v.v. Muốn thích nghĩa những chữ ấy chỉ phải nhận nghĩa cho kỹ rồi nói cho rõ ràng gẫy gọn. (Xem các chữ kể làm mẫu).
b) CHỮ KÉP là chữ ghép hai hoặc nhiều tiếng mà thành như lơ thơ, lờ đờ (Con trâu, 1◦, tr.26), vệ ao (Cây tre, 1◦, tr.27). Những chữ này cũng phải nhận nghĩa cho hiểu rồi giải-thích ra. (Xem các chữ kể làm mẫu). Nhưng có nhiều khi, thứ nhất là khi gặp những chữ nho, lại phải tách riêng các tiếng trong chữ kép ấy ra mà cắt nghĩa từng tiếng đã, rồi mới cắt nghĩa chung cả tiếng kép ấy cho được rõ ràng. Ví dụ như những chữ: trường sơ-đẳng (Tỉnh Sơn-tây, 3◦, tr.21), trưởng tộc (Ngày giỗ, 1◦, tr.15), sinh trưởng (Học Nam-ngữ, 1◦, tr.8), v.v. Xem cách cắt nghĩa các chữ ấy ở dưới.
c) CHỮ DÙNG NGHĨA BÓNG. — Có nhiều chữ đặt trong bài không dùng nghĩa đen lại dùng sang nghĩa bóng, ví dụ như những chữ đủ miếng ăn (Nghề nghiệp, 1◦, tr.23), mở mày mở mặt (Hậu vận của nước ở trong tay học trò, 1◦, tr.11), v.v. Muốn thích nghĩa những chữ này trước hết phải nhận kỹ nghĩa đen đã, rồi hiểu lấy ý nói bóng. Lúc làm câu trả lời phải giải thích làm sao cho hợp với nghĩa đen; có khi lại phải thích nghĩa đen trước, rồi mới nói nghĩa bóng sau. Xem cách cắt nghĩa những chữ ấy ở dưới.
2. Nghĩa cả câu. — Phải đọc cả bài để hiểu đại-ý, riồ nhận kỹ nghĩa câu ấy mà giải thích ra.
LỜI DẶN CHUNG. — Có chữ có nhiều nghĩa khác nhau chỉ nên nhận rõ nghĩa của chữ ấy trong bài ám-tả mà thích ra, trừ khi nào trong câu hỏi có bảo mình giải-thích cả các nghĩa những chữ ấy hãy kể rõ cả.
3. Đại ý cả bài. — Đọc kỹ bài ám-tả, rồi tóm ý chung vào trong một câu ngăn-ngắn; chớ có làm dài quá, thứ nhất là chớ lắp lại các ý-tưởng trong bài.
4. Các câu hỏi khác. — Trừ mấy hạng câu hỏi thông thường nói trên này, lại còn những câu hỏi tạp, hoặc hỏi về sự ých lợi của một giống một vật gì, hoặc hỏi ý-kiến riêng mình về một điều gì. Gặp những câu ấy nên liệu theo câu hỏi mà trả lời lại cho đúng và rõ ràng gãy gọn.
LỜI DẶN
Trong tập bài ám-tả sau này, những chữ cần phải phân biệt ch với tr, s với x, v.v. đều in chữ nghiêng cả để ông giáo đọc cho rõ ràng và học trò xem mà nhận kỹ lấy.