Tống hữu nhân

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa Bản dịch của Tản Đà

送友人
青山橫北郭,
白水遶東城。
此地一為別,
孤蓬萬里征。
浮雲遊子意,
落日故人情。
揮手自茲去,
蕭蕭班馬鳴。

Tống hữu nhân
Thanh sơn hoành Bắc quách,
Bạch thủy nhiễu Đông thành.
Thử địa nhất vi biệt.
Cô bồng vạn lý chinh.
Phù vân du tử ý,
Lạc nhật cố nhân tình.
Huy thủ tự tư khứ,
Tiêu tiêu ban mã minh.

Tiễn bạn
Núi xanh nằm chắn ngang vòng thành ngoài ở phía bắc,
Nước trắng lượn quanh khu thành trong ở phía đông.
Nơi đây một khi đã chia tay nhau,
Thì như cỏ bồng lẻ loi trôi xa muôn dặm.
Ý nghĩ của khác đi buồn như áng mây nổi,
Tình bạn cũ sầu như bóng chiều tà.
Vẫy tay tiễn, thôi từ nay bạn lên đường
Tiếng ngựa kêu rền rĩ nghe càng xót cho mối tình ly biệt.

Tiễn bạn
Chạy dài cõi Bắc non xanh,
Thành Đông nước chảy quanh thành trắng phau.
Nước non này chỗ đưa nhau
Một xa muôn dặm biết đâu cánh bồng!
Chia phôi khác cả mối lòng,
Người như mây nổi, kẻ trông bóng tà.
Vẫy tay[1] thôi đã rời xa,
Nhớ nhau tiếng ngựa nghe mà buồn teo.

   




Chú thích

  1. Ngày Nay số 79, 3-10-1937, Tản Đà cải chính lại là "vái nhau", "Dịch giả xin được cải chính ở câu thứ 6, hai chữ "vẫy tay" nay đổi thành "vái nhau". Như thế cũng không mất nghĩa chữ "thủ" ở nguyên văn mà ra lời quốc văn". Hiếu.