Tờ khải của sứ bộ Trần Huy Mật sang Thanh khi về trình chúa Minh

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Phụng Chánh sứ Nhập thị Bồi tụng Lễ bộ Tả Thị lang Phái Xuyên Hầu Trần Huy Mật, Phó sứ Nhập thị Thiêm sai Hàn Lâm viện Thị giảng Dĩnh Thành Bá Lê Quý Đôn, Thị chế Hội Phương Bá Trịnh Xuân Chú đẳng cẩn ...khải[1] dộng lạy...bề trên muôn muôn năm ngự hay :

Chúng tôi vâng sai sang việc quan. Năm Canh Thìn[2] tháng năm đến Quảng Tây tỉnh thành[3]. Ngày ấy, chúng tôi đã có ... khải đệ về triều. Đến ngày mười sáu tháng ấy, chúng tôi tiến hành. Gặp tiết Hồ Quảng hoang hạn, Tương Giang[4] càn khô. Tháng bảy, ngày mười chín mới đến Tràng Sa[5]. Tháng tám, ngày hai mươi hai đến Hán Khẩu[6]. Tháng chín, ngày hai mươi mốt đến Nam Kinh[7].

Mọi tiết cống, sứ trong tháng bảy đã đến đấy thì cũng được hơn một tháng. Kì ấy đã gần đông thiên[8]. Đường tiến Kinh còn xa, quan bạn tống đốc suất dời.

Tháng mười, ngày mồng chín chúng tôi khai thuyền, độ Trường Giang[9]. Tháng mười một, ngày mồng sáu, tế Hoàng Giang[10]. Ngày mười bốn đến Sơn Đông tỉnh Dịch huyện Đài Nhi quan[11]. Hà băng khẩu đống, tiền đồ phong áp[12]. Quan địa phương bát cấp nhân phu xa mã[13].

Chúng tôi khởi hành lục[14]. Tháng chạp, ngày mồng tám đến Bắc Kinh.

Quan Lễ bộ cho lại mục với Hội đồng quán Đại sứ là họ...[15] xuất tam thập lí ngoại nghinh tiếp[16]; vâng thiết[17] nhà quan Cửu môn Đề đốc làm công quán ở Hoàng thành. Thị nhật[18], chúng tôi vào trú. Cung trướng chỉnh khiết[19]. Quan Đề đốc họ Sách đến làm lễ trấp vấn lão tân khổ[20].

Quan chủ khách họ Thư truyền báo kê khai bồi thần tính danh quan chức đạt bộ chuyển tấu[21].

Ngày mồng mười, chúng tôi tiến biểu văn tấu bản nơi công đường Lễ bộ, gửi xin mặc áo đại hồng bào[22] tiến cống biểu bản, rồi cải phục quan lục bào tiến cáo ai sự[23][24]. Quan Lễ bộ Hữu đường là họ Trình báo rằng "Tiên quốc vương phục dĩ du niên, bất tất canh phục. Ưng phục đại hồng bào nhất thể bỗng tiến"[25].

Ngày mười một, chúng tôi đầu trình văn nơi quan Đề đốc rằng "Như yêu...Thiên ân trước nghị tích phong, dục vọng đặc vi đề đạt. Tỉ du hiên chi giá lược thiểu thư từ ; ư trọng thu cát thì giới lộ. Nhưng hứa cống sứ tiên hồi bảo tri dự bị nghinh tiếp, dĩ phu cung thuận"[26]

Ngày ba mươi, quan Lễ bộ truyền chúng tôi "Dĩ thập ngũ nhật đặc ban triều kiến"[27].

Ngày mười bốn, truyền "Tựu Hồng Lô tự diễn lễ"[28]. Ngày rằm, giờ sửu[29], quan Đại sứ dẫn chúng tôi vào Thái Hòa điện đình, tùy ban hành lễ[30]. Rồi lại về Công quán.

Ngày mười bảy, chúng tôi vâng cứ trong phụng truyền[31], nói mấy[32] quan Đề đốc xin đến Quốc Tử Giám chiêm bái.. Tiên thánh[33], mấy xin xem trong triều lễ nhạc văn vật. Quan ấy truyền rằng "Việc ấy nho môn thịnh văn[34]. Vâng chuyển đạt cho. Đãi lai niên[35] sẽ hay.

Ngày trừ tịch[36] lại truyền đi diễn lễ. Khâm ban chúng tôi tửu bính hoa quả[37].

Năm Tân Tị[38], tháng giêng, ngày chính đán[39], truyền chúng tôi vào triều hạ[40]. Chờ cho khâm ban. Ban ra Công quán yến diên tam trác[41].

Ngày mồng mười, quan Lễ bộ truyền cho chúng tôi đi yết Văn Miếu. Có quan Bác sĩ trợ giáo họ Trương ra nghinh tiếp, dẫn đạo hành lễ[42]. Kì điển chế độ[43] đã vâng có biệt khải[44].

Tháng hai, ngày mồng hai, quan Lễ bộ báo rằng "Vâng Hoàng thượng đại đức đã chuẩn sai quan sách phong truyền các nha môn kê chức danh lên để khâm điểm[45]. Song Cống sứ có trình văn xin quan Khâm sứ thu tiết khởi trình[46], ấy cũng là lòng cung thuận. Đã nghị chuyển tống y cho".

Ngày hai mươi lăm, truyền chúng tôi vào Ngọ Môn[47], khâm thụ ban thưởng thể đoạn các thất[48]

Ngày hai mươi lăm, truyền tứ yến công đường Lễ bộ[49]. Giờ thân[50], Quang Lộc tự lại đệ khâm ban yến diên mười hai trác[51] đến Công quán.

Ngày hai mươi tám, Lễ bộ đường lại mới đệ tư văn việc tuế cống, tứ phong, tứ tuất[52], ban thưởng, cộng sáu sáo[53].

Tháng ba, ngày mồng một, chúng tôi phụng chỉ hồi quốc[54].

Ngày trước, đã gửi quan Đề đốc xin về độ nhị nguyệt thượng tuần[55]. Quan ấy rằng "Quan Khâm sai bạn tống[56] họ Tần có lời khất hoãn". Cho nên phải đợi sang tháng ba ngày ấy mới được khởi trình[57].

Tháng sáu, ngày mồng bảy đến Nam Kinh.

Ngày hai mươi mốt, tiến hành. Tiết ấy phong vũ chẳng thuận. Với[58] châu nhân[59] buôn ban tư hóa[60], sở chí đam các[61]. Chúng tôi lụy thứ[62] trình quan Khâm sai bạn tống họ Tần xin đốc xúc tiến trình. Song quan ấy cũng tuần tình nhất hướng trì trễ[63].

Tháng chín, ngày mồng chín mới đến Hán Khẩu, thì nghe quan Khâm sai sách phong[64], Chánh sứ là họ Đức, Phó sứ là họ Cố khởi lục xuất Kinh[65] những đầu tháng tám, ngày hai mươi sáu đến đấy, ngày hai mươi bảy ra Quảng Tây[66]. Chúng tôi đi thủy lộ chẳng thể theo làm sao kịp.

Tháng mười, ngày mồng bảy, chúng tôi đến Quảng Tây tỉnh thành. Viện lệ, đầu giản[67] xin quan phủ viện[68] họ Hùng tiên hành tư đầu báo, thả hành bài quan Tả Giang đạo chuẩn cấp phu mã cho tiền lộ dự hồi[69] báo tin.

Ngày mồng chín, quan phủ Quế Lâm xuống khám thuyền.

Ngày mười một, quan phủ viện tống tư văn cho.

Kì trước, chúng tôi tiến quan[70] với vào chí kiến[71] quan Nam Ninh, thì nó cũng chiếu cựu lệ[72], nó xướng rằng "Di quan kiến"[73]. Kì này chúng tôi cũng có đầu văn nơi quan phủ viện đạo đạt tình diêu xin hành văn đạo, phủ, hễ nghi chú văn thư, đình di quan tự[74]. Tối hôm ấy, quan Bố chính họ Diệp truyền hai quan bạn tống với thông sự[75] lên công đường, trước hỏi "Ủy vấn Cống sứ nhất lộ tân khổ ?"[76]. Sau lấy trình văn bảo rằng "Nghiện cá thậm hảo, thuyết đắc hoạt lí. Đạn cổ ngữ văn : Thuấn sinh ư Gia Phùng, đông di chi nhân dã ; Văn vương sinh ư Kì Chu, tây di chi nhân dã. Di tự nguyên phi khinh mạn Quí quốc. Kim Sứ thần dĩ thử vi ngôn, dĩ mông phủ đài chuẩn doãn, hành nhất giác công văn, truyền Tả Giang đạo cập các phủ, tự hậu đình hô di tự, xưng An Nam quốc sứ. Sứ khả hồi khải Quốc vương tri đạo"[77].

Ngày mười hai, chúng tôi lên tạ, thả từ hành[78]. Lại hỏi đường quan đầu công văn ấy[79]. Nó bảo rằng "Quan Bố chính chuyển tường[80] quan phủ viện truyền báo sang quan Tổng đốc Quảng Đông, mấy hạ hành văn di tự kim chước chữ di quan[81].

Tháng chạp, ngày mồng mười đến Nam Ninh. Ngày mười ba, chúng tôi cho thông sự Nguyễn Đình Ngạn, trung thư Đào Đang Dự mấy hai tùy nhân gẵng[82] về tiền lệ đệ khải với tư văn quan phủ viện về triều. Bằng[83] công văn quan Lễ bộ, lệ thẩm[84] thì sao ra đệ về. Song chúng tôi nghĩ rằng tiết này quan sách phong đã sang trước, chúng tôi chẳng dám để hoãn, vậy nhất thể đệ về triều.

Ngày mười lăm, chúng tôi khai thuyền tiến hành. Phỏng bản nguyệt hạ tuần[85] về đến Nam Quan.

Vả tiết này, chúng tôi trộm xem quan Trung Quốc có lòng kính trọng bản quốc, dĩ cập kì sứ[86]. Từ ngày chúng tôi tiến Kinh, Hồ Nam, Hồ Bắc, An Huy, Giang Nam, Sơn Đông, ngũ tỉnh[87] ấy, quan Tổng đốc, Tuần phủ đều đặc ủy thuộc liêu, quan viên hộ tống. Khi khởi lục, thì duyên đồ châu huyện bôn tẩu cung ứng, trương mạc kết thể[88]. Khi vào triều hạ thì quan Nội các, Lục bộ đại thần đều tựu vấn, hữu lời tưởng lao[89]. Mấy như cống sứ Cao Li[90], cống sinh nước Lưu Cầu[91], gặp chúng tôi cũng hỏi han thư từ vãng phục[92]. Kẻ thì rằng lập chí trung hậu, kẻ thì rằng văn vật chi thịnh. Chúng tôi đều tùy sự đối đáp. Chuyên đối[93] là sứ thần chức phận, chúng tôi chẳng dám gửi lai lịch phiền độc[94].

Chúng tôi bồi thần tam viên, với hành nhân cửu danh, tùy nhân thập tam danh[95] muôn nhờ hồng phúc đều được bình ninh. Như môn tử[96] chúng tôi cũng có đem sang, cũng đều được mạnh khỏe cả.

Chúng tôi gửi dộng lạy bề trên muôn muôn năm.

Tư cẩn khải.

   




Chú thích

  1. Chúng tôi kính thưa
  2. 1760
  3. Thủ phủ tỉnh Quảng Tây, nay là Quế Lâm
  4. Chi lưu của sông Trường Giang, chảy qua tỉnh Hồ Nam
  5. Nay là thành phố Trường Sa thuộc tỉnh Hồ Nam
  6. Nay thuộc thành phố Vũ Hán tỉnh Hồ Bắc
  7. Nay là thành phố Nam Kinh thủ phủ tỉnh Giang Tô, là một thành phố lớn trong lịch sử và văn hóa Trung Hoa. Sứ bộ Việt Nam sang Trung Quốc thường đi qua đây, đầu đời Minh thì là thủ đô của Trung Quốc. Đời Hậu Lê sơ, Đỗ Cận đi sứ, có làm bài Kim Lăng ký để ghi lại phong cảnh Nam Kinh (Nam Kinh khi đó gọi là Kim Lăng).
  8. Mùa đông
  9. Qua sông Trường Giang
  10. Qua sông Hoàng Hà
  11. Cửa quan Đài Nhi ở huyện Dịch tỉnh Sơn Đông
  12. Cửa sông giá đóng, cống đường thủy tiến Kinh bị tắc nghẽn
  13. Cấp cho phu gánh, xe, ngựa
  14. Bắt đầu đi đường bộ
  15. Sót chữ, không rõ họ
  16. Ra ngoài thành ba mươi dặm đón tiếp
  17. Lấy
  18. Ngày ấy
  19. Phòng trú bày biện chỉnh tề, sạch sẽ
  20. Chào hỏi đi đường khó nhọc ra sao
  21. Kê khai họ tên, quan chức các bồi thần, đưa lên bộ Lễ chuyển tấu
  22. Áo hồng
  23. Đổi mặc áo xanh để tâu việc cáo ai
  24. Cuộc đi sứ năm 1761 này có hai nhiệm vụ : vừa làm lễ tuế cống sản vật cho nhà Thanh vừa cáo tang vua Lê Ý Tông và cầu phong cho vua Lê Hiển Tông
  25. Tang quốc vương trước đã quá một năm rồi, thì bất tất phải thay áo. Nên cứ mặc đại hồng bào luôn tiện mà dâng biểu cáo ai
  26. Như điều trộm được ơn Trời đã định ban phong, thì muốn nhờ ngài vì chúng tôi tâu lên xin để xe Thiên sứ hãy khoan khoan, đến tiết giữa thu, nhằm giờ tốt mới lên đường. Và nhân đó cho cống sứ chúng tôi về trước báo tin để sửa soạn nghinh tiếp. Như thế cho thỏa lòng cung thuận.
  27. Định chọn ngày rằm đặc biệt cho làm lễ triều kiến
  28. Tới sở Hồng Lô tự tập làm lễ
  29. Khoảng từ 1h đến 3h sáng
  30. Vào sân điện Thái Hòa, theo ban thứ chức tước mình có mà đứng làm lễ lạy
  31. Lời chúa Trịnh dặn
  32. Mấy : với
  33. Tức Khổng Tử
  34. Điều đẹp của nhà nho
  35. Đợi năm sau
  36. Ngày cuối năm
  37. Vua cho chúng tôi bánh rượu hoa quả
  38. 1761
  39. Ngày đầu năm
  40. Lễ chúc năm mới lên nhà vua
  41. Cỗ bàn ba mâm
  42. Bày vẽ cách làm lễ
  43. Điển lễ chế độ thế nào
  44. Tờ trình riêng
  45. Vua chọn
  46. Mùa thu khởi hành
  47. Cửa chính vào Hoàng thành Bắc Kinh
  48. Nhận vua ban thưởng cho các tấm lụa màu và đoạn
  49. Ban tiệc ở công đường bộ Lễ
  50. Khoảng từ 3h đến 5h chiều
  51. Vua ban cỗ bàn mười hai mâm
  52. Cống hàng năm, phong tước cho vua Lê avf chia buồn về việc tang
  53. Hộp
  54. Vâng ý vua Thanh cho về nước
  55. Thượng tuần tháng hai
  56. Viện quan được vua Thanh sai đi tiễn kèm Cống sứ
  57. Lên đường
  58. Với : với cả
  59. Người phụ trách thuyền
  60. Hàng riêng
  61. Đâu đâu cũng thích dừng lại
  62. Nhiều lần
  63. Chiều lòng một mực trậm chễ
  64. Viện quan được vua Thanh sai đi phong tước cho vua Lê
  65. Lên đường bộ dời khỏi Bắc Kinh
  66. Nghĩa là các quan Khâm sai sách phong của nhà Thanh ngày hai mươi sáu tháng tám đã đến Hán Khẩu, ngày hai mươi bảy đi Quảng Tây luôn
  67. Nộp thư
  68. Tuần phủ, Thủ hiến tỉnh
  69. Gửi tờ tư về nước báo tin sự Cống sứ đã về đến đó trước khi sứ khởi hồi, và gửi tờ sai quan coi đạo Tả Giang vâng cấp phu và ngựa cho những viên quan tiền lộ của sứ bộ sẵn sàng về nước báo tin
  70. Qua cửa Nam Quan
  71. Chào
  72. Lệ cũ
  73. Quan mọi chào
  74. Kể rõ thắc mắc, xin gửi tờ sức cho các đạo, các phủ, bảo phàm trong nghi lễ, văn thư, sẽ thôi dùng chữ di quan, nghĩa là quan mọi
  75. Người phiên dịch
  76. Hỏi thăm hỏi các Cống sứ, dọc đường khó nhọc không
  77. Văn này rất hay, nói rất là diệu. Nhưng lời xưa đã nói : vua Thuấn sinh ở đất Gia phùng, là người mọi phía đông ; vua Văn vương sinh ở đất Kì Chu, là người mọi phía tây. Dùng chữ di vốn không phải để khinh nhờn Quí quốc. Nay sứ thần đã đem sự này bày tỏ nên lời thì đã được nhờ ơn quan Tuần phủ bằng lòng nghe. Đã gửi một ống công văn truyền cho đạo Tả giang và các phủ, dặn từ rày về sau đừng hô chữ di nữa, và gọi là Cống sứ nước An Nam. Sứ có thể về nước thưa với Quốc vương được rõ
  78. Và từ giã để ra về
  79. Đã gửi công văn hứa trên chưa ?
  80. Bảo rõ rằng
  81. Ban hành đi các nơi tờ văn bảo từ rày bỏ chữ quan rợ
  82. Gẵng : hẵng
  83. Bằng : còn như
  84. Đáng theo lệ
  85. Hạ tuần tháng này, tức tháng chạp năm Tân Tỵ (1761)
  86. Vì trọng cả sứ giả
  87. Năm tỉnh
  88. Khi lên bộ thì dọc đường các quan châu huyện chạy cung cấp đồ ăn đồ dùng, trương màn kết vải màu để đón rước
  89. Tới hỏi thăm, có lời khen và úy lạo
  90. Sứ bộ Triều Tiên lúc ấy do Hồng Khải Hy dẫn đầu cũng sang nước Thanh, có qua lại giao tiếp với sứ bộ An Nam
  91. Nay là quần đảo Nansei thuộc Nhật Bản, bị Nhật thôn tính năm 1879
  92. Qua lại
  93. Tùy hỏi mà đáp
  94. Kể rõ cho nhàm tai chúa
  95. Ba sứ thần, chín hành nhân, mười ba tùy nhân
  96. Con em

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1925, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.