Bước tới nội dung

Tục-ca-lệ/Hồi thứ nhứt/Kịch thứ II

Văn thư lưu trữ mở Wikisource

KỊCH THỨ II
Nam-tước phu-nhân, Ma-ri-na, Phòng-tinh

Ph. (Nói với Nam-tước phu-nhân). — Bẩm lạy bà, ông con sai đến kính thăm bà, và chúc bà mạnh-giỏi.

N (Ra dạng lạnh-lùng). — Ừ được, về nói với ông tao cám ơn.

Ph. (Nói với Ma-ri-na). — Tôi xin chào cô Ma-ri-na ạ.

M. (Làm bộ khủng-khỉnh). — Chẳng dám.

Ph. (Đưa một phong thư cho phu-nhân). — Bẩm bà, ông con sai con đem sang đưa bà một phong thư, có chuyện chi cần-kíp lắm.

M. (Nói thầm với chủ) — Bà đừng cầm.

N. (Cứ cầm lấy). — Mày cứ để tao nhận lấy, bóc thư xem phỏng có thiệt gì.

M. (Nói thầm với chủ). — Trời ơi, cái thóc-mách dại thay!

N. (Đọc thư). — « Mình ơi, có một vị bá-tước phu-nhân vừa gửi cho tôi cái tượng-hình này. Tôi lại xin gửi cho mình để xem xong vứt vào sọt rác. Vậy là tôi thì bỏ mọi người cho một mình mình, nhưng nói để mình biết mà thôi, chứ kể thì không dám kể. Tôi lúc nào cũng mê-mệt vì mình, còn có thì giờ đâu nữa mà thất-tiết với mình. Thôi, nói ít tình nhiều, mình tha lỗi cho tôi bức thư ngắn-ngủi. Số là tôi đương gặp buổi khó-khăn, lòng còn bối-rối. Tôi vừa canh đen, thua nhẵn cả tiền rồi. Còn nữa đã có thằng Phòng-tinh thay lời tôi nói để mình hay. »

M. (Nói to với Phòng-tinh). — Tiền đã thua hết, lại còn gì nữa.

Ph. (Nói với M.). — Còn nữa là nghĩa thể này: Hôm qua bà cho ông tôi vay hai trăm bích-tôn, với ông tôi trong túi cũng có ít tiền nữa, thì đà thua ráo. Ông tôi lại thua chịch mất một nghìn đồng ê-cưu nữa. Đó là chỗ còn nữa. Ông tôi là người hay chữ, đã hạ bút viết, tất là có nghĩa, chứ không bao giờ thừa chữ nào cả. Nhứt tự bất khả tăng. Nhứt tự bất khả giảm.

N. (Hỏi Phòng-tinh). — Vậy cái hình đâu?

Ph. (Đưa cái hình ra). — Thưa bà, đây.

N. — Sao xưa nay tao không nghe ông mày nói chuyện với tao về vị bá-tước này bao giờ cả?

Ph. — Bẩm bà, người ấy ông tôi không có ý gì mà chim được, cho nên ông tôi cũng không tưởng đến mà nói với bà. Số là hôm nọ thầy trò vào sòng đánh bạc, mà gặp phu-nhân, quen nhau từ đó.

M — Thế thì bá-tước ấy là một vị bá-tước Sòng-bạc đó.

Ph. — Phu-nhân đến gạ ông con. Ông con nhân khi vui tính cũng đùa mà đáp lại đôi lời. Phu-nhân tưởng là thật, từ đó đem lòng dan-díu. Sáng hôm nay gửi hình lại cho ông con Thầy trò không ai biết tên cả.

M. — Tôi đánh cuộc rằng bá-tước phu-nhân ấy là một mụ người đất Nô-môn nào đó. Ý chừng cả họ góp nhau tiền lại để cho mụ ra ở Ba-lê, mượn màu son phấn mà đánh lừa con đen. Có chút lưng vốn, thỉnh thoảng vào sòng may ra dậy hóa, mà chẳng may ra thì gạ-gẫm mấy nhà bạc đỏ, theo đóm ăn tàn.

Ph. — Điều ấy thực hư thế nào, ông tớ không biết mà tớ cũng không hay.

M. — Thầy tớ nhà anh lại còn kém-cạnh gì mà chẳng biết. Nào phải là những tay khờ-dại mà bỏ miếng ngon.

Ph. (Nói với Nam-tước). — Thưa bà, đêm qua con đã tưởng là đêm sau cùng của vũ-sĩ. Ông con về đến nhà, ngồi đánh phịch xuống ghế, mắng đất chửi trời. Kể những nước bạc đen lạ-lùng, đen cay-đắng. Bạc thua một nước. Bên chín bên mười; ông con cứ thế mà phàn-nàn cả đêm, nói dơ, văng tục. Con tưởng chuyến này dễ ông con tự-tử.

N. (Nhìn cái hình mà nói). — Vậy thế con đã nom thấy mặt người này chưa? Chân tướng đẹp hơn trong ảnh chứ?

Ph. — Thưa bà, không. Hình vẽ hơi tôn nét mặt. Ở ngoài đâu được thế này. Bà coi ngay như đây, hình-dạng đã không đều khoảng. Nhưng được một vẻ mặn-mà... Con thấy ông con cuồng dại lên như thế, thì con cũng đà hết sức khuyên can. Sau con lại nghĩ, phàm nhà đánh bạc thua, kêu trời to tiếng hình như cũng đỡ cơn đau tiếc của. Nên chi con để vậy cho ông con chửi bậy, cho nó giải phiền.

N. (Vẫn nhìn cái hình). — Người này chừng bao nhiêu tuổi?

Ph. — Con không được biết chắc lắm. Vì người này nước da đẹp quá, nhìn hình-dung mà đoán tuổi, có lẽ lầm đến vài mươi.

M. — Thế thì tuổi mụ năm mươi là ít.

Ph. — Con cũng đồ ngần ấy, bởi vì nhìn mặt mà ước, chừng chỉ độ ba mươi — Thưa bà, ông con làm ầm lên như thế một hồi lâu, rồi nghĩ một lát, nghĩ chán lại đâm khùng, rồi thét con lấy súng.

N. — Thét lấy súng! ông mày thét lấy súng!

M. — Xin bà chớ lo. Ông ấy không tự-tử đâu, bà ạ. Ông ấy không tự-tử.

Ph. — Thưa bà, ông con thét lấy súng. Con không đưa súng thì ông con lại tuốt gươm ra.

N. — Trời đất ơi! Thế ông mày phải thương à!

M. — Thưa bà không, bà không sợ. Đã có anh Phòng-tinh này, anh ấy ngăn đi, chứ ai để cho ông tự hại, mà bà lo sợ.

Ph. — Có thế. Con vội-vàng ôm ngay lấy ông con, con vừa kêu vừa khóc, con vừa can rằng: « Ông ơi ông, ông làm chi thế? Ông làm như vậy, chẳng ra quá giới-hạn cái đau thua bạc ư ông? Ví dù tại một canh đen, mà đến nỗi ông không thiết gì tính-mệnh đi nữa, thì ông cũng còn phải vì ai sống lại ở đời kia chứ. Sao ông nỡ để Nam-tước phu-nhân tôi phải nỗi thảm-sầu thương-tiếc, a ông? Từ trước đến nay, kể đã mấy phen phu-nhân cứu-giúp ông rồi. Con nói thế, rồi con lại tự-tiện nói thêm một câu đặt-để, gọi là để nguôi cơn giận ông con: Ông ơi, mà phu-nhân đã giúp ông được bấy nhiêu lần, chắc hẳn lần này phu-nhân cũng giúp...

M. (Nói nhỏ). — Thầy tớ nhà mày điêu thật!

Ph. — Con lại bảo ông con rằng: Vả chăng canh vừa rồi ông thua bất quá nghìn đồng. Tục công lưng to cật khỏe, thêm vác nặng cỏn con ấy nữa, tưởng cũng chưa sao.

N. — Con nói thế thì ông con bảo thế nào?

Ph. — Thưa bà. Nghĩ thế mới biết cái oai của sự hi-vọng là to thật! Con vừa nói thế, thì ông con để yên cho con giằng lấy gươm như bỡn. Rồi ông con đi nằm. Nằm được một lát thì ngủ say.

M. — Tội-nghiệp cho vũ-sĩ nhỉ?

Ph. — Nhưng đến sáng nay, ông con ngủ đẫy giấc trở dậy, thì lại nhớ nỗi buồn. Con đã đem cái hình bá-tước phu-nhân này mà giơ ra trước mắt, mà cũng không thấy ông con hết muộn. Ông con bèn sai ngay con lại đây, trình bà để xem thế nào, ông con đương chờ con về mà liệu thân đó. Vậy thế thưa bà bây giờ con về, con bẩm ông con làm sao đây?

N. — Con về con nói ông cứ tin-cậy ở tao. Tiền mặt dầu tao không có sẵn... (Vừa nói vừa rút nhẫn kim-cương).

M. — Kìa bà, sao bà dễ tin người như vậy?

N. (Lại đeo nhẫn vào). — Con về con nói bà thấy ông thua, bà cũng cảm tình thương hại, nghe không?

M. (Nói với Ph.). — Anh nói giúp cả tôi cũng giận hộ cho ông, nhé.

Ph. — Nếu vậy thì ông con phẫn chí không biết thế nào mà nói được. (Lẩm-bẩm một mình): Tiên-nhân nhà con ranh này!

N. — Con về, con nói bà cũng chia buồn một nỗi.

M. — Anh ơi, tôi cũng vì ông mà đau lắm.

Ph. (Nói với Nam-tước). — Nếu vậy, từ nay thôi đã thôi rồi. Không bao giờ bà còn thấy mặt ông con nữa. Ông con là người khí-khái, nợ kia chẳng trả, thân này ắt phải lánh xa. Con xin về nói lại với ông con, đặng lát nữa thuê xe trạm mà đi cho thoát.

N. (Nói với con ở). — Đi xe trạm đó.

M. (Nói với chủ). — Thưa bà, không lo, tiền đà thua ráo, lấy chi trả tiền xe trạm.

Ph. — Thôi, con lạy bà, ông con và con xin vĩnh-biệt bà từ đây.

N. (Lại rút nhẫn) — Thong-thả con.

M (Nói với Ph.). — Thôi, anh cứ về, bẩm lại ông như thế, mau.

N. — (Nói với con ở). — Con ơi, bà không nỡ quyết lòng bỏ được vũ-sĩ. (Rút nhẫn ra cho thằng Ph.). Đây, con cầm hạt ngọc này về. Giá nó đáng năm trăm bích-tôn đấy, con ạ Tục công vừa mới cho bà. Con khá đi cầm đâu tức-khắc, lấy tiền về trang-trải cho ông, kẻo để vậy ông mày cực quá, nghe!

Ph. — Lạy bà, con nhờ lượng bà mà phen này về cải-tử hoàn-sinh được cho ông con đây. Ma-ri-na ơi, rồi tao cũng bẩm hộ cho mày để ông tao biết rằng mày thương ông quá. (Đi ra).

M. — Thật là hai thầy trò thằng bợm, khéo ở với nhau lắm nhỉ!