Bước tới nội dung

Tục tư trị thông giám/Quyển 1

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tục Tư trị thông giám, quyển 1 của Tất Nguyên, do Cơ Như Tuyết dịch
Tống kỷ 1

Bắt đầu từ tháng Giêng đến hết tháng Chạp, năm Kiến Long nguyên niên (960), cộng 1 năm

Thái Tổ Khải Vận Lập Cực Anh Vũ Duệ Văn Thần Đức Thánh Công Chí Minh Đại Hiếu Hoàng đế, húy là Khuông Dận, họ Triệu, người quận Trác. Cao tổ là Thiểu, làm Hữu Đô lệnh nhà Đường; tằng tổ là Thỉnh, làm Ngự sử trung thừa nhà Đường; ông nội là Triệu Kính làm Thứ sử Trác châu; cha là Triệu Hoằng Ân, làm Kiểm hiệu Tư đồ nhà Chu, Thiên Thủy huyện nam, được truy tặng Thái úy; mẹ là Đỗ thị. Năm Thiên Thành thứ 2 đời Hậu Đường, Hoàng đế chào đời sinh ở Giáp Mã doanh Lạc Dương, ánh đỏ chiếu quanh phòng, mùi hương lạ suốt cả tháng không tan. Khi lớn lên, dung mạo hùng vĩ, khí độ khoáng đạt, người tinh tường đều biết là bậc phi thường. Phò tá Chu Thế Tông, nhiều lần thăng chức đến chức Điện tiền đô điểm kiểm. Khi Cung Đế lên ngôi, đổi làm Tiết độ sứ Tống châu, tiến phong Khai quốc hầu, vẫn giữ chức cũ là Đô điểm kiểm.

Năm Kiến Long thứ 1 (Liêu, Ứng Lịch năm thứ 10), Công nguyên năm 960

[sửa]

Mùa xuân, tháng giêng, ngày Ất Tỵ, Triệu Khuông Dận – Tiết độ sứ Quy Đức quân, Kiểm hiệu Thái úy, Điện tiền đô điểm kiểm của nhà Chu, xưng đế.

Trước đó, ngày Tân Sửu mồng 1 tháng giêng, quần thần nhà Chu đang chầu mừng Nguyên đán, thì hai châu Trấn, Định phi ngựa dâng tấu, báo quân Liêu kéo xuống phía nam, hợp binh với Bắc Hán. Chu Đế lệnh cho Khuông Dận suất các tướng cấm vệ đi chống giữ. Khuông Dận nắm quân chính đã 6 năm, được lòng binh sĩ, nhiều lần theo Thế Tông chinh phạt, nhiều lần lập công trạng, được lòng người trông cậy. Đến lúc ấy, vua còn nhỏ, triều đình nghi ngờ, tướng sĩ ngầm mưu tôn lập.

Ngày Nhâm Dần, Phó Điện tiền điểm kiểm, Tiết độ sứ Trấn Ninh quân là Mộ Dung Diên Chiêu ở Thái Nguyên đem tiền quân đi trước; ngày Quý Mão, đại quân tiếp sau. Bấy giờ trong kinh sư nhiều lời đồn rằng: "Sẽ tôn Điểm kiểm làm thiên tử." Trong quân có người biết xem sao là Miêu Huấn ở Hà Trung, thấy dưới mặt trời lại có một mặt trời nữa, ánh đen quét động, bèn chỉ cho thuộc lại thân cận của Khuông Dận là Sở Chiêu Phụ mà nói: "Đây là thiên mệnh vậy."

Tối hôm ấy, quân đến trạm Trần Kiều, tướng sĩ cùng nhau mưu rằng:

Chúa thượng còn thơ ấu, bọn ta liều chết phá giặc, ai sẽ biết đến! Chi bằng trước hãy lập Điểm kiểm làm thiên tử, rồi sau sẽ bắc chinh.

Đô áp nha Lý Xử Vân đem việc ấy bẩm với em Khuông Dận là Nội điện chỉ hầu, Cung phụng quan đô tri Triệu Khuông Nghĩa, và với Triệu Phổ – người Kế, Chưởng thư ký Tiết độ Quy Đức. Lời chưa dứt, các tướng tuốt gươm xông vào, lớn tiếng nói :Trong quân đã định nghị, muốn tôn Thái úy làm thiên tử.

Khuông Nghĩa bèn khuyên bảo họ rằng

Hưng vương khác họ, tuy nói là thiên mệnh, nhưng thực gắn ở lòng người. Các ngươi đều phải nghiêm chỉnh quân sĩ, không được cho cướp bóc; dân trong đô thành yên lòng, thì bốn phương tự định, các ngươi cũng có thể cùng hưởng phú quý vậy.

Mọi người đều ưng thuận, bèn chia sắp. Đêm sai Quân sử nha đội là Quách Diên Vân phi báo cho Điện tiền đô chỉ huy sứ Thạch Thủ Tín và Điện tiền đô Ngự hầu Vương Thẩm Kỳ; Thủ Tín, Thẩm Kỳ vốn sẵn lòng quy phục Khuông Dận. Tướng sĩ vây quanh xếp hàng đợi sáng. Khuông Dận say ngủ, ban đầu không hay biết.

Ngày Giáp Thìn, trời tờ mờ sáng, các tướng mặc giáp cầm binh, thẳng đến gõ cửa phòng ngủ, nói: "Các tướng không có chủ, nguyện tôn Thái úy làm thiên tử."

Khuông Dận kinh hãi vùng dậy, chưa kịp đáp, đã bị khoác cho áo vàng, mọi người xếp hàng quỳ lạy, hô vạn tuế, dìu lên ngựa đi về phía nam. Khuông Dận liệu không thể tránh được, bèn nắm cương thề với các tướng rằng

Các ngươi tham phú quý, lập ta làm thiên tử, ta có hiệu lệnh, các ngươi có thể vâng theo chăng?

Mọi người xuống ngựa nói: "Xin vâng mệnh." Khuông Dận nói: "Thái hậu, chúa thượng, ta vẫn quay mặt bắc mà thờ; các đại thần trong triều đều là bậc ngang vai với ta. Các ngươi không được kinh động phạm cung khuyết, xâm phạm triều quý và phủ khố. Kẻ nào vâng lệnh sẽ được ban thưởng hậu, kẻ trái lệnh sẽ bị tru di." Mọi người đều đáp: "Vâng." Bèn chỉnh đốn quân ngũ, từ cửa Nhân Hòa mà vào, không phạm đến một mảy may.

Ngày hôm sau, trước sai Khách tỉnh sứ là Phan Mỹ người Đại Danh đến gặp các quan chấp chính để bày tỏ ý mình, lại sai Sở Chiêu Phụ đến an ủi người nhà.

Bấy giờ Tể tướng Phạm Chất người Đại Danh, Vương Phủ người Thái Nguyên, vào triều sớm chưa lui, nghe tin biến, Chất xuống thềm nắm tay Phủ nói: "Vội vã sai tướng, là tội của bọn ta vậy."

Móng tay bấu vào tay Phủ gần chảy máu. Phủ câm lặng không đáp được.

Tiết độ sứ Thiên Bình, Đồng bình chương sự, Phó đô chỉ huy sứ Thị vệ bộ binh kỵ quân là Hàn Thông người Thái Nguyên, từ nội đình hoảng hốt chạy về nhà, định tập hợp quân chúng để phòng bị. Đô chỉ huy sứ các viên là Vương Diễn Thăng người Lạc Dương gặp Thông trên đường, thúc ngựa đuổi theo, phi thẳng vào phủ, giết Thông cùng vợ con ông ta.

Các tướng hộ vệ Khuông Dận lên cửa Minh Đức, Khuông Dận lệnh cho giáp sĩ trở về doanh, mình lui về công quán, cởi áo vàng. Một lát sau, các tướng áp giải Phạm Chất cùng những người khác đến, Khuông Dận nghẹn ngào rơi lệ nói

Ta chịu ơn Thế Tông rất hậu, bị lục quân bức bách, một sớm đến nỗi thế này, hổ thẹn với trời đất, biết làm sao đây?

Chất cùng mọi người chưa kịp đáp, Đô Ngự hầu chỉ huy sứ La Diễn Khoan người Thái Nguyên đặt tay lên kiếm, quát lớn: "Bọn ta không có chủ, hôm nay tất phải có thiên tử!" Chất cùng mọi người nhìn nhau, không biết làm sao; Vương Phủ xuống thềm quỳ lạy trước, Chất bất đắc dĩ cũng lạy.

Bèn thỉnh Khuông Dận đến điện Sùng Nguyên làm lễ thiện nhượng. Triệu văn võ bách quan, đến xế chiều, hàng ngũ đã định, Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Đào Cốc người Tân Bình lấy chiếu thiện nhượng của Chu Đế từ trong tay áo ra; Tuyên huy sứ Tăng Cư Nhuận người Cao Đường dẫn Khuông Dận đến bậc rồng, quay mặt bắc quỳ nhận. Tể tướng dìu lên điện Sùng Nguyên, mặc áo cổn miện, lên ngôi Hoàng đế. Quần thần bái hạ chúc mừng. Tôn Chu Đế làm Trịnh vương, Phù Thái hậu làm Chu Thái hậu, dời sang ở Tây cung.

Ra chiếu định quốc hiệu là Tống, theo tên châu Tống nơi đang lĩnh tiết độ. Đổi niên hiệu, đại xá. Trong ngoài sĩ tốt bộ binh kỵ binh đều được ưu cấp theo thứ bậc, sai quan chia nhau cáo với trời đất, xã tắc. Sai Trung sứ cưỡi trạm mang chiếu dụ thiên hạ; các Tiết độ sứ chư đạo, lại ban chiếu riêng. Ẩn sĩ Hoa Sơn là Trần Đoàn nghe tin Đế thay nhà Chu, nói: "Thiên hạ từ đây yên định vậy!"

Kinh Biện dựa vào vận lương đường sông, sông ngòi là việc cấp bách nhất. Trước đây mỗi năm điều phu đinh khai vét chỗ bùn cạn, lương khô đều do dân tự lo; ngày Đinh Mùi, ra chiếu đều do quan cấp, rồi ghi thành luật. Lại vì Hà Bắc được mùa liên tiếp, thóc rẻ, bèn lệnh nâng giá lên để mua vào.

Ngày Mậu Thân, truy tặng Hàn Thông nhà Chu làm Trung thư lệnh, cho an táng theo lễ. Lúc đầu, Thông cùng Hoàng đế cùng nắm giữ cấm vệ, việc quân chính phần nhiều do Thông quyết. Thông tính cương mà ít mưu, lời nói hay trái ý người, người ta gọi là "Hàn Trừng Mục". Con y khá có chí lược, thấy Đế được lòng người, khuyên Thông sớm liệu đường, Thông không nghe, rốt cuộc gặp nạn. Hoàng đế giận Vương Diễn Thăng tự tiện giết người, nhưng vì buổi đầu mở nước, nên nén giận không trị tội.

Ban chiếu cho Nam Đường quốc chúa. Trước đó, Trung thư xá nhân Nam Đường là Hàn Hy Tái người Bắc Hải đi sứ sang Chu, khi về, Nam Đường chúa hỏi kỹ về các tướng soái nhà Chu, Hy Tái nói: "Triệu Điểm kiểm nhìn quanh trông ngó khác thường, khó mà lường được." Đến nay, người ta phục cái nhìn của ông.

Ngày Tân Hợi, luận công phò tá tôn lập, lấy Thạch Thủ Tín – Tiết độ sứ Nghĩa Thành nhà Chu, Điện tiền đô chỉ huy sứ – làm Tiết độ sứ Quy Đức, Phó đô chỉ huy sứ Thị vệ bộ binh kỵ quân; lấy Cao Hoài Đức người Thường Sơn – Tiết độ sứ Ninh Giang, Đô chỉ huy sứ bộ binh kỵ quân – làm Tiết độ sứ Nghĩa Thành, Điện tiền phó đô điểm kiểm; lấy Trương Lệnh Đạc người Diễm Thứ – Tiết độ sứ Vũ Tín, Đô chỉ huy sứ bộ binh – làm Tiết độ sứ Trấn An, Đô Ngự hầu bộ binh kỵ quân; lấy Vương Thẩm Kỳ – Điện tiền đô Ngự hầu, Phòng ngự sứ Mục châu – làm Tiết độ sứ Thái Ninh, Điện tiền đô chỉ huy sứ; lấy Trương Quang Hán người Liêu – Đô chỉ huy sứ Tả doanh Hổ Tiệp, Phòng ngự sứ Gia châu – làm Tiết độ sứ Ninh Giang, Đô chỉ huy sứ kỵ quân; lấy Triệu Diễn Huy người An Hỉ – Đô chỉ huy sứ Hữu doanh Hổ Tiệp, Phòng ngự sứ Nhạc châu – làm Tiết độ sứ Vũ Tín, Đô chỉ huy sứ bộ binh; những người còn lại lĩnh quân đều được tiến tước.

Ngày Quý Sửu, cho 34 tướng hàng Giang Nam thời Hiển Đức nhà Chu như Chu Thành... được về Nam Đường.

Ngày Ất Mão, sai sứ chia đi cứu tế các châu.

Ngày Đinh Tỵ, lệnh cho Quách Kỷ – Thiếu khanh Tông chính nhà Chu – tế miếu nhà Chu và hai lăng Tung, Khánh, rồi ghi thành luật, định kỳ triều bái. Trước đó, Hàn Lệnh Khôn – Đô Ngự hầu Thị vệ bộ binh kỵ quân nhà Chu, người Vũ An – lĩnh binh tuần tra Bắc biên; Mộ Dung Diên Chiêu lại suất tiền quân đến Chân Định. Đế đã tự lập, sai sứ dụ Diên Chiêu, Lệnh Khôn mỗi người tùy tiện xử trí, cả hai đều nghe lệnh. Ngày Kỷ Mùi, gia cho Diên Chiêu chức Điện tiền đô điểm kiểm, Tiết độ sứ Chiêu Hóa quân, Đồng trung thư môn hạ nhị phẩm; Lệnh Khôn làm Đô chỉ huy sứ Thị vệ bộ binh kỵ quân, Tiết độ sứ Thiên Bình, Đồng bình chương sự.

Tể tướng dâng biểu xin lấy ngày 16 tháng 2 làm Trường Xuân tiết, là ngày sinh của Đế.

Ngày Nhâm Tuất, lấy Triệu Phổ làm Hữu gián nghị đại phu, Trực học sĩ Khu mật viện. Lúc đầu, khi Đế lĩnh trấn Tống, Phổ làm Thư ký, cùng với Tiết độ phán quan Lưu Hy Cổ người Ninh Lăng, Quan sát phán quan Lữ Dư Khánh người An Thứ, Quyền Thôi quan Thẩm Nghi Luân người Thái Khang đều ở trong mạc phủ. Đến nay, Phổ nhờ công giúp lập mà thăng chức, bèn triệu Hy Cổ làm Tả gián nghị đại phu, Dư Khánh làm Cấp sự trung, Học sĩ điện Đoan Minh, Nghi Luân làm Hộ bộ lang trung.

Ngày Quý Hợi, lấy Phù Diên Thao người Uyển Khâu – Tiết độ sứ Thiên Hùng – giữ chức Thái sư; Vương Cảnh người Dịch – Tiết độ sứ Hùng Vũ – giữ chức Thái phó, phong Thái Nguyên quận vương; Lý Di Ân vương Tây Bình – Tiết độ sứ Định Nan – giữ chức Thái úy; Cao Bảo Dung người Kinh Nam – Tiết độ sứ Kinh Nam – giữ chức Thái phó; những người còn lại lĩnh tiết trấn đều được tiến tước.

Ngày Giáp Tý, Hoàng đệ Khuông Nghĩa được gia chức Phòng ngự sứ Mục châu, ban tên là Quang Nghĩa.

Đến thăm Quốc Tử Giám.

Sắp lập tông miếu, ra chiếu cho bách quan hội bàn. Ngày Kỷ Tỵ, Trương Chiêu người Bộc Dương – Thượng thư bộ Binh – cùng những người khác dâng tấu rằng

Nghiêu, Thuấn, Vũ đều lập 5 miếu, là hai Chiêu, hai Mục cùng với thủy tổ. Nhà Thương đổi quốc, bắt đầu lập 6 miếu, là ngoài Chiêu Mục còn thờ Khế và Thang. Nhà Chu lập 7 miếu, là ngoài thân miếu còn thờ Thái Tổ, Văn Vương, Vũ Vương. Đầu đời Hán lập miếu, đều không theo lễ. Ngụy, Tấn mới lại theo chế 7 miếu, Giang Tả nối nhau không đổi; nhưng trong 7 miếu vẫn bỏ trống thất của Thái Tổ. Văn Đế nhà Tùy chỉ lập 4 miếu Cao, Tằng, Tổ, Khảo mà thôi. Đường theo chế Tùy, lập 4 thân miếu, từ nhà Lương trở xuống không đổi phép ấy, đạo khảo cổ như thế là dung hòa. Cúi xin truy tôn 4 đời Cao, Tằng, Tổ, Khảo hiệu thụy, dựng miếu thờ cho tôn sùng.

Chiếu cho theo. Bèn định chế tông miếu, mỗi năm vào 4 tháng đầu mùa và cuối đông, cộng 5 lần hưởng tế; ngày sóc, vọng dâng cỗ, dâng đồ mới. Ba năm một lần hợp tế (hiệp), vào tháng đầu đông; 5 năm một lần đại tế vào tháng đầu hạ. Tất cả đều do Đậu Nghi người Ngư Dương – Thị lang bộ Binh – định ra.

Trấn châu báo tin quân Liêu và Bắc Hán đã rút lui.

Bộ Hộ Bắc Hán, Bình chương sự Triệu Hoa người Huỳnh Dương bị bãi làm Tả bộc xạ.

Nam Đường chúa sai sứ giết Chung Mô ở Nhiêu châu, hỏi tội rằng: "Khanh cùng Tôn Thịnh đồng đi sứ phương bắc, Thịnh chết mà khanh trở về, là cớ làm sao?" Mô dập đầu nhận tội. Bị thắt cổ chết. Lại giết cả Trương Loan ở Tuyên châu. (Mô bị lưu đày Nhiêu châu, Loan bị giáng làm Phó sứ Tuyên châu, là việc tháng 10 năm trước.)

Tháng 2, ngày Ất Hợi, tôn mẹ là Nam Dương quận phu nhân Đỗ thị làm Hoàng Thái hậu. Hậu là người An Hỉ. Biến cố Trần Kiều, Hậu nghe tin nói: "Con ta vốn có chí lớn, nay quả nhiên là thế vậy." Đến khi được tôn làm Hoàng Thái hậu, Hoàng đế lạy trên điện, quần thần chúc mừng, Thái hậu bỗng nhiên không vui. Người hầu tâu rằng: "Thần nghe mẹ nhờ con mà quý, nay con làm thiên tử, sao lại không vui?" Thái hậu nói: "Ta nghe làm vua là khó. Thiên tử đặt thân trên muôn dân, nếu trị được theo đạo, thì ngôi này thật tôn quý; nếu lỡ mất tay cương, muốn làm kẻ áo vải mà không được, đó là điều ta lo vậy." Hoàng đế lạy hai lần nói: "Cẩn thụ giáo huấn."

Gia quan cho Tể tướng Phạm Chất, Vương Phủ, Ngụy Nhân Phổ và những người khác. Nhân Phổ là người Cấp quận. Đế đãi ba Tể tướng nhà Chu đều rất hậu: Chất từ chức Tư đồ, Bình chương sự, Đại học sĩ Quang Văn quán, Tham tri Khu mật viện sự, được gia chức Thị trung; Phủ từ chức Hữu bộc xạ, Bình chương sự, Giám tu Quốc sử, Tham tri Khu mật viện sự, được gia chức Tư không; Nhân Phổ từ chức Khu mật sứ, Trung thư thị lang, Bình chương sự, Đại học sĩ điện Tập Hiền, được gia chức Hữu bộc xạ. Từ đời Đường trở đi, ba chức ở ba đại quán đều do Tể tướng kiêm: Thủ tướng kiêm Quang Văn, kế đó là Giám tu, sau nữa là Tập Hiền, nhà Tống theo đó. Chất, Phủ chẳng bao lâu đều bị bãi chức Tham tri Khu mật. Lại lệnh cho Khu mật sứ Ngô Đình Tộ người Thái Nguyên vẫn được gia chức Đồng trung thư môn hạ nhị phẩm.

Quy định cũ, phàm việc đại chính, tất phải lệnh Tể thần ngồi bàn, thường thong thả ban trà rồi mới lui. Đời Đường và Ngũ Đại vẫn theo chế ấy. Đến khi Chất cùng những người khác làm Tể tướng, tự cho là cựu thần nhà Chu, trong lòng giữ hình tích, lại e Đế anh tuấn sáng suốt, bèn xin mỗi việc đều viết tấu trát dâng lên để lấy ý chỉ, Đế theo. Từ đó lễ ngồi bàn luận việc bị bỏ.

Ngày Kỷ Mão, lấy Ngô Việt quốc vương Tiền Thục, Đô nguyên soái binh mã thiên hạ – làm Đại nguyên soái binh mã thiên hạ. Chữ đứng trước tên Thục phạm húy nhà Tống, nên bỏ đi.

Ngày Bính Tuất là Trường Xuân tiết, ban cho quần thần mỗi người một bộ áo. Tể tướng dẫn bách quan dâng thọ, ban yến ở chùa Tướng Quốc.

Trung thư xá nhân Hỗ Mông người An Thứ quyền tri cống cử, ngày Canh Dần, dâng 19 người đỗ tiến sĩ, đứng đầu là Dương Lệ người Kinh Triệu. Từ đó mỗi năm lấy làm lệ thường.

Ngày Tân Mão, đại yến ở điện Quảng Đức. Phàm sau ngày sinh chọn ngày đại yến, bắt đầu từ đây.

Tháng 3, ngày Ất Tỵ, đổi tên các quận huyện trong thiên hạ phạm húy ngự danh, miếu húy.

Ngày Bính Thìn, Nam Đường chúa sai sứ đến chúc mừng lên ngôi.

Hoạn quan Trần Diên Thọ tâu với Nam Hán chúa rằng

Bệ hạ sở dĩ được lập, là do tiên đế giết sạch các em trai vậy.

Nam Hán chúa cho là phải, ngày Đinh Tỵ, giết em là Quế vương Toàn Hưng.

Tiền Thục sai sứ đến chúc mừng lên ngôi. Nam Đường chúa lại sai sứ đến chúc mừng Trường Xuân tiết.

Tống châu bị cháy, thiêu hơn vạn nóc nhà dân, sai Trung sứ đến an phủ.

Ngày Nhâm Tuất, truy tôn tổ khảo làm Hoàng đế, tôn tỉ làm Hoàng hậu. Thụy cho Cao tổ Thiểu là Văn Hiến, miếu hiệu Hy Tổ, lăng gọi là Khâm lăng; tỉ là Thôi thị, thụy Văn Ý. Thụy cho Tằng tổ Thỉnh là Huệ Nguyên, miếu hiệu Thuận Tổ, lăng gọi là Khang lăng; tỉ là Tang thị, thụy Huệ Minh. Thụy cho Hoàng tổ Kính là Tuyên Cung, miếu hiệu Dực Tổ, lăng gọi là Định lăng; tỉ là Lưu thị, thụy Tuyên Mục. Thụy cho Hoàng khảo Hoằng Ân là Chiêu Vũ, miếu hiệu Tuyên Tổ, lăng gọi là An lăng.

Định vận nước nhận mệnh nhà Chu là mộc đức, nên lấy hỏa đức mà làm vương, màu chuộng sắc đỏ, tiết Lạp dùng ngày Tuất.

Ngày Quý Hợi, lệnh cho Tống Diên Ác người Lạc Dương – Tiết độ sứ Vũ Thắng – lĩnh thủy quân tuần phủ vùng sông giới Giang, Tuyên châu Đoàn luyện sứ Tư Siêu người Nguyên Thành làm phó, lại gửi thư cho Nam Đường chúa để tỏ ý.

Ngày Kỷ Tỵ, lấy Hoàng đệ Quang Mỹ làm Phòng ngự sứ Gia châu.

Trước đó, Bắc Hán dụ các bộ tộc Đại Bắc xâm lược Hà Tây, ra chiếu cho các trấn hội binh chống giữ. Tháng này, Tiết độ sứ Định Nan là Lý Di Hưng tâu rằng đã sai Đô tướng Lý Di Ngọc tiến quân cứu viện Lân châu, Bắc Hán bèn rút quân. Di Hưng tức là Di Ân, vì tránh húy Tuyên Tổ nên đổi là Hưng.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Quý Dậu, Đậu Nghiêm – kiêm Phán Thái thường tự – xin đổi nhạc nhà Chu: văn vũ "Sùng Đức chi vũ” thành “Văn Đức chi vũ”, võ vũ "Tượng Thành chi vũ" thành "Vũ Công chi vũ", đổi nhạc chương "Thập nhị Thuận" thành "Thập nhị An", là lấy ý "Âm nhạc đời trị thì an mà vui"; chiếu cho thi hành. Nghiêm là em của Nghi.

Đô chỉ huy sứ tả doanh thiết kỵ là Vương Nghiễn Thăng, ban đêm đến tư dinh của Tể tướng Vương Phổ, Phổ kinh hãi bàng hoàng bước ra. Ngồi yên rồi, Nghiễn Thăng nói: "Tuần tra canh phòng mà quá đỗi mệt nhọc, nên tạm đến chỗ công để say một trận mà thôi." Nhưng ý Nghiễn Thăng là muốn cầu tài vật, Phổ giả vờ không hiểu, bày rượu mấy tuần rồi thôi. Hôm sau, Phổ mật tấu việc ấy, Hoàng đế càng thêm ghét. Ngày Đinh Sửu, giáng Nghiễn Thăng làm Đoàn luyện sứ Đường châu. Đường châu vốn là châu do Thứ sử cai trị, từ đây mới đổi làm Đoàn luyện sứ.

Người Liêu xâm phạm Kế châu, Thứ sử Hà Nam là Hà Kế Quân đuổi đánh, phá tan chúng của chúng ở Cố An, bắt được 400 con ngựa.

Hoàng đế gia phong cho Tiết độ sứ Chiêu Nghĩa, Thái Nguyên là Lý Quân chức Trung thư lệnh. Sứ giả đến Lộ châu, Quân lập tức muốn kháng mệnh. Kẻ hầu cận hết sức can gián, Quân bèn mời sứ giả, bày rượu, trỗi nhạc, rồi liền lấy bức họa chân dung Chu Tổ treo lên vách trong sảnh, khóc không ngớt. Các tân khách, thuộc lại đều kinh hoảng, nói với sứ giả: "Lệnh công say rượu nên thất thường, mong đừng trách." Bắc Hán chúa là Quân nghe chuyện, bèn dùng thư viết bằng sáp để kết giao với Quân, cùng khởi binh. Trưởng tử của Quân là Thủ Tiết khóc mà can ngăn, Quân không nghe.

Hoàng đế thân viết chiếu thư an ủi vỗ về, lại triệu Thủ Tiết làm Hoàng thành sứ. Quân bèn sai Thủ Tiết vào triều dò xét động tĩnh, Hoàng đế đón vào mà bảo

Thái tử, ngươi vì cớ gì mà đến?

Thủ Tiết kinh hãi, dập đầu xuống đất nói :Bệ hạ nói gì vậy? Ắt là có kẻ gièm pha ly gián cha thần rồi. Hoàng đế nói

Ta nghe ngươi nhiều lần can gián, cha ngươi không nghe, rồi sai ngươi đến, hẳn là muốn ta giết ngươi đó thôi. Ngươi về nói với cha ngươi: Ta khi chưa làm Thiên tử, thì tùy ông ta muốn làm gì thì làm; nay ta đã làm Thiên tử, lẽ nào một mình ông ta lại không thể nhường ta một chút sao?

Thủ Tiết phi ngựa về báo với Quân, Quân bèn lệnh cho mạc phủ thảo hịch kể tội Hoàng đế. Ngày Quý Mùi, bắt Giám quân Chu Quang Tốn cùng những người khác, sai Nha tướng Lưu Kế Xung cùng những người khác sang Bắc Hán dâng biểu xin hàng, cầu viện; lại sai quân tập kích châu Trạch, giết Thứ sử Trương Phúc, chiếm giữ thành ấy.

Tòng sự Lư Khâu Trọng Nghi nói với Quân: "Ông đơn quân khởi sự, thế rất nguy hiểm, tuy dựa vào viện binh Hà Đông, e cũng không được sức mấy. Binh giáp Đại Lương tinh nhuệ, khó mà tranh phong. Chi bằng kéo quân xuống phía tây dãy Thái Hành, thẳng đến Hoài, Mạnh, chặn Hổ Lao, chiếm Lạc Ấp, quay mặt về phía đông mà tranh thiên hạ, đó là thượng sách." Quân nói: "Ta là cựu tướng triều Chu, với Thế Tông nghĩa như anh em, quân sĩ cấm vệ đều là người cũ của ta, nghe ta đến, ắt sẽ quay giáo về với ta, lo gì không thành công!" Rồi không dùng kế ấy.

Ngày Bính Tuất, tin biến ở Chiêu Nghĩa báo về. Khu mật sứ Ngô Đình Tộ tâu với Hoàng đế: "Lộ châu núi non hiểm trở, giặc nếu cố thủ, chẳng thể phá được trong một sớm một chiều. Nhưng Lý Quân vốn kiêu căng khinh suất, không có mưu trí gì, nên sớm kéo quân đánh gấp." Ngày Mậu Tý, sai Thạch Thủ Tín, Cao Hoài Đức suất tiền quân tiến đánh. Hoàng đế dụ Thủ Tín cùng những người khác rằng: "Chớ để cho Quân xuống dãy Thái Hành, phải gấp kéo quân chặn nơi hiểm yếu, ắt phá được."

Hoàng đế triệu Tam ty sứ là Trương Mỹ người Thanh Hà điều động binh lương, Mỹ tâu: Thứ sử Hoài châu, Đại Danh là Mã Lệnh Tông, đoán chắc Lý Quân ắt phản, ngày đêm tích trữ để đợi quân vương sư. Hoàng đế lập tức lệnh phong Lệnh Tông làm Đoàn luyện sứ. Tể tướng Phạm Chất nói: Đại quân bắc phạt, trông cậy Lệnh Tông cung ứng, không thể dời sang châu khác.

Bèn thăng Hoài châu làm Đoàn luyện, dùng Lệnh Tông làm Đoàn luyện sứ.

Tháng 5, ngày mồng 1 là ngày Kỷ Hợi, có nhật thực.

Ngày Canh Tý, lệnh Tuyên huy Nam viện sứ Tảm Cư Nhuận đến Phàn châu tuần kiểm; Điện tiền Đô điểm kiểm, Trấn Ninh Tiết độ sứ Mộ Dung Diên Chiêu, Trương Đức quân Lưu hậu Thái nguyên là Vương Toàn Bân, suất quân theo đường phía đông hội với Thạch Thủ Tín, Cao Hoài Đức.

Ngày Tân Sửu, lấy Đoàn luyện sứ Diễm châu là Bác Dã Quách Tiến làm Bản châu Phòng ngự sứ, kiêm Tây Sơn tuần kiểm, để phòng bị Bắc Hán.

Bắc Hán chúa sai Nội viên sứ Lý Tị mang chiếu thư, vàng lụa, ngựa tốt ban cho Lý Quân, Quân lại sai Lưu Kế Xung đến Tấn Dương, xin Bắc Hán chúa đem toàn quân nam tiến, còn mình làm tiền đạo. Bắc Hán chúa sai sứ xin binh nhà Liêu, quân Liêu chưa tập hợp, Kế Xung thuật lại ý Quân, xin đừng dùng quân Khiết Đan. Bắc Hán chúa lập tức duyệt binh lớn, dốc cả nước, tự thân cầm quân xuất phát từ Đoàn Bách Cốc. Quần thần tiễn ở Phần Thủy, Tả Bộc xạ Triệu Hoa can rằng: "Lý Quân khởi sự khinh suất, việc ắt không thành, bệ hạ vét sạch người trong nước mà đi theo, thần chưa thấy là nên." Bắc Hán chúa không nghe.

Đi đến dịch trạm Thái Bình, Quân thân dẫn quan thuộc ra nghênh đón, Bắc Hán chúa lệnh Quân xưng "tán bái" mà không gọi tên, cho ngồi trên cả Tể tướng Vệ Dung, phong làm Tây Bình vương. Quân thấy nghi trượng của Bắc Hán chúa thưa thớt yếu ớt, trong lòng rất hối hận, lại tự nói mình chịu ân nhà Chu, không nỡ phản bội. Mà Bắc Hán chúa vốn là kẻ thù đời đời với nhà Chu, nghe lời Quân nói cũng không vui. Quân sắp quay về, Bắc Hán chúa sai Tuyên huy sứ Lư Tán giám sát quân của Quân, Quân trong lòng càng bất bình. Tán từng đến bàn việc với Quân, Quân không đáp, Tán nổi giận, phủ áo đứng dậy bỏ đi. Bắc Hán chúa nghe Tán và Quân có hiềm khích, bèn sai Vệ Dung đến trong quân hòa giải.

Quân lưu con trưởng là Thủ Tiết giữ Thượng Đảng, còn mình thân dẫn 3 vạn quân tiến xuống phía nam. Ngày Quý Mão, Thạch Thủ Tín cùng những người khác phá quân Quân ở Trường Bình, lại công phá được trại Đại Hội của ông ta.

Ngày Giáp Thìn, chiếu tước đoạt quan tước của Lý Quân.

Ngày Ất Tỵ, Liêu chúa đến bái yết Hoài lăng, tức lăng của Thái Tông.

Ngày Kỷ Dậu, ở Tây Kinh xây xong Lục miếu nhà Chu, sai Quang lộc khanh Quách Kỷ phụng rước thần chủ.

Ngày Ất Mão, Tiết độ sứ Trung Chính kiêm Thị trung là Dương Thừa Tín đến triều, bày yến ở điện Quảng Chính. Từ đó thành thông lệ.

Ngày Đinh Tỵ, chiếu thân chinh. Lấy Khu mật sứ Ngô Đình Tộ làm Đông Kinh Lưu thủ, Tri Khai Phong phủ Lữ Dư Khánh làm phó, Hoàng đệ Quang Nghĩa làm Đại nội Đô điểm kiểm. Sai Hàn Lệnh Khôn suất quân đóng ở Hà Dương.

Ngày Kỷ Mùi, Hoàng đế xuất phát từ Đại Lương; ngày Nhâm Tuất, đến nghỉ ở Huỳnh Dương. Tây Kinh Lưu thủ, người Hà Nội là Hướng Củng khuyên Hoàng đế:"Nên vượt sông, qua dãy Thái Hành, nhân lúc giặc chưa tập hợp mà đánh. Nếu chần chừ dăm mười ngày, thì thế giặc càng thêm mạnh." Khu mật Trực học sĩ Triệu Phổ cũng nói: "Ý giặc cho rằng quốc gia mới dựng, chưa thể xuất chinh; nếu gấp rút đi đường, đánh úp lúc chúng chưa phòng bị, có thể một trận mà thắng." Hoàng đế nghe theo. Ngày Đinh Mão, Thạch Thủ Tín, Cao Hoài Đức phá hơn 3 vạn quân của Lý Quân ở phía nam châu Trạch, bắt được Tiết độ sứ Hà Dương của Bắc Hán là Phạm Thủ Đồ, giết Lư Tán. Quân chạy trốn vào châu Trạch, cố thủ trong thành.

Tháng ấy, Tiết độ sứ Vĩnh An, Vân Trung là Chiết Đức Ủy phá trại Sa Thạch của Bắc Hán, chém 500 thủ cấp. Đức Ủy là con của Chiết Tòng Nguyễn.

Tháng 6, ngày mồng 1 là ngày Kỷ Tỵ, Hoàng đế đến Trạch châu, đốc quân công thành, hơn mười ngày vẫn chưa hạ được. Hoàng đế triệu Đô chỉ huy sứ tả doanh Khống hạc, người Kế là Mã Toàn Nghĩa đến hỏi kế, Toàn Nghĩa xin hợp lực gấp đánh, bèn suất cảm tử quân xung phong lên trước, tên bay xuyên cánh tay, Toàn Nghĩa nhổ mũi tên ra, tiếp tục xông trận, Hoàng đế thân dẫn vệ binh theo sau. Ngày Tân Tỵ, phá được thành. Lý Quân nhảy vào lửa mà chết. Bắt được Vệ Dung.

Ngày Giáp Thân, miễn tô ruộng năm đó ở Trạch châu.

Ngày Ất Dậu, tiến đánh Lộ châu; ngày Đinh Hợi, con Quân là Thủ Tiết dâng thành đầu hàng, được tha tội. Thăng Đơn châu làm Đoàn luyện, dùng Thủ Tiết làm Đoàn luyện sứ. Ngày hôm ấy, Hoàng đế vào Lộ châu, bày yến cho quan theo hầu ở hành cung.

Ngày Tân Mão, đại xá. Miễn tô ruộng năm nay trong vòng 30 dặm phụ cận Lộ châu, ghi công con cháu các tướng tá tử trận, dân đinh phu được miễn dịch 3 năm.

Lý Quân tuy tính tình bạo ngược, nhưng rất hiếu với mẹ. Mỗi khi nổi giận sắp giết người, người mẹ ở sau bình phong gọi Quân, Quân lập tức chạy đến, người mẹ nói: "Nghe nói mày sắp giết người, có thể tha được chăng? Để tăng phúc cho chúng ta vậy." Quân liền tha cho.

Bắc Hán chúa nghe tin Quân bại, từ dịch trạm Thái Bình chạy trốn về Tấn Dương, nói với Triệu Hoa: "Lý Quân vô đạo, rốt cuộc đúng như lời khanh nói, trẫm may mà toàn quân trở về, chỉ tiếc là mất Vệ Dung, Lư Tán mà thôi!" Hoa sau đó xin cáo lão, cho hưởng lộc suốt đời. Bắc Hán chúa lấy Hàn lâm học sĩ thừa chỉ, Binh bộ Thượng thư, người Kế là Triệu Hoằng làm Trung thư Thị lang, kiêm Binh bộ Thượng thư, Bình chương sự.

Quân Liêu nghe tin Lộ châu thất thủ, không xuất quân nữa.

Ngày Quý Tỵ, Tiết độ sứ An Quốc, Nguyên Thành là Lý Kế Huân đến triều; ngày Ất Mùi, lệnh làm Tiết độ sứ Chiêu Nghĩa.

Ngày Đinh Dậu, Hoàng đế rời Lộ châu; mùa thu, tháng 7, ngày Mậu Thân, về đến kinh sư.

Ban đầu, Vệ Dung bị bắt, Hoàng đế tra hỏi Dung: "Ngươi xúi giục Lưu Quân giúp Lý Quân làm phản, là cớ gì?" Dung đáp: "Chó sủa không phải chủ mình, thần thật không nỡ phụ Lưu thị." Lại nói: "Bệ hạ dẫu không giết thần, thần cũng quyết không vì bệ hạ mà làm việc." Hoàng đế nổi giận, lệnh tả hữu dùng gậy sắt đánh vào đầu y, máu chảy đầy mặt. Dung kêu: "Thần được chết đúng chỗ rồi!" Hoàng đế nói: "Là trung thần đó, tha cho." Sai dùng thuốc tốt bôi vết thương, nhân đó sai y mang thư đến chỗ Bắc Hán chúa, đòi Chu Quang Tốn cùng những người khác để đổi cho Dung về Thái Nguyên; Bắc Hán chúa không trả lời. Ngày Tân Hợi, phong Dung làm Thái phủ khanh.

Tiền Tư không, Triệu Quốc công, người Nhữ Âm là Lý Cốc, lúc đầu về Lạc Dương, Lý Quân vì Cốc là danh tướng triều Chu, gửi tặng 50 vạn tiền, các vật khác cũng tương xứng, Cốc nhận. Đến khi Quân làm phản, Cốc vì lo buồn mà phát bệnh, ngày Ất Mão mất. Hoàng đế vì ông mà bãi triều 1 ngày, truy tặng chức Thị trung. Cốc vốn giỏi nghị luận, lời lẽ sáng sủa lưu loát, lại rất biết người, nâng đỡ kẻ sĩ hàn vi, nhiều người nhờ đó mà đến được địa vị hiển đạt.

Ngày Mậu Ngọ, bày yến cho Hàn Lệnh Khôn cùng những người khác ở điện Lễ Hiền Giảng Vũ, để thưởng công bình định Trạch, Lộ.

Ngày Tân Dậu, Chính sự lệnh nước Liêu là Da Luật Thọ Viễn, Thái giám Khố A Bố cùng những người khác mưu phản, đều bị giết.

Liêu chúa dùng rượu, thịt khô tế trời đất ở Hắc Sơn.

Ban đầu, Tiết độ sứ Thành Đức, Kim Thành là Quách Sùng, nghe tin Hoàng đế tự lập, nhớ lại ân huệ nhà Chu, thỉnh thoảng rơi lệ. Giám quân Trần Tư Hối mật tấu tình trạng ấy, lại nói Thường Sơn gần kinh đô, nên cẩn thận phòng bị. Hoàng đế nói: "Ta vốn biết Sùng nặng tình ân nghĩa, đây ắt là vì có điều cảm khái mà thôi." Sai sứ đến dò xét. Sùng lo buồn, không biết dựa vào đâu, Quan sát phán quan Hiếu Nghĩa là Tân Trọng Phủ nói: Ông trước đã tỏ lòng trung thành, lại việc xử trí quân dân đều theo phép thường, triều đình dẫu muốn kết tội, còn có cớ gì? Khi sứ giả đến, chỉ cần dẫn quan lại ra ngoại thành nghênh đón, hết lễ mà tỏ lòng. Để họ ở lại quan sát, tự nhiên sẽ phân biệt rõ ràng." Sùng làm theo lời ấy. Sứ giả về, tâu rằng Sùng không có ý khác. Hoàng đế mừng nói: "Ta vốn biết Sùng không phản."

Lấy Tảm Cư Nhuận quyền tri Trấn châu. Ban đầu vốn định đổi tri châu để dễ trấn giữ.

Ngày Ất Sửu, Đường chúa là Cảnh tiến dâng bạc trắng, mừng việc bình định Trạch, Lộ.

Chiếu cho hai ty Điện tiền, Thị vệ mỗi bên duyệt số quân mình nắm, chọn những kẻ dũng mãnh, thăng làm Thượng quân, lại lệnh cho các Trưởng lại châu quận tuyển binh thuộc quyền mình đưa về kinh, để bổ sung chỗ thiếu của cấm quân. Lại tuyển tráng đinh làm tốt, định làm "binh dạng", phân phát các đạo để chiêu mộ, huấn luyện, đợi khi tinh luyện thì đưa về kinh. Từ đó những kẻ hung hãn đều thuộc vào sổ cấm quân. Lại rút kinh nghiệm tệ nạn phiên trấn từ đời Đường trở đi, lập phép "đồn thú luân phiên", phân phái cấm quân đi trấn giữ các thành ải, bắt đi lại đường xa, để quen chịu gian khổ, san đều việc nhọc nhàn. Từ đó tướng không được chuyên giữ binh, mà binh sĩ cũng không đến nỗi kiêu lười, đều là mưu của Triệu Phổ.

Tháng 8, ngày mồng 1 là ngày Mậu Thìn, ngự điện Sùng Nguyên, bày nghi trượng vệ binh, cử hành nghi lễ nhập các, đặt chức Đãi chế, Thứ đối quan, ban yến dưới hành lang.

Ngày Canh Ngọ, bày yến cho các cận thần ở điện Quảng Đức, cống sứ Giang Nam, Ngô Việt đều tham dự.

Ngày Nhâm Thân, lại thăng Bối châu làm Tiết độ Vĩnh Thanh quân.

Tiết độ sứ Chiêu Nghĩa quân, người Hà Đông là Viên Nghiêm, nghe tin Hoàng đế tự lập, ngày đêm sửa giáp luyện binh. Hoàng đế lo y khởi biến, lệnh cho Phan Mỹ đến giám quân. Mỹ một mình cưỡi ngựa vào thành, khuyên Nghiêm vào triều, Nghiêm lập tức sửa soạn hành trang lên đường. Hoàng đế mừng, bảo tả hữu: "Phan Mỹ không giết Viên Nghiêm, là thành tựu chí ta vậy." Ngày Bính Tý, dời Nghiêm làm Tiết độ sứ Chương Tín quân.

Dời Tiết độ sứ Trung Chính là Dương Thừa Tín làm Tiết độ sứ Hộ Quốc quân. Thừa Tín đến Hà Trung, có người nói y mưu phản, Hoàng đế sai Tác phường Phó sứ, Tương châu là Ngụy Phi mang lễ vật mừng sinh nhật đến cho Thừa Tín, nhân đó dò xét, khi về tâu rằng Thừa Tín không có dấu hiệu phản. Nhờ vậy Thừa Tín được chết yên ở nơi trấn nhậm.

Tiết độ sứ Trung Vũ kiêm Thị trung, Dương Khúc là Trương Vĩnh Đức dời làm Tiết độ sứ Vũ Thắng, vào triều, theo Hoàng đế du ngoạn Ngọc Tân viên. Lúc ấy Hoàng đế sắp có việc với Bắc Hán, kín hỏi kế sách, Vĩnh Đức nói: "Thái Nguyên binh ít mà hung hãn, lại thêm Khiết Đan làm viện, chưa thể vội vàng lấy được. Thần cho rằng mỗi năm nên nhiều lần dùng quân du kích, quấy nhiễu việc cày cấy của chúng, lại sai mật sứ dò xét Liêu, trước hết cắt đứt viện binh, rồi sau mới có thể mưu đồ." Hoàng đế nói: "Hay!"

Ngày Nhâm Ngọ, lấy Hoàng đệ Điện tiền Đô Ngự sử, Mục châu Phòng ngự sứ Quang Nghĩa kiêm Tiết độ sứ Thái Ninh quân.

Ngày Giáp Thân, lập Lãng Nha quận phu nhân Vương thị làm Hoàng hậu. Hậu là người Hoa Trì, con gái Tiết độ sứ Chương Đức tên là Nhiêu.

Ngày Bính Tuất, chế tạo cân đong mới, ban hành khắp thiên hạ, cấm tư nhân tự ý chế tạo.

Ngày Mậu Tý, lấy Triệu Phổ làm Binh bộ Thị lang, kiêm Khu mật sứ. Khi Hoàng đế chinh phạt Trạch, Lộ, Phổ xin đi theo, Hoàng đế cười nói: "Phổ há có thể mang nổi giáp trụ sao?" Đến nay sư trở về luận công, Hoàng đế nói: "Phổ nên ở bậc ưu đãi." Bèn thăng lên chức ấy.

Tiết độ sứ Kinh Nam, Thủ Thái phó kiêm Trung thư lệnh, Nam Bình vương Cao Bảo Dung lâm bệnh, vì con y là Kế Xung còn nhỏ yếu, chưa thể kế vị, nên lệnh em y là Hành quân Tư mã Bảo Húc tổng quản trong ngoài quân mã. Ngày Giáp Ngọ, Bảo Dung mất. Tin báo về, Hoàng đế ban tiền phúng, truy tặng Thái úy, thụy Trinh Ý. Bảo Dung tính tình quanh co chậm chạp, cai trị quân dân đều không có phép tắc, họ Cao từ đó bắt đầu suy.

Ngày Ất Mùi, Nam Đường chúa sai sứ đến mừng Hoàng đế về kinh.

Tháng ấy, Liêu chúa đi Thu Sơn, rồi đến Hoài châu. Liêu chúa ưa giết chóc, dùng tượng sư tử đá ở giường ngự đánh chết cận thị Cổ Cách. Từ đó nội thị, người lo việc bếp núc, cùng những người săn hươu, săn trĩ, săn sói, săn lợn, nhiều kẻ bị giết oan.

Tháng 9, ngày Nhâm Dần, Tiết độ sứ Chiêu Nghĩa là Lý Kế Huân đốt huyện Bình Dao của Bắc Hán.

Ngày Bính Ngọ, ngự điện Sùng Nguyên, làm lễ sách phong bốn miếu thân thuộc.

Ngày Kỷ Dậu, Trung thư Xá nhân Hoài Dung là Triệu Hành Phùng, vì tội trốn tránh khi theo chinh phạt, bị giáng làm Tư hộ Tham quân Phòng châu. Khi Hoàng đế thân chinh Trạch, Lộ, đường núi chật hẹp nhiều đá, Hoàng đế tự mình nhặt mấy hòn đá trên lưng ngựa ôm lấy, quần thần, lục quân đều tranh nhau vác đá mở đường. Hành Phùng sợ đi đường hiểm, giả vờ bị thương chân, ở lại Hoài châu không đi. Đến khi sư trở về, Hành Phùng đáng lẽ phải vào trực, lại cáo bệnh, xin ở tư dinh thảo chế chiếu thư; Hoàng đế nổi giận, giao cho Ngự sử phủ luận tội mà giáng chức.

Kiểm hiệu Thái úy triều Chu, Tiết độ sứ Hoài Nam, người Thương là Lý Trọng Tiến, là cháu ngoại Chu Thái Tổ, lúc đầu cùng Hoàng đế phụng sự Thế Tông, chia nhau nắm binh quyền, vì Hoàng đế anh vũ, nên trong lòng e sợ. Đến khi Hoàng đế kế vị, Trọng Tiến ra trấn Dương châu. Đến khi Hoàng đế tự lập, lệnh Hàn Lệnh Khôn thay Trọng Tiến. Trọng Tiến xin vào triều, Hoàng đế ban chiếu ngăn lại, Trọng Tiến càng bất an.

Lý Quân khởi binh ở Trạch, Lộ, Trọng Tiến sai thân lại là Trịch Thủ Tuấn đi đường tắt kết giao với Quân. Thủ Tuấn lén cầu kiến Hoàng đế, nói Trọng Tiến ngầm ôm chí khác. Hoàng đế hậu thưởng Thủ Tuấn, sai y thuyết phục Trọng Tiến tạm hoãn mưu đồ, đừng để hai kẻ hung ác cùng lúc nổi dậy. Thủ Tuấn về, khuyên Trọng Tiến chưa nên khinh suất phát binh, Trọng Tiến tin theo.

Hoàng đế đã bình định Trạch, Lộ, liền muốn kinh lược Hoài Nam, dời Trọng Tiến làm Tiết độ sứ Bình Lư, lại sai Lục trạch sứ Trần Tư Hối mang Thiết khoán đến ban, để an ủi. Trọng Tiến tự cho mình là thân thích nhà Chu, sợ không được toàn mạng, bèn bắt giữ Tư Hối, sửa thành, luyện binh. Sai người cầu viện Nam Đường, Chủ Nam Đường không dám nhận. Hoàng đế nghe tin Trọng Tiến khởi binh, lệnh Thạch Thủ Tín làm Hành doanh Đô bộ thự Dương châu, kiêm Tri Hành phủ Dương châu, Vương Thẩm Kỳ làm phó, Lý Xử Vân làm Đô giám, Tống Diên Ác làm Đô bài trận sứ, suất cấm quân đánh dẹp.

Tiết độ sứ Ninh Quốc quân là Ngô Diên Phúc, là cậu của Ngô Việt vương Thục. Có người tố cáo Diên Phúc có mưu đồ khác, ngày Canh Thân, Thục sai Nội nha Chỉ huy sứ Tiết Ôn đem quân vây nhà y, bắt 5 anh em Diên Phúc. Thứ sử Mục châu là Diên Ngộ sợ hãi tự sát. Quân chúng muốn giết anh em Diên Phúc, Thục rơi lệ nói: "Đó là anh em ruột của Tiên phu nhân, ta sao nỡ đem ra xử pháp!" Bèn đều cách chức, đày đi các châu, rốt cuộc giữ được tông tộc bên mẹ.

Ngày Quý Hợi, chiếu tước đoạt quan tước của Lý Trọng Tiến.

Chiếu rằng: "Văn võ Thường tham quan nếu cáo bệnh quá 3 ngày, các ty phải báo tên, sai Thái y đến chẩn mạch xem xét."

Tháng ấy, Ngô Việt bắt đầu độc quyền việc bán rượu.

Ban đầu, Lý Quân khởi binh, sai sứ mời Tiết độ sứ Kiến Hùng, Chân Định là Dương Đình Chương. Em gái Đình Chương là phi của Chu Tổ, Hoàng đế nghi y có mưu đồ khác, lệnh Phòng ngự sứ Trịnh châu, Tín Đô là Kinh Tư Nho làm Binh mã Tiền hạt châu Tấn, để dò xét. Tư Nho muốn mưu hại Đình Chương, mỗi lần gặp đều giấu dao trong người; Đình Chương tiếp đãi bằng hết lòng thành, Tư Nho không dám ra tay. Gặp lúc có chiếu triệu Đình Chương vào kinh, Đình Chương lập tức đi xe một mình lên đường. Mùa đông, tháng 10, ngày Kỷ Tỵ, dời Đình Chương làm Tiết độ sứ Tĩnh Nan.

Ngày Nhâm Thân, sông vỡ ở huyện Yếm Thứ, Lệ châu, lại vỡ ở huyện Linh Hà, châu Hoạt.

Ngày Bính Tý, em họ Liêu chúa là Triệu vương Hỷ Cổn mưu phản, lời khai liên lụy đến cha y là Lỗ Hô và Tường Cổn Hàn Khuông Sĩ. Lỗ Hô là con thứ ba của Thái Tổ, tính tàn bạo, Thái hậu Thư Lỗ rất yêu. Thời Thái Tông, lập y làm Hoàng Thái đệ, kiêm Thiên hạ Binh mã Đại nguyên soái. Thái Tông băng ở Loan Thành, Vĩnh Khang vương lên ngôi ở Trấn Dương, tức là Thế Tông, Thái hậu sai Lỗ Hô đem quân đánh, quân bại. Đại thần Da Luật Ô Trân đối mặt trách Lỗ Hô tàn bạo, mất lòng người, Thái hậu không đáp được, quân bèn giải tán. Thế Tông dời Lỗ Hô đến Tổ châu, cấm ra vào, đến nay vì lời khai của Hỷ Cổn mà bị bắt, chết trong ngục. Khuông Sĩ vì giỏi y thuật mà được trực ở Trường Lạc cung, Hoàng hậu coi y như con, nên không truy cứu.

Ngày Ất Dậu, Tấn châu báo

Binh mã Tiền hạt Kinh Tư Nho dẫn hơn 1.000 kỵ binh đến dưới thành Phần châu của Bắc Hán, đốt chợ cỏ rồi về. Chiều tối đóng quân ở Kinh Thổ nguyên, Chủ Bắc Hán sai Đại tướng Hác Quý Siêu dẫn 1 vạn quân đến tập kích, tảng sáng thì đuổi kịp, Tư Nho sai Đô giám Nghiêm Diễn Tiến chia quân chống địch. Tư Nho mặc áo gấm bọc giáp, ngồi trên ghế gấp mà khao quân, đang chặt cánh tay trước của dê để ăn, nghe tin Diễn Tiến hơi lui, liền lên ngựa, vẫy quân xông thẳng vào mũi nhọn của địch. Người Bắc Hán vung giáo ngang mà xông tới, Tư Nho ngã ngựa bị bắt, vẫn còn đánh nhau, tự tay giết hơn 10 người, rồi mới bị hại. Chúa Bắc Hán vốn sợ dũng lực của y, muốn bắt sống Tư Nho, đến khi nghe tin y chết, bèn tìm kẻ giết Tư Nho mà giết.

Hoàng đế nghe tin Tư Nho tử trận, thương xót không nguôi, thăng con y là Thủ Huân làm Võ Đức Phó sứ Tây Kinh; trách tội tướng sĩ không nghe lệnh, giáng chức 2 người, chém 29 người. Tư Nho coi nhẹ tiền của, ưa bố thí, ở Thái châu có lợi nấu muối, mỗi năm thu hàng vạn, chiếu cho phép mười phần lấy tám, mà vẫn không đủ dùng. Tài sản trong nhà thu vào đều có sổ sách, chi ra thì không hỏi số. Dũng cảm, giỏi chiến đấu, thường muốn bình định Thái Nguyên, chí chưa thành mà gặp bại vong, người ta đều thương tiếc.

Hoàng đế hỏi Triệu Phổ về việc ở Dương châu nên làm thế nào, Phổ nói: “Lý Trọng Tiến dựa vào sông Trường Hoài, sửa sang một lũy cô lập, bên ngoài cắt đứt cứu viện, bên trong thiếu lương thảo, nên sớm đánh lấy.” Hoàng đế cho là phải, ngày Đinh Hợi, hạ chiếu thân chinh, lấy Quang Nghĩa làm Đại nội Đô bộ thự, Ngô Đình Tộ quyền Đông Kinh Lưu thủ, Lữ Dư Khánh làm phó.

Ngày Canh Dần, Hoàng đế xuất phát từ kinh sư, bách quan, lục quân đều đi thuyền xuôi về phía đông.

Ngày Giáp Thìn, đến đóng quân ở Tứ Châu, bỏ thuyền lên bộ, ra lệnh cho các tướng đánh trống tiến quân lên phía trước. Tháng 11, ngày Đinh Mùi, đến đóng dưới thành Dương Châu, trong ngày liền hạ được thành. Lúc đầu, khi thành sắp mất, có người bên cạnh khuyên nên giết Trần Tư Hối, Trọng Tiến nói: “Ta nay đem cả nhà sẽ cùng chết trong lửa, giết hắn thì có ích gì!” Liền phóng hỏa tự thiêu, Tư Hối cũng bị bè đảng của y giết hại. Hoàng đế vào thành, giết những kẻ đồng mưu mấy trăm người. Anh của Trọng Tiến là Trọng Hưng, lúc mới nghe tin y chống mệnh liền tự sát; em là Trọng Tán và con là Diên Phúc đều bị giết ở chợ. Hoàng đế treo thưởng bắt được Thủ Tuân, cho làm Điện trực, chẳng bao lâu thăng làm Cung phụng quan. Ngày Kỷ Dậu, phát chẩn cho dân trong thành Dương Châu, mỗi người 1 hộc gạo, trẻ em dưới 10 tuổi thì cho một nửa. Những người bị ép sung quân thì ban cho áo giày rồi cho về. Ngày Canh Tuất, ra chiếu tha tội cho gia thuộc và bộ khúc của Trọng Tiến.

Ngày Ất Mão, Nam Đường chủ sai Tả Bộc xạ Nghiêm Tục - ngườiGiang Đô đến ủy lạo quân đội. Ngày Canh Thân, lại sai con là Tưởng Quốc công Tòng Giám và Hộ bộ Thượng thư, Tân An Phùng Diên Lỗ đến khoản đãi yến tiệc. Hoàng đế nghiêm sắc mặt bảo Diên Lỗ rằng: “Quốc chủ các ngươi vì sao lại giao thông với kẻ phản thần của ta?” Diên Lỗ nói: “Bệ hạ chỉ biết là có giao thông, chứ không biết là (y) không dự vào mưu phản.” Hoàng đế hỏi gặng nguyên do, Diên Lỗ nói: “Sứ giả của Trọng Tiến trọ tại nhà thần, quốc chủ sai người bảo y rằng: ‘Đại trượng phu thất ý mà làm phản, đời cũng từng có, chỉ là thời thế không cho phép mà thôi. Lúc triều đình Trung Nguyên mới nhận thiên mệnh lên ngôi, lòng người chưa yên, Thượng Đảng làm loạn, ông không nhân lúc ấy mà phản, nay lòng người đã yên, lại muốn đem mấy nghìn quân ô hợp chống lại tinh binh thiên hạ, dù khiến Hàn, Bạch sống lại, ắt cũng không thể thành. Dẫu có binh lương, cũng không dám giúp nhau.’ Trọng Tiến rốt cuộc vì mất chỗ viện trợ mà bại.” Hoàng đế nói: “Dù vậy, các tướng đều khuyên ta nhân thắng mà vượt sông Trường Giang, thế nào?” Diên Lỗ nói: “Trọng Tiến tự cho mình là anh hùng hào kiệt, không ai địch nổi, thần vũ của bệ hạ vừa đến, y thua không kịp trở tay. Huống chi là một nước nhỏ, há có thể chống nổi thiên uy? Nhưng cũng có điều đáng lo. Bản quốc có quân thị vệ mấy vạn, đều là thân binh của Tiên chủ, đã thề cùng sống chết, bệ hạ có thể bỏ mấy vạn quân ấy mà cùng họ huyết chiến, thì được vậy. Vả lại, Trường Giang là hào trời, sóng gió khó lường, nếu tiến quân mà chưa hạ được thành, đường vận lương bị thiếu, thì việc cũng đáng lo.” Hoàng đế cười nói: “Chỉ là đùa khanh đó thôi, há lại nghe khanh du thuyết sao!” (Khảo dị: Long Cổn trong “Giang Nam dã lục” chép lời Phùng Diên Lỗ đối với Hoàng đế, bèn tin là quả thực vì thế mà cự tuyệt Trọng Tiến, không biết đó là lời tô điểm. Lại theo “Giang Nam biệt lục” của Bành Niên chép: Thái Tổ cười nói: “Ta với Giang Nam, đại nghĩa đã rõ, sao đến nỗi như thế!” Nay theo “Thập Quốc Xuân Thu”.)

Hoàng đế sai các đạo quân luyện tập chiến trận ở Nghênh Loan, Nam Đường chủ rất sợ; tiểu thần của y là Đỗ Trước, Tiết Lương chạy sang hàng, lại dâng kế bình định phương Nam. Hoàng đế ghét bọn chúng bất trung, ra lệnh chém Trước ở chợ Hạ Thục, còn Lương thì sung làm nô dịch cho Nha hiệu Lư Châu, Nam Đường chủ bấy giờ mới hơi yên lòng; nhưng rốt cuộc vì cương vực nước mình bị thu hẹp, suy yếu, nên quyết định kế dời đô.

Ngày Ất Sửu, lệnh cho Tuyên huy Bắc viện sứ Lý Xử Vân quyền tri Dương Châu. Lúc ấy Dương Châu sau binh lửa, cả cõi tiêu điều, Xử Vân chăm lo vỗ về an ủi, giảm nhẹ sưu dịch thuế khóa, nên Dương Châu dần yên ổn.

Tháng 12, ngày Kỷ Tỵ, Hoàng đế rời Dương Châu; ngày Đinh Hợi, đến kinh sư.

Ngày Tân Mão, Tiết độ sứ Thanh Nguyên của nhà Đường là Vĩnh Xuân Lưu Tòng Hiệu xưng thần triều cống.

Hoàng đế lúc mới lên ngôi, muốn ngầm xét lòng người hướng về hay xa lánh, nên thường vi hành. Có người lấy đó mà can, Hoàng đế cười nói: "Sự hưng khởi của đế vương, vốn có thiên mệnh. Chu Thế Tông thấy các tướng có người mặt vuông tai to thì giết đi, ta suốt ngày hầu bên cạnh, mà không hại được ta." Rồi sau vi hành càng nhiều, nói: "Kẻ có thiên mệnh thì cứ mặc cho tự làm, không vì các ngươi mà cấm."

Một hôm Hoàng đế bãi triều, ngồi ở điện Sùng Đức, không vui đã lâu. Người hầu bên cạnh hỏi nguyên do, Hoàng đế nói: "Các ngươi cho làm thiên tử là dễ sao? Vừa rồi nhân lúc vui mà chỉ huy một việc, lỡ sai, nên không vui đó thôi." Có lần bắn chim sẻ ở hậu uyển, có người tâu là có việc gấp xin vào chầu, Hoàng đế vội cho vào, thì điều y tâu chỉ là việc thường ngày. Hoàng đế nổi giận, hỏi tội, người ấy đáp: "Thần cho là việc này còn gấp hơn việc bắn chim sẻ." Hoàng đế càng giận, cầm cán rìu đánh vào miệng y, rụng hai chiếc răng. Người ấy thong thả nhặt răng bỏ vào trong áo, Hoàng đế mắng: "Ngươi cất răng, muốn kiện ta phải không?" Đáp: "Thần không thể kiện bệ hạ, tự nhiên sẽ có sử quan chép lại." Hoàng đế vui, ban vàng lụa an ủi khen thưởng.

Bắt đầu chế tạo Bảo ấn “Thụ mệnh”. Đúc tiền “Tống Thông Nguyên bảo”.

Năm ấy, Bắc Hán lấy Quách Vô Vi làm Gián nghị đại phu, tham nghị Trung thư sự. Vô Vi là người An Lạc, trán vuông, mỏ chim, tạp học rộng nghe, giỏi biện luận. Từng mặc áo vải làm đạo sĩ, ở núi Võ Đang. Chu Thái Tổ đánh Lý Thủ Trinh ở Hà Trung, Vô Vi đến cửa quân xin yết kiến, bàn hỏi việc đương thời, Chu Thái Tổ rất lấy làm lạ. Có người bảo Chu Tổ rằng: "Ông là đại thần nhà Hán, nắm trọng binh ở ngoài, mà lại chiêu đãi kẻ du thuyết tung hoành, đó không phải là đạo phòng ngừa từ lúc còn nhỏ, lo xa từ trước." Vô Vi phủi áo bỏ đi, ẩn ở núi Bão Độc. Khu mật sứ Đoạn Hằng (Khảo dị: “Ngũ Đại Sử Ký – Đông Hán Thế Gia” chép là “Đoạn Thường”, có lẽ Âu Dương thị vì tránh húy Chân Tông mà sửa lại. “Thông giám – Chu kỷ” chép “Đoạn Hằng”, “Trường biên” cũng chép “Đoạn Hằng”. “Thập Quốc Xuân Thu” theo sử của Âu Dương mà chép “Đoạn Thường”, có lẽ chưa khảo kỹ. Nay theo “Trường biên”, chép tên gốc.) nhận ra tài năng, tiến cử y, Bắc Hán chúa triệu vào nói chuyện, rất vui mừng, bèn giao cho việc chính sự, lại lệnh cho Hằng và Thị vệ thân quân sứ Thái Nguyên Vị Tiến đều cùng làm Đồng bình chương sự.

Em của Liêu chúa là Thái Bình vương Am Tát Ngạ (trước chép là Yểm Triệt Cát, nay sửa lại), là con thứ hai của Thái Tông. Thời Thế Tông, có chiếu cho phép ông ta và Tấn chúa qua lại với nhau theo lễ anh em. Đến đây, thấy Liêu chúa say đắm rượu chè, ưa giết chóc, ngầm ôm chí khác. Liêu chúa không hay, giao phó quốc chính cho y, còn mình chỉ ngày ngày rong chơi săn bắn, giữa mùa đông giá rét hay mùa hè nóng bức cũng không bỏ việc phi ngựa rong ruổi. Có thị thần trách cứ việc thua trận trước nhà Chu, mất đất Tam Quan là kế sai, Liêu chúa nói: "Tam Quan vốn là đất của Hán, nay trả lại cho họ, thì mất mát gì đâu!" Sự không lo việc nước đến thế đó.