Bước tới nội dung

Tục tư trị thông giám/Quyển 12

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tục Tư trị thông giám, quyển 12  (2025)  của Tất Nguyên, do Cơ Như Tuyết dịch
Tống kỷ 12

Từ tháng 10 năm Quý Mùi (983) đến tháng Chạp năm Ất Dậu (985), Thái Tông Thái Bình Hưng Quốc năm thứ 8 đến Ung Hi năm thứ 2, gồm 2 năm có dư

Năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 8 (Liêu, Thống Hòa năm thứ 1), Công nguyên năm 983

[sửa]

Mùa đông, tháng 10, Hoàng đế đem 5 quyển kinh mới dịch cho các Tể tướng xem, nhân đó nói: “Phàm bậc làm vua, cai trị con người, làm lợi cho muôn vật, tức là tu hành. Lương Vũ đế bỏ thân làm nô bộc cho chùa, đó thật là mê muội lớn! Lời nói của người xuất thế cũng có chỗ đáng xem, các khanh hãy thử đọc. Trẫm là giữ lấy giáo pháp ấy, chứ không phải đắm chìm vào đạo Thích.”

Ngày Ất Mùi, Lưu thủ Nam Kinh nước Liêu là Hưu Cách tâu rằng các Tiết độ sứ mỗi năm cống hiến, xin cho theo lệ quan lại Khiết Đan, chỉ dâng yên ngựa mà thôi; Liêu đình nghe theo đó mà làm.

Ngày Đinh Dậu, nước Liêu lấy Ngô vương Thiệu làm Lưu thủ Thượng Kinh, kiêm xử lý việc Doãn Lâm Hoàng.

Ngày Mậu Tuất, đổi tên các vương, đều gia phong, có phân bậc khác nhau.

Tư đồ kiêm Thị trung Triệu Phổ bị bãi làm Vũ Thắng Tiết độ sứ kiêm Thị trung.

Tháng 11, ngày Nhâm Tý mồng 1, lấy Tham tri chính sự Tống Kỳ, Lý Phưởng đều làm Đồng Bình chương sự. Hoàng đế bảo rằng: “Trị hay loạn của đời, cốt ở thưởng phạt có đúng hay không. Thưởng phạt đúng với công tội, thì không gì là không trị được; nếu chỉ lấy đó làm đồ trang sức cho vui giận, thì không gì là không loạn. Các khanh nên lấy đó làm răn.” Tống Kỳ nói: “Hai quyền thưởng phạt là hàm thiếc để điều khiển thiên hạ. Người trị thiên hạ, nếu thưởng phạt chí công, chưa từng có ai không đạt đến thái bình.”

Lý Phưởng lúc đầu thân với Lư Đa Tốn, Đa Tốn nhiều lần gièm Phưởng, có người nói lại, Phưởng không tin. Bấy giờ Hoàng đế nhắc đến chuyện Đa Tốn, Phưởng hết sức biện giải cho Đa Tốn. Hoàng đế nhân đó nói: “Đa Tốn thường ngày chê bai khanh, cho rằng không đáng một đồng tiền.” Phưởng lúc ấy mới tỉnh ngộ. Từ đó Hoàng đế càng coi trọng ông ta.

Ngày Quý Sửu, Ứng châu nước Liêu bắt được gián điệp nhà Tống, đem phanh thây.

Ngày Giáp Dần, chiếu từ nay Tể tướng xếp trên thân vương trong hàng ngũ chầu hầu. Lý Phưởng, Tống Kỳ và những người khác cố từ chối, Hoàng đế không cho, nói: “Tể tướng gánh vác trăm việc, còn phủ đệ thân vương chỉ là để vào chầu mà thôi. Nguyên Tá và những người khác còn nhỏ, trẫm muốn cho chúng nó biết đạo khiêm nhường, các khanh chớ nhiều lời từ chối!”

Cửa ải Cao Dương bắt được kỵ binh do thám nước Liêu, giải đến dưới cửa khuyết, người ấy nói người Liêu đang xây thành ở gần trại. Hoàng đế bảo Tể tướng: “Đó chỉ là kế tự bảo toàn mà thôi.” Lại nói: “U châu bốn mặt là đồng bằng, không có hiểm trở để nương tựa, khó mà khống chế. Sau này thu phục Yên, Kế, phải ở các ải Cổ Bắc Khẩu, chiếm lấy chỗ hiểm yếu, không quá 3–5 nơi, đóng quân, lập bảo trại, thì tự cắt đứt đường xuống phía nam chăn thả của chúng vậy.” Tống Kỳ đáp rằng: “Phạm Dương là nơi các đời trước đóng quân, ở Cổ Bắc Khẩu cùng với Tùng Đình quan, Dã Hồ môn, 3 đường đều lập lũy chắn, đến nay nền đá, tường lũy vẫn còn. Sau này chỉ cần ở mấy nơi ấy đặt quân giữ là được.”

Ngày Kỷ Mùi, Thái Nhất cung xây xong, Trương Tề Hiền và những người khác xin dùng lễ tế trời mà giảm đi một nửa, lại bớt thêm một chút.

Ngày Đinh Mão, đãi yến tiễn Triệu Phổ ở điện Trường Xuân. Hoàng đế ban thơ cho Phổ, Phổ nâng thơ mà khóc, nói: “Bệ hạ ban thơ cho thần, thần sẽ khắc vào đá, cùng chôn với bộ xương mục nát của thần dưới suối vàng.” Hoàng đế vì thế động dung. Hôm sau, bảo các cận thần: “Triệu Phổ với quốc gia có công lao to lắm. Lúc trẫm còn áo vải đã cùng ông ta giao du, nay răng tóc đã suy, không muốn phiền ông ta vì cơ vụ, bèn chọn nơi tốt cho ông ta nằm mà cai trị, nhân bài thơ để tỏ ý. Phổ cảm kích mà khóc, trẫm cũng vì thế rơi lệ.” Tống Kỳ đối rằng: “Hôm qua Phổ đến Trung thư, cầm thơ ngự mà cảm động rơi lệ. Nay lại nghe lời tuyên dụ, nghĩa vua tôi trước sau, có thể gọi là vẹn cả đôi đường.”

Trong yến tiệc ở Trường Xuân, Khu mật sứ Vương Hiển và những người khác hầu bên cạnh, thấy Hoàng đế mặc quần rách, nhiều lần nhìn. Hoàng đế cười bảo: “Trẫm chưa từng mặc áo mới, là vì nghĩ đến nỗi lao khổ của thợ dệt, muốn tỏ lòng thuần phác, làm gương cho thiên hạ vậy.”

Ngày Nhâm Thân, lấy Hàn lâm học sĩ Lý Mục, Lữ Mông Chính, Lý Chí đều làm Tham gia chính sự, Khu mật trực học sĩ Trương Tề Hiền, Vương Miện đều làm Đồng kiêm thự Khu mật viện sự. Chí là người Trấn Định, Miện là người Tề châu.

Mục và những người khác vào chầu đối, Hoàng đế bảo: “Nay các thần ở hai ban hơn 10 người, đều là văn học thích dụng, phẩm hạnh ngay thẳng trong sạch. Mục ở Kinh phủ, lại nổi tiếng nghiêm túc, nên trẫm gia thưởng mà cất nhắc.” Mục và những người khác lạy tạ. Hoàng đế lại nói: “Trẫm đọc khắp các sách trước, đại để giữa vua và tôi, tình thông thì đạo hợp, việc cũ đều không giấu, lời nói ắt có thể dùng. Trẫm gắng sức cầu trị, các khanh là tay chân, tai mắt của trẫm, nếu có chỗ chính sự khiếm khuyết, nên hết lòng nói ra. Trẫm mỗi khi làm một việc chưa thỏa đáng, lâu ngày suy xét, chỉ tự trách mình mà thôi, quyết không vì ở ngôi tôn mà tự cậy, khiến người không dám nói.”

Ngày Canh Thìn, đặt chức Thị độc quan. Tính Hoàng đế ưa đọc sách, chiếu lệnh Sử quán mỗi ngày dâng 3 quyển bộ “Thái Bình tổng loại” đang biên soạn. Tống Kỳ và những người khác nói: “Mỗi ngày xem 3 quyển, e thánh thể mệt mỏi.” Hoàng đế nói: “Mở sách là có ích, ta không cho là lao nhọc. Bộ sách này 1.000 quyển, trẫm muốn trong 1 năm đọc hết.” Sau đổi tên là “Thái Bình ngự lãm”.

Thái hậu nhà Liêu cùng Liêu chúa tế Càn lăng. Chiếu: “Bảo cho Tả hữu tướng ở Tam Kinh cùng Lục sự tham quân và những người khác, phải giữ công bằng ngay thẳng, không được lấy việc a dua thuận theo làm đầu. Các huyện lệnh, huyện thừa nếu gặp quan châu hoặc sứ triều đình đòi hỏi phi lý, chớ vì sợ mà chiều theo, lại phải thường xuyên nghe xét để phân biệt công tội. Trong dân gian, ai còn cha mẹ mà tách hộ riêng ở, cho phép hàng xóm phát giác, bắt tội. Ai hiếu với cha mẹ, 3 đời cùng ở chung, thì ban cờ biển biểu dương cửa nhà họ.”

Tháng 12, ngày Đinh Hợi, Hoài Hải quốc vương Tiền Thục 3 lần dâng biểu xin bỏ các chức Binh mã đại nguyên soái, Quốc vương, Thượng thư lệnh, Thái sư và các chức khác; chiếu bãi danh hiệu Nguyên soái, còn lại không cho.

Ngày Kỷ Hợi, Thái hậu nước Liêu xem đánh cá ở Ngọc Bồn Loan; ngày Tân Sửu, xem đánh cá ở Tuấn Uyên.

Ngày Quý Mão, Hoạt châu tâu sông Hoàng Hà vỡ đê đã lấp xong, quần thần chúc mừng. Chẳng bao lâu, sông lại vỡ ở Phòng thôn, Hoàng đế nói: “Gần đây vì sông vỡ ở Hàn thôn, phát dân đắp đê mà không thành, sao có thể lại làm khổ dân ta! Nên dùng quân thay thế.” Bèn phát 5 vạn quân, giao cho Đô chỉ huy sứ bộ quân Thị vệ lĩnh việc ấy.

Hoàng đế bảo Tể tướng: “Gần đây nghe có tăng đạo hoàn tục đi ứng thí, làm trường thi lẫn lộn. Tiến sĩ phải thông kinh nghĩa, theo giáo của Chu, Khổng; nếu chỉ học văn chương phù phiếm nông cạn, thì rất không phải là đạo trọng gốc.” Ngày Giáp Thìn, lệnh các châu cấm tăng đạo hoàn tục đi dự khoa cử. Tiến sĩ được miễn dán kinh, chỉ thi 20 đề “mặc nghĩa”, đều lấy đại nghĩa văn kinh làm câu hỏi. Lại tăng cho tiến sĩ và các khoa khác mỗi khoa thi thêm 10 đề pháp thư mặc nghĩa, tiến sĩ tăng thi nghĩa luật.

Nước Liêu chiếu: “những vụ hình ngục ở các nơi có oan khuất không thể kêu giải, cho phép đến Ngự sử đài kêu kiện, giao quan xét hỏi lại. Trước đó, các vụ án ở Đại lý tự hễ liên quan tâu trình, đều do Hàn lâm học sĩ, Cấp sự trung, Chính sự xá nhân xét quyết, đến nay mới đặt Thiếu khanh và Chính chủ cho cơ quan ấy.”

Ngày Bính Ngọ, Hữu Bổ khuyết, Trực Sử quán Hồ Đán dâng “Hà Bình tụng”, trong có câu “Nghịch Tốn bị đày nơi hoang dã, gian Phổ bị gạt ra ngoài” v.v., Hoàng đế xem xong, nổi giận, triệu Tể tướng, nói: “Lời lẽ của Đán ngang ngược. Trẫm tự tay cất nhắc hắn vào Giáp khoa, cho thử làm quan ngoài, nơi nào cũng không có thành tích tốt. Khi làm Tri Hải châu, bị thuộc hạ tố cáo, án đã thành, gặp lúc đại xá, trẫm xét tài mà tha lỗi. Thế mà dám phóng túng cuồng vọng như vậy! Nay triều đình nhiều quân tử, Đán há còn nên đứng trong hàng thị tòng sao?” Trung thư xá nhân Vương Hựu và những người khác tâu Đán nên bị giáng đày. Ngày Đinh Mùi, giáng Đán làm Điện trung thừa, Thương châu Đoàn luyện phó sứ.

Tháng này, Quyền tri Tương châu, Hữu Bổ khuyết Điền Tích dâng sớ nói: “Việc quản lý độc quyền hàng hóa, lưới lợi quá dày; đích thân thân chấp cơ vụ, chiếu chỉ hơi nhiều. Cái gọi là ‘lưới lợi quá dày’ là: lợi rượu men, chỉ cốt tăng thu; lợi thuế thương, chỉ cầu dư xuất; năm này qua năm khác, cứ thế tăng mãi, vắt kiệt nguồn lợi, không gì hơn thế. Nay xin định số thường, đặt phép thường, như việc thu thuế ở châu huyện, thuế ruộng nông tang, năm được mùa thì chưa từng nghe tăng nộp, năm mất mùa thì cho phép hoãn thu, tự nhiên hợp lẽ trung dung, dân biết chỗ dựa. Cái gọi là ‘chiếu chỉ hơi nhiều’ là: đạo vua cốt giản, giản thì hiệu lệnh xét kỹ, người dễ theo; đạo tôi cốt cần, cần thì chức nghiệp được sửa, việc không bị tắc. Thần cúi thấy bệ hạ sáng sớm tiếp triều bách liêu, trưa xét vạn cơ; hoặc duyệt trình giáp trượng, hoặc chọn duyệt quân nhân, hoặc thân hỏi tù tội, hoặc tự xem chiến mã; kẻ bỏ thư vào hòm dâng lên, thì xét kỹ lời lẽ; kẻ đánh trống kêu oan, thì hỏi rõ oan uổng. Ấy là bệ hạ lo bốn nghe có chỗ chưa thông, vạn cơ có chỗ chưa biết, nên mới đến thế. Nhưng sao không chuyển sự cần lao ấy mà cần lao ở việc cầu hiền, sao không đổi sự tinh chuyên ấy mà tinh chuyên ở việc chọn sĩ! Quan gián thì đặt bên tả hữu, Ngự sử thì giao việc đàn hặc, Cấp sự trung nếu có tài thì cho phép phong bác chiếu thư, Ký thất lang có văn thì sai ghi chép ngôn động. Trăm chức như thế, mỗi người làm tròn việc mình; nghìn quan như thế, mỗi người được dùng đúng chỗ, thì còn lo gì việc không được chỉnh lý, còn sợ gì dân không được ban ơn! Huống hồ cung khuyết là nơi tôn nghiêm, sân bệ là nơi hàng ngũ thanh khiết, há nên để tù nhân bị áp giải, quân nhân bệnh tật, hoặc bọn dùng lời hư vọng vượt cấp kêu kiện, hoặc bọn cầu may mong ân, được dẫn vào bên điện, được thấy mặt trời! Bệ hạ tùy việc chỉ huy, tùy lúc ban cho hay lấy đi, trong đó có kẻ bỗng được hỏi han, trên thì sợ thiên uy, hoặc có lúc trình bày, hơi hợp ý thánh; kẻ nhút nhát lắp bắp, miệng tuy tâu mà chưa hết lòng; kẻ gian trá khéo nói, lời tuy đúng mà chưa chắc có lý. Bệ hạ hoặc ban ân trạch, hoặc xử theo hình danh, tuy thánh giám chu toàn, vốn không oan sai, nhưng triều đình nên thanh túc, sao lại hợp với ồn ào! ‘Thư’ nói: ‘Lâm hạ dĩ giản’, lại nói: ‘Ngự chúng dĩ khoan’. Xin bệ hạ xét kỹ. Lại thần còn có điều xin: Trung thư là đường Tể tướng làm việc, Tướng phủ là nơi bệ hạ ưu đãi hiền tài. Nay lại đặt một Ty Ma Khám ở ngoài hành lang Trung thư, so sánh công tội có hay không của triều thần, xét công lao thực hư của châu quận. Vốn chức ấy thuộc về Khảo công, nay chức Khảo công không được tu sửa, mà tên Ma Khám lại xuất hiện xen vào, rất trái thể chế chính trị. Đó là điều thần chưa hiểu thứ nhất. Trước đây, chư hầu có lỗi, bách tính có oan, tất sai quan Đài, giao làm Chế sứ, chính vì Hiến phủ, Hình曹 là nơi chuyên trách. Nay phần nhiều sai Điện trực, Thừa chỉ làm Chế khám sứ thần, rất không phải là người có tài công chính, bỗng giao cho xét tội người, hoặc chưa hiểu luật hình, bừa bãi gia tội nặng, đã cầm Chế thư, người ta sợ uy nghiêm, ai dám chống cự! Há không có kẻ bị vạ lây, trái với ý nhân từ của bệ hạ sao! Đó là điều thần chưa hiểu thứ hai. Thần mỗi khi đọc sử, phàm phụ nữ thường dân trinh liêm, người quê có hạnh hiếu, còn được biểu dương cửa nhà, hoặc ban cho bó lụa, để khuyến khích phong tục suy đồi. Nay quan lại nước nhà đi làm quan xa, không được đem gia quyến theo, cha mẹ mất, không được rời chức, mặc áo tang đen mà vẫn làm việc, há yên được lòng hiếu tử? Minh chiếu chưa thi hành, rất tổn hại giáo huấn của thánh nhân. Đó là điều thần chưa hiểu thứ ba.”

Sớ dâng lên, không được trả lời.

Năm ấy, ban biển ngạch cho Viện Dịch kinh là “Truyền Pháp”; lệnh hai phố chọn 50 đồng tử, đến viện học tiếng Phạn, chữ Phạn.

Năm Ung Hy thứ 1 (Liêu, Thống Hòa năm thứ 2), Công nguyên năm 984

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Mậu Ngọ, Hữu Bộc xạ Thạch Hy Tải mất. Hy Tải tính trung thực, gặp việc dám nói, không chút e dè. Đến đây mắc bệnh không dậy được, Hoàng đế thương xót than thở nhiều ngày, truy tặng Thị trung, thụy là Nguyên Ý.

Ngày Nhâm Tuất, chiếu: “Ba quán dùng ‘Khai Nguyên tứ khố thư mục’ để xem những sách trong quán còn thiếu, liệt kê tên, chiêu mộ trong ngoài ai đem được sách dâng, tùy số quyển và loại mà ban thưởng hậu; ai không muốn nộp cho quan, thì mượn bản chép xong trả lại.” Từ đó sách vở bốn phương dần dần xuất hiện.

Ngày Giáp Tý, Liêu chúa đi Trường Lạc.

Hữu ty tâu: tội trộm cắp đến mức tử hình, chiếu đặc xá không giết, nhân đó Hoàng đế bảo Tể tướng: “Trẫm rất tiếc mạng người, chỉ thỉnh thoảng giết kẻ tội nặng nhất để răn chúng. Nhưng không muốn bọn tiểu nhân biết ý khoan dung, e chúng phạm pháp nhiều.”

Ngày Ất Sửu, Hoàng đế ngự lầu Đan Phượng xem đèn, thấy sĩ dân đông nghịt, bảo Tể tướng: “Nước nhà tiếp nối sau nhiều đời can qua, nay bốn biển lại yên, kinh sư phồn thịnh, trẫm rất an ủi. Trẫm thường ngày ít uống rượu, đêm nay cùng các khanh vui chung, nên uống cho say.” Bèn nhiều lần nâng chén không, tỏ ý với quần thần.

Phù Lăng huyện công Đình Mỹ đến Phòng châu, vì lo sợ mà thành bệnh, rồi mất. Ngày Đinh Mão, Phòng châu tâu lên, Hoàng đế nghẹn ngào rơi lệ, bảo Tể tướng: “Đình Mỹ từ nhỏ đã ương bướng, lớn lên càng hung ác, trẫm vì là thân tình ruột thịt, không nỡ xử theo pháp luật, bèn cho ở Phòng Lăng, mong hắn nghĩ lại lỗi mình. Đang muốn ban ân phục lại như cũ, bỗng nhiên chết mất, đau xót biết bao!” Bèn truy phong Phù Lăng vương, thụy là Đạo, Hoàng đế phát tang, mặc đồ tang trọn lễ. Sau đó, nhân lúc thong thả, bảo Tể tướng: “Mẹ của Đình Mỹ là Trần quốc phu nhân Cảnh thị, là nhũ mẫu của trẫm, sau tái giá vào nhà họ Triệu, sinh ra Đình Tuấn, Phó sứ Quân khí khố. Trẫm vì Đình Mỹ, nên nay Đình Tuấn hầu cận bên mình. Đình Tuấn tiết lộ chuyện trong cấm trung cho Đình Mỹ. Gần đây đào Tây trì, trẫm sắp đến chơi, Đình Mỹ cùng bọn tả hữu muốn nhân lúc ấy nổi loạn. Nếu giao cho hữu ty tra xét đến cùng, thì tội Đình Mỹ không thể dung tha. Trẫm chỉ lệnh cho hắn giữ Tây Lạc, mà Đình Mỹ càng oán hận, buông lời bất kính, trẫm mới sai dời đến Phòng Lăng để trọn lòng khoan dung. Còn Đình Tuấn cũng không gia tội nặng, chỉ giáng chức. Trẫm đối với Đình Mỹ, thật không phụ hắn vậy.” Nói xong, lại thương cảm. Lý Phưởng đối rằng: “Phù Lăng nghịch ngợm, thiên hạ đều nghe biết, còn chuyện trong cung cấm, nếu không phải bệ hạ khéo léo nói rõ, chúng thần làm sao biết được!”

Trấn châu tâu: dân kêu hạn lụt, ruộng dưới 20 mẫu xin miễn thuế, triều thần cho rằng ruộng không nhiều, xin đừng nhận đơn. Hoàng đế nói: “Nếu thế, dân nghèo ruộng ít, ân huệ thường không đến. Việc miễn thuế vì tai họa, chính là do dân cùng khốn, há lại lấy nhiều ít làm hạn sao!” Ngày Tân Mùi, chiếu: “Từ nay dân kêu hạn lụt, không xét ruộng nhiều ít, đều cho kiểm tra.”

Ngày Nhâm Thân, miễn cho dân các châu số thóc quan cho vay năm ngoái.

Tả Gián nghị đại phu, Tham tri chính sự Lý Mục mất. Mục có hiếu hạnh, mẹ từng nằm bệnh suốt năm, mọi động tĩnh trở mình, đều tự tay ông đỡ. Lúc đầu vì vụ Đình Mỹ mà bị giao cho quan xét, Mục bảo con là Duy Giản nói dối mẹ rằng vào Đài theo chiếu tra án, đến khi bị giáng chức về nhà, cũng không nói với mẹ, cách ngày lại ra ngoài thăm thân hữu, hoặc đi chùa, giả vờ vào trực, đến lúc bị bắt lại, mẹ vẫn không biết. Làm Tể tướng hơn tháng thì gặp tang mẹ, chiếu ép ông ra làm, Mục càng đau buồn tiều tụy. Ngày Quý Dậu, sáng sớm dậy vào chầu, bị trúng gió, đột ngột mất. Hoàng đế đến khóc, rơi lệ, bảo Tể tướng: “Mục phẩm hạnh thuần chính, trẫm đang định cậy dùng, bỗng chết mất, chẳng phải là bất hạnh của người ấy, mà là bất hạnh của trẫm vậy!”

Ngày Đinh Sửu, Hoàng đế bảo cận thần: “Xưa Tấn Vũ đế sau khi bình Ngô, say đắm trong nội sủng, hậu cung chứa đến mấy nghìn người, rất trái đạo đế vương. Nay trong cung, từ người giữ việc đến kẻ sai vặt, không quá 300 người, trẫm còn cho là nhiều.”

Tháng 2, ngày Nhâm Ngọ mồng 1, Hoàng đế ngự Sùng Chính điện, thân duyệt các tướng hiệu các quân, theo tên trong sổ, xét công lao mà thăng giáng, hơn 1 tháng mới xong. Bảo cận thần: “Trẫm chọn cất nhắc tướng hiệu, trước hết lấy người cẩn thận, biết điều khiển thuộc hạ, võ dũng xếp sau.” Lại nói: “Quân tuy đông, nếu không chọn lọc, cũng như không có quân. Trẫm nhân việc giảng tập, dần dần khiến quân tinh nhuệ, nếu thống soái được người, thì có giặc nào không phá được!”

Chế độ cũ, khi các quân vào từ biệt, nếu trong hàng có kẻ dũng cảm nổi bật, thì lệnh tướng hiệu bảo lãnh lẫn nhau. Vệ Năng, Đô đầu Tán viên Tả ban, đi giữ biên cương, không được mọi người bảo lãnh, Hoàng đế nói: “Người này tài dũng, trẫm có thể tự bảo lãnh.” Từ đó dần dần được cất nhắc.

Lấy Hữu Bổ khuyết Kiều Duy Nhạc làm Chuyển vận sứ Hoài Nam. Trước đó, sông Hoài chảy về tây 30 dặm, gọi là Sơn Dương Loan, nước chảy xiết, thuyền vận tải đi qua, nhiều chiếc bị lật chìm. Duy Nhạc tính toán mở lại sông Sa cũ, từ Vị Khẩu đến Ma Bàn Khẩu ở Hoài Âm, dài 40 dặm. Lại từ Kiến An bắc đến bờ Hoài, tổng cộng 5 đập, thuyền vận tải 10 dây (đoàn) lên xuống, thuyền chở nặng đều phải dỡ lương mà qua, thuyền hỏng, lương mất, thường xuyên xảy ra. Quân phu theo đó làm gian, nhiều chỗ xâm lạm trộm cắp. Duy Nhạc bèn lệnh xây 2 cửa đập ở đập thứ 3 sông Tây, 2 cửa cách nhau hơn 50 bước, lợp nhà mùa hạ bên trên, đặt cửa treo để chứa nước, đợi nước triều ngang mới xả. Lại dựng cầu ngang trên bờ, đắp đất, chất đá để vững chân. Từ đó trừ hết tệ ấy, thuyền vận tải đi lại không bị tắc nữa.

Ngày Canh Tý, Liêu chúa vào chầu Thái hậu, nhân đó xem săn ở Nhiêu Lạc xuyên. Ngày Bính Ngọ, Liêu chúa cùng chư vương, đại thần thi bắn.

Ngày Đinh Mùi, Chiêu thảo sứ nước Liêu là Hàn Đức Nhượng sau khi đánh Đảng Hạng trở về, bèn tập kích Hà Đông, được ban chiếu khen ngợi.

Tháng 3, đãi yến các quan văn võ và khách phiên ngoại quốc ở điện Đại Minh, triệu sứ giả Bột Hải là Loan Hà, an ủi vỗ về. Loan Hà là thủ lĩnh Bột Hải, khi Hoàng đế đánh U châu, ông ta dẫn bộ chúng quy thuận, nên được ban ân như thế.

Sai Hàn lâm học sĩ Tống Bạch đi trạm dịch tế Bạch Mã Tân, dùng lễ Thâm Ất Thái lao, lại thêm ngọc bích, vì sông Hoàng Hà vỡ đê sắp lấp xong.

Ngày Ất Mão, tăng Nhật Bản là Điều Nhiên từ nước mình đến triều kiến, nói: “Quốc chủ họ Vương, từ thủy tổ đến nay tổng cộng 64 đời, 85 vị vương, văn võ liêu lại cũng đều là thế chức.” Hoàng đế nghe vậy than thở, bảo Tể tướng: “Đó chỉ là đảo Di mà thôi, còn giữ được đạo cổ! Trung Quốc từ cuối đời Đường, trong biển chia cắt, vận số đời Ngũ đại lại càng ngắn, con cháu đại thần, ít ai nối được nghiệp cha ông. Trẫm tuy đức không bằng liệt thánh xưa, nhưng chăm lo cầu trị, chưa từng dám tự cho mình nhàn rỗi. Mong trời cao soi xét, cho vận mệnh lâu dài, đại thần cũng đời đời giữ lộc vị. Các khanh nên hết lòng phò tá trẫm, chớ để bọn Di phương xa một mình hưởng phúc ấy.”

Ngày Bính Ngọ, chọn Bí thư thừa Dương Diên Khánh và hơn 10 người chia nhau làm Tri châu các nơi. Hoàng đế nhân đó bảo Tể tướng: “Chức Thứ sử là gần dân nhất, nếu không phải người thích hợp, dân sẽ chịu họa. Xưa Tần Bành giữ Ứng Xuyên, giáo hóa rất thịnh, trong cõi có điềm lành phượng hoàng, kỳ lân, lúa tốt, cam lộ.” Tống Kỳ nói: “Tần Bành chỉ là một Thứ sử, chính sự tốt mà trời ứng như thế, huống chi là người làm vua thiên hạ!”

Ngày Đinh Tị, Hoàng đế bảo Tể tướng: “Các bộ lạc phiên ở Hạ châu mạnh bạo khó chế ngự, nay đều quy thuận, tổng cộng được hơn 5 vạn trướng. Trẫm cũng lo việc chuyển lương làm phiền, nên chỉ lệnh mang trà vào trong bộ lạc phiên để đổi lấy lương cho quân, chưa từng phát dân vận chuyển.” Lại bảo Lý Kế Phụng: “Ngươi ở Hạ châu dùng đạo gì để chế ngự bộ lạc phiên?” Kế Phụng đáp: “Người Nhung xảo trá hung hãn, thần chỉ buộc dây mà cột giữ, chứ không thể chế ngự được.”

Ngày Kỷ Mùi, Hoạt châu tâu sông Hoàng Hà vỡ đê đã lấp xong, quần thần chúc mừng. Miễn thuế ruộng năm nay cho dân các châu huyện bị nước lụt.

Ngày Quý Mùi, lấy con Phù Lăng vương là bọn Đức Cung, Đức Long làm Thứ sử, con rể là Hàn Sùng Nghiệp làm Tư mã Tĩnh Nan quân.

Ngày Kỷ Sửu, triệu Tể tướng và cận thần thưởng hoa ở Hậu uyển, lệnh các thị tòng từ thần đều làm thơ. Từ đây việc thưởng hoa làm thơ bắt đầu.

Ngày Nhâm Thân, ngự Hàn Phương uyển, yến bắn cung, bảo Tể tướng Tống Kỳ: “Chỗ này 3–4 năm trẫm mới đến một lần, vốn không phải thường ra ngoài du yến.” Lúc ấy Lưu Kế Nguyên, Lý Kế Phụng và những người khác đều hầu ngồi, Kỳ nhân đó ca ngợi thần võ, cùng Lý Phưởng và những người khác đều làm thơ; Hoàng đế họa thơ, ban cho.

Mùa xuân năm ấy, Tể tướng tâu việc xong lui ra, Hoàng đế bảo: “Các khanh tâu dâng sổ sách, đó là việc thường. Chỉ có thời vụ không tiện, cần phải nói hết, không giấu, trẫm sẽ cân nhắc mà làm; nếu lời không đúng, cũng không trách.”

Mùa hạ, tháng 4, ngày Ất Dậu, hơn 1.000 phụ lão Thái Sơn lại đến cửa khuyết xin phong thiện. Ngày Mậu Tý, quần thần dâng biểu xin phong thiện, biểu dâng 3 lần. Ngày Giáp Ngọ, chiếu lấy tháng 11 năm nay làm lễ ở Thái Sơn.

Ngày ấy, ngự Kim Minh trì, xem tập thủy chiến, bảo Tể tướng: “Thủy chiến là việc của phương nam, nay đất ấy đã định, không còn dùng nữa, thỉnh thoảng tập, chỉ để tỏ rằng không quên võ công.” Nhân đó ngự Giảng Vũ đài duyệt các quân cưỡi bắn, ai võ nghệ xuất chúng đều ban lụa. Trở về, lên lầu phía bắc Uyển Quỳnh Lâm, ban rượu cho các thần, ném tiền xuống dưới lầu, cho bọn kép hát tranh lấy, vui hết mức rồi mới thôi.

Ngày Đinh Hợi, Tuyên huy sứ, Đồng Bình chương sự Da Luật Phổ Ninh, Đô giám Tiêu Cần Đức của nước Liêu dâng tin thắng trận đánh Nữ Chân, phong Phổ Ninh kiêm Chính sự lệnh, Cần Đức làm Thần Vũ vệ Đại tướng quân, đều ban khí vàng và các vật.

Ngày Canh Dần, Thái hậu nước Liêu thân quyết các án tồn đọng.

Ngày Bính Thân, chiếu cho Hỗ Mông, Giả Hoàng Trung, Từ Huyễn và những người khác cùng xét định nghi lễ phong thiện.

Ngày Kỷ Hợi, lệnh Nam tác phường Phó sứ Lý Thần Hựu và 3 người khác tu sửa đường từ Kinh sư đến Thái Sơn. Ngày Canh Tý, lấy Tể tướng Tống Kỳ làm Phong thiện đại lễ sứ, Hàn lâm học sĩ Tống Bạch làm Lỗ bộ sứ, Giả Hoàng Trung làm Nghi trượng sứ. Tống Kỳ và những người khác bàn rằng nơi đi qua đều bày nghi trượng dẫn giá, Hoàng đế nói: “Trẫm chuyến này là vì sinh dân cầu phúc, quá nghiêm ngặt, không phải ý trẫm.” Bèn chiếu: ”chỉ khi cáo miếu và từ dưới Thái Sơn trở xuống mới dùng nghi trượng, nơi đi qua cũng không cần bày biện.”

Tháng 5, ngày Tân Hợi, ngự phía nam thành xem lúa mạch, ban tiền lụa cho người gặt. Trở về, ngự Ngọc Tân viên, xem cá, yến bắn cung, bảo cận thần: “Trẫm xem từ Ngũ đại trở lại, đế vương lúc đầu thì cần kiệm, cuối cùng lại quên gian nan, mất nước nhanh chóng, đều tự mình gây ra. Kẻ ở trên người, nên lấy đó làm răn.”

Bãi các Nông sư ở châu huyện.

Ngày Đinh Sửu, hai điện Càn Nguyên, Văn Minh bị cháy.

Lấy Tướng tác giám thừa Lý Nguyên Cát, Đinh Cố Ngôn làm Đường hậu cung, ban áo tía, đai bạc, hốt ngà. Từ đây quan kinh sư được bổ làm Đường hậu quan.

Diêm thiết sứ Vương Minh xin mở lệnh cấm muối ở Giang Nam, cho mỗi năm bán muối được hơn 535.000 quan, trong đó hơn 287.000 quan là cấp muối cho dân, thu tiền theo thuế, hơn 240.000 quan cho thương nhân buôn bán, thu tiền thuế; triều đình theo đó.

Tháng 6, ngày Kỷ Mão mồng 1, Thái hậu nước Liêu quyết án đến cuối tháng.

Ngày Đinh Hợi, chiếu cầu lời nói thẳng.

Ngày Nhâm Thìn, chiếu: “Quan mạc chức, quan châu huyện trong thiên hạ dâng thư nói việc, phàm lợi hại phong tục dân, tốt xấu chính lệnh, đều cho phép gửi kèm theo trạm dịch ở bản châu để tâu lên.” Trước đó, Chuyển vận sứ, Tri châu, Thông phán đều được dâng thư, còn thuộc quan châu huyện thì không, Hoàng đế lo dưới không thông lên, nên ban chiếu này.

Ngày Kỷ Sửu, sai sứ đi các lộ xét ngục.

Trấn An Tiết độ sứ, Thủ Trung thư lệnh Thạch Thủ Tín mất, thụy là Vũ Liệt.

Ngày Canh Tý, bắt đầu lệnh các châu 10 ngày một lần xét tù.

Ngày Nhâm Dần, Hoàng đế bảo Tể tướng: “Phong thiện bỏ đã lâu, nay thời hòa bình, năm được mùa, làm là hợp lẽ. Nhưng chính điện bị cháy, lại làm việc lớn, e chưa hợp ý trời. Lại đang lúc nóng bức, rất lo làm khổ dân.” Bèn chiếu đình phong thiện, lấy ngày Đông chí làm lễ ở Nam giao.

Mùa thu, tháng 7, ngày Nhâm Tý, đổi điện Càn Nguyên làm điện Triều Nguyên, điện Văn Minh làm điện Văn Đức, cửa Đan Phượng làm cửa Càn Nguyên.

Ngày Ất Mão, chiếu: “Ngự sử xét án, tất phải thân đến, không được hoàn toàn giao cho lại dịch.”

Ngày Canh Thân, đổi Quỹ viện làm Đăng văn cổ viện, Đông Diên Ân quỹ làm Sùng Nhân kiểm viện, Nam Chiêu gián quỹ làm Tư Gián kiểm viện, Tây Thân oan quỹ làm Thân Minh kiểm viện, Bắc Thông Huyền quỹ làm Chiêu Hiền kiểm viện; lại lệnh Gián viện như cũ cử 1 quan Gián quan chủ phán.

Tháng 8, ngày Tân Mão, Lưu thủ Đông Kinh nhà Liêu là Da Luật Mục Tế tâu 8 bộ Nữ Chân là Châu Bố Thật, Tát Lý v.v. xin đem cả bộ chúng nội phụ, chiếu cho nhận.

Ngày Quý Sửu, có thường dân dùng túi đen phong thư dâng lên, lời lẽ cuồng vọng. Hoàng đế xem xong, bảo Tể tướng: “Gần đây người dâng phong thư phần nhiều không biết thứ tự triều đình, lời nói phần nhiều bừa bãi. Vốn là muốn cho dưới thông lên trên, mọi việc không bị bưng bít, nên dù cuồng nghịch, cũng dung nạp.” Tống Kỳ nói: “Bệ hạ mở rộng đường nói, dù trăm điều được một, cũng là lợi cho quốc gia vậy.”

Hữu Bổ khuyết, Tri Mục châu là Điền Tích (田錫) ứng chiếu dâng sớ, đại lược nói: “Nay bệ hạ có chỗ dựa vào mà đang khát khao nghe lời nói thẳng chí lý, có việc đang làm mà thiết tha mong kẻ hầu cận can gián trực tiếp, tự quy lỗi để răn mình, tu đức ngày càng mới. Thần cho rằng trách nhiệm là ở các cận thần, chứ không ở nơi thánh thân; tội là ở quan ngự sử can gián, chứ không ở bệ hạ. Gần đây bệ hạ có việc triều lệnh ban ra buổi sáng, buổi tối lại đổi, là do chế chiếu khi thi hành có chỗ chưa thỏa đáng, mà không có ai phong bác. Nếu chức Cấp sự trung giao đúng người, chế chiếu lại cho phép họ được phong bác, thì chiếu lệnh ban xuống ắt không gì là không thỏa đáng, việc đem ra thi hành ắt không gì là không tinh mật, biên chép thành điều lệ, há còn có tệ nạn ‘triều lệnh sáng ban tối đổi’! Đó là lý do thần nói trách nhiệm ở cận thần chứ không ở thánh thân.

Thần lại thấy bệ hạ có việc bỏ gần mưu xa, là do lời nói, hành động chưa hợp với đạo lý chí chính, mà không ai dám can gián tranh luận, ấy là lỗi của bọn Tả hữu Thập di, Bổ khuyết hầu cận bên cạnh. Thêm nữa, lâu ngày thái bình, thiên hạ thống nhất, khiến bệ hạ vì cảnh thái bình mà tự đắc, vì công nghiệp mà tự cho là nhiều. Không biết rằng bốn phương tuy yên, vạn nước tuy tĩnh, nhưng hình phạt chưa thật được đặt xuống, thủy hạn chưa thật được điều hòa; bệ hạ gọi đó là thái bình, thì ai dám không gọi là thái bình! Đang muốn vì dân cầu phúc, để báo công đức của trời, có việc ở Thái Sơn, bày lễ với Thượng đế, mưu người tuy thành, nhưng ý trời chưa thuận. Lửa cháy trong cấm cung, là để cảnh tỉnh, thức ngộ bậc anh chủ; chiếu ban khắp trong bốn bể, rồi truyền cáo cho dân chúng. Đó là lý do thần nói tội ở quan can gián, chứ không ở bệ hạ vậy.”

Ngày Đinh Dậu, Hoàng đế thân đến tế Thái Nhất cung.

Tháng 9, Tri Hạ châu là Doãn Hiến tập kích Lý Kế Thiên, chém 500 thủ cấp, bắt được mẹ và vợ hắn, bắt sống 1.400 trại, Kế Thiên chỉ kịp thoát thân. Bấy giờ ban cho Lý Kế Phụng họ Triệu, tên Bảo Trung, phong làm Hạ châu Thứ sử, Định Nan Tiết độ sứ, để đánh Kế Thiên, quản lĩnh 5 châu Hạ, Ngân, Hựu. Kế Phụng đến trấn được mấy ngày, tâu rằng Kế Thiên hối lỗi, xin quay về quy thuận, Hoàng đế cho làm Ngân châu Thứ sử, Tây Nam Tuần kiểm sứ. Kế Thiên vốn không có lòng hàng, lại dụ dỗ người Nhung làm giặc.

Ngày Nhâm Tuất, quần thần dâng biểu 3 lần tôn xưng tôn hiệu là Ứng vận thống thiên Duệ văn Anh vũ Đại thánh Chí nhân Minh đức Quảng giáo Hoàng đế, nhưng không được chấp thuận, Tể tướng dập đầu khẩn khoản thỉnh cầu, rốt cuộc vẫn không cho.

Khi Hoàng đế mới lên ngôi, từng triệu ẩn sĩ Hoa Sơn là Trần Đoàn (陳摶) vào chầu. Mùa đông, tháng 10, ông lại đến cửa khuyết, Hoàng đế càng thêm lễ trọng, bảo Tống Kỳ (宋琪) và những người khác rằng: “Trần Đoàn chỉ lo giữ mình, không cầu thế lợi, là bậc sĩ ở ngoài cõi tục. Ở Hoa Sơn đã hơn 40 năm, ước chừng tuổi phải đến 100, tự nói từng trải qua loạn ly Ngũ đại, may gặp thiên hạ thừa bình, nên đến triều kiến. Nói chuyện với ông ta, rất đáng nghe.” Nhân đó sai sứ đưa ông đến Trung thư. Kỳ và những người khác thong thả hỏi Đoàn rằng: “Tiên sinh có được đạo huyền mặc tu dưỡng, có thể hóa độ người chăng?” Đáp: “Đoàn là người sơn dã, vô dụng với thời thế, cũng không biết chuyện thần tiên hoàng bạch, lý lẽ thổ nạp dưỡng sinh, không có thuật gì có thể truyền cho người. Giả như ban ngày bay lên trời, thì cũng có ích gì cho đời! Chủ thượng long nhan tú dị, thông đạt cổ kim, thật là bậc chúa nhân thánh có đạo, chính là buổi ‘quân thần đồng đức, hưng hóa đạt trị’, chăm lo tu luyện, không gì hơn được điều ấy.” Kỳ và những người khác dâng biểu tâu lại lời ấy, Hoàng đế càng vui. Ngày Giáp Thân, ban hiệu Hy Di tiên sinh cho Đoàn, lệnh hữu ty tu bổ thêm đài quán nơi ông ở. Hoàng đế nhiều lần cùng ông nối vần thơ phú, mấy tháng sau cho trở về.

Ngày Quý Tị, Lam châu dâng một con thú một sừng, Từ Huyễn (徐鉉) và những người khác cho là tường lân, Tể tướng Tống Kỳ và những người khác dâng biểu chúc mừng. Hoàng đế nói: “Chim quý thú lạ, có ích gì cho việc chính! Trong cõi đều yên, phong tục thuần hậu, đó mới là điều cát tường thật sự mà thôi.” Nhân đó Kỳ và những người khác xin tuyên thị, tất cả 63 loại vật cát tường, đều vẽ tranh giao cho Sử quán.

Tháng 11, ngày Bính Dần, Hoàng đế thân tế Thái miếu. Ngày Đinh Mão, tế Trời Đất ở Nam giao, lấy Tuyên Tổ phối Thiên, còn Thái Tổ phối Thượng đế, theo nghị của Lễ quan Hỗ Mông (扈蒙). Ngày ấy, đại xá thiên hạ, đổi niên hiệu là Ung Hy.

Ngày Quý Dậu, lấy Tiến sĩ Kiến châu là Dương Ức (楊億) làm Bí thư tỉnh Chính tự, lúc ấy mới 11 tuổi. Ức 7 tuổi đã biết làm văn, Hoàng đế nghe tiếng, chiếu cho Giang Nam Chuyển vận sứ Khai Phong là Trương Khứ Hoa (張去華) đến nơi khảo sát từ nghệ, rồi sai đưa vào kinh. Liên tiếp 3 ngày được yết kiến, thi phú 5 bài, đều cầm bút làm xong ngay, Hoàng đế rất than thở khen ngợi, nên có lệnh ấy.

Tháng 12, ngày Canh Thìn, Hoài Hải quốc vương Tiền Thục (錢俶) dời phong làm Hán Nam quốc vương.

Ngày Quý Mùi, ban lụa cho người cao niên vùng Kinh Kỳ.

Ngày Đinh Hợi, bãi các bãi khai thác ngọc trai ở các châu Lĩnh Nam. Từ đó chỉ có thuyền buôn qua lại trao đổi và nhận cống vật từ hải ngoại.

Ngày Nhâm Thìn, lập Đức phi Lý thị làm Hoàng hậu, Hậu vốn là con gái Cựu Tư châu Thứ sử Xử Vân (處耘).

Ngày Bính Thân, ban cho kinh sư đại bồ 3 ngày, tập hợp nhạc công phủ Khai Phong và các quân, dời 4 chợ buôn bán, trai gái 5 phương tụ hội lớn, làm xe núi, thuyền cạn, qua lại trên ngự đạo, diễn trò cá rồng uốn lượn, từ trước cửa Càn Nguyên môn đến Chu Tước môn, đông tây dài mấy dặm. Hoàng đế ngự Đan Phượng lâu xem cuộc bồ, triệu các quan hầu đến ban rượu, xếp chỗ ngồi cho các bậc kỳ lão vùng Kinh Điện, ban rượu thịt, âm nhạc cùng vang, người xem đông nghịt. Ngày hôm sau, người dâng ca từ, thơ tụng, phú vịnh có đến mấy nghìn.

Nước Liêu lấy Hàn lâm học sĩ Thừa chỉ Mã Đắc Thần (馬得臣) làm Tuyên Chính điện học sĩ. Đắc Thần hiếu học, giỏi làm văn, ở triều đình nổi tiếng là chính trực.

Năm Ung Hy thứ 2 (Liêu, Thống Hòa năm thứ 3), Công nguyên năm 985

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Bính Ngọ là mồng 1, Liêu chúa đi đến Trường Lạc.

Ngày Bính Thìn, lấy Đức Cung làm Tả Vũ vệ Đại tướng quân, phán Tế châu, phong An Định hầu; Đức Long làm Hữu Vũ vệ Đại tướng quân, phán Nghi châu, phong Trường Ninh hầu; họ đều là con của Phù Lăng vương Đình Mỹ (廷美). Lấy Hữu Bổ khuyết Lưu Mông Tẩu (劉蒙叟) làm Thông phán Tế châu, Khởi cư xá nhân Hàn Kiểm (韓檢) làm Thông phán Nghi châu, cho thay mặt xử lý việc châu. Mông Tẩu là con Hy Cổ (熙古).

Ngày Đinh Tị, nước Liêu lấy Hàn lâm học sĩ Hình Bão Phác (邢抱朴) làm Lễ bộ Thị lang, Tri chế cáo; lấy Tả Thập di, Tri chế cáo Lưu Cảnh (劉景), Lại bộ Lang trung, Tri chế cáo Ngưu Tàng Dụng (牛藏用), đều làm Chính sự xá nhân. Bão Phác hiếu học, bác cổ; Cảnh đoan trọng, giỏi văn, đều là bậc được đương thời trông đợi.

Ngày Quý Hợi, Hàn lâm học sĩ Giả Hoàng Trung (賈黃中) và 8 người nữa tạm quyền Tri cống cử. Hoàng đế bảo Tể tướng rằng: "Đặt khoa lấy sĩ, là đường lối nhanh nhất. Những năm gần đây, sổ sách đầy hơn vạn người, há không có kẻ được tiến cử bừa bãi sao!" Ngày Kỷ Tị, chiếu: "Từ nay các khoa đều phải ước định số người, xen kẽ nhau dẫn vào thi, phân khoa ngồi cách biệt, sai quan tuần sát canh giữ cửa, cẩn thận xem xét ra vào. Kẻ dùng văn tự qua lại với lại dịch để làm gian, thì xử theo pháp; kẻ riêng đem nghĩa kinh dạy nhau, thì đuổi ra khỏi trường; ngũ bảo mà biết trước cũng bị liên đới. Tiến sĩ phải xét đi xét lại gấp bội. Người coi cống cử không được vì đã từng dự ngự thí mà không khảo đãi đã tiến cử." Bắt đầu lệnh cho thân thích của quan khảo thí phải thi riêng, tổng cộng 98 người. Lại bãi việc Tiến sĩ thi luật, khôi phục việc dán kinh.

Tháng 2, ngày Bính Tý sóc, nước Liêu lấy Ngưu Tàng Dụng làm Tri Khu mật trực học sĩ.

Ngày Mậu Dần, Quyền Giao châu Lưu hậu Lê Hoàn (黎桓) sai sứ sang cống.

Ngày Ất Mùi, Hạ châu Lý Kế Thiên dụ giết Đô Tuần kiểm sứ Tào Quang Thực (曹光實) ở Gia Lô xuyên. Kế Thiên từ sau khi bại ở Địa Cân trạch, chỗ ở dời đổi không nhất định, người phương Tây phần nhiều theo về, dần dần mạnh lên. Bèn dẫn quân đánh Lân châu, sai người lừa dối Quang Thực, hẹn ngày hội ở Gia Lô xuyên để đầu hàng. Quang Thực tin, lại muốn tự chiếm công, không bàn với ai, đến kỳ, chỉ đem 100 kỵ binh đến. Phục binh của Kế Thiên đều nổi dậy, Quang Thực bị hại, rồi thừa thế tập kích chiếm cứ Ngân châu.

Ngày Bính Tuất, Hoàng đế bảo Tể tướng rằng: "Trẫm xem sử sách, thấy Tấn Cao Tổ cầu viện ở Khiết Đan, làm lễ thờ họ làm cha, lại cắt đất để phụng sự, khiến mấy trăm vạn lê dân rơi vào ngoại vực, Phùng Đạo (馮道), Triệu Doanh (趙瑩) lại giữ chức Tể phụ, đều sai họ mang lễ, chịu nhục quá đỗi." Tống Kỳ và những người khác tâu rằng: "Tấn Cao Tổ sai Phùng Đạo đi sứ, bày tiệc tiễn, tự tay nâng chén rơi lệ mà nói: ‘Hoàn thành mệnh lệnh của hai quân chủ, kết mối vui một nước, khiến trọng thần của ta đến nơi biên tái cùng khốn, để dân được nghỉ ngơi, nối tiếp hòa hiếu, nên hiểu tấm lòng này, chớ lấy làm giận.’ Đến khi Đạo về, có thơ rằng: ‘Trên điện một chén, thiên tử khóc, trước cửa hai tiết, quốc nhân than.’ Khiến cho đình trạm nghiêm túc, sinh linh yên ổn, đều là nhờ có đạo chế ngự. Khôi phục cương vực cũ, cũng nên lựa thời mà làm." Hoàng đế cho là phải.

Cấm tăng thêm lập chùa quán.

Tháng 3, ngày Kỷ Mùi, khảo lại Lễ bộ cống cử nhân, lấy được Tiến sĩ Tu Thành là Lương Hiệu (梁顥) và 178 người, các khoa 318 người, đều xướng tên ban cho đỗ. Việc xướng tên bắt đầu từ đây. Con Tể tướng Lý Phưởng (李昉) là Tông Ngạc (宗諤), em họ Tham tri chính sự Lữ Mông Chính (呂蒙正) là Mông Hanh (蒙亨), con Diêm thiết sứ Vương Minh (王明) là Phù (扶), con Độ chi sứ Hứa Trọng Tuyên (許仲宣) là Đãi Vấn (待問), đều dự thi Tiến sĩ, bài thi đều vào hạng. Hoàng đế nói: "Đây đều là con nhà thế gia, cùng tranh tiến với kẻ cô hàn, dù có do tài nghệ mà lên, người ta cũng cho rằng trẫm có tư riêng." Bèn bãi cả.

Người Thanh châu là Vương Tòng Thiện (王從善) ứng cử khoa Ngũ kinh, tuổi mới hơn 20, tự nói thông thuộc đọc thuộc lòng văn chú Ngũ kinh, Hoàng đế lần lượt nêu bản kinh ra hỏi, ông đọc như nước chảy, đặc biệt ban cho đỗ Cửu kinh, ban áo xanh, đai bạc, 20.000 tiền ngay trước mặt. Lúc ấy tả hữu dâng lời nói còn có nhân tài bị bỏ sót, ngày Nhâm Tuất, lại khảo thí, lại lấy được Tiến sĩ Hưu Ninh là Hồng Trạm (洪湛) và 76 người, các khoa 300 người, đều ban cho đỗ.

Sai Tri Tần châu Điền Nhân Lãng (田仁朗) và những người khác đem quân đánh Lý Kế Thiên.

Dân Giang Nam đói, cho phép vượt sông tự tìm chỗ ở.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Ất Hợi sóc, sai sứ đi các châu Giang Nam, cứu tế dân đói và xét xem quan lại có năng lực hay không.

Ngày Bính Tý, yến tiệc cận thần ở Hậu uyển, thưởng hoa câu cá, bày nhạc ban rượu, lệnh làm thơ, tập bắn. Từ đó hằng năm lấy làm lệ thường.

Tháng 5, ngày Canh Ngọ, Trung thư Môn hạ tâu rằng các quan bị giáng chức đã được đại xá, muốn cho về kinh, đòi hỏi công lao về sau, Hoàng đế không cho, bảo Tể tướng rằng: "Triều đình trị lý, phải dùng hiền lương, quân tử tiểu nhân, nên phân biệt rõ ràng. Nay ở hải đảo, vách núi cùng xa, nơi hiểm ác, có rất nhiều thần bị đày. Từ khi làm lễ giao minh đến nay, há chẳng nghĩ đến họ! Nhưng bọn này tính tình hiểm độc, nếu hơi được chí, lại kết bè lập đảng, mặc sức khen chê, như ngựa hại bầy, há nên dễ bàn đến sao!"

Ngày Quý Dậu, nước Liêu lấy Quốc cữu Tiêu Đạo Ninh (蕭道甯) làm Đồng Bình chương sự, Tri Thẩm châu sự.

Tháng 6, ngày Giáp Tuất, Thái hậu nước Liêu thân quyết các vụ án tồn đọng.

Ngày Mậu Tý, lại cấm muối, độc quyền rượu.

Lý Kế Thiên sau khi giết Tào Quang Thực, bèn vây trại Tam tộc, đánh hạ được. Hoàng đế rất giận, bắt Điền Nhân Lãng vào ngục tra hỏi, tha chết, đày đến Thương châu. Tháng ấy, Phó tướng Vương Thâm (王侁) và những người khác xuất quân phía bắc Ngân châu, phá các trại Tất Lợi, chém Thứ sử Đại châu của chúng. Lúc ấy Quách Thủ Văn (郭守文) cùng Thâm cùng nắm việc biên thùy, cùng với Tri Hạ châu Doãn Hiến đánh các bộ Phiên ở Diêm thành, đốt hơn 1.000 trại, do đó 125 bộ tộc Phiên ở 3 châu Ngân, Lân, Hạ đều vào nội phụ, hơn 16.000 hộ.

Mùa thu, tháng 7, ngày Giáp Thìn sóc, nước Liêu lệnh các đạo sửa sang giáp binh để phòng bị đông chinh.

Ngày Canh Thân, chiếu: "Các lộ Chuyển vận sứ và Trưởng lại các châu, phải chuyên tâm đốc sát các quan tri hội, theo kỳ hạn xem xét kho thóc, chớ để hư hỏng. Nếu có tính toán chi dùng, đặt cách biến thông, hoặc xuất bán, cho vay cho dân, hoặc chuyển vận về kinh sư. Nếu không xem xét mà làm hư hại thóc của quan, thì dù đã rời chức, vẫn luận tội theo luật."

Ngày Đinh Mão, nước Liêu sai sứ kiểm duyệt binh khí các quân ở Đông Kinh và đường đi đông chinh, lấy Bình chương sự Tiêu Đạo Ninh làm Chiêu Đức quân Tiết độ sứ, Quách Tập (郭襲) làm Thiên Bình quân Tiết độ sứ. Lúc ấy Tể tướng Thất Phưởng (室昉) phát 200.000 dân phu, một ngày xong việc. Khi đó Phưởng cùng Hàn Đức Nhượng (韓德讓), Da Luật Sắc Trân (耶律色珍) kết bạn thân, đồng lòng phụ chính. Chỉnh đốn, phân tích tệ nạn sâu mọt, biết gì đều nói, chủ trương nghỉ dân, giảm thuế, nên pháp độ được thi hành đầy đủ.

Tháng 8, ngày Quý Dậu sóc, nước Liêu vì Liêu trạch lầy lội, bãi việc đánh Cao Ly; lệnh Khu mật sứ Da Luật Sắc Trân làm Đô thống, để đánh Nữ Chân.

Ngày Quý Mùi, Liêu chúa đến bái Càn lăng.

Ngày Quý Tị, Thái hậu nước Liêu đến bái Hiển lăng; ngày Canh Tý, đến bái Càn lăng.

Trước đây, Phù Lăng công Đình Mỹ bị tội, Sở vương Nguyên Tá (元佐) một mình cầu xin cho ông ta, Hoàng đế không nghe. Đình Mỹ chết, Nguyên Tá bèn phát bệnh tâm thần, có khi lâu ngày không vào chầu; nhiều lần làm việc tàn nhẫn, không giữ pháp độ, tả hữu có lỗi nhỏ tất dùng tay giết, bộc dịch đi qua sân, thường giương cung bắn. Hoàng đế răn dạy rất nghiêm, nhưng đều không sửa. Năm ấy mùa hạ, mùa thu, bệnh nặng, Hoàng đế rất lo. Tháng 9, bệnh hơi thuyên giảm, Hoàng đế mừng, nhân đó ban đức âm.

Ngày Canh Tuất, tiết Trùng Dương, ban rượu cho cận thần ở nhà Lý Phưởng và những người khác, triệu chư vương yến tiệc, bắn cung trong vườn, mà Nguyên Tá vì mới khỏi bệnh nên không dự. Đến chiều, Trần vương Nguyên Hựu (元佑) và những người khác đến thăm, Nguyên Tá bảo rằng: "Các ngươi cùng Thánh thượng yến tiệc, bắn cung mà ta không được dự, ấy là bị vua cha bỏ rồi!" Bèn nổi giận, nửa đêm, nhốt các tì thiếp, phóng lửa đốt cung, đến sáng, khói lửa chưa dứt. Hoàng đế đoán lửa tất do Nguyên Tá gây ra, lệnh bắt tạm đưa đến Trung thư, sai Ngự sử tra hỏi, đặt gông lớn trước mặt; Nguyên Tá sợ hãi khai hết sự thật. Hoàng đế sai Nội thị Đô tri Vương Nhân Duệ (王仁睿) bảo rằng: “Mày là thân vương, phú quý đến cực điểm, sao lại hung bạo như thế! Điển hiến quốc gia, tao không dám tư vị. Tình cha con đến đây là dứt." Nguyên Tá không đáp được. Từ Trần vương Nguyên Hựu trở xuống, đến cả Tể tướng, cận thần, đều khóc lóc xin cứu, Hoàng đế rơi lệ nói: "Trẫm mỗi khi đọc sách, thấy con cháu đế vương đời trước không theo giáo huấn, chưa từng không đấm tay căm giận. Há ngờ nhà ta lại có chuyện này!" Bèn hạ chiếu, phế làm thứ dân, an trí ở Quân châu. Ngày Đinh Tị, Tống Kỳ và những người khác dẫn bá quan phủ phục trước cửa dâng biểu, xin lưu Nguyên Tá ở kinh sư, chiếu không cho, biểu dâng 3 lần, mới cho. Nguyên Tá đi đến Hoàng Sơn, lại triệu về, đặt ở Nam cung, sai sứ giám hộ, không cho thông với việc bên ngoài. Quan lại trong vương phủ đều xin tội, Hoàng đế nói: "Trẫm dạy bảo mà nó còn không nghe, há chúng bây có thể dẫn dắt được sao!" Bèn tha không hỏi.

Hữu Vũ Lâm Thống quân Chu Bảo Quyền (周保權) chết.

Tháng nhuận, ngày Giáp Tuất, lấy Ngự bộ Lang trung, Tri chế cáo, người Trịnh là Hàn Phi (韓丕) làm Tri Hoạt châu. Phi có văn hạnh, triều đình gọi là bậc trưởng giả; nhưng chiếu mệnh cần dùng, thì chậm trễ. Một đêm, cần chiếu thư rất gấp, Phi dừng bút đã lâu, hỏi lấy bản thảo cũ, lại dịch khóa cửa ra ngoài ngủ, không thể tìm, Phi bèn phá khóa lấy ra, sửa đổi rồi dâng. Tể tướng Tống Kỳ tính tình nóng nảy, thường đốc trách, hoặc dùng lời đùa cợt mà nhắc, Phi không bằng lòng, dâng biểu xin ra ngoài nhậm chức, nên có lệnh ấy.

Ngày Ất Mùi, cấm ở Ung quản giết người tế quỷ và tăng nhân lập vợ con.

Mùa đông, tháng 10, ngày Tân Sửu sóc, Hoàng đế xét tù giam, xử việc đến lúc mặt trời xế, cận thần can rằng lao nhọc quá. Hoàng đế nói: "Án tụng được công bằng, trẫm trong lòng rất thấy thích hợp, có gì là lao nhọc!" Nhân đó bảo Tể tướng rằng: "Có người nói việc nhỏ của hữu ty, đế vương không nên thân quyết, ý trẫm thì khác. Nếu chỉ lấy tôn quý mà tự giữ, thì tình dưới không thể đạt lên trên vậy."

Ngày Kỷ Dậu, lại xử tội bọn lại dịch chủ lương sông Biện, vì tội cướp khẩu lương của quân vận lương, chặt cổ tay bêu ở bờ sông 3 ngày, rồi chém.

Tháng 11, ngày Giáp Tuất, nước Liêu lệnh Ngô vương Thiểu (稍) chủ trì việc tang táng Tần vương Hàn Khuông Tự (韓匡嗣).

Ngày Tân Mão, chiếu: "Từ nay Kinh quan, Mạc chức, quan châu huyện có chịu tang cha mẹ, đều cho rời chức; Thường tham quan tâu lên đợi chỉ."

Liêu lấy Hàn Đức Nhượng kiêm Chính sự lệnh. Trước đó Da Luật Hổ Cổ (耶律虎古) vì lời nói trái ý Hàn Khuông Tự, đến nay bị triệu từ chức Thứ sử Trác châu về kinh sư, lại vì việc trái ý Đức Nhượng. Đức Nhượng giận, lấy chùy sắt của hộ vệ đánh vào đầu mà giết đi, quần thần không ai dám hỏi.

Tháng 12, ngày Canh Tý sóc, nhật thực.

Ngày Bính Thìn, Tống Kỳ, Sài Vũ Tích (柴禹錫) bị bãi chức. Lúc ấy Tri Quảng châu là Bộc Dương Từ Hưu Phục (徐休復) mật tấu rằng Quảng Nam Chuyển vận sứ là Giang Lăng Vương Diên Phạm (王延範) mưu làm phản, lại nói ông ta dựa vào đại thần, không ai dám động đến, Hoàng đế định sai sứ tra xét. Diên Phạm là bà con xa với vợ Tống Kỳ là Cao thị. Gặp lúc Kỳ, Vũ Tích vào chầu, Hoàng đế hỏi: "Diên Phạm là người thế nào!" Kỳ chưa biết đầu đuôi, hết lời khen Diên Phạm cương nghị, trung thành, giỏi việc, Vũ Tích cũng nói theo. Hoàng đế cho rằng Kỳ và Vũ Tích có giao thông, không muốn phơi bày việc ấy, chỉ lấy cớ Kỳ hay đùa cợt, không có phong độ đại thần, Vũ Tích không thể hết lòng vì công, nên bãi quyền chính, Kỳ giữ chức Hình bộ Thượng thư, Vũ Tích làm Tả Kiêu vệ Thượng tướng quân. Nhân đó bảo Lý Phưởng và những người khác rằng: "Trẫm đối với đại thần, há dễ dàng tiến thoái! Kỳ làm Tể tướng, lại xin ở nhà cũ của Lư Đa Tốn (盧多遜), không tránh tiếng xấu, khác gì với Chung Ly Ý (鐘離意)! Trung thư, Khu mật là nơi phát ra chính lệnh của triều đình, gốc trị loạn hệ ở đó, phải hết lòng công chính để xứng với sự trọng dụng. Người ai không có tình thân thích, nhưng nếu tài không xứng, chẳng bằng cho họ tiền của mà thôi. Trẫm cũng có người cũ, nếu quả thật không có chỗ dùng, chưa từng cho họ danh vị. Các khanh nên lấy đó làm răn!"

Giáo phường sứ Quách Thủ Trung (郭守忠) xin ra ngoài nhậm chức, Hoàng đế không cho, ban lụa.

Lúc ấy điều động Phúc Kiến nộp lông hạc làm lông tên, một chiếc lông giá đến mấy trăm tiền, dân rất khổ. Chủ bộ Long Khê là Nhiêu Dương Vương Tế (王濟) nhân tiện khuyên dân lấy lông ngỗng thay thế, trạm tâu việc ấy, nhân đó chiếu cho các quận bên cạnh đều làm theo lời Tế.

Quân Nam Khang báo tuyết rơi 3 thước, sông Trường Giang đóng băng, có thể chở vật nặng qua.

Năm ấy, bàn việc dùng binh ở Yên Kế, chiếu dụ Cao Ly, lệnh phát binh hội ở phía tây.

Liêu thái hậu xưng chế, bèn giao cho Da Luật Hưu Cách (耶律休格) tổng lĩnh việc phía nam. Hưu Cách chia đều quân đồn trú, lập phép thay phiên nghỉ ngơi, khuyến khích nông tang, rất chú trọng võ bị. Do thám biết nhà Tống có ý dùng binh, bèn đặt nhiều gián điệp, cho họ nói dối rằng trong nước trống rỗng. Biên soái nhà Tống không có mưu, đều tin lời ấy.