Tục tư trị thông giám/Quyển 15
Năm Đoan Củng thứ 2 (Liêu, Thống Hòa năm thứ 7), Công nguyên năm 989
[sửa]Mùa hạ, tháng 4, Quốc tử bác sĩ Lý Giác (李覺) dâng sớ nói:
- Xưa Lý Khôi có nói: ‘Thóc gạo mua vào quá đắt thì hại dân, quá rẻ thì hại nông; dân bị hại thì ly tán, nông bị hại thì nước nghèo. Cho nên quá đắt hay quá rẻ, cái hại là như nhau; bậc giỏi trị nước khiến dân không bị hại mà nông dân lại càng được khuyến khích.’ Cái gọi là ‘dân’ đó, là chỉ sĩ, công, thương. Nay kinh đô là nơi vạn dân tụ hội, dẫn sông đào kênh, thông đến Hoài, Hải, xuyên qua Giang, Hồ, mỗi năm vận chuyển 5.000.000 hộc để cung cấp chi phí quốc gia. Nhưng mấy năm gần đây, thóc lúa ở kinh đô rẻ quá mức, kho tàng chất đống nối tiếp, hoặc đem ra làm thưởng cấp, 1 đấu chỉ giá 10 tiền, đó là lợi cho thợ thuyền, con buôn, mà bất lợi cho quân sĩ, nông dân. Thần tính sơ, vận 1 hộc gạo, phí tổn không dưới 300 tiền, hao hụt, tổn thất lại còn ngoài số ấy. Mà phu kéo thuyền, dầm dãi đông hè, xa lìa quê quán, đến chết già nơi sông hồ. Lương thực đưa đến thì vô cùng nặng nhọc, khó khăn, mà quan lại phát cấp thì vô cùng nhẹ nhàng, dễ dãi. Nếu chẳng may có lo nước, lo hạn, hoặc đột nhiên có hoạn nạn biên cương, thì lấy gì để cứu vãn? Thần xét, các quân kỵ nhân trước đây mỗi ngày cấp 2 thăng gạo, nay nếu mỗi tháng cấp 300 tiền, tức là 1 đấu tính 50 tiền. Tính công phí vận gạo ở Giang, Hoài, cũng không kém số ấy. Xin ban minh chiếu cho trong quân, tùy theo tiện lợi, ai muốn nhận tiền thì, nếu giá chợ 1 đấu gạo quan là 30 tiền, bèn tăng cho 10 tiền, vừa đủ bù công vận chuyển mà quan bắt đầu có lãi; trong vài tháng, giá gạo ắt tăng, nông dân được lợi. Nếu giá gạo tăng vọt, thì triều đình lại cấp lương bằng gạo, quân sĩ bán phần dư ra cũng được giá tốt, đó lại là chỗ quân sĩ được lợi. Chưa đến 10 năm, triều đình sẽ có dư lương, việc vận chuyển trên sông hồ cũng dần có thể bớt đi.
Hoàng đế xem tấu, khen ngợi.
Liêu chúa ưa đánh cầu, từng cùng đại thần chia phe đánh cù (kỵ cầu). Gián nghị đại phu Mã Đắc Thần (馬得臣) dâng sớ can rằng:
- Thần may được dự hàng thị tòng, được hầu bên cạnh nghe đọc sách. Bệ hạ từng hỏi thần về việc đời Trinh Quán, Khai Nguyên. Thần nghe Đường Thái Tông khi hầu Thái Thượng hoàng, yến tiệc xong thì tự mình kéo xe đưa vào nội điện; Minh Hoàng cùng anh em vui uống, giữ lễ như người trong nhà. Bệ hạ nối ngôi tổ khảo, thân hầu Thái hậu, có thể gọi là chí hiếu. Lại mong ngoài lúc vào chầu thăm hỏi, càng hòa mục với lục thân, thêm lòng yêu kính, thì đạo thân thân của bệ hạ có thể sánh với hai Hoàng đế linh diệu kia. Thần lại nghe hai Hoàng đế ấy say mê kinh sử, thường mời công khanh giảng học, đến tận lúc mặt trời xế, cho nên đương thời thiên hạ đều hướng theo, để tôn sùng văn trị. Nay bệ hạ cũng để tâm vào điển tịch, phân giải câu chữ, thần mong bệ hạ nghiên cứu việc trị lý, sâu hiểu mà thực hành vững chắc, thì việc trị nước như hai Hoàng đế kia, chẳng khó kế tục.
- Thần lại nghe Thái Tông bắn lợn rừng, Đường Kiệm can; Minh Hoàng giương tay nuôi chim ưng, Hàn Hưu nói; hai Hoàng đế đều vui lòng nghe theo. Thần cúi trông thấy bệ hạ lúc rảnh việc triều chính, lấy đánh cầu làm vui, thần nghĩ việc này có 3 điều không nên.
- Trên dưới chia phe, vua tôi tranh thắng, vua được thì bề tôi mất, vua thua thì bề tôi vui, đó là một điều không nên;
- Qua lại giao cắt, trước sau chắn lối, lòng tranh đua nổi lên, lễ mạo đều bỏ, nếu vì tham đánh bóng mà lỡ quệt vào long bào, bề tôi thì thật là thất lễ, vua lại khó trách, đó là điều không nên thứ hai;
- Xem nhẹ cái quý của vạn thặng, đuổi theo cuộc vui nơi bãi rộng, đất tuy bằng nhưng rất cứng, ngựa tuy tốt cũng có lúc kinh sợ vấp ngã, hoặc vì phi nhanh đánh mạnh, mất sự khống chế, thánh thể há không có tổn thương? Thái hậu há chẳng lo sợ? Đó là điều không nên thứ ba.
- Xin bệ hạ đừng cho lời thần là quanh co, rủ lòng xem xét đôi chút."
Sớ dâng lên, Liêu chúa khen thở than rất lâu. Chẳng bao lâu, Đắc Thần mất, truy tặng Thái tử Thiếu bảo, ưu hậu cấp dưỡng.
Từ tháng 3 không mưa cho đến tháng 5. Ngày Mậu Tuất, Hoàng đế thân xét các tù nhân giam ở các ty trong kinh thành, phần nhiều được tha giảm. Liền sai Khởi cư xá nhân Tống Duy Càn (宋維乾) cùng 42 người chia nhau đến các đạo xét xử hình ngục. Đêm ấy, mưa to.
Nhân đó Hoàng đế bảo thị thần: "Làm vua phải siêng năng chính sự như thế, thì mới có thể cảm động hòa khí của trời. Như Hậu Đường Trang Tông đi săn chơi cả chục ngày, làm hại nặng mạ lúa, đến khi về mới hạ chiếu miễn giảm tô thuế, đó là rất không xứng đạo làm vua."
Khu mật phó sứ Trương Hoằng (張宏) nói: "Trang Tông không chỉ như thế, lại càng mê hoặc âm nhạc, trong sổ nhạc công có mấy người được bổ làm Thứ sử." Hoàng đế nói: "Người làm vua phải lấy tiết kiệm làm tông, lấy nhân thứ làm niệm. Trẫm khi còn ở Nam phủ, đối với âm luật cũng từng để tâm, nhưng nay ngoài lúc triều hội, chưa từng bày nhạc; thú vui chim ưng, chó săn, vốn không ưa."
Tháng 6, ngày Tân Dậu, nước Liêu lấy 2 huyện Yên Lạc, Mật Vân cấp giống và tô cho dân, miễn sưu dịch 10 năm.
Ban đầu, Tả chính ngôn, Trực Sử quán người Hạ Khuê là Khấu Chuẩn (寇准) vâng chiếu hết lời bàn về lợi hại biên giới phía Bắc, Hoàng đế quý trọng ông ta, bảo Tể tướng: "Trẫm muốn cất nhắc Chuẩn, nên cho chức gì?" Tể tướng xin dùng làm Khai Phong phủ Thôi quan, Hoàng đế nói: "Chức ấy há phải là cách đối đãi Chuẩn sao?" Lại xin dùng làm Khu mật trực học sĩ, Hoàng đế trầm ngâm khá lâu, nói: "Tạm cho làm chức ấy cũng được." Mùa thu, tháng 7, ngày Kỷ Mão, bổ Khấu Chuẩn làm Ngự bộ lang trung, Khu mật trực học sĩ.
Có lần Khấu Chuẩn vào điện tâu việc, lời nói không hợp, Hoàng đế nổi giận đứng dậy, Chuẩn liền nắm áo Hoàng đế kéo lại, mời ngồi xuống, việc quyết xong rồi mới lui. Hoàng đế khen ngợi.
Chuẩn thuở đầu làm Tri 2 huyện Bá Đông, Thành An, việc trị dân chỉ dùng ân tín, mỗi khi đến kỳ thu thuế, bắt dịch, chưa từng phát phù di, chỉ ghi tên hương lý dán ở cửa huyện, mà bách tính tranh nhau đến, không ai trễ nải. Từng tự tay trồng đôi cây bá ở sân, về sau dân ví với cây cam đường của Quản Trọng, gọi là "Lai công bá".
Lấy Khảo công viên ngoại lang Vân Trung Bật Sĩ An (畢士安) làm Tri chế cáo. Sĩ An trước làm Ký thất tham quân ở phủ Việt vương, trong cung gọi là Bật Giáo thư. Khi ấy chiếu cho các quan lại ở các vương phủ dâng những bài văn mình soạn, Hoàng đế khen, nên có sự thăng bổ này. Việt vương Nguyên Phần xin lưu Sĩ An ở phủ đệ, không cho.
Ngày Giáp Thân, lấy Tri Đại châu Trương Tề Hiền (張齊賢) làm Hình bộ Thị lang, Khu mật phó sứ. Trước đó, Tể tướng Triệu Phổ (趙普) dâng sớ nói:
- "Giang sơn của quốc gia rất rộng, văn quỹ tuy cùng một mối, nhưng đao binh chưa dứt, muốn phòng từ lúc còn nhỏ, lo từ lúc còn xa, tất phải nhờ người có tài thông biến. Năm ngoái quân Bắc vào cướp biên, sinh linh chịu khổ. Vạn thặng lo lắng ưu tư, mà trăm quan không có công phò tá; đồng liêu cùng việc, không ai chẳng cẩn thận, thanh liêm, nhưng đến lúc bàn việc can gián, hiến kế, thì hơi có phần im lặng, há cứu được việc cấp bách! hần thấy Công bộ Thị lang Trương Tề Hiền, mấy năm trước được thánh triều đặc biệt biết đến, thăng vào chỗ cơ mật, người hiểu việc công, việc tư đều cho là xứng tài, chẳng ngờ chưa bao lâu đã bị đưa ra ngoài. Thần khi ở Đặng châu, tuy nghe tin tức, nhưng chưa rõ nguyên do; trước đây có lời truyền, hoặc nói tâu đối quá đáng. Phàm bàn việc lớn, tất có chỗ hối trách, nhưng đối với nghĩa sĩ trung thần, không kể lợi hại bản thân, gian tà hay chính trực, lâu ngày mới rõ. Tề Hiền vốn ôm chứa mưu lược, lại đủ đức nghĩa, từ trước đến nay việc sai phái chưa tận dụng được tài năng, e làm lỡ người có tài kinh bang mà không hợp với việc cứu đời. Nếu giao trọng trách, tất lập công lớn. Sớ này xin giữ lại trong nội đình, để khỏi gây giận cho mọi người."
Lại dùng trát tử nói: "Tề Hiền đức nghĩa, vốn được hương lý suy tôn, trong ngoài triều thần không ai hơn được. Thần thẹn không có tài giúp vua, chỉ có chí tiến cử hiền tài, sáng đi tối chết, cũng cam lòng." Hoàng đế nghe theo lời, nên có lệnh bổ nhiệm này.
Lấy Diêm thiết sứ Trương Tốn (張遜) làm Thiêm thư Khu mật viện sự.
Ngày Mậu Tý, có sao chổi xuất hiện ở Đông Tỉnh, kéo dài 30 ngày. Hoàng đế tránh chính điện, giảm bớt bữa ăn thường. Ty Tư thiên nói sao yêu là điềm diệt Liêu; Triệu Phổ dâng sớ, cho đó là lời tà nịnh, không đáng tin, Hoàng đế khen và nghe theo.
Lương thực của quân Uy Lỗ không được tiếp tế liên tục, người Liêu muốn nhân đó mà nhòm ngó, chiếu cho Định châu lộ Đô bố trí sứ Lý Kế Long (李繼隆) phát quân Trấn, Định đại quân hộ tống mấy nghìn xe lương.
Dụ Duyệt nước Liêu là Da Luật Hưu Cách (耶律休格) nghe tin, đem mấy vạn kỵ binh tinh nhuệ đến chặn. Bắc diện Duyên biên Đô tuần kiểm Tuấn Nghi Doãn Kế Luân (尹繼倫) thuộc lĩnh hơn 1.000 bộ kỵ tuần tra trên ải, gặp quân Liêu, Hưu Cách không đánh mà đi qua, thẳng đến tập kích đại quân.
Kế Luân bảo thuộc hạ: "Chúng coi ta như cá thịt. Nếu chúng thắng rồi quay về, ắt thừa thắng đuổi ta lên phía Bắc; nếu không thắng, cũng sẽ trút giận lên ta, bọn ta không còn ai sống sót! Tính kế hôm nay, nên giáp trụ cuộn lại, ngậm tăm mà tập kích sau lưng chúng. Chúng đang hăng, lao lên phía trước, không ngờ ta đến, ta liều chết đánh thắng, đủ để tự lập công danh; dù bại, cũng không mất tiếng trung nghĩa. Há lại chịu lặng lẽ làm ma đất Bắc sao?" Mọi người đều phẫn khích nghe theo. Kế Luân liền lệnh trong quân cho ngựa ăn no, đến đêm, sai người mang đoản binh lén theo sau. Đi mấy chục dặm, đến Hứa Hà thuộc Đường châu, trời chưa sáng, Hưu Cách cách đại quân 4–5 dặm, Kế Luân bày trận ở phía bắc thành để đợi. Địch đang ăn cơm, ăn xong định tiến đánh, Kế Luân bất ngờ xông ra đánh gấp, giết 1 đại tướng của chúng, quân địch liền kinh hoảng rối loạn. Hưu Cách ăn chưa xong, vứt đũa chạy, bị đoản binh chém trúng cánh tay, vết thương rất nặng, cưỡi ngựa tốt trốn thoát.
Quân Liêu trông thấy đại quân thì tan vỡ, giẫm đạp lên nhau chết vô số. Kế Long cùng Trấn châu Phó đô bố trí Phạm Đình Triệu (范廷召) truy kích qua Hứa Hà hơn 10 dặm, bắt được rất nhiều. Định châu Phó đô bố trí Khổng Thủ Chính (孔守正) lại đánh quân Liêu ở thôn Tà thuộc Tào Hà, chém tướng của chúng là Đại Doanh cùng những người khác. Từ đó người Liêu mấy năm không dám nam xâm lớn. Vì mặt Kế Luân đen, chúng bảo nhau: "Phải tránh Hắc diện Đại vương."
Ngày Đinh Mùi, phong Kế Luân làm Lạc Uyển sứ, lĩnh Trường châu Thứ sử, vẫn giữ chức Tuần kiểm như cũ.
Ban đầu, lệnh cho Lý Kế Long và những người khác phát binh hộ tống lương thực cho quân Uy Lỗ, Hộ bộ lang trung Trương Tế (張洎) lại dâng phong sự nói:
- "Xưa xây thành tụ dân, là để khống chế nơi hiểm yếu, ngăn chặn kỵ binh biên giới xâm nhập, cho nên Chu xây thành Sóc Phương, Hán lấy Hà Hoàng, Đường xây các thành Thụ hàng, Lâm Kinh, chính là việc ấy. Nay quân Uy Lỗ đặt ở đồng bằng, đất không hiểm trở, quân mặc giáp không đầy 1 vạn, chỉ phân tán binh lực, nóng nực mệt nhọc, có ích gì cho biên phòng! Nay quân địch vào cõi, chặn đứt đường lương, mà vương sư vội xuất quân, quân 3 trấn đội nắng nóng, lên vùng ngoại ô, gánh việc hộ tống quân lương, vốn không có lòng chiến đấu. Lấy quân lười nhác hộ tống, đối địch với kỵ binh nhẹ nhàng của phương Bắc, vừa đi vừa đánh, tất chuốc lấy bại trận. Một quân hơi lui, các quân khác có thể theo đó mà rút, thì quân Uy Lỗ và các quân khác sẽ nghe gió mà tự hàng. Thế an nguy, rõ ràng có thể thấy, nên nhân lúc này, thừa thế đại quân, bảo toàn sĩ tốt, nhổ lũy mà quay về. Như thế, quân 3 trấn xuất quân có danh nghĩa, quân Uy Lỗ và các quân khác tránh được họa bị tiêu diệt.
- Hiện nay Hà Sóc chưa yên, phương lược khống chế, nên nắm chỗ cốt yếu. Thần cho rằng, phàm các doanh trại biên giới, nếu giáp tốt không đầy 30.000 người, nên bãi bỏ, vừa giảm cung cấp, lại tránh bị nuốt dần. Lấy quân thuộc quyền đó, ngoài thì lệ thuộc vào các đại trấn dọc biên, giáp binh đã tụ, sĩ mã tự mạnh, so với việc phân tán binh lực ở các ấp biên, ngồi chờ lửa đốt củi, há có thể so sánh được sao!"
Tháng 8, ngày Bính Thìn, đại xá. Đêm ấy, sao chổi biến mất.
Trước đó, Hoàng đế sai sứ lấy tháp Xá Lợi Phật Thích Ca ở Hàng châu đặt dưới chân điện, đo đất ở góc tây bắc chùa Khai Bảo, xây tháp 11 tầng để chứa, trên dưới cao 360 thước, phí tổn tính bằng ức vạn, trước sau hơn 8 năm, ngày Quý Hợi công việc hoàn thành, cực kỳ khéo đẹp.
Tri chế cáo Điền Tích (田錫) dâng sớ nói: "Mọi người cho là vàng ngọc rực rỡ, thần cho là bôi mỡ, trét máu." Hoàng đế cũng không giận.
Ngày Canh Ngọ, nước Liêu tha cho 2 người tiến sĩ Cao Chính (高正) và người khác.
Tháng 9, ngày Mậu Tý, lấy Tri chế cáo Vương Hóa Cơ (王化基) quyền Ngự sử trung thừa. Hoàng đế từng triệu đến tiện điện, hỏi về việc biên cương, Hóa Cơ nói: "Trị thiên hạ như trồng cây, chỉ lo gốc rễ chưa vững; gốc rễ vững thì cành nhánh không đáng lo. Nay triều đình trị tốt, biên thùy lo gì chẳng yên?" Hoàng đế cho là phải.
Chiếu: "Nay quan trong triều ai thông hiểu luật lệnh, cách thức, cho phép dâng thư tự tiến cử, sẽ cho khảo hỏi thêm, để bổ làm thuộc quan Hình bộ, Đại lý tự, 3 năm thăng bậc."
Từ khi dùng binh ở Hà Bắc, việc lương thực cấp bách, mới lệnh cho thương nhân chở cỏ, lương đến ải, tùy xa gần mà trả giá hậu, cầm giao khoán đến kinh sư, trả bằng tiền quan, hoặc chuyển văn thư cho Giang, Hoài cấp trà, muối, gọi là "chiết trung". Có người nói thương nhân nộp nhiều thứ tạp nhạp, nên bãi bỏ, mỗi năm tổn hại quốc dụng gần 1.000.000. Mùa đông, tháng 10, ngày Quý Dậu, lại lệnh chiết trung như cũ. Lại đặt kho chiết trung, cho phép thương nhân nộp thóc ở kinh sư mà xin trà, muối ở Giang, Hoài, sai Thiện bộ viên ngoại lang Phạm Chính Từ (范正辭) và những người khác trông coi xuất nhập. Mỗi 1.000.000 thạch làm 1 hạn, nhà quan lại, cùng hộ có thế lực không được tự tiện nộp thóc, Ngự sử đài giám sát. Gặp năm hạn, bãi bỏ.
Tĩnh Nan Tiết độ sứ Triệu Bảo Trung (趙保忠) được gia Đồng bình chương sự.
Hoàng đế vì năm hạn mà giảm bớt bữa ăn, đi khắp các đàn miếu cầu đảo, đều không ứng. Đêm ấy, thân viết chiếu ban cho Tể tướng Triệu Phổ và những người khác, nói: "Từ khi sao biến đến nay, lâu ngày không mưa tuyết. Trẫm phải cùng khanh các ngươi xét kỹ những thiếu sót trong hình chính, nghĩ đến nỗi khó nhọc của việc cày cấy, thương xót muôn vật, an dân, mong được trời đoái thương." Khi ấy Phổ bị bệnh xin nghỉ, liền giao cho Lữ Mông Chính (呂蒙正) và những người khác.
Ngày Nhâm Thân, Mông Chính và những người khác đến điện Trường Xuân tạ tội, nói: "Chúng thần điều hòa không nên, xin theo chế độ nhà Hán mà chịu trách nhiệm bằng cách bị bãi chức." Hoàng đế an ủi khuyên bảo.
Tri chế cáo Vương Dũ Trừng (王禹偁) dâng sớ: "Xin từ xe ngự, y phục của Hoàng đế trở xuống đến bổng lộc của trăm quan, trừ quân sĩ túc vệ, tướng soái biên đình, đều giảm bớt. Ngoài thì dừng việc mua sắm hàng năm, trong thì bãi bỏ các nghề khéo, chỉ cốt cảm động lòng người, triệu hòa khí, biến tai thành phúc, chỉ bậc thánh nhân mới làm được."
Trung thư môn hạ tâu: "Sách 'Thời chính ký' được ghi chép, vì mỗi khi Hoàng đế ngự tiền điện, từ Khu mật trở xuống vào trước, Tể thần chưa vào, những lời tuyên dụ của Hoàng đế không thể nghe biết, e có chỗ sót. Xin sai 2 Khu mật phó sứ mỗi lần đều chép lại, gửi Trung thư cùng tu thành 1 sách, giao cho Sử quan." Khu mật viện Thời chính ký bắt đầu từ đây.
Tháng 11, ngày Tân Sửu, Trấn châu Đô bố trí, Tuyên huy Nam viện sứ Quách Thủ Văn (郭守文) mất. Thủ Văn trầm tĩnh, có mưu, từ khi Tào Bân (曹彬) và những người khác bại trận, Khiết Đan thừa thắng tiến sâu, lệnh Thủ Văn trấn giữ Thường Sơn để kinh lược. Thủ Văn mất, có Trung sứ vừa từ biên Bắc về, nói võ phu, hãn tốt đều rơi lệ. Hoàng đế hỏi: "Vì sao được như thế?" Đáp: "Thủ Văn nhận bổng lộc, đều mua bò rượu để đãi quân sĩ, đến ngày mất, nhà không còn của dư." Hoàng đế than tiếc rất lâu, liền ban cho nhà ông ta 5.000.000 tiền, lại cho con ông ta được ghi nhận.
Tháng 12, ngày Canh Thân, chiếu giảm tôn hiệu, chỉ xưng Hoàng đế. Triệu Phổ, Lữ Mông Chính cố xin phục như cũ, Hoàng đế không cho. Ngày Mậu Thìn, quần thần dâng 6 chữ 'Pháp Thiên Sùng Đạo Văn Vũ', chiếu bỏ 2 chữ 'Văn Vũ', còn lại y theo.
Từ mùa thu sang mùa đông không mưa, Tri chế cáo Điền Tích dâng lời: "Đây thật là âm dương không hòa, điều hòa đảo lộn, trên xâm phạm chức phận của dưới mà xét lý chưa hết, dưới biết lỗi của trên mà chưa dám can gián." Sớ dâng lên, Hoàng đế và Tể thần đều không vui, giáng Tích làm Tri Trần châu.
Năm Thuần Hóa thứ 1 (Liêu, Thống Hòa năm thứ 8), Công nguyên năm 990
[sửa]Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Mậu Dần là mồng 1, Hoàng đế ngự điện Triều Nguyên nhận sách tôn hiệu, đặc xá tù giam ở kinh thành, đổi niên hiệu.
Ngày Kỷ Mão, đổi Tiết Càn Minh thành Tiết Thọ Ninh.
Thái bảo kiêm Thị trung Triệu Phổ bệnh nặng, 3 lần dâng biểu xin về hưu. Ngày Mậu Tý, lấy Phổ làm Tây Kinh Lưu thủ kiêm Trung thư lệnh.
Ngày Canh Dần, Liêu chúa lệnh xử quyết các vụ án tồn đọng.
Tháng 2, ngày Đinh Mùi là mồng 1, bãi bỏ lệnh cấm đánh bắt cá ở các châu Giang Nam, Lưỡng Chiết, Hoài Tây, Lĩnh Nam.
Ngày Kỷ Dậu, đổi điện Đại Minh thành điện Hàm Quang.
Ban cho các lộ bản in ‘Cửu kinh’, lệnh cho Trưởng lại cùng các quan xem chung.
Đăng châu đói, chiếu phát chẩn.
Tháng 3, ngày Quý Sửu, Giang châu tâu: "Dân huyện Đức An là Trần Cạnh, 14 đời cùng ở chung, già trẻ hơn 1.200 miệng ăn, thường khổ vì thiếu ăn." Lệnh mỗi năm cho vay 2.000 thạch gạo của quan.
Từ khi Triệu Phổ bị bãi, Lữ Mông Chính dùng khoan giản mà giữ chức Tể tướng, Tân Trọng Phủ (辛仲甫) thong dong ở giữa, chính sự phần nhiều do Vương Miện (王沔) quyết. Miện nhanh nhẹn, giỏi trình bày, nhưng tính khắc nghiệt, không lấy chí thành đãi người, quần thần đến bái kiến, tất dùng lời ngọt để nhử, ai cũng mừng quá mức; rồi sau việc tiến lui không hợp, người ta oán nhiều.
Ngày Đinh Tị, ban cho Thái tử Trung允 Trần Tỉnh Hoa (陳省華) và con là Quang lộc tự thừa, Trực Sử quán Nghiêu Tẩu (堯叟) phẩm phục ngũ phẩm. Trước đó Nghiêu Tẩu thi tiến sĩ, đỗ Giáp khoa, vào tạ ơn, lời lẽ sáng sủa, biện luận rõ ràng. Hoàng đế hỏi Tể tướng: "Đó là con ai?" Lữ Mông Chính và những người khác tâu là con Tỉnh Hoa. Khi ấy Tỉnh Hoa làm Lâu Phiền lệnh, liền triệu kiến, cất nhắc làm Thái tử Trung doãn. Đến nay cha con lại cùng ngày được ban áo mũ.
Ngày Ất Dậu, nước Liêu xây thành Hạnh Qua, đem dân biên giới bị bắt dồn vào ở.
Tháng này, Hạ châu đánh bại Lý Kế Thiên (李繼遷).
Mùa hạ, tháng 4, ngày Bính Ngọ là mồng 1, Liêu Nghiêm châu Thứ sử Lý Thọ Anh (李壽英) có chính sự nhân hậu, dân trong bộ xin lưu lại, Liêu chúa nghe theo.
Ngày Canh Ngọ, nước Liêu vì năm hạn, phát chẩn cho các bộ đói.
Tháng 5, ngày Canh Dần, tướng Nữ Chân A Ha (阿哈) sang triều kiến nước Liêu, được phong Thuận Hóa vương.
Ngày Tân Mão, lệnh đặt 6 viên Hình bộ Thự tường phúc quan, chuyên xem xét các án thư dâng lên trong thiên hạ, không còn sai ngục lại đi tra xét nữa. Đặt 20 viên quan Thôi khám ở Ngự sử đài, đều dùng Kinh triều quan đảm nhiệm. Nếu các châu có đại án, thì cưỡi trạm đến xét, khi vào chầu từ biệt, Hoàng đế tất dặn: "Đừng để dây dưa, đừng để tồn đọng." Khi về, tất triệu hỏi tình hình vụ án đã xét. Ghi thành định lệ.
Tháng 5, ngày Giáp Ngọ, chiếu: "Quan đã về hưu mà từng trải qua chức vụ trong ngoài, cho nửa bổng, dùng vật khác thay."
Buổi đầu triều, văn trên tiền là ‘Tống Thông nguyên bảo’. Ngày Ất Mùi, đổi đúc tiền ‘Thuần Hóa nguyên bảo’, Hoàng đế thân viết chữ, làm 3 thể: chân, hành, thảo. Từ đó về sau, mỗi lần đổi niên hiệu tất đổi đúc tiền, dùng ‘niên hiệu + nguyên bảo’ làm văn.
Ngày Bính Thân, nước Liêu kê khai ruộng đất của dân.
Tháng 6, ngày Bính Ngọ, bãi việc treo đèn vào Trung nguyên, Hạ nguyên.
Mùa thu, tháng 7, ngày Canh Thìn, nước Liêu đổi Nam Kinh Hùng quân thành Thần quân. Người Liêu mưu nam xâm, sai sứ đến miếu Bắc Nhạc bói, thần không cho, người Liêu giận, phóng hỏa đốt miếu rồi đi.
Ngày Đinh Dậu, đem thơ văn do Hoàng đế ngự chế cất vào Bí các.
Tháng này, Cát, Hồng, Giang, Kỳ, Hà Dương, Lũng Thành bị đại lụt, Khai Phong, Trần Lưu, Phong Khâu, Toan Táo, Yển Lăng bị hạn, ban cho nửa số tô ruộng năm nay, riêng Khai Phong cho miễn thêm 1 năm. Kinh sư gạo đắt, sai sứ mở kho, giảm giá bán ra.
Tháng 8, ngày Quý Mão là mồng 1, Bí thư giám Lý Chí (李至) cùng Hữu Bộc xạ Lý Phưởng (李昉), Lại bộ Thượng thư Tống Kỳ (宋琪), Tả Tán kỵ Thường thị Từ Huyễn (徐鉉) và Hàn lâm học sĩ, các Thị lang, Cấp sự, Gián nghị, Xá nhân đến Bí các xem sách. Hoàng đế nghe tin, sai sứ đến ban yến, bày nhiều đồ thư họa, cho tha hồ xem; hôm sau, lại chiếu cho Quyền Ngự sử trung thừa Vương Hóa Cơ và Tam quán học sĩ cùng được ban yến ở Bí các. Trước đó, cất thơ văn ngự chế vào Bí các, lại sai sứ đến các đạo mua sưu tầm cổ thư, tranh quý, bút tích tiên hiền, trong mấy năm, dâng sách vở lên triều đình nhiều không kể xiết. Bèn chiếu cho Sử quán, đem hết sách về thiên văn, chiêm đoán, sấm vĩ, phương thuật... 5.010 quyển, cùng 114 cuộn cổ họa, bút tích trong nội phủ, đều cất vào Bí các.
Ngày Ất Tị, lệnh kho Tả tàng kê các đồ khí bằng vàng bạc trong tay, đều phá hủy. Hữu ty tâu: "Trong đó có những món chế tác tinh xảo, muốn lưu lại để phòng khi dâng dùng." Hoàng đế nói: "Các ngươi lấy khéo lạ làm quý, trẫm lấy từ ái, tiết kiệm làm báu." Rốt cuộc đều phá hủy.
Tính Hoàng đế tiết kiệm, sau khi lui triều, thường đội khăn Hoa Dương, mặc áo vải thô, áo vằn, áo lót dùng tơ, lụa, đều đã nhiều lần giặt, những vật dùng cho xe ngự, không tăng thêm gì.
Ngày Quý Hợi, Lý Chí dâng sớ nói: "Bí các từ khi mới lập đến nay, trải qua nóng lạnh, mà chỗ đặt quan ty chưa có quy chế nhất định. Xin hạ minh chiếu, cho xếp ngang hàng với Tam quán, định thứ tự trước sau, ghi làm phép lâu dài." Hoàng đế cho theo, xếp Bí các sau Tam quán.
Ngày Kỷ Tị, cấm ở Xuyên, Hiệp, Lĩnh Nam, Hồ Nam giết người tế quỷ, châu huyện tra bắt, ai tố cáo thì thưởng.
Tháng 9, ngày Ất Hợi, 4 bộ Nữ Chân phương Bắc xin phụ thuộc nước Liêu.
Ngày Mậu Dần, Sùng nghi phó sứ Quách Tải (郭載) tâu: "Thần trước đây đi sứ Kiếm Nam, thấy ở Xuyên, Hiệp nhà giàu nhiều người gọi rể ở rể, cho ngang hàng với con ruột, chết thì chia tài sản, nên người nghèo nhiều kẻ đi ở rể, rất hại phong hóa, lại thêm tranh tụng, xin cấm." Chiếu theo lời xin.
Mùa đông, tháng 10, ngày Ất Tị, lấy Đồng châu Quan sát Thôi quan Hà Nam Tiền Nhược Thủy (錢若水) làm Bí thư thừa, Trực Sử quán. Nhược Thủy thuở đầu giúp việc ở Đồng châu, Tri châu tính nóng nảy, nhiều lần theo ý mình mà quyết việc không đúng, Nhược Thủy cố tranh luận mà không được, Tri châu thường nói: "Cùng lắm là lấy bổng lộc mà chuộc đồng thôi." Sau đó tấu án quả bị triều đình và thượng ty bác, quan châu đều bị luận tội chuộc. Tri châu thẹn mà xin lỗi, nhưng rốt cuộc không sửa.
Có nhà giàu mất tỳ nữ, cha mẹ cô ta kiện lên châu, lệnh Lục sự tham quân tra xét. Lục sự từng vay tiền nhà giàu không được, bèn hặc cha con nhà ấy cùng giết tỳ nữ, vứt xác xuống sông, rồi mất xác, tội đều đáng chết. Nhà giàu không chịu nổi tra tấn, tự nhận tội. Án làm xong dâng lên, quan châu xét lại, đều cho là thật. Chỉ Nhược Thủy nghi ngờ, giữ án mấy ngày không quyết, bí mật sai người tìm tỳ nữ, tìm được, dẫn đến cho cha mẹ cô ta xem, đều khóc nói: "Chính là nó." Cha con nhà giàu nhờ đó thoát chết. Tri châu muốn tâu công lao của Nhược Thủy, Nhược Thủy cố từ. Hoàng đế cũng nghe danh, gặp lúc Khấu Chuẩn tiến cử Nhược Thủy văn học cao, liền triệu vào thi ở Học sĩ viện, và cho giữ chức này.
Ngày Ất Sửu, ban cho Tri Bạch châu Tưởng Nguyên Chấn (蔣元振) 30 tấm lụa, 50 thạch gạo.
Ngày Bính Dần, ban cho Tri Vận châu Tu Thành huyện Diêu Ích Cung (姚益恭) 20 tấm lụa, 20 thạch gạo.
Nguyên Chấn thanh khổ, giữ tiết, thân thuộc nhiều người nghèo, không thể chu cấp, nghe Lĩnh Nam vật giá rẻ, bèn xin đến đó làm quan, gửi nhà ở Đàm châu, để hết bổng lộc cung cấp cho nhà, Nguyên Chấn ăn đậu uống nước, khâu giấy làm áo; việc trị dân giản dị, dân rất tiện lợi. Hết nhiệm kỳ được thăng, Chuyển vận sứ xin lưu lại, 7–8 năm không được thay. Ích Cung thuở đầu làm Hưng Quốc quân Phán quan, nổi tiếng thanh liêm, giỏi giang; được triệu vào kinh, già trẻ hơn 1.000 người chặn đường, không cho đi, Ích Cung phải mở cửa thành ban đêm mà trốn. Khi ở Tu Thành, không dùng roi vọt, trong cõi trị rất tốt, dân mấy nghìn người 3 lần chặn Chuyển vận sứ xin lưu lại. Đến nay, các Sái phỏng sứ đều tâu rõ tình hình, nên có ban thưởng này.
Tháng 11, ngày Đinh Sửu, Tri An châu, Thị ngự sử Lý Phạm (李范) dâng tấu:
- "Cố Điện trung thừa, Thông phán châu sự Cao Ly Kim Hành Thành (金行成) bệnh nặng, gọi thần và mấy quan châu đến bên giường, khóc mà nói: ‘Người ngoại quốc làm quan ngũ phẩm ở Trung triều, giúp việc châu, bị bệnh sắp chết, không có gì báo đáp ơn vua, xuống suối vàng cũng còn hận. Hai con trai Tông Mẫn, Tông Ước đều nhỏ, nhà vốn nghèo, không có thân thích nương tựa, sẽ bị bỏ ngoài đường rãnh.’ Sau khi chết, vợ ông ta thề không tái giá, nuôi 2 con, đan dép mà sống. Thần rất thương xót."
Chiếu cho Tông Mẫn làm Thái miếu Trai lang, lệnh An châu mỗi tháng cấp cho nhà ấy 3.000 tiền, 5 thạch gạo, Trưởng lại thường phải thăm hỏi theo mùa, không để họ lâm cảnh khốn cùng.
Khi ấy, quần thần lên điện tâu việc, sau khi tấu được chấp thuận, đều được tự mình chuyển đạt đến hữu ty, nên có phần dung túng kẻ khéo léo gian dối.
Tháng 12, Tả chính ngôn, Trực Sử quán, người Diệp là Tạ Bí (謝泌) xin từ nay phàm chính sự gửi Trung thư, cơ sự gửi Khu mật viện, tài vật gửi Tam ty, đợi tâu lại rồi mới thi hành. Ngày Tân Sửu, chiếu theo lời Tạ Bí, bèn ghi làm định chế, các thư tấu trong ngoài cũng như thế.
Đại lý tự thừa Vương Tế (王濟) làm Hình bộ Tường phúc quan, nhiều lần dâng phong sự. Một ngày Hoàng đế hỏi tả hữu: "Hình bộ có ai hay nói việc nước?" Tả hữu tâu là Tế, Hoàng đế liền lệnh làm Thông phán Trấn châu. Các mục thủ phần nhiều là võ thần có công cũ, kiêu ngạo, khinh người dưới, Tế chưa từng khuất phục. Quân đồn trú khá buông thả làm càn, đêm có khi đốt nhà dân, Tế tra được, lập tức chém, phi báo việc ấy, Hoàng đế rất vui. Đô hiệu Tôn Tiến (孫進) hay uống rượu, vô lại, đánh gãy răng người; Tế không đợi tấu, đánh trượng vào lưng, giải về kinh, quân phủ đều sợ. Liên tiếp ban ba chiếu thư khen ngợi.
Ngày Canh Tuất, nước Liêu phong Lý Kế Thiên làm Hạ Quốc vương.
Thừa tướng môn hạ bình chương sự của nước Liêu là Thất Phảng (室昉) xin cáo quan về ở ẩn. Liêu chúa truyền lệnh cho ông vào triều, miễn lễ quỳ lạy, ban cho án và gậy. Thái hậu sai Nội thị sứ Lý Tòng Huấn (李從訓) mang chiếu đến an ủi hỏi han, lệnh cho ông thường trú ở Nam Kinh, phong làm Trịnh quốc công.
Năm ấy, nước Liêu cho tiến sĩ Trịnh Vân Tòng (鄭雲從) đỗ thứ 2.
Năm Thuần Hóa thứ 2 (Liêu, Thống Hòa năm thứ 9), Công nguyên năm 991
[sửa]Mùa xuân, tháng giêng, ngày Bính Tý, sai Đoàn luyện sứ Thương châu là Trịch Thủ Tố (翟守素) đem quân cứu Triệu Bảo Trung (趙保忠) ở Hạ châu.
Nước Liêu cấm việc tự tiện thụ giới cho tăng ni. Trước đó, Tấn quốc công chúa dựng chùa Phật ở Nam Kinh, Liêu chúa cho phép ban biển ngạch. Thất Phảng tâu rằng: "Chiếu thư đã truyền bãi bỏ hết những chùa viện không có tên trong sổ, nay vì công chúa mà xin ban biển ngạch, chẳng những trái với chiếu trước, lại e thói này càng thêm thịnh." Liêu chúa nghe theo.
Ngày Ất Dậu, đặt chức Nội điện sùng ban, Tả hữu thị cấm, đổi chức Điện tiền thừa chỉ thành Tam ban phụng chức.
Nước Liêu, Thất Phảng cùng các quan dâng bộ Thực lục 20 quyển; Liêu chúa ban thủ chiếu khen ngợi, gia cho Thất Phảng chức Chính sự lệnh, ban 600 tấm lụa.
Ngày Mậu Tý, nước Liêu chọn 500 quân hàng tốt trong lần nam xâm trước, lập làm Tuyên lực quân.
Ngày Tân Mão, nước Liêu miễn tô thuế các đạo thuộc Tam Kinh, lại bãi việc "quát điền" (kiểm kê, thu trưng ruộng đất).
Tháng 2, ngày Đinh Mùi, nước Liêu lấy Thứ sử Trác châu là Gia Luật Vượng Lục (耶律旺陸) làm Đặc Lý Cổn (特裡袞, một chức quan).
Hoàng đế sửa sang Chính điện, tô vẽ màu sắc khá nhiều. Tả chính ngôn Tạ Bí (謝泌) dâng sớ can gián; ngày Quý Sửu, lệnh bỏ hết màu vẽ, quét bằng vôi đỏ.
Giám sát ngự sử Tổ Cát (祖吉), vì khi làm Tri châu Tấn châu đã phạm tội tham ô, bị xử chém ngoài chợ.
Ngày Đinh Tị, Lương châu quan sát sứ, kiêm phán Hùng châu sự, người Hạ Bì là Lưu Phúc (劉福) mất, truy tặng Thái phó, Trung chính tiết độ sứ. Phúc là người võ biền, không biết chữ, nhưng cai trị thuộc hạ có phương lược, làm chính sự giản dị dễ hiểu. Ông trấn nhậm Hùng châu 5 năm, trong cõi yên ổn, dân chúng bình lặng. Bách tính chặn đường Chuyển vận sứ, xin ghi chép công tích trị lý của ông, đem tấu trình; chiếu cho phép dựng bia "Di ái". Các con ông thường khuyên ông ở Phúc Kiến xây nhà lớn, Phúc nổi giận nói: "Tao nhận bổng lộc rất hậu, đủ để thuê nhà mà tự che thân. Chúng mày đã không có chút công lao dù chỉ tấc gang, há có thể xây nhà cửa lớn để mưu tính an thân cho riêng mình ư!" Rốt cuộc không cho. Sau khi ông mất, Hoàng đế nghe được lời ấy, ban cho con ông 5.000 lạng bạch kim, lệnh mua nhà để ở.
Tam ty từng dâng nghị rằng thuế khóa ngoài Kiếm Môn còn nhẹ, chiếu sai Giám sát ngự sử Trương Quán (張觀) cưỡi trạm xa đi tuần xét các châu, nhân đó lệnh cho tăng thuế lên đôi chút. Quán dâng sớ nói: "Dân xa dễ động mà khó yên, hết lòng vỗ về còn lo họ mất chỗ nương tựa, huống chi lại tăng thuế để quấy nhiễu họ ư?" Hoàng đế rất cho là phải, bèn giữ ông lại, không cho đi nữa. Về sau, Quán lại dâng sớ nói: "Thần trộm thấy bệ hạ lòng nhân trời sinh, khoan dung ưu hậu, thường cùng cận thần bàn luận chính sự, đức âm qua lại, phần nhiều thành phiền nhọc. Đến như các quan chức hữu ty, đón ý thuận theo, sổ sách rườm rà, đều đem tâu lên. Há chỉ là làm bẩn mắt đọc của bậc chí tôn, mà thật cũng là làm rối loạn thể thống quốc gia. Nguyện bệ hạ lúc rảnh việc quyết đoán, khi yến nghỉ, hãy thân tiếp các đại thần, cùng họ bàn bạc, khiến họ được thổ lộ tận lòng, kề gối mà luận bàn hết ý, thì thể chế trị nước, nguồn hóa cảm, còn có gì không đạt tới! Há có thể đem so với việc cân đong vàng thóc, mổ xẻ từng hào ly, dùng quãng thời gian hữu hạn mà sai khiến vào những việc vụn vặt vô cùng ư!" Hoàng đế xem xong khen là hay, triệu vào ban cho phẩm phục ngũ phẩm, bổ làm Độ chi phán quan.
Tháng nhuận, ngày Tân Mùi là mồng 1, có nhật thực.
Lấy Trịnh Văn Bảo (鄭文寶) làm Phó chuyển vận sứ Thiểm Tây, cho phép tùy nghi làm việc. Gặp năm mất mùa, Văn Bảo dụ được hào dân xuất 30.000 hộc thóc, cứu sống hơn 86.000 người đói.
Ngày Nhâm Thân, nước Liêu sai Hàn lâm thừa chỉ Hình Bão Phác (邢抱朴), Tam ty sứ Lý Tự (李嗣), Cấp sự trung Lưu Kinh (劉京), Chính sự xá nhân Trương Hàn (張翰), Nam Kinh phó lưu thủ Ngô Hạo (吳浩) chia nhau xử quyết các vụ án tồn đọng ở các đạo.
Ngày Canh Thìn, lấy Doanh châu phòng ngự sứ An Thủ Trung (安守忠) làm Tri Hùng châu. Thủ Trung từng cùng thuộc lại yến ẩm, có một quân hiệu mưu làm loạn, mặc giáp giấu trong áo, đến tận cửa. Người giữ cửa hoảng hốt chạy vào báo, Thủ Trung vẫn nói cười như thường, thong thả quay sang khách ngồi mà nói: "Bọn này say rượu phát cuồng đó thôi, bắt lấy là được." Người ta phục cái độ lượng của ông.
Ngày Kỷ Sửu, chiếu rằng: "Bọn vô lại trong Kinh thành đánh bạc, mở quán tủ (sòng bạc), giết trâu, ngựa, lừa, chó để làm thịt ăn, nấu chảy tiền đồng để làm đồ dùng tạp vật. Lệnh cho Khai Phong phủ răn bảo phường thị, cẩn thận bắt giữ. Kẻ phạm thì chém, kẻ giấu mà không báo, cùng người dân cho bọn ác thiếu thuê nhà làm quán tủ đều đồng tội."
Tháng này, lệnh Hàn lâm học sĩ Giả Hoàng Trung (賈黃中), Tô Dịch Giản (蘇易簡) kiêm lãnh Ty sai khiển viện, Lý Hạng (李沆) cùng phán Lại bộ Lưu nội thuyên. Từ đây, Hàn lâm học sĩ kiêm lãnh ngoại ty bắt đầu có từ đó.
Tháng 3, ngày Canh Tý là mồng 1, nước Liêu phát chẩn cho các bộ Thất Vi (室韋), Ô Cổ (烏古) bị đói. Ngày Mậu Thân, nước Liêu lại sai Kho bộ viên ngoại lang Mã Thủ Kỳ (馬守琪), Thương bộ viên ngoại lang Kỳ Chính (祁正), Ngu bộ viên ngoại lang Thôi Hựu (崔祐), Kế Bắc huyện lệnh Thôi Giản (崔簡) v.v… chia nhau xử quyết các vụ án tồn đọng ở các đạo. Ngày Giáp Tý, Liêu chúa đi Nam Kinh.
Ngày Ất Sửu, Bùi Trọng Phủ (辛仲甫) bị bãi chức Tham tri chính sự.
Ngày Kỷ Tị, Hoàng đế vì năm ấy hạn hán, châu chấu, bèn chiếu bảo Lữ Mông Chính (呂蒙正) và các quan rằng: "Dân đen có tội gì mà bị đại trách phạt như thế, ấy là do trẫm bất đức mà nên. Các khanh phải xây một đài trước điện Văn Đức, trẫm sẽ phơi mình trên đó, nếu 3 ngày không mưa, các khanh cùng đốt sớ liên danh để đáp lại sự trách phạt của trời." Mông Chính và các quan kinh hoảng tạ tội, giấu kín chiếu thư. Hôm sau thì mưa, châu chấu chết hết.
Trước đó, Hoàng đế triệu cận thần hỏi về được mất của thời chính. Khu mật trực học sĩ Quan Chuẩn (冠准) đối rằng: "Thiên nhân chi giao trong thiên chương ‘Hồng Phạm’, ứng nhau như bóng với vang. Điềm đại hạn là do hình pháp có chỗ không công bằng. Gần đây Tổ Cát, Vương Hoài (王淮) đều khinh nhờn pháp luật, nhận hối lộ, tang vật tính đến hàng vạn. Tổ Cát đã chịu tội chém, gia sản lại bị tịch thu; còn Hoài vì là em ruột của Tham tri chính sự Vương Diệm (王沔), chỉ bị đánh trượng ở tư đường, vẫn giữ chức Chủ bạ phủ Định Viễn. Dùng pháp nặng nhẹ như thế, thì tai họa khô hạn, e chẳng phải phát ra vô cớ vậy." Hoàng đế bừng tỉnh, hôm sau gặp Diệm, nghiêm trách ông ta.
Tháng này, Hàn lâm học sĩ Tống Bạch (宋白) cùng các quan dâng Tân định Thuần Hóa biên sắc gồm 30 quyển.
Mùa hạ, tháng 4, ngày Canh Ngọ là mồng 1, chiếu bãi việc châu Đoan hàng năm cống nghiên đá.
Ngày Tân Tị, lấy Khu mật phó sứ Trương Tề Hiền (張齊賢), Cấp sự trung Trần Thứ (陳恕) đều làm Tham tri chính sự; Kiêm ký Khu mật sự Trương Tốn (張遜) làm Khu mật phó sứ; Khu mật trực học sĩ Ôn Trọng Thư (溫仲舒), Quan Chuẩn đều làm Khu mật phó sứ; Trương Hoằng (張宏) bị bãi, làm Thị lang Lại bộ. Hoằng tính nhút nhát, cẩn thận, không có mưu lược gì khác; ở trong nội đình, hễ gặp lại dịch đều chủ động chào hỏi trước. Tính keo kiệt, ưa tích góp, không được đương thời coi trọng. Trọng Thư là người Hà Nam.
Ban đầu, Vương Diệm cùng Trương Tề Hiền cùng nắm Khu mật, khá bất hòa. Tề Hiền ra ngoài giữ Đại châu, Diệm bèn làm Khu mật phó sứ, Tham tri chính sự. Trần Thứ quản việc Diêm thiết, tính khắc nghiệt, xét nét, cũng từng xung đột với Diệm. Bấy giờ Tề Hiền cùng Thứ đều ở Trung thư, Diệm không yên lòng, lo thuộc lại đem chuyện cũ ở Trung thư nói với hai người ấy. Ngày Kỷ Sửu, Tả tư gián Vương Dũ Xung (王禹偁) dâng lời rằng: "Xin từ nay các quan trong triều đến bái kiến Tể tướng và Khu mật viện sứ đều phải đợi sau khi triều xong, xin gặp tại Đô đường, không được tiếp đãi khách ở bản thự, để phòng việc thỉnh thác." Diệm mừng, liền tâu Hoàng đế thi hành, lại lệnh Ngự sử đài tuyên bố trong ngoài.
Tả chính ngôn Tạ Bí dâng lời rằng: "Thần cúi xem minh chiếu, không cho hai phủ tiếp kiến tân khách, ấy là nghi ngờ đại thần có việc riêng vậy. Thiên hạ rất rộng, vạn cơ rất nhiều, bệ hạ lấy sự thông minh mà ký thác cho phụ thần, nếu không tiếp kiến quần quan, thì làm sao biết hết việc ngoài! Người xưa có nói: ‘Đã nghi thì đừng dùng, đã dùng thì đừng nghi.’ Nếu vận nước suy vi, quyền thần chuyên đoạt, thì lúc ấy mới có thể lo. Nay bệ hạ quán thúc vũ trụ, thu góp hào kiệt, triều đình không có kẻ khéo nói dua nịnh, biên thùy không có thần tướng dung túng, lễ nhạc chinh phạt đều do thiên tử phát ra, cớ sao lại nghi các đại thần chấp chính, làm việc của đời suy ư? Nếu không phải người thích hợp, thì nên đuổi bỏ; đã được người thích hợp, giao cho chính sự, còn nghi gì nữa! Giả như chặn lễ xin gặp ở công đường, há lại không có tư thất ư? Bịt cửa xin xỏ ở tướng phủ, há lại không có đường khác ư? Đó chẳng phải là đạo bệ hạ lấy lòng son mà đãi đại thần, đại thần giang tay chân mà báo bệ hạ vậy. Vương Dũ Xung mờ tối đại thể, hồ đồ theo ý riêng, che lấp thánh minh, lời cuồng táo ấy không thể thi hành." Hoàng đế xem tấu, khen ngợi than thở, liền lệnh thu hồi chiếu trước, lại đem biểu của Tạ Bí nộp vào Sử quán.
Tháng 5, ngày Canh Tý, đặt chức Đề điểm hình ngục các lộ.
Ngày Ất Tị, lại đặt Kho Chiết bác (kho đổi tiền lấy thóc).
Tả chính ngôn Tạ Bí nhiều lần luận bàn được mất của thời chính, Hoàng đế khen lòng trung thành thẳng thắn của ông, ngày Bính Thìn, thăng làm Hữu tư gián, ban Kim tử, Tử y, cùng 300.000 tiền. Một ngày, Bí được vào chầu ở điện bên, Hoàng đế lại trực tiếp ban thưởng, khích lệ. Bí tạ rằng: "Bệ hạ nghe lời can như nước chảy, nên thần mới được hết lòng. Xưa cuối đời Đường có Mạnh Chiêu Đồ (孟昭圖), sáng dâng sớ can, chiều đã không biết ở đâu. Đời trước như thế, sao lại không loạn!" Hoàng đế cảm động, im lặng hồi lâu.
Tháng 6, ngày Giáp Tuất, Trung Vũ tiết độ sứ, Đồng bình chương sự Phan Mỹ (潘美) mất. Truy tặng Trung thư lệnh, thụy là Vũ Huệ.
Ngày Ất Dậu, sông Biện vỡ ở huyện Tuấn Nghi, phá vỡ liên đê, tràn ngập ruộng dân. Hoàng đế tờ mờ sáng ngự bộ liễn ra cửa Càn Nguyên, Tể tướng, Khu mật sứ nghênh đón trên đường, Hoàng đế bảo rằng: "Đông Kinh nuôi quân giáp binh mấy chục vạn, dân cư trăm vạn nhà, vận lương đều trông cậy vào một dòng nước này, trẫm sao có thể không lo!" Xa giá vào chỗ bùn lầy, đi được trăm bước, các quan theo đều kinh sợ. Đô chỉ huy sứ Điện tiền là Đái Hưng (戴興) nâng bộ liễn ra khỏi bùn lầy. Chiếu cho Hưng đốc suất mấy nghìn bộ tốt đắp lấp. Trước khi trời sáng hẳn, bờ đê đã vững vàng, thế nước yên định, rồi mới về chỗ nghỉ. Thượng thiện ty dâng bữa, thân vương, cận thần đều bùn lầy dính áo. Tri huyện Tống Viêm (宋炎) sợ tội, trốn không dám ra, Hoàng đế đặc xá cho.
Tháng này, Nam Kinh nước Liêu mưa dầm, làm hại lúa má.
Mùa thu, tháng 7, ngày Quý Mão, nước Liêu tổng kiểm kê hộ khẩu.
Ngày Ất Tị, nước Liêu chiếu cho các đạo cử người có tài hạnh, xét kẻ tham tàn khắc nghiệt, vỗ về người cao niên, cấm xa xỉ, vượt lễ; ai chết vì việc nước thì cho con cháu làm quan.
Lý Kế Thiên (李繼遷) nghe Trịch Thủ Tố đem quân đến đánh, sợ hãi, dâng biểu quy thuận. Ngày Bính Ngọ, ban cho Kế Thiên chức Ngân châu quan sát sứ, ban quốc tính, đổi tên là Bảo Cát (保吉). Triệu Bảo Trung lại tiến cử em ruột là Kế Xung (繼沖), Hoàng đế cũng ban họ, đổi tên là Bảo Ninh (保寧), cho làm Tuần luyện sứ Tùy châu; phong mẹ ông ta là Võng thị (罔氏) làm Tây Hà quận Thái phu nhân.
Hoàng đế lo nghĩ việc xét xử các ngục án của thứ dân, e rằng lại dịch, hình bộ bọn lại dịch uốn cong văn tự, khéo léo vu hãm, nên tháng 8, ngày Ất Mão, đặt Thẩm hình viện trong cấm thành, lấy Khu mật trực học sĩ Sở Khâu Lý Xương Linh (楚丘李昌齡) làm Tri viện sự, kiêm quản 6 viên quan Tường nghi. Phàm án ngục tâu lên, trước hết do Thẩm hình viện đóng ấn, giao cho Đại lý tự, Hình bộ phúc thẩm rồi tâu, sau đó giao Thẩm hình viện xét nghị kỹ, tâu lại quyết định, rồi giao Trung thư, việc nào hợp thì lập tức thi hành, việc nào chưa thuận, Tể tướng lại tâu lên, rồi mới ra lệnh luận quyết.
Ngày Đinh Hợi, từ Tinh châu báo có hơn 400 người Khiết Đan nội phụ. Hoàng đế nhân đó bảo cận thần rằng: "Quốc gia nếu không có ngoại loạn, ắt có nội hoạn. Ngoại lo thì không ngoài việc biên thùy, đều có thể phòng bị trước; chỉ có kẻ gian tà vô lại, nếu thành nội hoạn, thì rất đáng sợ vậy."