Bước tới nội dung

Tục tư trị thông giám/Quyển 16

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tục Tư trị thông giám, quyển 16  (2025)  của Tất Nguyên, do Cơ Như Tuyết dịch
Tống kỷ 16

Từ tháng 9 năm Tân Mão (991) đến tháng 9 năm Quý Tị (993), Thái Tông Thuần Hóa năm thứ 2 đến năm thứ 4, gồm 2 năm có dư

Năm Thuần Hóa thứ 2 (Liêu, Thống Hòa năm thứ 9), Công nguyên năm 991

[sửa]

Tháng 9, ngày Kỷ Sửu, Hộ bộ Thị lang, Tham tri chính sự Vương Miện (王沔), Cấp sự trung, Tham tri chính sự Trần Thứ (陳恕) đều bị bãi chức Tham tri, chỉ giữ bản quan. Trước đó, Cấp sự trung Phàn Tri Cổ (樊知古) nhiều lần giữ chức Chuyển vận, rất được tiếng khen đương thời; đến khi làm Hộ bộ, việc trong chức vụ nhiều lần không được trị lý chu đáo, chiếu thư quở trách nghiêm khắc, danh vọng càng giảm. Vốn thân thiết với Trần Thứ, Hoàng đế mỗi khi nói đến việc của ty Kế toán có chỗ trái ý, Trần Thứ đều đem nói hết với ông ta, muốn cho Tri Cổ hết lòng làm việc. Về sau, Tri Cổ nhân lúc tâu đối, bèn tự mình nói rõ việc ấy. Hoàng đế hỏi Tri Cổ: "Ngươi từ đâu mà biết việc này?" Tri Cổ đáp: "Trần Thứ nói với thần." Hoàng đế giận Trần Thứ để lộ lời trong cấm đình, lại ghét Tri Cổ khinh suất, nên bãi chức cả hai người. Vương Miện vì có người em là Vương Hoài, nhiều lần bị Khu mật phó sứ Khấu Chuẩn (寇准) công kích, Hoàng đế cũng tỉnh ngộ rằng Vương Miện đảm nhiệm nhiều lần, ưa dối trá, không phải là khí lượng của bậc tông miếu, bèn cùng với Trần Thứ bị bãi trong cùng một ngày. Vương Miện phụng chiếu vào gặp Hoàng đế, khóc lóc không muốn rời khỏi bên cạnh, chẳng bao lâu, râu tóc đều bạc trắng.

Hoàng đế từng bảo các cận thần rằng: "Nhiều lần có người nói đến việc lập người kế vị, trẫm vì các con còn thơ ấu, chưa có tính cách của người trưởng thành, nên những quan lại được trẫm bổ nhiệm, đều chọn những người lương thiện tốt đẹp; đến như bọn quan lại hầu cận trong đài các, trẫm cũng tự mình chọn lựa, không để bọn gian hiểm, khéo nịnh ở bên cạnh chúng. Việc đọc sách, nghe giảng, đều có chương trình, đợi khi chúng lớn khôn, tự nhiên sẽ có phép tắc chế định. Sao những người bàn việc lại chưa hiểu tấm lòng này của trẫm?" Đến đây, Tả chính ngôn Tống Hãng (宋沆) cùng 4 người khác phục ở trước cửa cung dâng sớ, xin lập Hứa vương Nguyên Hi (許王元僖) làm Thái tử, lời lẽ cuồng vọng, cẩu thả, Hoàng đế rất giận, định giáng tội đày đi và xử nặng. Mà Tống Hãng lại là người bên ngoại của vợ Tể tướng Lữ Mông Chính (呂蒙正), do Mông Chính đề bạt dùng, nên ngày Kỷ Hợi, chiếu thư trách cứ cả Mông Chính, bãi làm Lại bộ Thượng thư.

Trước đó, Ôn Trọng Thư (溫仲舒) và Lữ Mông Chính cùng năm đỗ tiến sĩ, tình nghĩa thân mật. Trọng Thư trước làm Tri Phần châu, vì tư thông với tỳ nữ nhà Giám quân, bị xóa tên trong sổ hộ tịch, sung làm dân, khốn khổ cùng vợ con ở Kinh sư nhiều năm, Mông Chính lúc ấy ở Trung thư, hết sức cứu giúp, nên được phục lại hộ tịch. Đến khi được trọng dụng nhanh chóng, lại quay sang công kích Mông Chính, Mông Chính vì thế bị bãi chức Tể tướng, dư luận đương thời chê trách việc ấy.

Lấy Tả Bộc xạ Lý Phưởng (李昉) làm Trung thư Thị lang, Tham tri chính sự Trương Tề Hiền (張齊賢) làm Lại bộ Thị lang, đều kiêm chức Bình chương sự.

Lấy Hàn lâm học sĩ Giả Hoàng Trung (賈黃中), Lý Hãng (李沆) đều làm Cấp sự trung, Tham tri chính sự. Lý Hãng lúc đầu coi việc tuyển bổ quan lại ở Lại bộ, nhân dự khúc yến, Hoàng đế đưa mắt nhìn theo mà nói: "Lý Hãng phong độ đoan trang, trầm tĩnh, thật là bậc quý nhân!" Chưa đầy mấy tháng, bèn cùng với Hoàng Trung đều được trọng dụng. Hoàng đế từng triệu kiến mẹ của Hoàng Trung là Vương thị, mời ngồi, bảo rằng: "Dạy con được như thế, thật là bậc Mạnh mẫu vậy!" Làm thơ ban cho bà, ban thưởng rất hậu.

Ngày Canh Tý, lấy Hữu gián nghị Đại phu, Quyền Ngự sử trung thừa Vương Hóa Cơ (王化基) làm Ngự sử trung thừa. Hóa Cơ từng ngưỡng mộ chí hướng "nắm cương ngựa mà làm trong sạch triều chính" của Phạm Bàng, dâng "Sách lược làm trong sạch triều chính" gồm 5 điều:

  1. Một là phục lại Thượng thư tỉnh, nói: Biên chế quan lại của Tam ty là phép tạm quyền gần đời nay, đều là tên gọi của các ty, cục quan lại ở châu, quận. Thần nay xin bãi bỏ Tam ty, chỉ đặt Thượng thư tỉnh, tạm đặt 6 Thượng thư, chia nhau coi việc. Bãi bỏ Phán quan, Thôi quan, đặt Lang quan chia nhau coi 24 ty và công việc tả, hữu, để một người coi một ty. Bãi bỏ Khổng mục, Cú áp, đổi tiền hậu hành vi làm Đô sự, Chủ sự, Lệnh sử. Bãi bỏ các ty Cú viện, Khai trạch, Ma khám, Bằng do, Lý khiếm, giao cho Ty Bỉ bộ và Tả, Hữu ty.
  2. Hai là cẩn trọng việc công cử, nói: Triều đình nhiều năm hạ chiếu, theo loại mà tìm người, nhưng chỉ nghe theo lệ được cử quan, chưa thấy chọn người chủ cử. Mong từ nay lập riêng danh sách, trước chọn triều quan có thanh vọng, mỗi người bảo cử người mình biết; nếu người được cử hiền, thì người chủ cử cùng được thưởng; nếu không, thì người chủ cử cùng chịu tội.
  3. Ba là trừng trị quan tham, nói: Mọt nhiều thì cây rỗng, quan tham thì dân khốn. Mong lệnh cho các lộ Chuyển vận sứ, Phó kiêm danh hiệu Thái phỏng, khiến họ xét rõ các Trường quan châu, phủ, quân, giám trong địa hạt.
  4. Bốn là giảm bớt quan lai dư thừa, nói: Thần trước giữ chức quan ở Dương châu, thấy thêm đặt các quan giám lâm sự vụ là triều quan và sứ thần, số lượng gấp mấy lần quan bản châu, e rằng các châu trong thiên hạ đều như thế. Hoặc giả họ đều là người liêm khiết, thì chỉ tổn phí công phủ; nếu là kẻ tham lam, thì lấy của dân lại gấp bội, há chẳng phải là đục khoét nước, hao tổn dân sao? Mong lệnh cho các bộ Chuyển vận sứ, Phó cùng với Tri châu bàn bạc cắt giảm, và các Huyện lệnh, Bộc, Úy cũng xin cho xét mà bãi bỏ.
  5. Năm là chọn quan đi xa, nói: Kẻ có tội phần nhiều không phải người lương thiện, mà lại giao cho chức quan ở nơi xa xôi, gần dân, thì họ sẽ tùy ý làm bậy, ỷ xa mà tàn bạo, dân nhỏ chịu tai ương, rốt cuộc không ai kêu lên được. Mong từ nay, phàm kẻ có tội, không cho giữ chức Trường quan ở Tứ Xuyên, Quảng Nam.

Tấu thư dâng lên, Hoàng đế khen ngợi, chấp nhận lời ông, liền có ý trọng dụng.

Ngày Tân Sửu, giáng Tống Hãng làm Đoàn luyện phó sứ ở Nghi châu.

Ngày Quý Mão, Vương Hiển (王顯) bị bãi chức. Ngày Giáp Thìn, lấy Khu mật phó sứ Trương Tốn (張遜) làm Tri Khu mật viện sự, Ôn Trọng Thư, Khấu Chuẩn cùng làm Đồng tri viện sự. Tên gọi "Tri viện" bắt đầu từ đây.

Trước đó, Tống Hãng cùng Tả chính ngôn Doãn Hoàng Thường (尹黃裳), Phùng Chửng (馮拯), Hữu chính ngôn Vương Thế Tắc (王世則), Hồng Trạm (洪湛) cùng phục ở trước cửa cung xin lập Hoàng Thái tử. Sau khi Tống Hãng bị giáng, ngày Ất Tị, lệnh Doãn Hoàng Thường làm Tri Ung châu, Phùng Chửng làm Tri Đoan châu, Vương Thế Tắc làm Tri Tượng châu, Hồng Trạm làm Tri Dung châu. Phùng Chửng là người Hà Dương.

Ngày Kỷ Dậu, Liêu chúa đóng quân ở Miếu thành. Ở Nam Kinh xảy ra động đất.

Hoàng đế nghe Điện trung thừa Quách Diên Trạch (郭延澤), Hữu tán thiện Đại phu Đổng Nguyên Hanh (董元亨) đều hiếu học, thông hiểu điển tịch, bèn ra chiếu lệnh Tể tướng triệu đến hỏi về đại nghĩa kinh sử, các điều trả lời đều hợp ý. Mùa đông, tháng 10, ngày Đinh Mão, đều được bổ làm Sử quán Kiểm thảo.

Ngày Tân Tị, Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Tô Dịch Giản (蘇易簡) dâng tiếp tục biên soạn 2 quyển Hàn lâm chí, Hoàng đế khen ngợi, ban cho 2 bài thơ, ngự bút phê rằng: "Ý thơ đẹp ở chỗ khanh ở nơi thanh hoa vậy." Dịch Giản xin khắc đá thơ được ban, Hoàng đế lại dùng 3 thể chữ Chân, Thảo, Hành cùng viết bài thơ ấy, khắc ra để ban cho các cận thần. Lại dùng thể Phi bạch viết 4 chữ lớn "Ngọc đường chi thự", lệnh Trung thư triệu Dịch Giản trao cho, treo làm biển ở trước sảnh. Hoàng đế nói: "Đây sẽ là việc đẹp của Hàn lâm mãi mãi." Dịch Giản nói: "Từ khi có Hàn lâm đến nay, chưa từng có vinh dự như ngày hôm nay." Hoàng đế từng ban đêm đến Ngọc đường, Dịch Giản đã ngủ, vội vàng dậy, không có đèn mà mặc áo mũ, cung tần từ song cửa đưa đèn vào soi, trên song có chỗ bị lửa cháy, về sau không đổi, coi đó là việc hưng thịnh của Ngọc đường.

Tả gián nghị Đại phu Hàn Phi (韓丕), tính tình thanh đạm, tự xử, không chạy theo danh lợi, Hoàng đế khen trọng. Ngày Kỷ Sửu, lệnh Hàn Phi giữ bản quan, kiêm Tri chế cáo, làm Hàn lâm học sĩ.

Tháng này, Triệu Bảo Trung (趙保忠) hàng Liêu, Liêu phong làm Tây Bình vương, lại đổi họ tên là Lý Kế Phụng (李繼捧).

Tháng 11, ngày Bính Thân mồng 1, chiếu: "Từ nay, vào ngày nội điện khởi cư, lại cho 2 người Thường tham quan lần lượt vào đối, Ngọ môn nhận tấu chương của họ."

Ngày Canh Tuất, Tả gián nghị Đại phu, Sử quán Tu soạn Dương Huy Chi (楊徽之) vào lần đối, tâu rằng: "Hiện nay tuy văn sĩ nhiều, nhưng người thông kinh rất ít, xin chọn kỹ các Bác sĩ Ngũ kinh, tăng thêm số người, mỗi người chuyên một môn để dạy hoàng thân quốc thích. Đó là gốc của phong hóa." Hoàng đế ngoảnh lại bảo Tể tướng: "Huy Chi phẩm hạnh không vết, thật là bậc nho nhã. Cho ra trị lý châu quận, không phải sở trường của ông ta, đặt ở quán, điện, mới là hợp lẽ."

Hình bộ Lang trung, Tri chế cáo Phạm Cảo (範杲) nhiều lần gửi thư cho Tể tướng, xin vào Hàn lâm làm học sĩ, lại từng đem một tập chế cáo cho Lý Phưởng xem, nói: "Tiên công cho rằng Cảo có tài đảm nhiệm chức Học sĩ, nên giao tập này cho Cảo, không dám làm mất." Lý Phưởng mỗi lần đều khuyên giải. Bấy giờ, Phạm Cảo dâng Ngọc đường ký, xin được giữ chức ấy. Hoàng đế ghét ông ta nóng nảy cầu tiến, rốt cuộc không cho vào nội thự, đổi làm Hữu gián nghị Đại phu, cho ra làm Tri Hào châu, lấy Khảo công Viên ngoại lang, Tri chế cáo Bật Sĩ An (畢士安) làm Hàn lâm học sĩ. Trước đó, các quan chấp chính muốn dùng Hữu gián nghị Đại phu Trương Tế (張洎), nhân lúc chầu đối, nói rằng Trương Tế văn học, thâm niên, không kém Sĩ An, Hoàng đế nói: "Trẫm rất biết Trương Tế văn học, tư chất không kém Sĩ An, chỉ có điều đức hạnh không bằng mà thôi." Các quan chấp chính bèn lui.

Hoàng đế cho rằng phép cũ vào nội điện tiếp kiến là kế thừa từ buổi đầu Ngũ đại, lễ nghi chưa đầy đủ, bèn lệnh Sử quán Tu soạn Dương Huy Chi cùng những người khác khảo cứu điển cố, làm thành đồ thức mới. Tháng 12, ngày Bính Dần mồng 1, bèn thi hành lễ ấy ở điện Văn Đức. Hữu gián nghị Đại phu Trương Tế, đã cùng với Dương Huy Chi soạn định nghi lễ mới, lại một mình dâng sớ rằng

Thần xét thấy điện Càn Nguyên ngày nay, tức là điện Hàm Nguyên đời Đường, đời Chu là Ngoại triều, đời Đường là Đại triều, ngày Đông chí, Nguyên đán, lập đủ hàng quân, triều bách quốc, đều ở điện này. Điện Văn Đức ngày nay, tức là điện Tuyên Chính đời Đường, đời Chu là Trung triều, đời Hán là Tiền triều, đời Đường là Chính nha, phàm sóc vọng khởi cư, cùng việc sách phong phi, hậu, hoàng tử, vương, công, đại thần, tiếp kiến quân trưởng bốn Di, thi chế sách cho cử nhân, đều ở điện này. Điện Sùng Đức ngày nay, tức là điện Tử Thần đời Đường, đời Chu là Nội triều, đời Hán là Tuyên thất, đời Đường là Thượng hiệp, tức là điện thường triều ngày lẻ. Xưa Thái cực điện đời Đông Tấn có Đông, Tây hiệp, đời Đường đặt Thượng hiệp ở Tử Thần, theo chế ấy. Vả lại, thiên tử cung kính tự giữ, ngồi hướng Nam, hướng về ánh sáng mà trị, Tử vi, Hoàng ốc là tôn quý nhất, nên khi tuần du thì có nghi trượng Đại giá, khi ngự điện thì có nghiêm vệ Câu trần, Vũ vệ, nên tuy là thường triều ngày lẻ, cũng phải lập hàng quân. Phép gọi là ‘nhập hiệp nghi’ của đời trước, là khi thường ngày ngự Thượng hiệp điện Tử Thần, trước hết lập Hoàng huy, Kim ngô trượng ở trước điện Tuyên Chính, đợi xét xong, gọi hàng quân, thì từ cửa Đông, Tây hiệp mà vào, nên gọi là ‘nhập hiệp’. Nay triều đình tạm lấy Văn Đức chính nha làm Thượng hiệp, rất trái phép độ. Huống chi quốc gia nối tiếp chính thống lớn lao, mọi phép tắc đều theo chỗ thêm bớt, chỉ riêng lễ thị triều còn thuộc về phường theo cũ. Thần thấy đạo quán Trường Xuân chính đối thẳng với điện Văn Đức theo trục Bắc – Nam, xin sửa dựng điện này làm Thượng hiệp, làm nơi lập hàng quân thị triều ngày lẻ; còn điện Sùng Đức, Sùng Chính, tức là điện Diên Anh đời Đường, làm nơi thường ngày chầu đối ngày chẵn; như thế thì phép tắc lâm triều mới hợp với điển cũ. Nay dư luận lại cho rằng nghi chú nhập hiệp là lễ rất khác thường của triều đình, thật là vô lý. Thần lại xét sử cũ, Trung thư, Môn hạ, Ngự sử đài gọi là Tam ty thự, là quan hầu cận cung phụng. Nay ngày khởi cư, quan Thị tòng vào sân điện trước, đứng sẵn hai bên Đông, Tây, đợi quan Chính ban vào, cùng lúc khởi cư, mà quan Thị tòng lại bái hàng ở Đông, Tây, rất trái với lễ bái triều hướng Bắc. Xin theo nghi cũ, quan Thị tòng vào trước, khởi cư xong, chia hàng đứng hầu dưới bậc thềm son, gọi là ‘Nga mi ban’, rồi sau đó Tể tướng dẫn Chính ban vào khởi cư, mới hợp với lễ. Thần lại nghe xưa vương giả thân cần việc dân, số lần lâm triều tùy theo việc chính sự nhiều hay ít. Đầu đời Đường 5 ngày một lần triều, đến đầu niên hiệu Cảnh Vân mới sửa lại phép Trinh Quán. Từ khi loạn binh Thiên Bảo trở đi, bốn phương nhiều biến, từ Túc Tông trở xuống, đều ngày lẻ lâm triều, ngày chẵn không ngồi. Ngày lẻ nếu gặp rét dữ, nóng gắt, mưa dầm, bùn lầy, cũng cho bách quan miễn khởi cư. Ngày chẵn nếu Tể tướng phải tâu việc, tức là đặc biệt mở điện Diên Anh để triệu đối. Hoặc khi Man Di vào cống, công thần về triều, cũng đặc biệt mở điện Tử Thần để yết kiến. Bệ hạ từ khi lên ngôi lớn đến nay 15 năm, chưa từng một ngày không dậy từ canh gà, nghe chính sự thiên hạ, lâm triều quá nhiều, coi việc quá nhọc. Xin theo phép cũ đời Đường, ngày lẻ thị triều, ngày chẵn không ngồi. Ngày lẻ nếu gặp rét dữ, nóng gắt, mưa dầm, bùn lầy, cũng cho bách quan miễn khởi cư. Ngày chẵn thì ở hai điện Sùng Đức, Sùng Chính triệu đối Tể thần và Thường tham quan trở xuống, và khi Man Di vào cống, công thần về triều không đúng kỳ, cũng đặc biệt mở Thượng hiệp để yết kiến, đều xin theo phép đời trước mà xử trí.

Tấu dâng lên, không được trả lời.

Ngày Quý Mùi, Bảo Khang quân Tiết độ sứ Lưu Kế Nguyên (劉繼元) mất, truy phong Bành Thành quận vương.

Ngày Tân Mão, Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Tô Dịch Giản cùng bọn Hàn Phi, Bật Sĩ An, Lý Chí (李至) xem việc khắc đá 4 chữ "Ngọc đường chi thự" bằng thể Phi bạch và 3 thể thơ. Hoàng đế nghe tin, ban rượu Thượng tôn, Đại quan bày tiệc lớn, các ông đều làm thơ ghi lại việc ấy. Tể tướng Lý Phưởng, Trương Tề Hiền, Tham tri chính sự Giả Hoàng Trung, Lý Hãng cũng làm thơ ca tụng, Dịch Giản đều dâng lên cho Hoàng đế xem.

Trước đó, Tả Tư gián, Trực Sử quán Tạ Bí (謝泌) phụng chiếu phát giải cử nhân ở Quốc tử học, người bị đánh hỏng rất nhiều, họ tụ tập ồn ào mắng chửi, ôm gạch chờ ông ta đi ra. Tạ Bí biết, bèn lén đi đường khác vào Sử quán, ở lại mấy đêm không dám về, xin được vào chầu tự bày tỏ, Hoàng đế hỏi: "Sao quan tòng giá đi đường lại nghiêm túc, dân kinh sợ tránh né?" Có người lấy việc Đài tạp đối đáp để trả lời. Ngày Quý Hợi, lệnh Tạ Bí làm Hư bộ Viên ngoại lang, kiêm Thị ngự sử tri tạp sự. Việc phát giải cử nhân ở Quốc tử học, từ đây mới có chiếu riêng cử quan chủ trì, bắt đầu từ Tạ Bí.

Tháng này, Liêu mới nghe tin Lý Kế Thiên (李繼遷) nội phụ, bèn sai Chiêu thảo sứ Hàn Đức Uy (韓德威) đi dụ.

Thủ lĩnh Nữ Chân là Dã Lý Trĩ (野裡雉) v.v. tâu rằng nước Liêu giận họ sang cống Trung Quốc, bèn cách bờ biển 400 dặm lập 3 trại, đặt 3.000 quân, cắt đứt đường cống. Vì thế họ vượt biển vào triều, xin phát binh cùng 30 thủ lĩnh đánh phá 3 trại ấy. Nếu định được kỳ xuất quân, thì họ sẽ về nước trước, nguyện tập hợp binh chờ đợi. Hoàng đế chỉ hạ chiếu phủ dụ, không xuất binh. Về sau họ bèn quy phục người Liêu.

Năm ấy, Liêu cho một người tiến sĩ là Thạch Dụng Trung (石用中) đỗ.

Năm Thuần Hóa thứ 3 (Liêu, Thống Hòa năm thứ 10), Công nguyên năm 992

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Bính Thân là mồng 1, ngự điện Triều Nguyên nhận triều hạ, quần thần dâng thọ, dùng Nhã nhạc, có Chung, Khánh, Đăng ca.

Ngày Đinh Dậu, Liêu cấm trong lễ tang, mai táng giết ngựa và chôn giáp trụ, đồ vàng bạc.

Các đạo cống tiến sĩ 17.300 người, đều tụ tập dưới kinh thành. Ngày Tân Sửu, lệnh Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Tô Dịch Giản v.v. cùng coi việc cống cử, sau khi nhận chiếu, lập tức đến cống viện, để tránh việc cầu xin. Về sau trở thành phép thường.

Ngày Ất Tị, lệnh Thường tham quan mỗi người cử một Kinh quan làm Thăng triều quan. Ngày Bính Ngọ, lệnh từ Tể tướng trở xuống đến Ngự sử trung thừa, mỗi người cử một triều quan làm Chuyển vận sứ. Lại chiếu: "Các Kinh quan được cử, trừ quan chức sự ở Tam ty, Tam quán, những người đã được thăng bổ thì không nằm trong diện tiến cử; những người có tài mà ở ngoài, chưa được triều đình biết đến, mới được dâng tấu cử."

Tháng 2, ngày Ất Sửu mồng 1, có nhật thực.

Lại bộ Thủ kho ở Hàng châu là Diệp Diễn An (葉彥安) v.v. 123 người, thiếu nợ Tiền Thục (錢俶) mỗi ngày kho quan 840.000 thạch gạo, hơn 50.000 thạch muối; ngày Giáp Thân, chiếu đều xóa bỏ.

Diêm thiết sứ Ngụy Vũ (魏羽) v.v. tâu rằng: Các châu quan chủ trà, muối phần nhiều thiếu nợ thuế quan, xin thi hành hình phạt. Hoàng đế nói: "Phải tra xét thực hư. Nếu do thủy hạn, tai dị khiến thuế quan thiếu hụt, thì không thể gia hình. Hoàng đế là chủ tài sản thiên hạ mà thôi. Các khanh coi việc tính toán, phải lấy công chính làm lòng, chớ vô cớ cắt xén, gây hại dân mà tổn hòa khí."

Chiêu thảo sứ của Liêu là Hàn Đức Uy tâu rằng Lý Kế Thiên cố ý không ra, đến Linh châu cướp bóc rồi về.

Ngày Nhâm Ngọ, Liêu miễn tô thuế ở Vân châu.

Tháng 3, ngày Ất Mùi mồng 1, phong Triệu Phổ (趙普) làm Thái sư, phong Vệ quốc công.

Ngày Mậu Tuất, khảo lại tiến sĩ trúng cách, Hoàng đế nhận tấu chương của Tả tác giám thừa Phủ Điền Trần Tĩnh (莆田陳靖), bắt đầu lệnh dán kín tên mà khảo xét, lấy được Tôn Hà (孫何) người Nhữ Dương trở xuống, tổng cộng 302 người, đều ban cho đỗ, 51 người đồng xuất thân. Khi yến, ban 3 bài thơ do Hoàng đế sáng tác, một bài "Khuyến giới", và bản mới khắc thiên "Nho hành" trong Lễ ký. Trước đó, Hồ Đán (胡旦), Tô Dịch Giản, Vương Thế Tắc, Lương Hiệu (梁顥), Trần Nghiêu Tổ (陳堯叟) đều vì bài thi làm xong trước mà được chọn vào bậc thượng, do đó sĩ tử tranh nhau chuộng sự nhanh nhẹn, hoặc một khắc làm mấy bài thơ, hoặc một ngày làm mười bài phú. Khoa này, trong cung ra đề "Đề phú Đề ngôn nhật xuất", người dự thi kinh ngạc, không thể đặt lời, cùng nhau gõ vào lan can điện xin đổi. Duy Tiền Dịch (錢易) người Cối Kê, 17 tuổi, trước giờ Ngọ, 3 đề đều làm xong, có người cho là ông ta khinh suất, nên bị đánh hỏng.

Ngày Mậu Ngọ, lấy 40 tiến sĩ khách cống Cao Ly đều làm Bí thư lang, cho về nước.

Chiếu lệnh hữu ty xét định lại phép cân đo, làm thành chế độ mới, ban hành. Trước đó, Thủ tàng lại nhận vàng bạc do thiên hạ nộp hàng năm, mà cân đo cũ của Thái phủ tự nặng nhẹ không đúng, quan lại nhân đó làm gian, người lên nộp thuế bị tội thiếu nợ, phá sản rất nhiều. Lại nữa, Thủ tàng lại thay phiên, khi kiểm toán tranh tụng, thường kéo dài mấy năm. Đến đây, hoạn quan Lưu Thừa Khuê (劉承珪) coi Nội tàng khố, tra xét gốc ngọn, sửa đổi phép tắc, trong ngoài đều cho là tiện lợi.

Diêm thiết phán quan, Tả Tư gián An Dương Hàn Quốc Hoa (韓國華) v.v. tâu rằng: "Chúng thần giữ chức Gián quan, kiêm chức ở Ty Kế toán, riêng không được dự yến du, xin kiêm lãnh chức ở quán." Ngày Ất Tị, lệnh Quốc Hoa v.v. trực Chiêu Văn quán. Thuộc quan của Tam ty kiêm trực quán bắt đầu từ Quốc Hoa v.v.

Ngày Tân Dậu, lệnh hữu ty từ tháng 2 mở băng, dâng cừu tế hẹ. Trước đó, gần đời nay theo nhau dùng tháng 4, là do hiểu sai câu "Tứ chi nhật" trong "Thi Bân" thành tháng 4 bây giờ, Bí thư giám Lý Chí xin sửa lại.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Đinh Sửu, chiếu: "Quan lại, dân chúng ở Giang Nam, Lưỡng Chiết, Kinh Hồ bị phát phối Lĩnh Nam, đều cho trở về bản quận, nhưng bị cấm cố."

Ngày Quý Mùi, Hoàng đế làm thơ "Hình chính", "Giá sắc" ban cho cận thần.

Ngày Canh Dần, Liêu chúa lệnh quần thần thi bắn.

Tháng 5, ngày Quý Tị, Liêu vì dân lưu tán ở Sóc châu không nơi nương tựa, cấp dưỡng trong 3 năm mùa hạ.

Ngày Kỷ Dậu, Hoàng đế vì lâu ngày không mưa thuận, sai 17 Thường tham quan chia nhau đến các lộ xét xử án tù. Đêm ấy, mưa. Ngày Canh Tuất, Tể thần cùng nhau dâng biểu chúc mừng. Hoàng đế nói: "Điều trẫm lo là ở chỗ lại ngục múa bút, khéo bắt bẻ, quan tính toán thì vơ vét, bòn rút, Mục thủ không thể tuyên bố chiếu chỉ, sĩ đại phu không chịu tu sửa chức nghiệp mà thôi." Bọn Lý Phưởng, Trương Tề Hiền dâng biểu xin tội, Hoàng đế nói: "Trong lòng trẫm hễ có điều gì thì nói ra, đã nói thì thôi, không có việc gì nữa. Nhưng việc ở Trung thư, các khanh càng nên hết lòng."

Ngày Giáp Dần, bắt đầu lệnh tăng tu sửa Bí các.

Tháng 6, ngày Giáp Thân, có châu chấu từ Đông Bắc bay đến, che kín trời, bay qua Tây Nam mà đi. Hoàng đế bảo Tể tướng: "Loài sâu này tất hại lúa má, lòng trẫm lo như bị giã. Hãy gấp sai người phi ngựa đến nơi chúng tụ tập mà xem!" Các quan đáp: "Loài sâu này do hạn mà sinh, mưa nhiều thì không bay được. Thánh tâm lo nghĩ lê dân, ắt cảm thông trời đất." Đêm ấy, mưa to, châu chấu đều chết.

Kinh Kỳ được mùa rất lớn. Ngày Tân Mão, sai sứ chia đến 4 cửa thành Kinh đô lập chợ, tăng giá mà mua thóc, lệnh hữu ty để trống kho gần mà chứa, gọi là Thường bình, đợi năm đói thì giảm giá bán cho dân nghèo, trở thành phép vĩnh viễn.

Mùa thu, tháng 7, ngày Nhâm Thìn là mồng 1, đặt Tam ty Đô Cú viện, lệnh Hữu gián nghị Đại phu Trương Bích (張佖) coi việc.

Ngày Ất Tị, Thái sư Triệu Phổ mất. Ngày Kỷ Dậu, Hoàng đế nghe tin, thương xót, bảo cận thần: "Phổ thờ Tiên đế và trẫm, là bậc cố cựu nhất. Trước đây cùng trẫm từng có chỗ không đủ, mọi người đều biết; từ khi trẫm lên ngôi đến nay, mỗi lần đãi ông ta bằng lễ đặc biệt, Phổ cũng hết lòng tự cống hiến, thật là bề tôi của xã tắc." Rồi rơi lệ, người hầu hai bên đều cảm động. Đình triều 5 ngày, sai sứ hộ tang. Ngày an táng, bày nghi trượng, trống kèn như lệ, truy tặng Thượng thư lệnh, truy phong Trấn Định vương, thụy là Trung Hiến. Hoàng đế soạn bia Thần đạo, tự tay viết bằng thể Bát phân ban cho. Trước kia, Phổ theo Thái Tổ từ lúc còn hàn vi, sau khi hiển quý, nhiều lần nhắc lại những điều thiếu sót khi còn hèn, Thái Tổ nói: "Nếu trong bụi trần mà có thể nhận ra thiên tử, Tể tướng, thì ai cũng đi tìm cả rồi." Từ đó không dám nói nữa. Phổ lúc trẻ quen việc lại, ít học thuật, đến khi làm Tể tướng, Thái Tổ thường khuyên đọc sách, về cuối đời, tay không rời sách. Mỗi khi về nhà riêng, đóng cửa mở rương, lấy Luận ngữ ra đọc suốt ngày. Đến khi xử lý chính sự, quyết đoán như nước chảy. Phổ thờ hai triều, ra vào hơn 30 năm, cương nghị quả quyết, có thể lấy thiên hạ làm trách nhiệm của mình, những người ở tướng vị đầu đời Tống chưa ai bằng. Nhưng tính ông ta sâu kín, có chỗ hẹp hòi, lại nhiều ghen ghét, cái chết của Đình Mỹ, Đức Chiêu, ông ta có phần sức lực, người quân tử lấy làm tiếc.

Tháng 8, ngày Nhâm Tuất mồng 1, Bí các hoàn thành. Bí thư giám Lý Chí tâu: "Xin giống như ‘Ngọc đường chi thự’, ban cho biển mới." Ngày Mậu Thìn, Hoàng đế dùng thể Phi bạch viết 2 chữ "Bí các" ban cho. Lại chiếu lệnh Tể tướng, Khu mật sứ cùng cận thần đến xem, bày yến dưới các, các quan trực quán đều dự, lại ban thơ ca ngợi việc ấy.

Ngày Nhâm Thân, chiếu triệu ẩn sĩ ở núi Chung Nam là Chủng Phóng (種放); ông ta lấy cớ bệnh, không đến. Phóng 7 tuổi đã biết làm văn, cùng mẹ ẩn trong khe núi, lấy việc giảng học làm nghề, người học theo rất nhiều, được tiền học phí để nuôi mẹ. Mẹ ông cũng vui với đạo, ăn uống đạm bạc, giỏi thuật bế cốc. Tính ông thích rượu, từng trồng lúa nếp tự nấu, nên hiệu là Vân Khê Túy hầu. Gặp lúc Chuyển vận sứ Thiểm Tây là Tống Duy Cán (宋維幹) nói về tài hạnh của Phóng, Hoàng đế ra chiếu triệu, mẹ ông giận nói: "Ta từng khuyên ngươi đừng tụ tập học trò giảng học, nay quả bị người biết, không được yên thân. Ta sẽ bỏ ngươi, vào sâu núi cùng." Phóng bèn lấy cớ bệnh không dậy. Mẹ ông đem hết bút, nghiên đốt đi, cùng Phóng dời đến nơi cùng cốc, người hiếm khi tới. Hoàng đế khen tiết cao của ông, chiếu lệnh Kinh Triệu phủ hàng năm thăm hỏi, ban cho 30.000 tiền.

Ngày Mậu Tý, chiếu: "Dân Hàng châu thiếu nợ Tiền Thục tiền lãi mỗi ngày hơn 68.000 quan, đều tha cả."

Tháng 9, ngày Nhâm Thìn, chiếu rằng Đông chí sẽ làm lễ ở Nam Giao.

Diêm thiết phó sứ Tạ Bí từng lên điện tâu việc, Hoàng đế bảo ông ta: "Đại để giữ chức không thể không cần cù. Trẫm mỗi khi thấy binh sĩ trong sân điện có thể quét thêm một chỗ đất, múc thêm một bình nước, tất ghi nhớ tên họ."

Ngày Bính Thìn, quần thần dâng biểu tôn thêm tôn hiệu là Pháp Thiên Sùng Đạo Minh Thánh Nhân Hiếu Văn Vũ, Hoàng đế nói: "Chỉ cần thời hòa, năm được mùa, bách tính no đủ, tôn hiệu của trẫm còn cần thêm gì nữa!" Dâng biểu 5 lần, rốt cuộc không cho.

Ngày Kỷ Mùi, ngự đến Bí các xem sách, ban yến uống cho cận thần và quan trực các. Yến xong, lại triệu bọn Đô Ngự hậu bộ, bộ quân là Phó Tiềm (傅潛), Điện tiền Đô chỉ huy sứ Đái Hưng (戴興) đến yến, cho xem các sách, Hoàng đế có ý muốn cho võ tướng biết sự hưng thịnh của văn nho.

Mùa đông, tháng 10, ngày Tân Dậu mồng 1, Chiết Ngự khanh (折御卿) dâng chim ưng hoa trắng, Hoàng đế thả đi, chiếu không cho dâng nữa.

Ngày Quý Hợi, Bí thư giám Lý Chí tâu xin khắc đá bản "Thiên tự văn" do Hoàng đế viết bằng chữ Thảo. Hoàng đế bảo cận thần: "Thiên tự văn là do nhà Lương được hơn 1.000 chữ từ bia vỡ của Chung Do (鐘繇), Chu Hưng Tư (周興嗣) theo vần mà làm, lý không có gì đáng lấy. ‘Hiếu kinh’ là gốc của trăm hạnh, trẫm nên tự viết, cho khắc ở mặt sau bia." Rồi ban chiếu dụ cho Lý Chí.

Hoàng đế lo quan lại trong ngoài thanh trọc lẫn lộn, không thể phân biệt, ngày Nhâm Ngọ, lệnh Vương Miện, Tạ Bí, Vương Trọng Hoa (王仲華) cùng coi việc khảo khóa Kinh triều quan, Trương Hoằng (張弘), Cao Tượng Tiên (高象先), Phạm Chính Từ (範正辭) cùng coi việc khảo khóa quan Mạc chức, châu, huyện, gọi là Ma khám viện. Lại lệnh Ngụy Đình Thức (魏廷式) cùng Triệu Dung (趙鎔), Lý Trước (李著) cùng xét công tội từ Điện trực trở lên ở Tam ban viện.

Tháng 11, ngày Kỷ Hợi, Khai Phong doãn Hứa vương Nguyên Hi, buổi sớm vào chầu, đang ngồi trong nhà bên điện, thấy có bệnh liền về phủ, xa giá vội đến thăm thì bệnh đã nguy kịch. Hoàng đế gọi, ông ta còn đáp được, chốc lát thì mất, 27 tuổi. Hoàng đế khóc rất thương cảm, truy tặng làm Thái tử, thụy là Cung Hiếu.

Chiếu rằng sắp làm lễ ở Nam Giao, trước đó 10 ngày Hứa vương mất, theo lễ, tế Trời Đất, Xã Tắc đều không bỏ, nhưng việc đến Thái miếu xin phép, e là không tiện, bèn tập hợp công khanh bàn. Lại bộ Thượng thư Tống Kỳ (宋琪) dâng tấu, xin đến ngày Thượng tân tháng Giêng năm sau hợp tế Trời Đất, được chấp thuận.

Trước đó, Vương Miện sau khi bị bãi chính, về nhà riêng, gặp lúc tội cũ của tiểu lại Trung thư phát lộ, việc liên lụy đến Trung thư, có người dâng tấu hủy báng Vương Miện. Hoàng đế bảo người ấy: "Lữ Mông Chính có phong độ đại thần, Vương Miện rất sáng suốt, nhanh nhẹn." Người hủy báng hổ thẹn lui ra. Đến khi Vương Miện cùng coi việc khảo khóa Kinh triều quan, những điều ông tâu trình vụn vặt, dư luận rất ồn ào, mà Vương Miện tự cho là ngay thẳng, trong sạch, không tư, cố kết lòng vua, cầu được vào lại. Ngày Canh Tý, Vương Miện đến nhận việc ở Tể tướng phủ, bỗng bị bệnh trúng phong, chóng mặt, được khiêng về nhà, mất, chiếu ưu đãi truy tặng Công bộ Thượng thư.

Cung Hiếu thái tử Nguyên Hi, tính tình nhân hậu hiếu thuận, dung mạo hùng dũng cương nghị, trầm tĩnh ít lời. Ông trấn giữ Kinh sư 5 năm, việc chính sự không có sai sót. Hoàng đế đặc biệt yêu thương. Đến khi ông mất, Hoàng đế nhớ thương không nguôi, có khi buồn khóc suốt đêm, làm bài "Tư vong tử thi" (Bài thơ nhớ con đã mất) cho các cận thần xem. Chẳng bao lâu, có người nói Nguyên Hi bị ái thiếp là Trương thị mê hoặc, chuyên quyền phóng túng, đánh đập bọn tì bộc, có kẻ đến chết mà Nguyên Hi không hay biết; lại vì Trương thị mà ở chùa Phật phía tây đô thành làm lễ chiêu hồn, chôn cất cha mẹ nàng, việc phúng tế vượt quá quy chế. Lại có người nói Nguyên Hi vì ăn nhầm vật khác mà sinh bệnh, cùng những chuyện riêng tư trong cung của ông. Hoàng đế nổi giận, ra lệnh thắt cổ giết Trương thị, bắt bọn thân lại, thân thuộc bên cạnh Nguyên Hi giam vào ngục, sai Vương Kế Ân tra hỏi, tất cả đều bị đánh trượng rồi bãi miễn. Đào lên, đốt phá mồ mả cha mẹ Trương thị, thân thuộc của họ đều bị đày đi nơi xa xôi ác địa. Ngày Bính Thìn, ra chiếu bãi bỏ lễ truy phong thái tử, chỉ dùng nghi trượng phẩm cấp nhất phẩm để an táng mà thôi.

Lễ nghi sứ Tô Dịch Giản dâng sớ tâu rằng

"Thần cúi nghĩ: Thánh triều thân đến tế trời ở Viên Khâu, rước Tuyên Tổ phối hưởng, lập bài vị, đó là hợp với đạo đại hiếu của bậc thánh nhân, thành nên nghi lễ tôn nghiêm ‘cha cùng trời mà phối’. Kính nghĩ Thái Tổ Hoàng đế, mở sáng cơ đồ to lớn, thân lên ngôi báu, lấy thánh truyền thánh, truyền mãi vô cùng. Cẩn xét đời Đường Vĩnh Huy, lấy Cao Tổ, Thái Tông cùng phối Thượng Đế, nay trông mong về sau khi thân tế ở Hiệu Khâu, xin rước Tuyên Tổ, Thái Tổ cùng phối. Còn như các lễ thường tế: mùa xuân tháng đầu (tháng Giêng) tế cầu lúa (Kỳ Cốc), mùa đông tháng đầu tế Thần Châu, mùa thu cuối (tháng 9) đại hưởng, thì tôn Tuyên Tổ làm bậc tôn phối; đến ngày Đông chí tế Viên Khâu, ngày Hạ chí tế Hoàng Địa Kỳ, tháng đầu mùa hạ (tháng 4) tế cầu mưa (Vu tự), thì tôn Thái Tổ làm bậc tôn phối."

Hoàng đế ra chiếu theo đó.

Tháng 12, nước Liêu sai lưu thủ Đông Kinh là Tiêu Hằng Đức đi đánh Cao Ly. Vua Cao Ly là Vương Trị lúc đầu không phòng bị, sau mới cử Thị trung kiêm Quân sứ, Nội sử Thị lang Từ Hi làm Trung quân sứ, Môn hạ Thị lang Thôi Lượng làm Hạ quân sứ, đóng quân ở biên giới phía bắc. Chẳng bao lâu nghe tin quân Liêu đánh Bồng Sơn quận, bắt được Tiên phong quân sứ Doãn Thứ Nhan cùng những người khác, quân Cao Ly không thể tiến lên.

Năm Thuần Hóa thứ 4 (Liêu, Thống Hòa năm thứ 11), Công nguyên năm 993

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Canh Dần mồng 1, Hoàng đế thân đến tế Thái miếu.

Ngày Tân Mão, hợp tế trời đất ở Viên Khâu, rước Tuyên Tổ, Thái Tổ lên làm bậc phối hưởng. Đại xá thiên hạ.

Phó sứ Độ chi là Tạ Bí kê trình số lượng thưởng cấp cho quân sĩ trong lễ tế Giao, Hoàng đế nói: "Trẫm quý tiếc vàng lụa, chính là để sẵn dùng cho việc ban thưởng mà thôi." Bí nhân đó tâu: "Đời Đường Đức Tông gặp loạn Ngưu Tĩnh, đời Hậu Đường Trang Tông gặp họa ngựa bắn, đều do thưởng quân không hậu mà ra. Nay bệ hạ thân giữ sự thanh kiệm, mà ban thưởng lại ưu hậu, thật là điều các bậc vương giả đời trước khó làm được!"

Tiêu Hằng Đức nước Liêu gửi hịch sang Cao Ly, trách cứ, buộc phải đầu hàng xin hòa. Quốc vương Vương Trị nhiều lần sai sứ đi mà không nắm được ý chính, bèn cho Từ Hi xin đi, mang thư đến doanh trại Liêu, sai người phiên dịch hỏi lễ gặp mặt. Hằng Đức nói: "Ta là bậc quý nhân của Đại triều, ngươi nên lạy ở dưới sân." Từ Hi kiên quyết không chịu, Hằng Đức mới cho lên thềm làm lễ. Hằng Đức nói: "Đất Tân La và Cao Câu Ly vốn là của ta, mà nước ngươi xâm lấn gặm nhấm, lại cùng ta tiếp giáp cõi, mà vượt biển sang thờ nhà Tống, vì thế ta đến đánh. Nay nếu có thể cắt đất dâng nộp, lại sửa việc triều cống, thì có thể không sinh việc nữa." Từ Hi nói: "Nước ta chính là nước cũ Cao Câu Ly, nên mới xưng là Cao Ly, đóng đô ở Bình Nhưỡng. Nếu luận về cương vực, Đông Kinh của Thượng quốc đều ở trong cõi ta, sao lại nói là ta xâm lấn gặm nhấm? Vả lại, trong ngoài sông Áp Lục cũng là trong cõi ta, nay Nữ Chân chiếm giữ ở giữa, đường sá tắc nghẽn, còn khó hơn vượt biển, việc triều cống không thông là do Nữ Chân vậy. Nếu nay đuổi Nữ Chân đi, trả lại đất cũ cho ta, xây thành lũy, thông đường sá, thì há dám không sửa việc cống ư?" Hằng Đức đem lời ấy tâu lên, Liêu chúa cho bãi binh. Vương Trị rất mừng, liền sai Thị trung Phác Lương Nhu làm Lễ tệ sứ, dâng biểu xin tội, Liêu chúa bèn lấy mấy trăm dặm đất phía đông sông Áp Lục của Nữ Chân ban cho.

Tháng 2, ngày Kỷ Mùi là mồng 1, có nhật thực.

Ngày Mậu Tuất, ra chiếu ban lụa cho người già ở Kinh thành, người trăm tuổi thì thêm ban đai mạ vàng.

Ngày Quý Hợi, bãi bỏ 8 nha thu thuế hàng hóa dọc sông, cho thương nhân tự do mua bán.

Ngày Ất Sửu, gia phong cho Quốc vương Cao Ly là Vương Trị chức Kiểm hiệu Thái sư, vì Cao Ly sai sứ vào cống. Lại phong Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân Lê Hoàn làm Giao Chỉ quận vương.

Hoàng đế thấy vùng Giang, Hoài, Chiết, Thiểm mấy năm liền gặp hạn, dân nhiều người phiêu tán, khá phóng túng cướp đoạt, phạm vào pháp cấm, ngày Kỷ Mão, sai Lang trung bộ Công là Hàn Thụ, Viên ngoại lang Khảo công là Phan Thận Tu cùng 8 người chia đường đi tuần phủ, để chiêu tập dân lưu tán, khai thông chỗ tắc nghẽn, xét xử các vụ án, đều theo phép nhẹ mà xử. Có việc gì có thể lợi cho dân thì đều cho phép tùy nghi làm; quan lại nào biếng nhác, hà khắc thì tâu lên; chiếu lệnh có điều gì chưa tiện, cũng cho phép kê ra dâng tấu.

Ngày Bính Tuất, đổi Viện Mài khám Kinh triều quan làm Thẩm quan viện, Viện Mạc chức châu huyện quan làm Khảo khóa viện. Lúc ấy, Viên ngoại lang Kim bộ là Tạ Bí nói tên "mài khám" không hợp điển chế, nên đổi.

Đất Thục giàu có, họ Mạnh cát cứ, kho tàng càng thêm đầy ắp. Đến khi vương sư bình định đất Thục, của cải họ Mạnh tích trữ đều quy về Nội phủ. Sau đó, những người bàn việc đều đua nhau mưu cầu lợi ích, ở Thành Đô ngoài thuế khóa thường lệ lại đặt thêm Nha Bác mãi. Các quận bắt dân dệt vải, cấm thương nhân không được tự ý mua bán vải lụa, số tiến cống mỗi ngày lại gấp đôi thường lệ, bọn quan coi việc tính toán chia chẻ đến từng sợi lông. Đất Thục hẹp mà dân thuế nặng, ruộng cày không đủ cung ứng, vì thế dân nghèo khổ, bọn hào phú lại mua thóc rẻ bán đắt để đoạt lợi của họ. Dân huyện Thanh Thành là Vương Tiểu Ba tụ tập đồ đảng, nổi dậy làm loạn, nói với mọi người: "Ta căm ghét cảnh giàu nghèo không đều, nay sẽ vì các ngươi mà san bằng!" Dân nghèo phần nhiều đến theo, bèn đánh cướp các huyện Khung, Thục. Tháng này, giặc cướp Bành Sơn, huyện lệnh Tề Nguyên Chấn dẫn quân chống lại, bị Tiểu Ba giết chết. Trước đó, Bí thư thừa Trương Xu đi sứ Thục, tâu hạch hơn trăm quan lại bất pháp, phần nhiều bị giáng miễn, chỉ riêng khen Nguyên Chấn là thanh bạch, mạnh mẽ, triều đình ban chiếu thư có ấn khen ngợi khuyến dụ. Nguyên Chấn thực ra tham tàn bạo ngược, sau khi nhận chiếu, càng phóng túng ngang ngược, nhận hối lộ được vàng lụa thì phần nhiều gửi nhờ nhà dân. Tiểu Ba biết dân oán giận, nhân đó tập kích giết ông ta, đem vàng lụa phân phát, mổ bụng Nguyên Chấn, nhét đầy tiền và dao, là để ghét việc ông ta vơ vét không chán vậy. Đảng giặc vì thế càng thêm hung hãn.

Triều đình từ khi bình định các nước, tài lực hùng hậu giàu có. Nhưng vì tập trung binh lính ở Kinh sư, các châu bên ngoài không còn lưu trữ tiền của, mọi chi dùng trong thiên hạ đều xuất từ Tam ty, nên chi phí ngày càng nhiều. Hoàng đế chăm lo mọi việc, luôn lấy thương dân, tiết kiệm làm gốc. Ngày Mậu Tý, Hữu ty tâu rằng áo tơi, màn trướng bằng dầu bị rách hỏng đến mấy vạn tấm, muốn hủy bỏ, Hoàng đế lệnh đem nấu giặt, nhuộm các màu tạp, chế thành mấy nghìn lá cờ.

Tả Tư gián Trương Quán, nhân lúc chầu đối, tâu rằng dân Dương Châu phần nhiều thiếu ăn, xin bỏ các thứ thuế tàn hại, Hoàng đế nói: "Gần đây đã miễn thuế mùa thu cho dân nghèo, sao lại còn có chuyện phải nộp bù?" Quán nói: "Dân nhỏ gian xảo, phần nhiều lấy tên tá điền mà mượn danh dân nghèo, mong được miễn giảm, chỉ những người thật nghèo vẫn còn thiếu sót chưa nộp." Hoàng đế than thở mấy lần: "Hai thứ thuế mà miễn giảm, trẫm không tiếc gì, nếu thật sự lợi đến dân nghèo, thì dù mỗi năm bỏ đi cũng không hối. Nay những nhà giàu có trong thành quách, bóc lột dân nghèo, bọn hào gian ẩn lậu thuế khóa, đó là việc tệ hại lắm, biết đâu tìm được quan tốt để quy định chế ước hợp với ý trẫm đây?"

Trước kia, Hà Thừa Cự đến Hùng châu, liền dâng nghị về việc đồn điền. Gặp lúc lệnh huyện Lâm Tân là Hoàng Mậu cũng dâng thư nói: "Đất Mân chỉ trồng ruộng nước, dẫn suối từ núi, tốn gấp bội công sức. Nay các châu quân Hà Bắc có rất nhiều ao đầm, dẫn nước tưới ruộng, bớt công mà dễ thành, trong 3–5 năm, công tư tất được lợi lớn." Nhân đó ra chiếu sai Thừa Cự đi xem xét các châu Hà Bắc, lại tâu lên đúng như lời Mậu. Tháng 3, ngày Nhâm Tý, bổ Thừa Cự làm Chế trí Hà Bắc duyên biên đồn điền sứ, Mậu làm Tư thừa Đại lý tự, kiêm Phán quan, phát 18.000 quân đồn trú các châu Hùng, Mạc, Bá, các quân Bình Nhung, Phá Lỗ, Thuận An cho làm việc ấy, đắp đập 600 dặm, đặt cửa cống, dẫn nước Điến để tưới ruộng. Hà Bắc sương giá sớm, năm đầu lúa không chín, Mậu bèn lấy giống lúa sớm ở Giang Đông, loại chín vào tháng 7, bắt dân trồng, năm ấy tháng 8 lúa chín. Lúc đầu, Thừa Cự dâng nghị về ruộng nước, người phản đối khá nhiều, võ thần cũng lấy làm xấu hổ khi phải lo việc cày cấy. Sau đó lúa không chín, lời bàn càng nhiều, suýt nữa bỏ việc. Đến đây, Thừa Cự chở mấy xe bông lúa, sai quan đem về triều, người bàn tán mới thôi. Từ đó, nhờ sự phong phú của sậy, cỏ bồn, ốc sò, dân được hưởng lợi.

Ra chiếu tạm đình việc cống cử.

Tiết độ sứ Thành Đức là Điền Trọng Tiến được đổi bổ làm Tiết độ sứ Vĩnh Hưng quân. Hoàng đế bảo Chuyển vận sứ Thiểm Tây là Trịnh Văn Bảo rằng: "Trọng Tiến là lão tướng từ triều trước, có công với nước, khanh nên đối đãi tốt với ông ta." Văn Bảo vâng chiếu, lạy hai lần. Trước kia, khi Hoàng đế còn ở vương phủ, yêu quý lòng trung dũng của Trọng Tiến, từng sai ban rượu thịt, Trọng Tiến không chịu nhận. Sứ giả nói: "Tấn vương ban cho ngươi, sao ngươi dám từ chối?" Trọng Tiến nói: "Ta chỉ biết có bệ hạ, không biết có Tấn vương." Rốt cuộc không nhận. Hoàng đế khen ông ta chất phác thẳng thắn, nên trước sau đều tin dùng.

Ra chiếu: "Các án kiện mà Đại lý đã xét xong, thì gửi thẳng sang Thẩm hình viện, không cần qua Hình bộ xét lại nữa."

Mùa hạ, tháng 4, ngày Kỷ Mão, lệnh các ty khi thi hành công vụ, không được tự tiện xưng 'Thánh chỉ'.

Tháng 5, ngày Nhâm Dần, Hoàng đế bảo Tể tướng Lý Phưởng cùng các quan rằng: "Trẫm xem những người đang tại chức, khi chưa được dùng, đều tự ví mình với Quản Trọng, Nhạc Nghị; đến khi được chức rồi, thì đua nhau giữ im lặng, chẳng hề vì trẫm mà nói việc. Trẫm ngày đêm lo nghĩ, hầu như không lúc nào rảnh. Đạo vua tôi lẽ nào lại như thế sao?" Phưởng cùng các quan kinh sợ, lạy phục. Hoàng đế nói: "Việc gì chưa đến mức, trẫm nói với các khanh, cũng là để trên dưới không giấu nhau mà thôi."

Ngày Bính Ngọ, Trương Ký vào Hàn lâm, Hoàng đế bảo các cận thần: "Chức Học sĩ là chức thanh cao, gần gũi, tôn trọng, không thể so với các chức khác, trẫm thường tiếc là không được làm chức ấy."

Ngày Đinh Mùi, bãi bỏ Viện sai phái Kinh triều quan, lệnh Thẩm quan viện quản hết, Hàn lâm học sĩ Tiền Nhược Thủy, Trực học sĩ Khu mật là Lưu Xương Ngôn cùng đồng tri Thẩm quan viện, xét công tội để định thăng giáng. Lại lấy Phán Lưu nội thuyên, Hàn lâm học sĩ thừa chỉ là Tô Dịch Giản, Viên ngoại lang bộ Ngu là Vương Đán cùng kiêm tri Khảo khóa viện. Phàm người thường điều bổ nhiệm thì Lưu nội thuyên chủ; người do tấu cử và những người từng có lỗi lầm trong quá trình nhậm chức thì Khảo khóa viện chủ. Đán là con Vũ.

Ngày Mậu Thân, ra chiếu bãi bỏ các chức Sứ của Diêm thiết, Độ chi, Hộ bộ, Tam ty chỉ đặt 1 viên Sứ, 6 viên Phán quan, 3 viên Thôi quan, theo nghị của Điện trung thừa Mã Ứng Xương. Lấy Diêm thiết sứ Ngụy Vũ làm Phán Tam ty.

Trước kia, Phó chuyển vận sứ Kinh Tây là Lư Chi Hàn dâng nghị, vì sông Dịch tràn ngập, lấn ruộng dân Hứa châu, xin từ huyện Trường Các đào sông dẫn nước Dịch phân lưu 20 dặm, nhập vào sông Huệ Dân. Đến nay công việc hoàn thành, Chi Hàn vì công lao được gia chức Viên ngoại lang Hộ bộ, làm Chuyển vận sứ Thiểm Tây.

Tháng 6, ngày Mậu Ngọ là mồng 1, ra chiếu từ Trung thừa trở xuống đều phải thân đến xét hỏi trong ngục.

Ngày Bính Dần, Thị lang bộ Lại kiêm Bình chương sự Trương Tề Hiền bị bãi, làm Thượng thư Tả thừa. Trước đó, Điện trung thừa Chu Di Nghiệp là thông gia của Tham chính Lý Hạng, cùng với Phó sứ các ty là Vương Diên Đức đồng giám kho lương Kinh sư. Diên Đức nhờ Di Nghiệp nói với Hạng, xin bổ làm quan ngoài, Hạng nói với Tề Hiền, Tề Hiền tâu lên. Hoàng đế vì Diên Đức từng hầu Tấn phủ, giận ông ta không tự tâu mà lại cầu cạnh bọn chấp chính, bèn triệu kiến, quở trách, Diên Đức, Di Nghiệp đều không nói thật. Tề Hiền không muốn kéo Hạng ra làm chứng, bèn tự nhận lỗi, nên đến nỗi bị bãi tướng, dư luận khen ngợi.

Ngày Nhâm Thân, Tri Khu mật viện sự Trương Tốn bị giáng làm Hữu Lĩnh quân vệ tướng quân, Đồng tri viện sự Khấu Chuẩn bị bãi, giữ nguyên chức cũ. Tốn vốn không hòa với Chuẩn, nhiều lần tranh việc trước mặt Hoàng đế, Hoàng đế định bãi ông ta. Một hôm, Chuẩn cùng Ôn Trọng Thư ra khỏi Cấm trung, trên đường gặp một kẻ điên chạy đến trước đầu ngựa hô ‘vạn tuế’, Hữu Vũ Lâm đại tướng quân Vương Bân thân với Tốn, lại biết Tốn có hiềm khích với Chuẩn, bèn tâu việc ấy. Chuẩn tự biện rằng: "Thực là cùng Trọng Thư đi chung, mà Tốn sai Bân chỉ tâu riêng về thần." Tốn vin vào lời tâu của Bân để hạch Chuẩn, lời lẽ rất gay gắt, nhân đó đôi bên vạch tội riêng của nhau, Hoàng đế nổi giận, nên giáng Tốn và bãi Chuẩn.

Lấy Quan sát sứ Phù châu là Sài Vũ Tích làm Tuyên huy Bắc viện sứ, Tri Khu mật viện sự, Trực học sĩ Khu mật là Lưu Xương Ngôn đồng tri viện sự, Lữ Đoan làm Tham tri chính sự. Xương Ngôn bỗng được trọng dụng, không được lòng người đương thời, có người nói xấu ông ta trước mặt Hoàng đế, lại nói lời lẽ ông ta khó hiểu, Hoàng đế nói: "Chỉ có trẫm là hiểu được ông ấy."

Ngày Mậu Dần, lệnh Tả Gián nghị đại phu Ngụy Thường, Lang trung Ty Phong kiêm Tri chế cáo Sài Thành Vụ cùng đồng tri việc của Cấp sự trung, phàm chiếu sắc có điều chưa tiện, thì theo lệ cũ phong bác tâu lên; theo lời thỉnh cầu của Tả Gián nghị đại phu Ngụy Vũ.

Trước đó, Hoàng đế khẩn triệu Chuyển vận sứ Quảng Nam là Khai Phong Hướng Mẫn Trung về triều, tạm làm Lang trung bộ Công. Một hôm, Hoàng đế ngự bút viết chữ Phi bạch ghi tên Hướng Mẫn Trung và Lang trung bộ Ngu là Trác Thành Trương Vịnh, giao cho Tể tướng, nói: "Hai người này là danh thần, trẫm sẽ dùng." Người hầu nhân đó khen tài họ. Mùa thu, tháng 7, ngày Quý Dậu, lấy Hướng Mẫn Trung, Trương Vịnh đồng tri Ngân đài, Thông tiến ty, xem xét tấu chương, án thư để kiểm tra việc ra vào. Ngày Kỷ Dậu, đều được bổ làm Trực học sĩ Khu mật.

Ngày Canh Tuất, Huyện úy Ung Khâu là Vũ Trình dâng sớ, xin giảm bớt cung phi trong hậu cung, Hoàng đế bảo Tể tướng: "Trình là tiểu thần xa xôi, không biết việc trong cung. Người hầu trong nội đình không quá 300 người, đều có việc đảm trách, không thể bỏ được, các khanh lẽ ra phải biết. Trẫm quyết không bắt chước Tần Hoàng, Hán Vũ xây ly cung biệt quán, bắt con gái nhà lương thiện vào đó cho đầy, để lại lời chê cười muôn đời." Lý Phưởng nói: "Bệ hạ thân hành giữ sự thuần kiệm, trong ngoài đều biết. Người nhà của thần đều từng được vào trong, thấy rõ sự giản ước trong cung. Trình thân phận hèn mọn, dám nói lời cuồng vọng, nên giáng phạt để răn kẻ nói bừa." Hoàng đế nói: "Trẫm đâu từng lấy lời nói mà trị tội người! Chỉ nghĩ là Trình không biết mà thôi."

Trong cõi Liêu, từ cuối mùa hạ mưa to, đến nay sông Tang Càn, Dương Hà tràn ngập, phía tây ải Cư Dung lúa má hầu như mất hết, dân cư Phụng Thánh, Nam Kinh nhà cửa phần nhiều bị ngập.

Tháng này, đặt chức Chư lộ Trà diêm chế trí sứ.

Tháng 8, ngày Bính Thìn mồng 1, có nhật thực.

Hoàng đế viết thảo thư bài "Đại ngôn phú" của Tống Ngọc ban cho Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Tô Dịch Giản, Dịch Giản nhân đó phỏng theo làm bài "Đại ngôn phú" dâng lên, Hoàng đế xem phú, khen ngợi, thân viết chiếu thư khen. Một hôm khác, Dịch Giản trực trong Cấm trung, dùng nước thử cái Ỷ khí, sai Tiểu hoàng môn truyền việc mật tâu, mà không biết tên gọi là gì. Đến buổi chầu chiều, Hoàng đế nói: "Vật khanh chơi đó chẳng phải là Ỷ khí sao?" Dịch Giản nói: "Đúng, đó là do Từ Diệu ở Giang Nam làm." Liền sai đem đến bên chỗ ngồi, Hoàng đế tự tay thử nghiệm, khen ngợi mấy lần. Dịch Giản tiến lên nói: "Thần nghe: mặt trời đến giữa thì xế, mặt trăng đầy thì khuyết, bình đầy thì đổ, vật thịnh thì suy. Xin bệ hạ giữ vững lúc đầy, giữ thành nghiệp, cẩn thận từ đầu đến cuối như một, để củng cố cơ nghiệp muôn đời, thì thiên hạ rất may mắn!"

Thông tiến, Ngân đài ty trước thuộc Khu mật viện, phàm văn thư tấu đáp trong ngoài, đều phải qua hai ty rồi mới dâng lên. Bên ngoài thì do nội quan và lại thuộc Khu mật viện coi, bên trong thì Thượng thư nội tỉnh ghi số giao cho các ty, hoặc thi hành hoặc không, có thể nhân đó làm điều gian, trong cung không biết, ngoài ty không có chức năng hạch tấu. Trực học sĩ Khu mật Hướng Mẫn Trung khi mới được triệu về từ Lĩnh Nam, liền trình bày việc ấy, xin đặt riêng một cục, sai quan chuyên coi sổ sách, để phòng việc bưng bít; Hoàng đế khen và nhận lời. Ngày Quý Dậu, ra chiếu lấy thính sự Bắc viện Tuyên huy làm Thông tiến, Ngân đài ty, lệnh Mẫn Trung và Trương Vịnh đồng tri công việc hai ty, phàm tấu chương, án thư trong ngoài, đều cẩn thận xem xét việc ra vào mà tra xét, mỗi tháng dâng một bản chấm công. Việc không kể lớn nhỏ, không dám để lưu trệ. Phát chiếu ty vốn thuộc Trung thư, sau đó lệnh Ngân đài ty kiêm quản.

Trước kia, Phó đoàn luyện sứ Hoàng châu là Vương Dũ Trừng được điều sang Giải châu, nhân Tả Tư gián Lữ Văn Trọng tuần phủ Thiểm Tây, dâng sớ nói dân già cả xin dời về phía đông, Hoàng đế liền ra chiếu gọi Dũ Trừng về triều. Ngày Kỷ Mão, bổ làm Tả Chính ngôn, bảo Tể tướng rằng: "Văn chương của Dũ Trừng, một mình đứng đầu đương thời; nhưng tính tình cương trực, không dung người khác, các khanh nên triệu đến mà răn bảo!" Sau đó lệnh ông trực Chiêu Văn quán.

Tháng 9, ngày Ất Tị, lấy việc phong bác của Cấp sự trung thuộc Thông tiến, Ngân đài ty, mọi chiếu sắc đều lệnh Hướng Mẫn Trung, Trương Vịnh xét kỹ nên hay không rồi mới ban xuống. Lúc ấy, Tiết độ sứ Thái Ninh là Trương Vĩnh Đức làm Đô bộ thự của Tịnh, Đại, có một tiểu hiệu phạm pháp, Vĩnh Đức đánh roi đến chết, ra chiếu xét tội. Vịnh phong trả chiếu thư, lại nói: "Vĩnh Đức đang gánh vác việc biên thùy, nếu vì một tiểu hiệu mà làm nhục chủ soái, thần e dưới sẽ sinh lòng khinh thường trên." Hoàng đế không theo. Chẳng bao lâu, quả có quân doanh ép kiện Quân hậu, Vịnh lại dẫn việc trước mà nói, Hoàng đế đổi sắc mặt, khen ngợi ông.

Mùa thu năm ấy, mưa lâu không dứt, ngoài cửa Chu Tước, Sùng Minh nước đọng rất sâu, người qua lại phải dùng thuyền, bè để sang, tường lũy, nhà cửa phần nhiều đổ nát, ruộng mùa thu gần kinh thành phần nhiều mất trắng, dân lưu tán rất nhiều. Giữa vùng Trần, Nguỵnh, Tống, Bạc trộm cướp nổi lên từng bọn, thương nhân không dám đi lại. Hoàng đế cho rằng âm dương sai lệch, lỗi do công phủ, nghiêm trách Tể tướng Lý Phưởng cùng các quan rằng: "Các khanh nhận bổng lộc đầy xe, há biết ngoài đồng có xác người chết đói hay không?" Phưởng cùng các quan thẹn thùng lạy phục.