Tục tư trị thông giám/Quyển 25
Năm Cảnh Đức thứ 1 (Liêu, Thống Hòa năm thứ 22), Công nguyên năm 1004
[sửa]Tháng 11, ngày Ất Mão, sai sứ đi an phủ Hà Bắc.
Lấy Tri Doanh châu Lý Diên Ác (李延渥) làm Bản châu Đoàn luyện sứ, để khen thưởng công lao giữ thành của ông ta.
Bắc diện bộ thự tâu: "Quân Khiết Đan từ Doanh châu rút lui, nhưng quân chúng vẫn còn 20 vạn. Do thám được mưu của chúng là muốn nhân lúc ta sơ hở mà đánh thẳng vào các quân Bối, Ký, Thiên Hùng." Hoàng đế xuống chiếu đốc thúc binh các lộ và quân trú phòng ở Chiết châu hội họp tại Thiên Hùng quân.
Từ khi quân Liêu kéo xuống phía nam, vùng Hà Sóc đều đóng thành giữ. Hữu Tán thiện đại phu Vương Dữ (王嶼) làm Tri Ký châu, thường ôm chí phá địch, hằng ngày duyệt xét quân trú phòng, lại tập hợp trai tráng khỏe mạnh mà luyện tập, mở cửa cho ra ngoài đốn củi hái lượm như ngày thường. Ông từng dâng sớ nói: "Nếu giặc đến, ắt có thể chặn đánh, xin đừng vì một quận mà lo." Bấy giờ du kỵ quân Liêu áp sát thành, Dữ đánh đuổi được chúng, Hoàng đế xuống chiếu khen thưởng.
Ngày Quý Hợi, Đô chỉ huy sứ Mã quân nước Liêu là Da Luật Kha Lễ (耶律珂禮) giao chiến với quân Nam triều ở Lạc châu, đánh thắng. Ngày Giáp Tý, Đông Kinh Lưu thủ Tiêu Ba Nhã Nhĩ (蕭巴雅爾) bắt được quan lại phủ Ngụy là Điền Phùng Cát (田逢吉), dâng lên hành trướng.
Ngày Mậu Thìn, lấy Sơn Nam Đông đạo Tiết độ sứ Lý Kế Long (李繼隆) làm Giá tiền Đông diện Bài trận sứ, Mã quân Đô chỉ huy sứ Cát Bá (葛霸) làm Phó; Tây Thượng các môn sứ Tôn Toàn Chiếu (孫全照) làm Đô kiềm hạt, Nam Tác phường sứ Trương Mân (張旻) làm Kiềm hạt; Vũ Ninh Tiết độ sứ Thạch Bảo Cát (石保吉) làm Giá tiền Tây diện Bài trận sứ, Bộ quân Đô Ngự hầu Vương Ẩn (王隱) làm Phó, Nhập nội Phó Đô tri Tần Hàn (秦翰) làm Kiềm hạt.
Ban đầu, Mân ở Định châu, nói rằng thiên đạo đang thuận lợi cho "khách” (tức ta), ai ra tay trước thì thắng, nên phát binh lớn đánh Liêu, lại dâng lên ngày nên khởi binh xuất cảnh. Hoàng đế đem hỏi các Phụ thần, mọi người đều nói không thể, nên thôi. Đến đây, xa giá sắp thân chinh, Mân đang trú phòng ở Bính, Đại, lại dâng hơn 10 điều về việc biên thùy, được triệu về, vào chầu, Hoàng đế nói: "Khiết Đan vào ải, đúng với ngày khanh xin bắc phạt, trẫm hối vì không dùng kế của khanh. Nay cần giữ Chiết châu mà chưa được người, thế nào?" Mân xin đi, Hoàng đế mừng, bèn sai làm Tây diện Kiềm hạt, trước lệnh đến Chiết châu dò xét xa gần tình hình địch, Mân liền cưỡi ngựa phi đi.
Tần Hàn sau khi nhận mệnh, liền thúc giục mọi người vây quanh thành đào sâu hào rãnh, để chống kỵ binh biên thùy. Công việc xong, quả nhiên quân Liêu kéo đến dữ dội, Hàn hơn 70 ngày không cởi giáp trụ.
Ngày Canh Ngọ, xa giá bắc tuần. Ty Tư thiên tâu: "Mặt trời ôm quầng, khí vàng tràn ngập, nên không đánh mà lui, có điềm hòa giải."
Tào Lợi Dụng (曹利用) đến Thiên Hùng, Tôn Toàn Chiếu nghi Khiết Đan không thành tín, khuyên Vương Khâm Nhược (王欽若) giữ ông ta lại. Quân Liêu nhiều lần công thành không được, lại khiến Vương Kế Trung (王繼忠) dâng tấu xin hòa. Hoàng đế nhân đó ban cho Kế Trung chiếu thư viết tay, nói đã sai Lợi Dụng, lại bảo ông ta báo với người Liêu rằng hãy sai sứ đến Thiên Hùng nhận chiếu. Kế Trung nghe Lợi Dụng đến Thiên Hùng mà không đi, lại dâng tấu, xin từ Chiết châu riêng sai sứ đến Bắc triều, để khỏi chậm trễ lỡ việc. Ngày Tân Mùi, xa giá đến huyện Trường Viên, nhận được tấu ấy, bèn lấy ý trước mà trả lời.
Ngày Nhâm Thân, đến huyện Vi Thành. Xuống chiếu cho Tri Hoạt châu Trương Bỉnh (張秉), Tri Tề châu Mã Ứng Xương (馬應昌), Tri Bộc châu Trương Thịnh (張晟) qua lại trên sông, chỉ huy dân phu đục băng, để phòng kỵ binh địch vượt sông.
Thiên Hùng quân nghe tin quân Liêu sắp đến, cả thành hoảng hốt rối loạn, Vương Khâm Nhược cùng các tướng bàn việc rút thăm chia nhau giữ các cửa, Tôn Toàn Chiếu nói: "Toàn Chiếu là con nhà tướng, xin không rút thăm, các tướng tự chọn chỗ tiện lợi, ai không dám nhận, Toàn Chiếu xin nhận thay." Rồi không ai chịu giữ cửa bắc, bèn giao cho Toàn Chiếu. Khâm Nhược cũng tự chia phần giữ cửa nam, Toàn Chiếu nói: "Không được. Tham tri chính sự là chủ soái, mệnh lệnh phát ra, mưu lược quyết định, nam bắc cách nhau 20 dặm. Nếu việc gì cũng phải tâu rồi đợi trả lời, ắt lỡ cơ hội, chi bằng ở giữa, tại phủ nha trung ương, giữ vững chỗ then chốt, điều động bốn phía." Khâm Nhược nghe theo.
Toàn Chiếu vốn huấn luyện nuôi dưỡng nỏ thủ, bắn người ngựa xuyên thủng cả giáp dày, tùy theo chỗ ông ta chỉ huy, ứng biến không nhất định. Bấy giờ bèn mở toang cửa bắc, hạ cầu treo để chờ địch. Quân Liêu công cửa đông đã lâu, bỏ cửa đông, tiến về cố thành, đêm đến lại từ cố thành lén kéo quân qua phía nam thành, đặt phục binh ở miếu Địch Tướng, rồi từ phía nam đánh Đức Thanh quân. Khâm Nhược nghe tin, sai tướng dẫn tinh binh truy kích; phục binh nổi dậy, chặn phía sau, quân Thiên Hùng không thể tiến thoái. Toàn Chiếu xin với Khâm Nhược rằng: "Nếu mất đội quân này, tức là mất Thiên Hùng. Cửa bắc không đáng giữ, Toàn Chiếu xin đi cứu." Bèn dẫn quân dưới trướng ra cửa nam liều chết chiến đấu, giết bị thương rất nhiều quân phục của Liêu, quân Thiên Hùng mới lại trở về được, người sống sót chỉ còn 3, 4 phần 10.
Ngày Canh Ngọ, Tiêu Ba Nhã Nhĩ, Tiêu Quan Âm Nỗ (蕭觀音努) của Liêu dẫn quân Bột Hải đánh Đức Thanh quân, thành vỡ, Tri quân, Thượng thực sứ Trương Đán (張旦) cùng con là Tam ban tá chức Lợi Thiệp (利涉), Hổ Kỵ Đô Ngự hầu Hồ Phúc (胡福) và 14 người đều chết.
Trước đó có chiếu sai Vương Siêu (王超) cùng những người khác dẫn quân đến hành tại, hơn một tháng vẫn chưa tới. Quân Liêu càng xâm lấn xuống nam, Hoàng đế đóng quân ở Vi Thành, quần thần lại có người đem mưu dời đô tới Kim Lăng tâu, xin Hoàng đế tạm tránh mũi nhọn của địch, ý Hoàng đế hơi dao động, bèn triệu Khấu Chuẩn (寇準) vào hỏi. Chuẩn sắp vào, nghe nội nhân nói với Hoàng đế rằng: "Bọn quần thần muốn đưa quan gia đi đâu? Sao không mau trở về kinh sư!" Chuẩn vào chầu, Hoàng đế nói: "Nam tuần thì thế nào?" Chuẩn đáp: "Quần thần hèn nhát ngu dốt, chẳng khác gì lời mụ già ở thôn quê. Nay kỵ binh địch áp sát, bốn phương lòng người nguy ngại, bệ hạ chỉ có thể tiến một tấc, không thể lùi một phân. Các quân Hà Bắc ngày đêm trông đợi xa giá đến, sĩ khí sẽ lên gấp trăm lần. Nếu lui giá vài bước, thì vạn chúng tan rã, địch thừa cơ phía sau, đến Kim Lăng cũng không thể tới được!" Ý Hoàng đế chưa quyết. Chuẩn ra, gặp Điện tiền Đô chỉ huy sứ Cao Quỳnh (高瓊), nói: "Thái úy chịu ơn nước, lấy gì báo đáp đây?" Đáp: "Quỳnh là võ nhân, nguyện liều chết." Chuẩn lại vào chầu, Quỳnh theo đứng dưới sân, Chuẩn nói: "Bệ hạ không cho lời thần là phải, xin thử hỏi Quỳnh." Bèn trình bày lại ý kiến trước, lời lẽ hào sảng. Quỳnh ngửa mặt tâu: "Lời Khấu Chuẩn là đúng." Lại nói: "Quân sĩ tùy giá, cha mẹ vợ con đều ở kinh sư, ắt không chịu bỏ mà đi xuống nam, giữa đường sẽ tan rã mất. Xin bệ hạ mau đến Chiết châu, chúng thần liều chết, Khiết Đan không khó phá." Chuẩn lại nói: "Cơ hội không thể bỏ lỡ, nên thúc xa giá!" Lúc ấy Vương Ứng Xương (王應昌) đeo Ngự khí giới hầu bên cạnh, Hoàng đế nhìn ông ta, Ứng Xương nói: "Bệ hạ phụng trời đi đánh, đi đến đâu ắt thắng đến đó, nếu chần chừ không tiến, e thế giặc càng mạnh." Ý Hoàng đế bèn quyết.
Ngày Giáp Tuất, sáng sớm xuất phát, tả hữu vì rét lắm, dâng áo da chồn, mũ bông. Hoàng đế từ chối, nói: ’'Mọi người phơi sương dãi gió chịu rét chịu khổ, trẫm dùng riêng thứ này làm gì!" Chiều đến huyện Vệ Nam, sai Hàn lâm Thị độc học sĩ Phan Thận Tu (潘慎修) đi trước đến Chiết châu. Xuống chiếu cho tướng soái Bắc trại Chiết châu và Tri châu không được tự tiện rời bỏ nơi đóng quân để ra nghênh giá.
Trước đó Hoàng đế ban chiếu cho Vương Kế Trung cho phép sai sứ, Kế Trung lại dâng tấu gửi kèm theo Thạch Phổ (石普) để chuyển đạt. Phổ từ Bối châu sai Chỉ huy sứ Trương Hạo (張皓) đến hành khuyết, đường đi qua trại quân Liêu, bị bắt, Liêu chúa và Thái hậu dẫn Hạo đến trước xe trướng, hỏi han hồi lâu, rồi sai đến Thiên Hùng, lấy chiếu thúc giục Tào Lợi Dụng. Vương Khâm Nhược và những người khác nghi, không dám cho đi, Hạo một mình trở về Liêu doanh. Liêu Thái hậu ban cho Hạo áo bào, đai, cho ở quán xá hậu đãi hơn lệ, sai Kế Trung dâng tấu, lại xin từ Chiết châu riêng sai sứ, mau bàn việc hòa hiếu. Bấy giờ Hạo đem tấu ấy vào, Hoàng đế lại ban chiếu cho Khâm Nhược, lại lệnh Tham tri chính sự Vương Đán (王旦) cùng Khâm Nhược viết thư tay, giao cho Hạo mang đến Thiên Hùng, thúc Lợi Dụng cùng đi lên phía bắc, đồng thời dùng chiếu dụ Kế Trung. Nhân đó nói với Phụ thần rằng: "Nhà nước lấy việc an dân, dứt chiến làm điều nghĩ đến, vốn đã bằng lòng rồi. Nhưng bên kia còn dẫn quân tiến sâu, lại sông đóng băng sắp liền, ngựa chiến có thể vượt, cũng nên phòng bị quá mức. Trẫm đã quyết định kế sách, nếu đến lúc lập minh ước mà chúng lại có yêu sách khác, thì sẽ quyết một trận chiến. Có thể lại đốc thúc các tướng soái chỉnh đốn quân dung, tùy nghi mà làm."
Quân Liêu sau khi hạ được Đức Thanh, ngày Nhâm Thân, bèn tiến đến Chiết châu, vây ba mặt. Lý Kế Long và những người khác chia quân phục nỏ mạnh, khống chế các nơi hiểm yếu. Thống quân sứ Liêu là Tiêu Đạt Lan (蕭達蘭) cậy dũng, dùng kỵ binh nhẹ đi xem xét địa thế. Lúc ấy Đầu quân Uy Hổ là Trương Tường người Thọ Quang (壽光張瓖) trông coi nỏ giường, nỏ bắn ngầm, Đạt Lan trúng trán ngã xuống, quân Liêu tranh nhau khiêng kéo về trại, tối hôm ấy chết. Thái hậu đến bên xe của ông ta, khóc rất thảm thiết, ngừng chầu 5 ngày. Lấy Tiêu Ba Nhã Nhĩ thay ông ta nắm việc phía nam, rồi xuống đóng ở Thông Lợi quân. Đạt Lan thông thiên văn, nhiều lần lập chiến công, là người đầu tiên đề xướng mưu xâm lấn xuống nam, đến đây chết, trong quân mất nhuệ khí, càng muốn bàn hòa.
Ngày Bính Tý, xa giá rời Vệ Nam. Lý Kế Long và những người khác sai người báo tin thắng trận, lại nói: "Bắc thành Chiết châu, cửa ngõ chật hẹp, xin đóng quân ở nam thành." Ngày ấy, đóng ở nam thành, lấy dịch xá làm hành cung, định ở đó. Khấu Chuẩn cố xin đến bắc thành, nói: "Bệ hạ không qua sông, thì lòng người càng nguy, khí thế địch chưa bị khuất, không phải là cách để lấy uy, quyết thắng. Vả lại Vương Siêu lĩnh tinh binh đóng ở Trung Sơn để chẹn cổ họng địch, Lý Kế Long, Thạch Bảo Cát chia đại trận để chẹn hai bên khuỷu tay, các Trấn bốn phương đến cứu viện ngày một nhiều, còn nghi gì mà không đi?" Cao Quỳnh cũng cố xin, Thuyên thư Khu mật viện sự Phùng Chửng (馮拯) đứng bên quát ông ta, Quỳnh giận nói: "Ông nhờ văn chương mà được vào hai phủ, nay kỵ binh địch tràn ngập như thế, còn trách Quỳnh vô lễ, sao ông không làm một bài thơ đuổi địch đi?" Liền vẫy vệ sĩ đẩy kiệu, gõ vào lưng người khiêng kiệu mà nói: "Sao không mau đi! Nay đã đến đây, anh còn nghi gì nữa!" Hoàng đế bèn lệnh tiến kiệu. Đến nơi, lên lầu cửa bắc thành, giương cờ Hoàng Long, các quân đều hô vạn tuế, tiếng vang mấy chục dặm, khí thế tăng gấp trăm. Hoàng đế xem xét doanh trại, triệu kiến Lý Kế Long và các tướng, vỗ về rất lâu, ban cho các quân rượu thịt, tiền mền.
Ngày Mậu Dần, dời ngự hành doanh ở bắc thành.
Tào Lợi Dụng từ Thiên Hùng đến doanh quân Liêu, thấy Thái hậu của họ cùng Tể tướng Hàn Đức Xương (韓德昌) cùng ngồi một xe, quần thần và chủ soái của họ ngồi riêng, lễ nghi rất giản lược. Dùng ván ngang ách xe, đặt đồ ăn lên trên, ngồi ở dưới xe của Lợi Dụng, đem thức ăn cho ông ta. Cùng bàn việc hòa hiếu, việc chưa quyết, Liêu chúa bèn sai Tả Phi long sứ Hàn Kỷ (韓杞) mang quốc thư cùng Lợi Dụng trở về. Xuống chiếu cho Tri Chiết châu Hà Thừa Cự (何承矩) ra ngoại thành nghênh tiếp, Hàn lâm học sĩ Triệu An Nhân (趙安仁) làm tiếp bạn, mọi nghi thức triều kiến đều do An Nhân định ra.
Tháng 12, ngày Canh Thìn mồng 1, Hàn Kỷ vào chầu ở tiền điện hành cung, quỳ trao thư hàm cho Hợp môn sứ, sai nâng lên điện, Nội thị tỉnh Phó Đô tri Nghiêm Thừa Hàn (閻承翰) nhận rồi mở phong, Tể tướng đọc xong, lệnh Kỷ lên điện hành lễ chầu hỏi. Trong thư lại xin trả lại đất cũ phía nam Quan. Hoàng đế bảo Phụ thần: "Trẫm vốn lo điều này, nay quả như vậy, sẽ làm sao?" Phụ thần xin đáp thư, nói: "Đất Quan Nam thuộc triều đình đã lâu, không thể bàn đến, hoặc mỗi năm cấp vàng lụa, giúp quân phí cho họ, để củng cố hòa ước. Xin bệ hạ cân nhắc." Hoàng đế nói: "Trẫm giữ cơ nghiệp tổ tông, không dám làm mất. Điều nói trả đất, việc ấy cực kỳ vô lý, nếu nhất định đòi, trẫm sẽ quyết chiến mà thôi! Thật nghĩ dân cư Hà Bắc lại chịu lao khổ, nếu mỗi năm dùng vàng lụa bù đắp chỗ thiếu của họ, thể diện triều đình cũng không tổn hại. Thư trả lời không cần nói hết, chỉ bảo Tào Lợi Dụng cùng Hàn Kỷ nói miệng việc này là được." Triệu An Nhân một mình nhớ được thể thức quốc thư thời Thái Tổ, bèn sai ông ta soạn thư trả lời. Ban cho Kỷ áo khoác, đai vàng, yên ngựa, đồ khí tiền tệ. Kỷ hôm ấy vào từ biệt, bèn cùng Lợi Dụng đi. Kỷ đã nhận áo khoác ban cho, đến lúc từ biệt, lại mặc vạt trái, lại lấy cớ áo ban cho hơi dài để giải thích, Triệu An Nhân nói: "Ngài sắp lên điện nhận thư trả, thiên nhan gần trong gang tấc, nếu không mặc áo được ban, có được chăng?" Kỷ liền đổi mặc áo rồi vào. Hoàng đế lại mặt dặn Lợi Dụng rằng đất nhất định không thể cho, nếu đòi của cải, thì nên chấp thuận.
Ngày ấy, có nhật thực. Hoàng đế rất sợ, Ty Tư thiên nói là điềm hai nước hòa giải, ý Hoàng đế hơi yên.
Ngày Quý Mùi, đến Bắc trại, lại đến doanh Lý Kế Long, lệnh tướng tá, quan theo hầu uống rượu, ban thưởng các quân có phân bậc.
Tào Lợi Dụng cùng Hàn Kỷ đến trướng quân Liêu, người Liêu lại nhắc việc đất cũ Quan Nam, Lợi Dụng liền gạt đi, lại nói: "Bắc triều đã khởi binh để tìm hòa ước, nếu mỗi năm mong được vàng lụa của Nam triều để giúp quân lữ, thì còn có thể bàn." Chính sự Xá nhân tiếp bạn là Cao Chính (高正) vội nói: "Năm nay dẫn quân đến đây, vốn mưu lấy đất phía nam Quan, nếu không đạt được điều mong, thì nước ta hổ thẹn lắm." Lợi Dụng đáp: "Thần vâng mệnh chuyên đối, chỉ có chết mà thôi. Nếu Bắc triều không lo hối hận về sau, tha hồ đòi hỏi, thì đất vốn không thể được, binh cũng chưa dễ dứt!" Liêu chúa và Tiêu Thái hậu nghe vậy, ý hơi chùng, chỉ muốn mỗi năm lấy vàng tiền; Lợi Dụng hứa tặng 20 vạn tấm lụa, 10 vạn lạng bạc, việc hòa mới định. Liêu chúa lại sai Vương Kế Trung gặp Lợi Dụng, nói rõ: "Nam Bắc thông hòa, thật là việc tốt, chúa thượng (tức Liêu chúa) tuổi còn trẻ, nguyện coi Nam triều như anh. Lại lo Nam triều có thể ở dọc biên giới đổi dòng sông, đào rộng hào lũy, có ý đồ khác." Nhân đó gửi kín theo Lợi Dụng tấu xin lập lời thề, lại xin sai sứ thần thân cận mang thư thề đến bên họ.
Ngày Giáp Thân, Lợi Dụng liền cùng Hữu Giám môn vệ Đại tướng quân của họ là Diêu Giản Chi (姚柬之) mang quốc thư trở về, lại dâng áo ngự, thức ăn, việc nghênh tiếp, cấp dưỡng đều như lễ dành cho Hàn Kỷ, lệnh Triệu An Nhân làm tiếp bạn.
Ngày Ất Dậu, Giản Chi vào chầu ở trung điện hành cung, sai nhận thư của ông ta, lời thư vẫn nói: "Điều Tào Lợi Dụng nói, chưa hợp với nghị bàn trước của Vương Kế Trung; nhưng Lợi Dụng vốn đã có thành ước, đều ghi đủ trong mật tấu của Kế Trung rồi." Ngày ấy, Hoàng đế ngự lầu nam hành cung, xem sông lớn, mở yến tiệc đãi quần thần, triệu Giản Chi cùng dự.
Ngày Bính Tuất, Giản Chi vào từ biệt, lệnh Tây Kinh Tả Tàng khố sứ Lý Kế Xương (李繼昌) tạm giữ chức Tả vệ Đại tướng quân, mang thệ thư cùng Giản Chi đi đáp lễ, gọi Tiêu Thái hậu nước Liêu là Thúc mẫu, số vàng lụa như Lợi Dụng đã hứa, các điều khác cũng theo như Kế Trung tấu. Giản Chi lại nói: "Thu quân về bắc, e bị phục kích dọc biên giới." Bèn xuống chiếu cho các lộ bộ thự và các châu quân, không được tự tiện xuất binh mã đánh úp quân Liêu rút về.
Ngày Đinh Hợi, lấy Tào Lợi Dụng làm Đông Thượng các môn sứ, Trung châu Thứ sử, ban nhà ở tại kinh sư. Lợi Dụng khi đi sứ lần thứ hai, đã xin trực tiếp số vàng lụa cống hàng năm, Hoàng đế nói: "Nếu bất đắc dĩ, dù 1 triệu cũng được." Khấu Chuẩn gọi ông ta đến trướng, bảo: "Tuy có chiếu cho phép 1 triệu, nhưng nếu quá 30 vạn, sẽ chém đầu ông đó!" Lợi Dụng quả lấy 30 vạn mà thành ước trở về. Vào yết kiến hành cung, Hoàng đế đang ăn, chưa cho vào ngay, sai nội thị hỏi số cống. Lợi Dụng nói: "Đây là việc cơ mật, phải tâu trực tiếp." Lại sai hỏi: "Tạm nói qua." Lợi Dụng nhất quyết không nói, chỉ đưa 3 ngón tay đặt lên má. Nội thị vào tâu: "Ba ngón tay đặt lên má, chẳng phải là 3 triệu sao?" Hoàng đế buột miệng nói: "Nhiều quá!" Rồi lại nói: "Thôi, miễn là xong việc, cũng được." Màn trướng mỏng, Lợi Dụng nghe rõ lời ấy. Đến khi vào chầu, Hoàng đế vội hỏi, Lợi Dụng mấy lần tự nhận tội, nói: "Thần hứa bạc lụa hơi nhiều." Hoàng đế hỏi: "Bao nhiêu?" Đáp: "30 vạn." Hoàng đế không kìm được, rất vui mừng, nên Lợi Dụng được thưởng đặc biệt hậu.
Ngày Mậu Tý, Hoàng đế làm bài "Hồi loan thi”, lệnh cận thần họa lại. Đến Bắc trại uý lạo quân sĩ, sai Lôi Hữu Chung (雷有終) dẫn quân dưới trướng trở về đóng ở Bính châu. Lúc ấy Vương Siêu và những người khác chần chừ không lập công, chỉ có Hữu Chung đến cứu viện, thanh thế rất vang, các thành Hà Bắc nhờ đó mà quân thế được nâng lên.
Ngày Kỷ Sửu, nước Liêu xuống chiếu cho các quân giải giới.
Ngày Nhâm Thìn, xá tội từ tử tội trở xuống cho các châu Hà Bắc. Dân bị quân Liêu giày xéo, cho miễn sưu dịch 2 năm. Quan lại chết trận, truy phong cho con cháu.
Ngày Quý Tị, mở yến lớn ở hành cung.
Tể thần Bật Sĩ An (畢士安) trước vì bệnh ở lại kinh sư, gửi thư cho Câu Chuẩn, nói: "Đại kế đã định, chỉ trông mong một mình ông gắng sức!" Ngày ấy, ông vào chầu. Người bàn luận phần nhiều cho rằng cống hàng năm 30 vạn là quá nhiều, Sĩ An nói: "Không như thế, thì địch không coi trọng, việc hòa e không bền lâu."
Ung vương Nguyên Phần (雍王元份) bỗng phát bệnh, xuống chiếu cho Tham tri chính sự Vương Đán tạm giữ chức Đông Kinh Lưu thủ, lập tức cưỡi trạm xe về trước. Đán phi ngựa đến kinh, vào thẳng cấm trung, hạ lệnh rất nghiêm, không ai biết. Đến khi xa giá trở về, con cháu nhà Đán đều ra nghênh ở ngoài thành, bỗng nghe sau có tiếng quan quân quát đường, quay lại nhìn, thì là Đán, ai nấy đều kinh ngạc. Lúc ấy dân hai sông phần nhiều có người rơi vào tay địch, Đán dâng sớ, xin xuất vàng lụa mấy chục vạn để chuộc họ; có người can ngăn, nên thôi.
Ngày Giáp Ngọ, xa giá rời Chiết châu. Trời rất rét, ban áo quần cho dân nghèo dọc đường.
Lý Kế Xương đến trướng Liêu, lễ nghi quán xá càng hậu, lập tức sai Tây Thượng các môn sứ của họ là Đinh Chấn (丁振) mang thệ thư đến dâng.
Ngày Mậu Tuất, xa giá từ Chiết châu trở về.
Ban đầu Hoàng đế vì ngày giỗ Ý Đức Hoàng Thái hậu, muốn bớt bày lộ bộ, trống nhạc, không dùng nhạc. Lúc ấy Long Đồ các Đãi chế Đỗ Hạo (杜鎬) về trước, chuẩn bị nghi trượng. Sai kỵ binh phi ngựa hỏi ông ta, Hạo nói: "Vũ Vương chở bài vị gỗ đi phạt Trụ, trước hát sau múa. ‘Xuân Thu’ không lấy việc nhà mà từ chối việc vua, khải hoàn dùng nhạc, theo lễ không có điều gì phải kiêng." Hoàng đế lại xuống chiếu cho Phụ thần cùng bàn, mọi người đều cố xin, bèn nghe theo.
Khấu Chuẩn ở Chiết châu, mỗi đêm cùng Tri chế cáo Dương Ức (楊億) uống rượu say sưa, ca hát đùa giỡn, ồn ào đến sáng, Hoàng đế sai người dò biết, mừng nói: "Chuẩn như thế, trẫm còn lo gì nữa!" Người đương thời so sánh ông với Tạ An.
Sau đó Tào Lợi Dụng cùng Hàn Kỷ đến hành tại bàn hòa, Chuẩn bày kế dâng lên, lại nói: "Như thế, có thể bảo đảm trăm năm vô sự. Nếu không, mấy chục năm sau, địch sẽ lại sinh lòng." Hoàng đế nói: "Mấy chục năm sau, ắt có người chống giữ. Trẫm không nỡ để sinh linh lại khổ, tạm nghe theo việc hòa vậy." Chuẩn vẫn chưa bằng lòng, có người gièm rằng ông ta thích chiến tranh để tự nâng mình, Chuẩn bất đắc dĩ phải thuận theo.
Ban đầu, Chuẩn sắp đặt quân sự, có khi trái ý Hoàng đế, đến đây, ông tạ lỗi rằng: "Nếu thần đều làm theo chiếu lệnh, việc này há có thể chóng thành!" Hoàng đế cười mà uý lạo.
Ngày Tân Sửu, chép lời thề với Khiết Đan ban cho các châu quân Hà Bắc, Hà Đông.
Ngày Giáp Thìn, đổi tên Uy Lỗ quân là Quảng Tín, Tĩnh Nhung là An Túc, Phá Lỗ là Tín An, Bình Nhung là Bảo Định, Ninh Biên là Vĩnh Ninh, Định Viễn là Vĩnh Tĩnh, Định Khương là Bảo Đức, Bình Lỗ thành là Túc Ninh.
Bân châu bộ thự tâu rằng con Lý Kế Thiên (李繼遷) là Đức Minh (德明) và Khổng mục quan Hà Hiến (何憲) đến quy thuận, xuống chiếu lệnh cưỡi trạm xe đến kinh.
Ngày Ất Tị, lấy Thiên Hùng quân Kiềm hạt Tôn Toàn Chiếu làm Tri quân phủ sự, triệu Vương Khâm Nhược về kinh.
Ngày Mậu Thân, Hoàng đế xem tấu báo Hà Bắc, các châu phần nhiều bị giày xéo, Thông Lợi quân thương vong càng nặng, sắc mặt rất thảm, bèn xuống chiếu tự trách. Vương Đán, Khấu Chuẩn và những người khác đều dâng sớ xin tội, Hoàng đế an ủi.
Tháng này, quân Liêu rút về, Thái hậu ban cho Đại Thừa tướng Hàn Đức Xương họ Da Luật, dời phong làm Tấn quốc vương.
Năm ấy, Liêu cho tiến sĩ Trương Khả (張可) đỗ thứ 3.
Năm Cảnh Đức thứ 2 (Liêu, Thống Hòa năm thứ 23), Công nguyên năm 1005
[sửa]Mùa xuân, tháng giêng, ngày Canh Tuất mồng 1, vì việc giảng hòa cùng người Liêu, đại xá thiên hạ.
Ngày Nhâm Tý, cho trai tráng các châu Hà Bắc được về làm ruộng, lệnh cho hữu ty mua trâu cày cấp cho họ.
Ngày Quý Sửu, bãi các hành doanh các lộ, hợp hai lộ Đô bộ thự Trấn, Định làm một.
Ngày Giáp Dần, Vương Khâm Nhược từ Thiên Hùng quân về chầu.
Hoàng đế cho rằng các Thủ thần Hà Bắc nên chọn người có tài võ, giỏi trấn tĩnh, ngày Ất Mão, lấy Mã Triết (馬知節) làm Tri Định châu, Tôn Toàn Chiếu làm Tri Trấn châu, Triệu Xương Ngôn (趙昌言) làm Tri Đại Danh phủ, Phùng Khởi (馮起) làm Tri Chiết châu, Thượng Quan Chính (上官正) làm Tri Bối châu, Dương Diên Lãng (揚延朗) làm Tri Bảo châu, Trương Vũ Khuê (張禹珪) làm Tri Thạch châu, Trương Lợi Thiệp (張利涉) làm Tri Thương châu, Triệu Kế Thăng (趙繼升) làm Tri Hình châu, Lý Doãn Tắc (李允則) làm Tri Hùng châu, Triệu Bân (趙彬) làm Tri Bá châu. Hoàng đế tự tay ghi tên họ họ giao cho Trung thư, lại nói: "Sự sắp đặt của trẫm đúng hay sai, các khanh cùng xét kỹ." Bật Sĩ An nói: "Những người bệ hạ chọn, đều là tài thích hợp dùng, xin giao xuống ngoài thi hành." Hoàng đế nghe theo.
Triết trước ở Trấn châu, khi quân Liêu vào ải, dân dắt díu nhau vào thành, Triết cùng họ ước định, ai trộm 1 đồng tiền thì chém. Chẳng bao lâu có kẻ trộm tiền của một đứa trẻ 200 đồng, liền giết, từ đó không ai dám phạm. Mỗi khi Trung sứ mang chiếu dụ các quận biên, Triết lo bị địch cướp, bèn giữ họ lại, tuyển người chân chạy nhanh đi đường tắt chuyển đạt chiếu chỉ. Gặp lúc phát lương trữ của 6 châu Chiết, Ngụy, Hình, Minh v.v. đến Định châu, đường thủy đường bộ cùng tiến, lúc ấy quân giao chiến ở biên giới, Triết nói: "Đây là cấp lương cho địch." Bèn bảo các quận huyện, phàm vật công gia vận chuyển, đều nộp tại chỗ; địch muốn cướp bóc, đều không được gì. Xa giá đến Chiết châu, Đại tướng Vương Siêu ôm quân mấy chục vạn đóng ở Định châu, chần chừ không tiến, Triết nhiều lần khuyên, Siêu không động. Lại gửi thư trách mắng, Siêu mới xuất quân, còn lấy cớ giữa sông không có cầu, lội bộ sẽ nguy; Triết trước đã sai thợ đo gỗ, một đêm mà làm xong. Hoàng đế nghe, ban chiếu khen ngợi.
Bãi Bắc diện bộ thự, Kiềm hạt, Đô giám, Sứ thần hơn 290 người.
Triệu Phụ thần xem các loại binh khí công thành, chiến cụ của người Liêu thu được ở Doanh châu, đều chế tạo tinh xảo, mũi sắc bén, thang xung, mộc bài, đều bọc sắt. Trên thành treo tấm ván chỉ vài tấc, mà tụ tập hơn 200 mũi tên, sau đó Lý Kế Tuyên (李繼宣) đào sâu hào Cao Dương, được tên sót lại đến 40 vạn, người Liêu công thành không tiếc sức như thế.
Ngày Mậu Ngọ, Liêu chúa trở về, đến Nam Kinh. Ngày Canh Thân, lấy Tiêu Ba Nhã Nhĩ làm Bắc phủ Tể tướng, Tiêu Quan Âm Nỗ làm Đồng tri Nam viện sự. Mở yến lớn cho sĩ tốt, phong tước ban thưởng có phân bậc.
Ngày Quý Hợi, lệnh Hàn lâm học sĩ Triệu An Nhân và 4 người khác tạm cùng Tri cống cử.
Vương Siêu dâng tấu chương xin tội, Hoàng đế thương công lao cũ, không trách. Ngày Mậu Thìn, lấy Siêu làm Sùng Tín Tiết độ sứ, bãi quân chức.
Bãi Hà Đông bộ thự, Kiềm hạt ty Sứ thần hơn 100 người, lại bãi 5 phần 10 quân trú phòng các châu Hà Bắc, 3 phần 10 quân dọc biên giới.
Ngày Kỷ Tị, Tham tri chính sự Vương Khâm Nhược được gia cấp bậc, thực phong, lại ban áo khoác, đai gấm, yên ngựa. Theo lệ cũ, Phụ thần được gia ân không ban vật; Hoàng đế vì Khâm Nhược giữ phiên có công lao, đặc biệt sủng đãi, từ đó thành lệ.
Vì người Liêu thông hòa, đặt Quốc tín ty, giao cho hoạn quan quản.
Tháng 2, ngày Quý Mùi, Sơn Nam Đông đạo Tiết độ sứ, Đồng Bình chương sự Lý Kế Long mất, truy tặng Trung thư lệnh, thụy Trung Vũ. Kế Long xuất thân quý tộc, cảm khái tự lập, thời Thái Tông đặc biệt được tin dùng, mỗi lần xuất chinh, tất nắm toàn quyền quân sự. Hoàng đế vì là nguyên cữu, không muốn phiền ông ta việc quân, cho ông ta nhàn nhã ở gần phiên, ân lễ rất hậu, Kế Long cũng nhiều mưu trí, nên có thể khiêm cẩn giữ thân. Khi Minh Đức Hoàng hậu lâm bệnh, muốn gặp mặt ông ta, Hoàng đế giục ông ta vào, Kế Long chỉ đến cửa Vạn An cung dâng biểu, rốt cuộc không vào cung. Lại từng sai các vương đến phủ thăm hỏi, Kế Long không bày trà nước, chỉ mượn lò trà của vương phủ đi theo, nấu uống mà thôi.
Cuối niên hiệu Hiển Bình, Hà Bắc Chuyển vận sứ Lưu Tông (劉綜) dâng sớ nói: "Đời Tây Hán, Triệu Thố nói cho dân nộp thóc mà ban tước, thóc ở vùng biên ải sẽ nhiều, Văn Đế nghe theo. Nay các châu Hà Bắc tụ tập binh lính, lương thực vận chuyển tốn kém, xin thi hành chế độ nhà Hán để cứu quân trữ." Sau đó Thủy bộ Lang trung Hứa Nguyên Báo (許元豹) lại nói: "Các huyện dọc sông mua thóc biên giới số ít, xin cho phép tiến hiến lương thóc, ban cho quan chức." Việc giao xuống Tam ty bàn tâu, bèn định các bậc nộp thóc thực biên mà ban quan, tâu lên. Hoàng đế lo tước thưởng quá lạm, rất tiếc việc ấy, Tể tướng nói: "Lệ cũ còn đủ, thi hành không hại, xin các châu Thiểm Tây cũng theo chế độ ấy." Hoàng đế nghe theo.
Ngày Bính Tuất, nước Liêu lại đặt chợ thuế ở Trấn Vũ quân. Lúc ấy lương bổng dê của Liêu thường thiếu, Môn hạ Bình chương sự Da Luật Thực Lỗ (耶律實嚕) xin dùng dê gầy già và da lông đổi lấy lụa ở phương nam, hai bên cùng có lợi.
Ngày Quý Sửu, lệnh cho Thôi quan phủ Khai Phong là Tôn Cẩn (孫僅) làm sứ sang chúc mừng sinh nhật Liêu Thái hậu, Hợp môn chỉ hậu Khang Tông Nguyên (康宗元) làm phó sứ. Tôn Cẩn cùng những người đi theo vào cõi Liêu, các Thứ sử đều ra nghênh đón, lại sai các quan mạc chức, Huyện lệnh, cha già trong làng nâng chén rượu dâng trước ngựa; dân thì bưng đấu hương đốt nghênh đón phía trước. Người tiếp đãi đi theo dò xét những thứ sứ giả cần dùng dọc đường, liền cung ứng ngay. Liêu chúa mỗi năm tránh nóng ở Hàm Lương Điện, nghe tin sứ đến, liền về U Châu, nhiều lần triệu Tôn Cẩn cùng dự yến hội, lễ đãi rất hậu. Khi Tôn Cẩn xin về, Liêu chúa tặng cho đồ dùng, áo mũ và hơn 500 con ngựa. Từ lúc nghênh đón ngoài thành cho đến tiệc tiễn, hết sức cung kính cẩn thận. Nhưng lễ nghi có chỗ quá đáng, Tôn Cẩn tất phải ngăn lại mà bỏ đi. Từ đó về sau, những người phụng sứ phần nhiều noi theo phép ấy, đương thời cho là hợp lễ.
Thái tử Thái sư Lữ Mông Chính (呂蒙正) xin về Tây Kinh dưỡng bệnh, chiếu cho phép. Ngày Đinh Mùi, triệu vào chầu, cho được ngồi kiệu đến ngoài cửa điện, lệnh cho 2 con là Tòng giản – Thừa ở Quang Lộc tự và Tri giản – Lang hiệu thư nâng đỡ ông ta lên điện, ân cần hỏi han suốt mấy khắc. Nhân đó Lữ Mông Chính nói: "Bắc Nhung xin hòa, từ xưa vốn coi là thượng sách. Nay trước mở lòng thành, tiếp nối mối hòa để cho dân được nghỉ, thiên hạ vô sự, chỉ mong bệ hạ lấy trăm họ làm điều lo nghĩ!" Hoàng đế khen ngợi, 2 con ông đều được thăng quan. Mông Chính đến Lạc Dương, có vườn đình hoa cỏ, ngày ngày cùng thân thích bạn bè yến ẩm, con cháu vây quanh, thay nhau dâng chén chúc thọ, ông vui vẻ tự đắc.
Chiếu rằng: "Các châu quân ven biên nếu bắt được gian nhân bên bờ bắc, phải hỏi rõ tình trạng sự việc, giải về kinh." Hoàng đế cho rằng tuy với Liêu đã thông hiếu, nhưng động tĩnh bên ấy cũng không thể không biết, việc dò xét tình hình, nên theo phép cũ. Lại lo sợ người của ta bị bên kia bắt được, sẽ đổ lỗi về ta, nên từ nay bắt được gián điệp của họ, phải tha, không được giết, chỉ giam giữ trong nội địa, đợi khi họ có lời trách cứ, thì lấy việc này đáp lại, vì thế mới có chiếu ấy.
Tháng 3, ngày Giáp Dần, Hoàng đế ngự điện Sùng Chính, thân tự khảo thí những người do Lễ bộ tấu danh, lấy được Tiến sĩ 246 người, từ Lý Địch (李迪) người Bộc Châu trở xuống, lại lấy được 111 người thuộc hạng Đặc tấu danh 5 lần dự thi trở lên. Ngày hôm sau, khảo thí các khoa khác, lấy được 570 người từ khoa Cử 《Cửu kinh》 trở xuống, lại lấy được 75 người thuộc hạng Đặc tấu danh các khoa từ 《Tam lễ》 trở xuống. Hoàng đế bảo Tể tướng rằng: "Thi ẩn tên, đối chiếu lại, cốt phải tinh xác; nhưng khảo quan không hiểu ý trẫm, quá hạ thấp thứ bậc, muốn tự tỏ mình tuyệt không tư riêng, thật là không cần thiết. Bài thi của Lý Địch là ưu tú nhất; Lý Tư (李諮) cũng có chỗ đáng xem. Nghe nói thuở nhỏ mẹ ông ta bị cha ruồng bỏ, trở về tộc cũ, Tư ngày đêm gào khóc, cầu xin được đón mẹ về, đến nỗi dứt ăn mặn để cầu khấn, lại có thể khắc khổ học tập, tự mình giành được danh thứ, cũng đáng khen vậy." Bèn bổ Lý Địch làm Thừa ở Tướng tác giám, Lý Tư và Hạ Hầu Lân (夏侯麟) làm Bình sự ở Đại lý tự, kiêm Thông phán các châu. Lý Tư là người Tân Dự.
Trước đó, Lý Địch và Giả Biên đều có tiếng tăm ở trường thi, đến khi Lễ bộ tấu danh, 2 người đều không có tên. Khảo quan lấy bài văn của họ ra xem, thì phú của Địch bị sai vần, luận của Biên về câu "đương nhân bất nhượng ư sư” lại giải chữ "sư” là "chúng”, khác với chú sớ, nên tấu riêng, cho vào dự ngự thí. Tham tri chính sự Vương Đán (王旦) bàn rằng: "Sai vần là do không xét kỹ mà lầm. Bỏ chú sớ mà lập thuyết khác, quyết không thể cho phép, e rằng sĩ tử từ nay phóng túng, không còn chuẩn mực." Bèn lấy Lý Địch mà bỏ Giả Biên.
Ban đầu, Trần Quán (陳貫) người An Dương, ưa bàn việc binh. Niên hiệu Hàm Bình, đại tướng Dương Quỳnh, Vương Vinh thua trận, Quán dâng thư nói: "Trước đây không chém Phó tướng Phó Tiềm, Trương Chiêu Viễn, khiến bọn Quỳnh sợ chết mà không sợ pháp lệnh. Không nghiêm phép tắc, sau này ắt càng lỏng. Xin lập pháp: phàm giao chiến mà bỏ chạy, chủ tướng và giáo úy đều chém. Đại tướng tử trận, mà bọn Bì hiệu không bị thương mà trở về, thì coi như cùng tội với quân bỏ chạy. Quân thua, thành bị vây, mà bộ phận khác đủ sức cứu mà không đến, thì luận tội chần chừ. Như thế, hình phạt rõ ràng, sĩ tốt sẽ được khích lệ." Hoàng đế vui lòng nhận lời. Định triệu vào Học sĩ viện khảo thí, nhưng các quan chấp chính cho rằng Dương Quỳnh, Vương Vinh đã bị xử tội rồi, nên nghị ấy bị gác lại.
Lại từng dâng 3 thiên luận: Hình thế, Tuyển tướng, Luyện binh luận, đại lược nói
- Đất có chỗ hiểm yếu. Nay biên giới phía bắc đã mất chỗ hiểm Cổ Bắc, nhưng từ thành Uy Lỗ về phía đông đến biển 300 dặm, đất đai lầy lội khô cằn, là chỗ trời để hở, trời sụt, địch không thể dễ dàng vào. Từ Uy Lỗ về phía tây đến cùng núi Lang Sơn chưa đầy 100 dặm, đất rộng bằng, lợi cho kỵ binh xung kích, đây là nơi tất tranh, ai chiếm trước thì nhàn, đến sau thì mệt, nên có chuẩn bị để chờ. Xưa Lý Hán Siêu giữ Doanh Châu, địch không dám nhìn xuống phía nam quan ải một tấc đất. Nay tướng soái phần nhiều nhờ ân trạch mà tiến, tuy cẩn trọng đáng tin, nhưng khi bất ngờ gặp địch, không biết dùng phương lược gì, nên thế địch càng mạnh, binh ta hao tổn ngoài biên đã 20 năm, đó là hiệu quả của việc chọn tướng được mất. Triều đình thu thập anh dũng thiên hạ để làm Cấm quân, chỉ nhờ ban thưởng bổng lộc mà thôi, quen nhàn tĩnh, lâu ngày không biết chiến trận, nên dùng để vệ kinh sư, không nên dùng để giữ biên. Giữ biên không gì bằng mộ dân bản thổ thuộc vào bản quân, lại ghi dân đinh làm Phủ binh, khiến họ phía bắc chống Liêu, phía tây chống Nhung; không chỉ hiểu rõ tình hình địch, quen thuộc địa thế, mà còn đều ưa chiến đấu, không có lòng kiêu ngạo.
Sau khi người Liêu đã hòa, Trần Quán lại dâng lời: "Địch nhiều lần vượt ải, bắt lùa dân lương thiện hàng mấy chục vạn. Nay nhân lúc mới thông hiếu, nên xuất vàng lụa trong Nội phủ để chuộc họ, địch ham lợi, ắt trả dân ta, từ bắc sông trở đi, đội ơn đức ấy vô cùng." Bấy giờ Quán dự thi Tiến sĩ, vào thi ở điện, được đồng xuất thân, Hoàng đế nhớ tên ông, nói: "Đây là người nhiều lần bàn việc biên cương." Bèn cất lên hạng thứ 2, ban cho đỗ.
Ngày Ất Sửu, nước Liêu phát chẩn cho bộ Đảng Hạng bị đói.
Ngày Bính Dần, lấy Tri Hùng Châu Cơ nghi ty Triệu Diên Tộ (趙延祚) làm Tuần kiểm thành Bắc Quan Hùng Châu, ban cho 300 lạng bạch kim. Diên Tộ là đại tộc trong châu, từ đời Thái Tông, từng bỏ tiền nhà giao kết hào kiệt trong đất địch, nắm được động tĩnh, liền tâu rõ với tướng châu, nhờ đó được trao quan chức. Đến nay ông hơn 70 tuổi, được triệu vào kinh, hỏi kỹ việc biên cương, ông trình bày: "Việc hòa hiếu hiện nay, người Liêu trước mở lòng thành, triều đình ta luôn giữ ân tín, lẽ tất lâu dài." Lại nói: "Em gái Quốc mẫu gọi là Tề phi, không hòa thuận với chị, vàng lụa triều đình ta ban cho, đều về tay Quốc chủ và Quốc mẫu, những người dưới không được hưởng gì, mong từ nay ở chợ mậu dịch biên giới, nên cho họ chút ưu đãi, thì người dưới được lợi, ắt càng vui mừng." Lại lần lượt trình bày phong tục Liêu, núi sông quanh co, địa lý xa gần, cùng việc đời Tấn, Hán, đều rành rẽ có chứng cứ. Hoàng đế hỏi ông muốn gì, ông nói có gia thuộc ở nhờ tại Thanh Châu, xin nhân đường về được ghé thăm; Hoàng đế cho phép. Lại vì đã thông hiếu với Liêu, không thể đặt Cơ nghi ty nữa, nên lệnh làm Tuần kiểm.
Hoàng đế lo các châu ở Hà Bắc, vì binh dịch bãi bỏ mà võ bị lơi lỏng, chiếu rằng lầu địch, trại chiến nào sụp đổ thì phải sửa ngay.
Lấy Thừa Tướng tác giám Vương Tằng (王曾) làm Trứ tác lang, Trực Sử quán, ban áo tía. Chế cũ, khảo thí văn phải thuộc Học sĩ, Xá nhân viện, Tể tướng Khấu Chuẩn (寇準) vốn biết rõ Vương Tằng, đặc biệt triệu vào khảo ở Chính sự đường.
Ngày Đinh Sửu, nước Liêu đổi chức Chiêu an sứ lộ Phi Hồ ở Dịch Châu làm An phủ sứ, vì đã hòa hiếu với Nam triều.
Mùa hạ, tháng 4, ngày Bính Tuất, Nữ Chân, Hồi Cốt đều sai sứ sang cống nước Liêu.
Ngày Đinh Dậu, Trực học sĩ ở Khu mật viện Lưu Sư Đạo (劉師道) bị giáng làm Hành quân tư mã quân Trung Vũ, Tri chế cáo Trần Nghiêu Tư (陳堯咨) làm Đoàn luyện phó sứ Đơn Châu.
Trước đó, em Lưu Sư Đạo là Cơ Đạo (幾道) dự thi Tiến sĩ, Lễ bộ tấu danh, sắp vào điện thí, theo chế độ gần đây đều ẩn tên để chấm điểm, Nghiêu Tư làm khảo quan, dạy Cơ Đạo bí mật ghi dấu hiệu trong quyển. Cơ Đạo đã được trúng cách, có người tố cáo việc ấy, chiếu xóa tên trong sổ, vĩnh viễn không được dự thi nữa. Ban đầu Hoàng đế muốn dung thứ, không truy cứu đến cùng, nhưng Sư Đạo cứ khăng khăng xin biện bạch. Bèn chiếu lệnh Đông thượng Hợp môn sứ Tào Lợi Dụng (曹利用), Binh bộ lang trung Biên Túc (邊肅), Nội thị phó Đô tri Nghiêm Thừa Hàn (閻承翰) đến Ngự sử phủ cùng xét xử; kết tội tâu trình là vu vọng, nên cùng với Nghiêu Tư đều bị giáng chức.
Ngày Mậu Tuất, ngự Long Đồ các, xem bút tích của Thái Tông, xem tranh vẽ ở các các, các cận thần đều theo hầu.
Ngày Kỷ Hợi, Đảng Hạng xâm phạm đất Liêu.
Chiếu các châu Hà Bắc sửa sang thành trì.
Thị lang Bộ Công, Tham tri chính sự Vương Khâm Nhược (王欽若) vốn bất hòa với Khấu Chuẩn, từ Thiên Hùng trở về, hai lần dâng biểu xin bãi chức. Ngày Quý Mão, đặt chức Tư chính điện học sĩ, lấy Khâm Nhược đảm nhiệm, vẫn thăng làm Thị lang Bộ Hình, thứ bậc ở dưới Hàn lâm học sĩ, trên Thị độc học sĩ.
Lấy Thiêm thư Khu mật viện sự Phùng Chửng (馮拯) làm Tham tri chính sự.
Tháng 5, ngày Mậu Thân mồng 1, ngự Quốc tử giám xem kho sách, hỏi Tế tửu Hình Bỉnh (邢昺): "Có bao nhiêu bản sách?" Bỉnh tâu: "Buổi đầu triều ta chưa đến 4.000 bản, nay hơn 10 vạn, Kinh, Sử, Chính nghĩa đều đủ. Thần thuở nhỏ học Nho, thường thấy học trò không thể có đủ Kinh, Sớ, vì chép tay không kịp. Nay bản in đã rất đầy đủ, nhà sĩ, nhà dân đều có, đó là cái may của Nho giả gặp thời vậy." Trước đó, giấy thừa khi in sách đều bán đi để cung cấp tạp dụng trong Giám, Bỉnh xin đem khoản tiền ấy nộp về Tam ty, giúp quốc khố. Từ đó công phí cho học trò không đủ, giảng quan cũng chán vì cảnh vắng vẻ.
Tuyên huy Bắc viện sứ Lôi Hữu Chung (雷有終) mất. Hữu Chung phóng khoáng tự phụ, giỏi vỗ về sĩ tốt, thường bỏ tiền riêng để chi dùng cho yến tiệc công. Khi ở Thục, từng vay dùng tiền kho mấy trăm vạn, tâu xin nộp nhà cửa để trả, chiếu ưu đãi miễn cho; sau khi chết, nợ đọng vẫn không dưới trăm vạn, triều đình thay ông trả.
Phó Đô đốc Cao Dương quan Trương Ngưng (張凝) mất. Ngưng trung dũng, ưa công danh, giỏi huấn luyện sĩ tốt, phần nhiều đem thưởng ban để đãi quân, nhà không còn dư của. Hoàng đế từng bảo cận thần: "Chọn dùng võ thần thật là khó, nếu chưa từng trải qua, thì không thể biết hết tài năng. Thái Tông chọn dùng rất nhiều người, mà được ưu đãi đặc biệt chỉ có mấy người như Ngưng, Vương Bân, Vương Hiến, mới biết tiên đế sáng suốt biết người vậy." Đến nay Ngưng mất, Hoàng đế rất thương tiếc.
Tri Trấn Nhung quân Tào Vĩ (曹瑋) tâu: "Trong quân cảnh, sông suối đồng nội bằng phẳng, tiện cho kỵ chiến, không lợi cho Trung Quốc. Xin từ phía đông núi Lũng, men theo Trường thành cũ, đào hào làm giới hạn." Chiếu theo. Lại tâu: "Biên dân ứng mộ làm Cung tiễn thủ, đều quen thuộc đường lối nơi ải, hiểu tiếng Khương, Hồ, chịu được rét khổ, khi có báo động có thể cùng chính binh làm tiền phong; nhưng triều đình chưa từng cấp cho khí giới, lương thực, khó trách họ liều chết. Xin cấp cho họ ruộng hoang trong cảnh nội, vĩnh viễn miễn tô, xuân thu cày gặt, châu xuất binh bảo hộ việc canh tác." Chiếu rằng: "Mỗi người cấp 2 khoảnh ruộng, xuất 1 giáp sĩ; ai có 3 khoảnh thì xuất 1 chiến mã. Lập bảo trại, chia bộ ngũ, bổ làm Chỉ huy sứ trở xuống các cấp hiệu trưởng, ai có công lao cũng được bổ làm Quân đô chỉ huy sứ, đặt Tuần kiểm để thống lĩnh." Về sau các châu quân Phu Diên, Hoàn Khánh, Kinh Nguyên cùng Hà Đông cũng đều mộ đặt như thế.
Lấy Khởi phục Hữu gián nghị đại phu, Tri chế cáo Triệu Hồi (晁迴), Khởi cư xá nhân, Tri chế cáo Lý Tông Ngạc (李宗諤) đều làm Hàn lâm học sĩ.
Tông Ngạc khi ở Xá nhân viện, từng gửi thiếp sang Ngự sử đài, không để trống phần "không bình”, Trung thừa Lữ Văn Trọng (呂文仲) gửi văn hỏi tội, Tông Ngạc đáp rằng hai tỉnh với Đài ty không thuộc quyền thống nhiếp lẫn nhau. Văn Trọng bất bình, tâu lên Hoàng đế, có chiếu phân biệt rõ. Tông Ngạc dẫn 8 việc chứng minh không hề thống nhiếp, lại nói: "Ngự sử đài mỗi khi gửi thiếp sang bản tỉnh đều không để trống phần ‘không bình’, cho nên bản tỉnh khi gửi văn trả lời cũng theo như thế. Vậy mà Văn Trọng chỉ dựa vào lời bọn lại dịch, vội vàng tâu lên, không có điển chương nào làm căn cứ. Huống chi chức trách Đài hiến, vốn nên hạch tội gian tà, phân rõ oan uổng, triều thần có việc bất pháp thì được tâu đàn hặc, thứ dân có người không ai kêu thay thì được trình bày. Thế mà lại trong văn thiếp, tranh chuyện để trống hay không để trống, việc ấy vụn vặt, đâu đủ giúp cho phong độ của Đài hiến ư!" Cuối cùng làm theo lời Tông Ngạc. Người giữ chức đều khen phải.
Lấy Khởi cư xá nhân, Trực Chiêu Văn quán Chủng Phóng (种放) làm Hữu gián nghị đại phu. Phóng cáo bệnh, xin du ngoạn Tung Sơn; chiếu cho phép, lại lệnh quan giữ Hà Nam thường xuyên thăm hỏi vỗ về. Triệu vào chầu, ban yến, làm thơ tiễn hành, ân lễ rất hậu.
Ngày Ất Mão, nước Liêu ban vàng lụa cho gia đình tướng sĩ tử trận. Lúc ấy Cao Ly, Chuẩn Bố vì hòa nghị đã thành, lần lượt sai sứ sang chúc mừng nước Liêu.
Trước đó chiếu Lễ bộ Cống viện khảo thí riêng những người dự thi ở Hà Bắc, vì dùng binh nên không kịp kỳ thi. Ngày Canh Thân, Hoàng đế ngự điện Sùng Chính thân tự khảo thí, ban cho đỗ Tiến sĩ các khoa, có thứ bậc khác nhau.
Tiến sĩ Phủ Châu Yến Thù (晏殊), 14 tuổi, Tiến sĩ Đại Danh phủ Khương Cái (姜蓋), 12 tuổi, đều nổi tiếng là tuấn tú, đặc biệt triệu vào thi, Thù thi 1 bài thơ, 1 bài phú, Cái thi 6 bài thơ. Thù đặt lời nhanh nhẹn dồi dào, Hoàng đế rất khen ngợi. Tể tướng Khấu Chuẩn vì Thù là người Giang tả, muốn hạ thấp ông ta mà tiến Cái, Hoàng đế nói: "Triều đình chọn người, chỉ cầu tài, bốn biển là một nhà, há lại phân xa gần! Như đời trước bọn Trương Cửu Linh, nào từng vì nơi hẻo lánh mà bị bỏ rơi đâu!" Bèn ban cho Yến Thù xuất thân Tiến sĩ. Khương Cái được xuất thân Đồng học cử. Hai ngày sau, lại triệu Yến Thù vào thi thơ, phú, luận, Thù trình bày rõ đề phú là điều mình từng luyện riêng, Hoàng đế càng yêu cái chất phác thẳng thắn của ông. Đổi đề khác cho thi, bài làm xong, Hoàng đế mấy lần khen hay, cất lên làm Chính tự ở Bí thư tỉnh, đọc sách ở Bí các, lại lệnh Trực Sử quán Trần Bành Niên (陳彭年) xem xét việc học của ông và kiểm soát những người ông giao du.
Ngày Kỷ Tị, chiếu: "Từ nay quan lại cứu được người khỏi án tử, đều tính là công lao."
Ngày Quý Dậu, chiếu: "Những nơi thu lợi độc quyền trong thiên hạ, không được tăng phần dư làm định ngạch."
Ngày Ất Hợi, Tri Hùng Châu Hà Thừa Cự (何承矩) tâu rằng sứ Liêu sau này đến phân định biên giới, muốn cho họ tạm trú ở Tân Thành, đợi sứ tiếp đãi đến, sẽ nghênh ở đầu giới; chiếu theo. Thừa Cự lại tâu rằng việc sứ mệnh mới thông, lễ đãi nên được trung hòa, để có thể thi hành lâu dài, bèn liệt kê hết dâng lên. Hoàng đế ban thủ chiếu khen nhận, lại cho nếu có điều gì chưa hết, thì tùy nghi xử trí.
Tháng 6, ngày Kỷ Sửu, Triệu Gián (趙諫) ở Cao Châu cùng em là Ngạc (諤), vì gian ác bất pháp, đều bị chém ở Tây thị. Ban đầu Hoàng đế muốn tra xét đến cùng vụ án, từ trong cung đưa ra hơn 70 tên người giao du với Gián giao cho tra hỏi. Trung thừa Lữ Văn Trọng xin vào chầu, nói rằng người bị bắt nhiều, có kẻ ở ngoài quận, nếu truy bắt hết, e làm kinh động lòng người. Hoàng đế nói: "Khanh giữ pháp, phải ghét ác như kẻ thù, há lại công nhiên che chở bè đảng ư!" Văn Trọng dập đầu tâu: "Chức Trung thừa không chỉ là trừng trị sai phạm, cũng phải xét đại thể quốc gia. Nay dù hơn 70 người ấy đều có tội trạng, với lòng nhân từ của bệ hạ, ắt không giết hết, chẳng qua là bãi chức bỏ dùng mà thôi. Chỉ cần ghi tên họ, sau này gặp việc thì xử, cũng chưa muộn." Hoàng đế nghe theo.
Hoàng đế bảo phụ thần: "Cấm binh ở Điện tiền, Thị vệ ty già yếu bệnh tật rất nhiều, nên chọn lọc kỹ." Khu mật sứ Vương Kế Anh (王繼英) nói: "Cấm quân so với trước nay đã hơn gấp đôi, nếu nhân lúc nghỉ binh mà giản bớt bọn mệt mỏi thừa thãi, thật rất tiện." Hoàng đế nói: "Đúng. Nhưng vì bắc địch xin hòa, tây Nhung dâng biểu, nếu lập tức làm việc này, thì quân sĩ ắt cho rằng triều đình nhân cơ hội bỏ bớt binh để tiết kiệm. Không bằng trước hết từ hạ quân chọn người dũng lực, bổ lên thượng quân, cũng có thể trấn áp lời đồn, khiến mọi người không nghi. Còn bọn già yếu, đợi thu đông chọn tướng, lệnh họ tra xét hết mà bỏ đi."
Ngày Kỷ Hợi, nước Đạt Đán Cửu bộ sai sứ sang kết thân với nước Liêu.
Mùa thu, tháng 7, ngày Mậu Ngọ, Đảng Hạng sang cống nước Liêu.
Ngày Giáp Tý, chiếu: "Khôi phục đặt các khoa: Hiền lương phương chính, có thể thẳng lời cực gián; Bác thông phần điển, đạt về giáo hóa; Tài thức kiêm mỹ, sáng rõ thể dụng; Võ đủ yên biên, thông suốt binh pháp; Vận trù quyết thắng, quân mưu sâu rộng; Tài đảm nhiệm biên thùy, có thể làm tướng soái, v.v. Lệnh Thượng thư Bộ Lại truyền cáo các lộ, cho phép văn võ quần thần, sĩ ẩn nơi cỏ nội đều được ứng tuyển. Giao Trung thư Môn hạ trước khảo thí, nếu tài đức đáng xem, ghi tên tâu lên."
Ngày Đinh Mão, Nữ Chân sai sứ sang cống Liêu. Sứ Hồi Cốt xin ở lại trước, đều cho về.
Ngày Bính Ngọ, Chuyển vận sứ Tây Xuyên Hoàng Quán (黃觀) tâu rằng quan lại, dân chúng Ích Châu đều xin lưu Tri châu Trương Vịnh (張詠), chiếu khen ngợi. Nhân đó sai sứ tuần phủ Tây Xuyên, lệnh truyền dụ rằng: "Có khanh ở đó, trẫm không lo phía tây nữa."
Tháng 8, ngày Mậu Dần, Ung vương Nguyên Phần (元份) mất.
Ngày Quý Tị, có sao chổi xuất hiện ở cung Tử Vi.
Tháng 9, ngày Quý Sửu, Triệu Đức Minh (趙德明) lần đầu sai Đô tri binh mã sứ Bạch Văn Thọ (白文壽) sang cống.
Ngày Quý Hợi, quần thần ba lần dâng biểu tôn hiệu, không được chuẩn.
Ngày Đinh Mão, lệnh Tư chính điện học sĩ Vương Khâm Nhược, Tri chế cáo Dương Ức (楊億) biên soạn sự tích quân thần các đời. Khâm Nhược xin cho Trực Bí các Tiền Duy Diễn (錢惟演) cùng 10 người khác đồng biên tu, chiếu theo.
Mùa đông, tháng 10, ngày Canh Thìn, Đinh Vị (丁謂) cùng những người khác dâng bộ Cảnh Đức nông điền sắc 5 quyển, lệnh khắc in ban hành, dân gian đều cho là tiện lợi.
Ngày Ất Dậu, Thị lang Bộ Lại, Bình chương sự Bật Sĩ An (畢士安) vào chầu sớm, đến nhà tranh điện Sùng Chính, bệnh đột ngột phát. Hoàng đế nghe tin, vội sai sứ đến thăm hỏi, trở về tâu bệnh rất nặng, Hoàng đế liền đi bộ ra tận nơi xem, ông ta đã không nói được nữa, chiếu lệnh Nội thị Đậu Thần Bảo (竇神寶) dùng kiệu đưa về nhà, rồi mất. Xa giá đến viếng khóc, Hoàng đế bảo Khấu Chuẩn cùng các quan rằng: "Sĩ An là người hiền, thờ trẫm từ Nam phủ, Đông cung cho đến khi làm phụ tướng, giữ mình kính cẩn, có phong độ người xưa. Nay bỗng nhiên mất đi, thật rất thương tiếc!" Chiếu tặng Thái phó, Trung thư lệnh, thụy Văn Giản; cho con cháu được ghi công, sai Trung sứ lo việc tang, cấp lỗ bộ để táng. Sĩ An đoan chính trầm nhã, có cái nhìn trong sạch, đến đâu cũng nổi tiếng nghiêm chính; tuổi già mắt mờ, đọc sách, chép viết không ngừng, lại đặc biệt tinh ý về văn từ. Tuy quý hiển, việc nuôi dưỡng không khác lúc bình thường, chưa từng gây dựng sản nghiệp để lo cho con cháu, nên thiên hạ đều khen ông thanh liêm.
Ngày Bính Tuất, sai Độ chi phán quan Chu Tiệm (周漸) làm sứ chúc mừng sinh nhật Liêu chúa, Chức phương lang trung Hàn Quốc Hoa (韓國華) làm sứ chúc mừng Nguyên đán Liêu Thái hậu, Diêm thiết phán quan Trương Nhược Cốc (張若谷) làm sứ chúc mừng Nguyên đán Liêu chúa.
Ngày Quý Mão, tiền tuế cống mang đến biên giới Liêu. Từ đó mỗi năm đều làm thường lệ.
Tháng 11, ngày Bính Thìn, tế hưởng Thái miếu. Ngày Đinh Tị, hợp tế Trời Đất ở Viên Khâu, đại xá.
Liêu lệnh Đại thừa tướng Da Luật Đức Xương (耶律德昌) xuất cung tịch, thuộc về Hoành trướng.
Ngày Quý Dậu, Liêu chúa và Thái hậu sai sứ là Tả Kim Ngô vệ Thượng tướng quân Da Luật Lưu Ninh (耶律留寧), Tả Vũ vệ Thượng tướng quân Da Luật Ủy Diễn (耶律委演) cùng những người khác sang chúc mừng tiết Thừa Thiên, yết kiến ở điện Sùng Đức. Khi Lưu Ninh cùng vào chầu, Sứ quán bạn là Lý Tông Ngạc dẫn theo, theo lệ không cho đeo đao, đến Thượng Hợp môn, Lưu Ninh cùng vui vẻ tháo đao xuống. Hoàng đế nghe tin, nói: "Người Nhung đeo đao là lễ thường, không cần cấm theo lệ." Liền truyền chiếu cho họ tùy tiện. Lưu Ninh cùng cảm kích vui mừng, bảo Lý Tông Ngạc: "Thánh thượng đem lòng mình đặt vào bụng người, đủ để tỏ lòng tin cho xa gần vậy."
Tháng 12, ngày Kỷ Mão, triệu phụ thần đến Long Đồ các xem lễ vật của Khiết Đan và những thứ dâng từ đời tổ tông. Từ đó về sau, mỗi khi sứ đến, tất lấy gấm lụa chia ban cho Trung thư, Khu mật viện, còn hoa quả, thịt khô ban cho cận thần, Tam quán.
Ngày Tân Tị, lấy Vương Khâm Nhược làm Thị lang Bộ Binh, Tư chính điện Đại học sĩ, thứ bậc ở dưới Văn Minh điện học sĩ, trên Hàn lâm học sĩ thừa chỉ. Ban đầu Hoàng đế thấy thứ bậc của Khâm Nhược ở dưới Hàn lâm học sĩ Lý Tông Ngạc, lấy làm lạ, hỏi tả hữu, tả hữu đáp theo lệ cũ. Khâm Nhược nhân đó kêu oan với Hoàng đế: "Thần trước từ Hàn lâm học sĩ làm Tham tri chính sự, không có tội mà bị bãi, nay thứ bậc lại dưới chức cũ một bậc, ấy là bị giáng vậy." Hoàng đế hiểu ra, lập tức đổi ngay trong ngày. Chức Tư chính điện đặt Đại học sĩ từ đây mà có. Khâm Nhược khéo đón ý vua, Hoàng đế hễ trông thấy là vui, mỗi lần ban cho một chức, đến ngày vào tạ, thường hỏi: "Ngoài chức này ra, đã vừa ý chưa?" Sủng ái là như thế.
Ngày Giáp Ngọ, Hữu gián nghị đại phu Chủng Phóng từ Tung Sơn về triều, yết kiến ở Long Đồ các.
Ban đầu chiếu cho quan trí sĩ được lĩnh nửa bổng lộc. Chế độ đời Đường, người trí sĩ nếu không có đặc chiếu thì không được bổng lộc, buổi đầu triều ta theo đó, đến nay mới có chiếu này.