Tục tư trị thông giám/Quyển 26
Năm Cảnh Đức thứ 3 (Liêu, Thống Hòa năm thứ 24), Công nguyên năm 1006
[sửa]Mùa xuân, tháng giêng, ngày Tân Mùi, bắt đầu đặt kho Thường Bình.
Trước đó, các quan tham chính xin rằng: "Ở Kinh Đông, Kinh Tây, Hà Bắc, Hà Đông, Thiểm Tây, Giang Hoài, Lưỡng Chiết, mỗi lộ căn cứ số hộ nhiều ít, ước định để lại tiền thượng cung từ 1.000 quan đến 20.000 quan, lệnh cho Chuyển vận sứ chọn quan thanh liêm, giỏi giang trông coi, chuyên giao cho Ty Tư nông tổng lĩnh, Tam ty không được điều động dùng vào việc khác. Mỗi năm vào mùa hạ, mùa thu, cứ theo giá chợ mà tăng tiền thu mua thóc; khi giá đắt thì giảm giá mà bán ra. Đợi 10 năm có tiền dư thừa thì lấy vốn gốc hoàn trả cho Tam ty." Hoàng đế xuống chiếu lệnh Tam ty hội bàn, xin làm theo như tấu. Đại lược là: 1 vạn hộ thì mỗi năm thu mua 1 vạn thạch, tối đa không quá 5 vạn thạch; hoặc nếu 3 năm trở lên không bán ra thì chuyển nhập vào kho lương, lại dùng thóc mới bổ sung vào.
Tháng 2, ngày Bính Tý, Quyền Tam ty sứ Đinh Vị cùng những người khác tâu rằng: "Đời Đường, Vũ Văn Dung đặt chức Khuyến nông phán quan, xét tra hộ khẩu, ruộng đất và những việc giả dối, lạm dụng. Nay nếu lại đặt riêng, e càng thêm phiền nhiễu. Mà các Trưởng lại ở châu, chức phận vốn phải khuyến nông, nên xin từ Thiếu khanh giám, Thứ sử, Hợp môn sứ trở lên làm Tri châu đều kiêm chức Khuyến nông sứ trong địa hạt; những người khác và Thông phán đều kiêm việc khuyến nông; Chuyển vận sứ, Phó đều kiêm chức Khuyến nông sứ bản lộ." Hoàng đế chuẩn cho. Từ đây danh hiệu "Khuyến nông sứ" bắt đầu có.
Ngày Giáp Thân, thăng Tống châu làm Ứng Thiên phủ, vì đó là nơi phiên trấn cũ của Thái Tổ.
Ngày Bính Tuất, lấy Trương Nguyên Cát (張元吉), cháu đời thứ 9 của Trương Cửu Linh (張九齡) đời Đường, làm Văn học ở Thiều châu. Nguyên Cát đến triều dâng bút tích của Đường Minh Hoàng, cùng chân dung, cáo thân, cố lục của Cửu Linh.
Lại đặt chức Đô Đại phát vận sứ, lấy Độ chi viên ngoại lang Phùng Lượng làm chức ấy.
Ngày Đinh Hợi, Khu mật sứ Vương Kế Anh mất.
Người Liêu đã giảng hòa, triều đình vô sự, Khấu Chuẩn khá tự phụ về công lao của mình. Hoàng đế đãi Chuẩn rất hậu, Vương Khâm Nhược rất ghen ghét ông ta. Một hôm, vào buổi chầu, Chuẩn lui trước, Hoàng đế đưa mắt nhìn theo Chuẩn, Khâm Nhược nhân đó tiến lên nói: "Bệ hạ kính sợ Khấu Chuẩn, là vì ông ta có công với xã tắc chăng?" Hoàng đế nói: "Đúng thế." Khâm Nhược nói: "Trận chiến ở Thiền Uyên, bệ hạ lại không lấy làm xấu hổ, mà cho Chuẩn là có công với xã tắc, sao vậy?" Hoàng đế kinh ngạc nói: "Là cớ làm sao?" Khâm Nhược nói: "Hòa ước dưới thành, sách Xuân Thu lấy đó làm điều sỉ nhục. Nay với thân phận vạn thặng tôn quý mà làm cuộc xuất chinh Thiền Uyên, ấy là hòa ước dưới thành vậy, xấu hổ biết chừng nào!" Hoàng đế sa sầm mặt, không vui. Khâm Nhược lại nói: "Bệ hạ có nghe chuyện đánh bạc chăng? Người đánh bạc khi tiền sắp hết, bèn đem hết thảy những gì mình có ra đặt cược, gọi là ‘cô chú’. Bệ hạ chính là ‘cô chú’ của Khấu Chuẩn, thế cũng là rất nguy vậy!" Từ đó Hoàng đế có phần bớt để ý đến Chuẩn.
Chuẩn ở Trung thư, thích dùng những kẻ hàn vi mà tuấn kiệt; mỗi khi chức Ngự sử khuyết, liền chọn những người dám nói. Các việc cất nhắc khác phần nhiều tự mình quyết đoán. Đồng liêu nhiều lần ra hiệu cho lại thuộc đem sổ lệ trình lên, Chuẩn nói: "Tể tướng là để tiến hiền, lui bất tiếu, nếu cứ theo lệ thì chỉ là chức phận của lại mà thôi." Bèn đẩy ra không xem.
Ngày Mậu Tuất, bãi Chuẩn, cho làm Hình bộ Thượng thư, Tri Thiểm châu. Lấy Tham tri chính sự Vương Đán làm Công bộ Thượng thư, Bình chương sự. Đán vào tạ, liền được mời ngồi, Hoàng đế bảo rằng: "Khấu Chuẩn vì cầu hư danh mà đòi hỏi quá mức tước lộc của quốc gia, không có phong độ bậc đại thần, bãi bỏ quyền trọng của ông ta, may ra giữ được tốt lành đến cuối cùng vậy!"
Ban đầu, Trương Vịnh ở Thành Đô, nghe tin Chuẩn vào làm tướng, bảo thuộc lại rằng: "Ông Khấu là người có tài lạ, chỉ tiếc học thuật chưa đủ mà thôi." Đến khi Chuẩn làm Tri Thiểm châu, Vịnh vừa từ Thành Đô trở về, Chuẩn tiễn ông ta ra ngoại thành, hỏi rằng: "Ông có điều gì dạy bảo Chuẩn chăng?" Vịnh thong thả nói: "Truyện Hoắc Quang không thể không đọc." Chuẩn không hiểu ý, về nhà lấy truyện ấy ra đọc, đến câu "bất học vô thuật", bèn cười nói: "Đây chính là điều ông Trương nói ta vậy!"
Ngày Kỷ Hợi, lấy Tham tri chính sự Phùng Chửng làm Binh bộ Thị lang, Vương Khâm Nhược làm Thượng thư Tả thừa, Trần Nghiêu Tẩu làm Binh bộ Thị lang, đều kiêm Tri Khu mật viện sự; lấy Triệu An Nhân làm Gián nghị đại phu, Tham tri chính sự; Khu mật Đô thừa chỉ Hàn Sùng Huấn, Đông thượng Hợp môn sứ Mã Tri Tiết đều tạm quyền Thiêm thư Khu mật viện. Sùng Huấn là con của Trọng Vân.
Tháng 3, ngày Ất Tị, sao khách xuất hiện ở phương Đông Nam. Thái thường thừa Nhậm Tùy dâng sớ nói: "Gián nghị đại phu, Tư gián, Chính ngôn tuy có mấy người, nhưng chỉ chiếm chỗ mà ăn lộc mà thôi. Xin bệ hạ chọn hiền sĩ, bãi bỏ bọn quan hình thức, treo rõ văn thư thưởng phạt, lập nên đạo khuyến khích, răn răn. Các quan gián ở hai tỉnh, đều theo phép cũ đời Đường, định số viên, ưu đãi bổng lộc, hạn định năm tháng thăng quan, trách nhiệm ở chỗ có làm tròn chức phận hay không. Nếu có người dốc lòng dâng lời can gián, vá víu thời chính, gắng sức giữ tiết tháo, lời nói có ích cho chính sự đương thời, dâng chương không tránh tội trời, thì xin thi hành việc chọn nhấc để khuyến khích mọi người. Nếu có kẻ chiếm lộc mà không biết hổ, trong việc phụ tá can gián có chỗ thiếu sót, chỉ lo đổ lỗi cho người khác, phần nhiều là mặt ngoài thuận theo mà nịnh hót, thì xin thi hành giáng chức, bãi chức để răn mọi người. Làm như thế, thì người hiền được khuyến khích, kẻ biếng nhác bị kích động, kẻ tầm thường lui bước, kẻ nhút nhát cũng đứng vững, sĩ phu trong triều đều sẽ muốn tận trung báo quốc vậy." Hoàng đế xem xong, khen ngợi, ngày Kỷ Mùi, xuống chiếu: "Các gián quan phải hết lòng dâng lời can gián, phép thưởng phạt, quyết phải thi hành cho bằng được."
Tháng này, bắt đầu lệnh cho triều thần đề điểm công việc công ở các huyện, trấn trong địa giới Khai Phong phủ. Sau đó lại tăng thêm 1 viên, lấy Hợp môn chỉ hậu sung chức.
Mùa hạ, tháng 4, ngày Bính Tý, Hoàng đế ngự Sùng Văn viện xem đồ thư Tứ khố.
Ngày Nhâm Thìn, lệnh cho 6 sứ thần đi tuần phủ các lộ Ích, Lợi, Tư, Quỳ, Phúc Kiến, v.v., ban yến cho tướng lại, thăm hỏi cha ông, xét xử thông suốt các tù nhân bị giam, lại tra xét khả năng hay dở của quan lại, lợi hại trong dân gian để tâu lên. Lúc ấy, Đồn điền viên ngoại lang Tạ Thao làm sứ ở Ích, Lợi lộ, đến khi về, tiến cử hơn 30 viên quan thuộc hạt, Tể tướng cho là nhiều, Thao bèn lần lượt trình bày tình trạng trị lý của họ, lại xin chịu liên đới trách nhiệm. Việc sứ thần tiến cử quan lại mà chịu liên đới trách nhiệm, bắt đầu từ Thao.
Ngày Ất Mùi, Chủng Phóng được ban cho nghỉ, về núi Chung Nam.
Lại xuống chiếu cho quần thần vào điện chuyển đối.
Tháng 5, ngày Nhâm Dần mồng 1, Ty Tư thiên tâu việc nhật thực, Hoàng đế tránh khỏi chính điện, không coi việc, bách quan mỗi người giữ chức phận của mình. Sau đó mây mù che khuất, không thấy nhật thực, Hoàng đế bảo Tể tướng rằng: "Đây không phải là do đức của trẫm mà được, chỉ mừng là dân ở phân dã không bị tai họa ấy mà thôi."
Ty Tư thiên tâu rằng sao Chu Bá xuất hiện, quần thần dâng biểu chúc mừng. Tri Tạp Ngự sử Vương Tế nhân lúc rảnh rỗi nói với Hoàng đế rằng: "Sao lành thật ứng với thánh đức; nhưng Đường Thái Tông lấy việc nhà đủ, dân no, năm được mùa làm điềm lành hàng đầu. Thần mong bệ hạ mỗi ngày càng thêm cẩn thận, ở yên mà nghĩ đến nguy, thì đó mới là điềm lành lớn vậy." Hoàng đế khen và chấp nhận.
Ngày Giáp Thìn, Triệu Đức Minh sai Binh mã sứ Hạ Thủ Văn đến cống. Trước đó, Hướng Mẫn Trung và Trương Sùng Quý cùng Đức Minh bàn việc lập lời thề ước, lâu mà chưa quyết. Đức Minh tuy nhiều lần sai sứ sang tu cống, nhưng đối với 7 điều thì rốt cuộc không chịu thuận theo, nhiều lần dâng biểu chỉ nói xin trước ban ân mệnh, rồi sẽ bàn sau. Lúc ấy đã có chiếu cho phép Đức Minh không phải nộp Linh châu, lại ban chiếu cho Mẫn Trung cùng những người khác, bảo Đức Minh chỉ được sai con cháu vào túc vệ, và không được đánh cướp đồ tiến cống ở Tây lộ, các bộ phiên dù có tranh chấp, đều do triều đình hòa giải, các điều ước khác đều bỏ hết, nhưng cũng không cho phép vẽ bản đồ qua lại và thả lỏng lệnh cấm muối xanh. Ngày Ất Tị, Mẫn Trung cùng những người khác tâu rằng: "Hai điều ấy nếu không theo như ước, e trái với nghị bàn trước đây. Xin đều cho phép cả." Hoàng đế cho rằng Đức Minh biến trá khó tin, nếu chỉ cầu tạm yên, ắt để lại hậu hoạn, lại ban chiếu cho Mẫn Trung cùng những người khác, lệnh suy tính kỹ rồi tâu lại.
Ngày Bính Ngọ, lệnh cho Vương Khâm Nhược, Trần Nghiêu Tẩu cùng tu "Thời chính ký", cứ ngày 15 tháng sau nộp cho Trung thư.
Độ chi phó sứ Lý Sĩ Hành tâu rằng: "Từ khi ở Quan Hữu không cấm giải muối đến nay, Ty Kế toán lấy số tiền bán muối hàng năm phân phối cho 4 châu quân Vĩnh Hưng, Đồng, Hoa, Diệu, mà Vĩnh Hưng nhiều nhất, dân không tiện, xin giảm 4 phần trong 10." Hoàng đế xuống chiếu bãi bỏ hết.
Trước đó, Nội trữ mỗi năm xuất 300.000 quan tiền giúp quân phí Thiểm Tây, đến khi Sĩ Hành làm Chuyển vận sứ, tâu rằng số thu chi hàng năm có thể tự lo được, bèn bãi việc cấp ấy. Hoàng đế sắp ngự giá đến Lạc, Sĩ Hành dâng 500.000 hộc thóc, lại đem 300.000 hộc cấp cho Kinh Tây, triều đình cho là người có tài, nên triệu về giúp việc Tam ty.
Giám phán quan ở Lai Vu là Âu Dương Miễn xin ứng khoa Hiền lương phương chính, mà tự tiến cử bằng lời lẽ lớn lao, lấy Cơ Đán, Cao, Khuê làm bậc so sánh, lại nói: "Cho thần mỗi ngày làm 1 vạn chữ, không sửa 1 chữ; mỗi ngày xem 1.000 chữ, không sót 1 câu." Vì thế được vội vã triệu vào kinh, lệnh cho Trung thư khảo thí 5 bài luận, 3 bài tụng, các loại thơ 40 bài, tổng cộng hạn 1 vạn chữ. Đề vừa ra, Miễn hoảng hốt, tự bày tỏ rằng: "Chỉ ứng khoa Hiền lương, không ứng vạn chữ, xin dung tha!" Bèn lấy biểu đã dâng ra làm bằng, Miễn không dám nói nữa. Đến chiều, chỉ làm xong 5 bài luận, 1 bài tụng, tổng cộng 3.000 chữ. Dâng lên, Hoàng đế lệnh hỏi các điều mục đã nêu trong biểu, Miễn cúi đầu nhận tội táo bạo, vọng động, lập tức cho làm Tư hộ tham quân ở hạ châu.
Tả Gián nghị đại phu Trần Tỉnh Hoa (cha của Trần Nghiêu Tẩu) mất. Tỉnh Hoa có tài cán về việc lại, vợ là Phùng thị, tính nghiêm khắc, dạy dỗ các con rất gắng sức, không cho vì Tỉnh Hoa mà phô trương xa xỉ. Nghiêu Tẩu sau khi hiển quý, lòng hiếu kính càng không suy giảm. Khi giữ Khu mật, em là Nghiêu Tá trực Sử quán, Nghiêu Tư làm Tri chế cáo, cùng với Tỉnh Hoa đều ở Bắc tỉnh, các cháu nội được bổ nhiệm làm quan hơn 10 người, tông thân đỗ khoa cử lại có mấy người, vinh hiển thịnh đạt không gì sánh được. Khách đến, Nghiêu Tẩu cùng những người khác đều đứng hầu bên cạnh, khách cảm thấy không yên, phần nhiều cáo lui. Chế độ cũ, người được vào Khu mật gần vua thì mẹ, vợ đều được phong Quận phu nhân, Nghiêu Tẩu mới được bổ nhiệm, vì cha còn ở trong triều, chỉ phong vợ ông ta, còn mẹ chỉ theo phong ấp của chồng; Nghiêu Tẩu dâng biểu xin nhường, triều đình vì là phép thường, không nghe. Sau khi Tỉnh Hoa mất đã quá 1 năm, Hoàng đế mới phong mẹ ông ta làm Thái quận phu nhân, sau lại tiến phong làm Đằng quốc, hơn 80 tuổi mà vẫn khỏe mạnh.
Đô Kiềm hạt Kinh, Nguyên, Nghi, Vị là Tần Hàn, Tri Trấn Nhung quân Tào Vĩ cùng những người khác đều xin xuất binh đánh giặc, Hoàng đế vì Đức Minh nhiều lần sai sứ tu cống, lo mất lòng thành, nên không cho. Ban đầu, Đức Minh xin mệnh ở triều đình, Vĩ tâu rằng: "Kế Thiên chiếm cứ đất Hà Tây 20 năm, binh không cởi giáp, khiến Trung Quốc có nỗi lo phía Tây. Nay nước nguy, con yếu, nếu không lập tức bắt giết, sau này lại mạnh lên thì khó chế ngự. Xin cho thần quân tinh nhuệ, đánh bất ngờ, bắt Đức Minh giải đến kinh sư, lại đặt Hà Tây làm quận huyện, thời cơ không thể bỏ lỡ." Triều đình đang muốn dùng ân huệ để thu phục Đức Minh, nên gác tấu chương ấy, không trả lời.
Ngày Đinh Tị, Hoàng đế ngự Bắc trạch thăm bệnh của Đức Cung. Ngày Kỷ Mùi, Đức Cung mất.
Tháng này, Hoàng thái phi Hòa Hãn của nước Liêu bị giam ở Hoài châu, phu nhân Y Lặc Lan bị giam ở Nam Kinh, bọn còn lại đều bị chôn sống.
Tháng 6, ngày Bính Tý, quần thần cố xin cho nghe nhạc, Hoàng đế thuận theo.
Nam Bình vương Lê Hoàn mất, các con tranh lập, đánh nhau liên tiếp mấy tháng, Hữu ty xin phát binh bình định. Hoàng đế cho rằng Hoàn xưa nay vẫn tu sửa việc cống nạp, há nên nhân lúc tang mà đánh, nên không cho, mà lấy Quận Diệp làm Duyên hải an phủ sứ, lệnh ông ta dùng lời lẽ khuyên bảo, giải thích.
Ngày Đinh Sửu, Kinh Đông Chuyển vận sứ Trương Tri Bạch dâng sớ rằng
- Ty Tư thiên tâu sao Chu Bá xuất hiện, đó là thánh đức cảm động trời mà tinh tượng tỏ điềm lành. Thần nghe rằng, người sợ loạn thì trị tất hưng, người nghĩ đến nguy thì yên tất lâu. Bệ hạ nếu thật có thể răn dè, kính cẩn, ngày một mới đức của mình, thì dù sao lành không xuất hiện, thần cũng xin chúc mừng. Nếu trái lại như thế, thì dù sao lành có xuất hiện, thần cũng không dám cùng mọi người chúc mừng. Huống nay hai góc Tây Bắc tuy đã thôi việc chinh chiến, nhưng so với xưa kia, bọn họ quỳ gối xưng thần, mở cửa ải nội phụ, thì việc đã khác, lễ cũng khác vậy." Hoàng đế xem sớ, bảo với Phụ thần rằng: "Tri Bạch làm quan gián ở ngoài mà lòng vẫn hướng về triều đình, có thể gọi là biết chức phận của mình vậy.
Ngày Canh Dần, lấy Điện trung thừa Vương Húc đồng phán Lại bộ Nam tào. Húc là em của Đán. Từ khi Đán cầm quyền chính, Húc vì tránh hiềm, không còn nhúng tay vào việc. Đến đây, Hộ bộ viên ngoại lang Vương Cự tâu rằng Húc trước làm Huyện lệnh Câu Thị, liêm khiết, có thành tích chính sự. Hoàng đế bảo Đán rằng: "Sự nhanh nhẹn, có tài cán của Húc, trẫm cũng vốn biết, lại nhiều lần có người nói tài ông ta có thể đảm nhiệm chức Tể tá ở Kinh phủ." Đán vì tránh hiềm, khẩn khoản từ chối, Hoàng đế nói: "Triều đình dùng người tài, không thể vì khanh mà khiến ông ta bị chôn vùi." Hoàng đế muốn bổ làm Tam ty phán quan, Đán lại cố sức nhường, nên mới có mệnh này. Vài ngày sau, Húc vào điện gặp mặt khi tuyển người, Hoàng đế ban cho đai ngọc cá đỏ ngay trước mặt, bảo Đán rằng: "Trẫm trước đây không biết em khanh vẫn còn mặc áo xanh."
Mùa thu, tháng 7, Tri Ích châu Trương Vịnh mãn hạn, Tể tướng Vương Đán dự định lấy Nhâm Trung Chính thay. Nhiều người bàn là không nên, Hoàng đế hỏi vặn Đán, Đán nói: "Không phải Trung Chính thì không thể giữ được khuôn phép của Vịnh, người khác đến, ắt sẽ tùy tiện thay đổi." Ngày Nhâm Dần, thăng Trung Chính làm Công bộ Lang trung, Tri Ích châu. Ở quận tổng cộng 5 năm, tuân theo điều giáo của Vịnh, dân rất tiện lợi. Mọi người bấy giờ mới phục Đán biết người.
Ngày Ất Tị, sao Thái Bạch xuất hiện ban ngày.
Ngày Nhâm Tý, Thiệu Diệp dâng bản đồ đường thủy, đường bộ từ Ung châu đến Giao Chỉ, cùng bản đồ núi sông khống chế Ích châu, Hoàng đế nói: "Tổ tông mở đất rộng lớn, chỉ nên cẩn thận giữ gìn, không cần tham đất vô dụng, làm khổ sức binh."
Ngày Giáp Tý, mở yến lớn ở điện Hàm Quang, bắt đầu dùng nhạc.
Trung Vũ Tiết độ sứ Cao Quỳnh nằm bệnh, Hoàng đế muốn thân đến thăm, Vương Khâm Nhược ghét Quỳnh theo Khấu Chuẩn, lại từng ngăn trở công lao Thiền Uyên của Chuẩn, nhân đó nói: "Quỳnh tuy lâu giữ cấm binh, làm nhiệm vụ túc vệ, nhưng chưa từng có công phá địch. Phàm xa giá thân đến thăm hỏi, là để sủng đãi công thần, nếu dùng cho Quỳnh, e không có gì để tỏ rõ sự phân biệt." Bèn thôi. Đến khi Quỳnh mất, Hữu ty tâu nên đình triều 1 ngày, Hoàng đế cho rằng Quỳnh chưa từng có lỗi, đặc biệt bãi triều 2 ngày.
Tháng 8, Chủng Phóng sau khi về Chung Nam, dạy học trong núi, dâng biểu xin bút tích của Thái Tông và các sách kinh sử có âm chú, Hoàng đế xuống chiếu ban cho hết. Nhân đó bảo Phụ thần rằng: "Gần đây Trung sứ trở về, nói Phóng ở nhà tranh, ăn rau dại, bột kiều mạch mà thôi. Thanh đạm như thế, cũng là điều người ta khó làm được."
Ngày Quý Mùi, xuống chiếu sang năm mùa xuân sẽ triều bái các lăng. Vương Đán nói: "Hành cung hư hỏng, cần phải tu sửa." Hoàng đế nói: "Như thế cũng làm khổ dân vậy." Bèn xuống chiếu: "Các châu huyện nơi xa giá đi qua, chỉ được tô điểm thêm quán dịch, không được xây hành cung mới; các quan thị tòng và bách ty cung ứng, cùng các vật cung ngự, đều lệnh giảm bớt."
Ngày Bính Tuất, nước Liêu đổi tên cửa Tuyên giáo của cung Nam Kinh thành Nguyên Hòa, 3 cửa ngoài thành đổi thành Nam Đoan, cửa Tả Dịch đổi thành Vạn Xuân, cửa Hữu Dịch đổi thành Thiên Thu.
Tháng này, Sa châu Đôn Hoàng vương Tào Thọ sai người dâng ngựa nước Đại Thực và ngọc đẹp cho Liêu, Liêu chúa ban cho áo đối, đồ bạc, v.v. để đáp lại.
Tháng 9, ngày Canh Tuất, xuống chiếu vì việc cày cấy gặt hái liên tiếp được mùa, cơ vụ rỗi rãi, từ nay quần thần không trở ngại chức phận, đều được phép du ngoạn, yến ẩm, Ngự sử không được đàn hặc. Tiết Thượng Tị, hai tiết Xã, Đoan Ngọ, Trùng Dương đều nghỉ việc 1 ngày trong vòng 10 ngày quanh tiết; lúc đầu rét, giữa nóng, mưa tuyết lớn thì bàn việc bãi triều. Ghi vào luật lệnh.
Ngày Bính Thìn, Hoàng đế ngự điện Sùng Chính, thân thử khoa Hiền lương phương chính trực ngôn cực gián, Tự khanh thừa Tiền Dịch, Quảng Đức quân phán quan Thạch Đãi Vấn đều trúng hạng 4, lấy Dịch làm Bí thư thừa, Đãi Vấn làm Điện trung thừa.
Hùng châu Đoàn luyện sứ Hà Thừa Cự, vì già yếu, nhiều lần dâng biểu xin thôi chức biên thùy, Hoàng đế lệnh ông ta tự chọn người thay, Thừa Cự tiến cử An phủ phó sứ Lý Doãn Tắc. Ngày Bính Dần, lập tức lệnh Doãn Tắc làm Tri Hùng châu kiêm An phủ sứ, đổi bổ Thừa Cự làm Tề châu Đoàn luyện sứ, đi đường nhận chức. Thừa Cự đến Tề châu mới 7 ngày thì mất, dân vùng biên giới và dân Trác, Dịch châu nghe tin, đều rơi lệ, có người rủ nhau đến Hùng châu phát tang, cúng cơm cho tăng. Thừa Cự quen thuộc việc binh, có phương lược, có thể an phủ phong tục khác lạ, sau này sứ giả Khiết Đan đến, nói trong nước đều sợ phục danh tiếng Thừa Cự. Từng xây đài Ái Ảnh ở phía bắc Hùng châu, trồng hoa liễu, mỗi ngày đến đó, ngâm mấy chục bài thơ, khắc lên đá, người ta gọi là "Hà Lục trạch ái hoa liễu", không biết ông ta đã bắt đầu đào ao, đắp đập từ đó. Ông ta lại rất chuộng Nho học, kính đãi hiền sĩ, đại phu. Ban đầu làm Tri Đàm châu, Lý Hàng, Vương Đán thực là thuộc lại, Thừa Cự coi họ là bậc công phụ, đãi ngộ rất hậu.
Ngày Đinh Mão, Lân Diên Kiềm hạt Trương Sùng Quý vào tâu: "Triệu Đức Minh sai Nha hiệu Lưu Nhân Húc đến dâng biểu thề, xin cất giữ ở Minh phủ." Lại nói: "Những điều xin cho vẽ bản đồ và thả lỏng lệnh cấm muối xanh, tuy chiếu mệnh chưa cho, nhưng lập thề sẽ lập công hiệu, mong được làm ân điển về sau." Hoàng đế ban chiếu khen thưởng.
Tháng này, Liêu chúa đến Nam Kinh.
Mùa đông, tháng 10, ngày Canh Ngọ mồng 1, Liêu chúa dẫn quần thần tôn Hoàng thái hậu lên tôn hiệu là Duệ Đức Thần Lược Ứng Vận Khải Hóa Thừa Thiên Hoàng thái hậu; quần thần tôn Liêu chúa lên tôn hiệu là Chí Đức Quảng Khảo Chiêu Thánh Thiên Phụ Hoàng đế.
Lấy Triệu Đức Minh làm Định Nan quân Tiết độ sứ kiêm Thị trung, phong Tây Bình vương, cấp bổng lộc như nội địa. Lại chép biểu thề của Đức Minh, lệnh cho Vị châu sai người mang đến Tây Lương phủ bảo cho các phiên, truyền báo cho thủ lĩnh Cam, Sa. Nhân đó đòi con cháu Đức Minh vào làm con tin, Đức Minh nói đó không phải là phép cũ của tổ tiên, nên không sai đi, chỉ dâng lạc đà, ngựa để tạ ơn mà thôi.
Ngày Đinh Sửu, lấy Trương Sùng Quý làm sứ mang cờ tiết, cáo mệnh cho Triệu Đức Minh, Thái thường bác sĩ Triệu Tương làm phó, ban cho Đức Minh áo bào thêu, đai vàng, ngựa yên cương vàng, 10.000 lạng bạc, 10.000 tấm lụa, 20.000 quan tiền, 20.000 cân trà.
Ngày Đinh Dậu, táng Minh Đức hoàng hậu ở Vĩnh Hi lăng.
Tháng 11, ngày Nhâm Dần, sao Chu Bá lại xuất hiện.
Ngày Canh Tuất, dời Tri Vĩnh Hưng quân phủ Chu Oánh làm Đô bộ thự Biện, Ninh, Hoàn, Khánh, lấy Tôn Toàn Chiếu thay.
Tháng 12, ngày Tân Mão, lấy Tể thần Vương Đán làm Đại lễ sứ triều bái các lăng.
Trước đó, mỗi năm Giang, Hoài vận gạo đưa về kinh sư, chưa có định chế. Năm này, bắt đầu định 6 triệu thạch làm ngạch hàng năm, theo lời xin của Phát vận phó sứ Lý Phổ.
Năm ấy, nước Liêu lấy 33 người tiến sĩ, trong đó có Dương Cật.
Năm Cảnh Đức thứ 4 (Liêu, Thống Hòa năm thứ 25), Công nguyên năm 1007
[sửa]Mùa xuân, tháng giêng, sai Công bộ Thượng thư Vương Hóa Cơ cưỡi trạm đến Hà Trung tế miếu Hậu Thổ, dùng lễ Đại tự, để cáo việc sẽ triều bái các lăng.
Ngày Giáp Thìn, lấy Tri Khu mật viện sự Trần Nghiêu Tẩu làm Đông Kinh Lưu thủ.
Ngày Ất Tị, lấy Quyền Tam ty sứ Đinh Vị làm Tùy giá Tam ty sứ, Diêm thiết phó sứ Lâm Đặc làm phó. Vị cơ mẫn, có mưu trí, giỏi phụ họa, lại có tâm kế, ở Tam ty, án độc chất đống, lại thuộc lâu ngày không giải được, Vị chỉ một lời là phân xử xong, mọi người đều hiểu rõ.
Ngày Kỷ Mùi, xa giá rời kinh sư. Ngày Canh Thân, đến huyện Trung Mâu, xá nợ nần, tha tù giam, ban áo lụa cho phụ lão, các nơi đi qua đều như thế. Ngày Giáp Tý, đến huyện Củng, bãi việc đánh roi báo hiệu và việc Thái thường tấu nhạc nghiêm, Kim Ngô truyền hô. Có người dâng cá chép sông Lạc, Hoàng đế nói: "Ta không nỡ ăn!" Lệnh thả đi. Ngày Bính Dần, trai giới ở hành cung trấn Vĩnh An, Thái quan dâng món chay.
Ngày Đinh Mão, lúc đêm chưa hết canh ba, Hoàng đế cưỡi ngựa, bỏ xe kiệu, tán lọng, đến ngoài An lăng, thay áo vải trắng, đi bộ vào cửa Tư Mã, làm lễ dâng rượu, cúng tế. Tiếp đến bái Yên Xương, Vĩnh Hi lăng, lại đến hạ cung mỗi lăng. Phàm thượng cung dùng trâu dê, sách chúc, do Hữu ty phụng sự; hạ cung bày cỗ bàn, Nội thần làm việc, bách quan đều đứng hầu. Lại đến lăng Nguyên Đức hoàng thái hậu dâng rượu, cúng tế, lại ở phía nam lăng dựng trướng, dâng lễ như lễ ở hạ cung. Hoàng đế mỗi lần đến lăng tẩm, trông thấy cửa lăng là khóc. Ban đầu, Hữu ty chuẩn bị nghi lễ, chỉ dùng thường phục, Hoàng đế đặc biệt chế áo vải trắng. Lễ xong, lần lượt đến lăng các hoàng hậu Hiếu Minh, Khảo Huệ, Khảo Chương, Ý Đức, Thục Đức, Minh Đức, lại đến lăng Trang Hoài hoàng hậu. Rồi một mình cưỡi ngựa đi xem xét các lăng, chỉ cho Nội thần theo, lại thân đến dâng rượu ở mộ các vương: Quỳ vương, Ngụy vương, Kỳ vương, Cung Hiếu thái tử, Vận vương, Chu vương, An vương. Sau giờ Thìn, tạm đến trướng nghỉ thay áo, lại đến lăng từ biệt. Hữu ty cho rằng triều bái không có lễ từ biệt; Hoàng đế cảm mộ thương xót, chưa nỡ đi, nên lại đến. Đến giờ Ngọ mới trở về, tả hữu dâng tán, Hoàng đế gạt đi, đến khi qua sông Chiêu Ứng mới cho che, về đến hành cung mới dùng bữa thường. Lại sai quan tế mộ các bậc Nhất phẩm và mộ thân thích hoàng gia. Ban đức âm đến Tây Kinh và các lộ, xá tội tù từ lưu đày trở xuống; tha nợ nần, ban cho dân các huyện trong kinh kỳ tiền thuế ruộng có phân biệt. Lập trấn Vĩnh An làm huyện.
Tháng này, nước Liêu lập Trung Kinh, tức đất Thổ Hà núi Thất Kim. Trước đó, Liêu chúa đi qua Thất Kim sơn Thổ Hà, trông về phía nam thấy mây khí như có thành quách, lầu các, nên lập đô, đến nay mới xây thành.
Tháng 2, ngày Mậu Thìn mồng 1, xa giá đi Tây Kinh, tối đến huyện Yển Sư, mới lại tấu nhạc nghiêm; Hoàng đế vẫn mặc ủng, áo bào, không cho dùng nhạc. Ngày Kỷ Tị, đến Tây Kinh, mới cho dùng nhạc. Đường đi qua mộ tướng quân nhà Hán là Kỷ Tín, miếu Tư đồ Lỗ Cung, xuống chiếu truy tặng Tín làm Thái úy, Cung làm Thái sư.
Ngày Tân Mùi, lệnh cho Lại bộ Thượng thư Trương Tề Hiền tế Lục miếu nhà Chu. Xuống chiếu cho các quan có phần mộ tổ tiên ở Lạc Dương được nghỉ để tế bái.
Ngày Nhâm Thân, Hoàng đế bảo Phụ thần rằng: "Nội thần đời trước, cậy ân mà hoành hành, làm sâu mọt chính sự, hại dân vật, trẫm thường lấy đó làm răn, nên về ban cấp phẩm trật, thưởng cho, không cho quá phần, có tội chưa từng dung tha, bọn ấy thường cũng sợ hãi." Vương Đán cùng những người khác nói: "Sự tích đời trước rõ ràng, đủ để làm gương cao cho đời sau. Bệ hạ nói đến việc này, là phúc của xã tắc vậy." Nội thị Sử Sùng Quý từng đi sứ Gia châu về, tâu rằng: "Tri huyện nào đó tham ô, dơ bẩn; có viên tá lại nào đó liêm khiết, giỏi giang, xin thăng làm Tri huyện." Hoàng đế nói: "Nội thần vâng mệnh, có thể thu thập điều thiện, điều ác, vốn cũng đáng khen; nhưng nếu lập tức thưởng phạt, người ngoài ắt chưa phục. Phải đợi Chuyển vận sứ xét kỹ đã."
Ngày Giáp Tuất, Hoàng đế ngự Thượng Thanh cung, xuống chiếu ban yến 3 ngày.
Ngày Ất Hợi, xuống chiếu bãi việc độc quyền bán rượu ở Tây Kinh, quan bán men theo chế độ ở Đông Kinh.
Ngày Bính Tý, gia phong hiệu cho Lão Tử là Xung Hư Chí Đức chân nhân.
Khi xa giá đến huyện Củng, Thái tử Thái sư Lữ Mông Chính ngồi xe bệnh đến yết kiến, không thể lạy, Hoàng đế lệnh Trung sứ đỡ ông ta vào, ban cho ngồi, hỏi han. Ngày Nhâm Ngọ, Hoàng đế đến nhà ông ta, ban cho rất hậu.
Ngày Giáp Thân, Hoàng đế ngự lầu Ngũ Phượng xem yến, triệu 500 phu lão, ban rượu dưới lầu.
Ngày Đinh Hợi, Hoàng đế ngự Nguyên Ốc cung.
Ngày Mậu Tý, tu sửa Lục miếu nhà Chu. Tăng phong cho mộ người con hiếu đời Đường là Phan Lương Nguyên và con là Kỷ Thông.
Ngày Canh Dần, xuống chiếu cho Hà Nam phủ lập miếu Cao Tổ nhà Hậu Hán thời Ngũ Đại.
Ngày Tân Mão, xa giá rời Tây Kinh, Hoàng đế bảo Phụ thần rằng: "Đường về, lăng tẩm ở ngay trước mắt, tuy đã sai quan tế cáo, trẫm há có thể yên nhiên mà đi qua sao!" Ngày Nhâm Thìn, Hoàng đế cưỡi ngựa đến Hiếu Nghĩa, Trấn lại Tư Thôn lại dựng trướng, cùng thân vương vọng lăng tế bái, cận thần ở phía đông trướng bái vọng. Mỗi lần dâng đồ ăn uống, Hoàng đế cầm chén, nâng đũa, nước mắt rơi, thương xót.
Ngày Giáp Ngọ, đến huyện Trịnh châu, sai sứ tế Trung Nhạc và hai lăng Tung, Ý của nhà Chu.
Ngày Đinh Dậu, ban lụa cho ẩn sĩ Dương Phác.
Liêu chúa đến Uyên Ương bạc.
Tháng 3, ngày Kỷ Hợi, Hoàng đế từ Tây Kinh trở về.
Ngày Ất Sửu, lấy Tào Vĩ làm Tây Thượng Hợp môn sứ, thưởng công giữ biên thùy. Vĩ ở Trấn Nhung, từng xuất chiến được chút thắng lợi, do thám thấy quân địch đã đi xa, bèn lùa bò dê, xe nặng cướp được mà về, có phần rối loạn hàng ngũ. Thuộc hạ lo lắng, nói với Vĩ rằng: "Bò dê vô dụng, không bằng bỏ đi, chỉnh đốn quân rồi về." Vĩ không đáp. Quân Tây phiên đi được mấy chục dặm, nghe Vĩ tham bò dê mà quân không chỉnh tề, bèn quay lại tập kích. Vĩ đi càng chậm, đến chỗ có địa thế lợi, bèn dừng lại chờ. Quân Tây phiên sắp đến, Vĩ sai người đến nói: "Quân phiên đi xa, tất rất mệt, ta không muốn nhân lúc người ta mệt mà đánh, xin cho nghỉ ngơi quân ngựa, rồi chọn lúc quyết chiến." Người phiên đang khổ vì mệt, đều mừng rỡ, chỉnh đốn quân rồi nghỉ. Lâu sau, Vĩ lại sai người bảo: "Nghỉ xong có thể cùng nhau xông trận rồi." Bèn mỗi bên đánh trống tiến quân, một trận, đại phá quân phiên, rồi bỏ bò dê mà về, thong thả bảo thuộc hạ rằng: "Ta biết quân phiên đã mệt, nên giả vờ tham lợi để nhử chúng. Từ lúc chúng quay lại đến đây, đã đi gần trăm dặm. Nếu nhân lúc chúng còn sắc bén mà đánh, thì vẫn còn có thắng bại; người đi xa, nếu nghỉ một lát, thì chân tê, không đứng vững, khí lực cũng suy, ta lấy đó mà thắng vậy."
Mùa hạ, tháng 4, ngày Tân Tị, Hoàng hậu Quách thị băng. Chu Đạo Hiến vương là con do Hoàng hậu sinh, vương mất, Hoàng hậu thương xót mà sinh bệnh, rồi không dậy được. Hoàng hậu tính khiêm nhường, tiết kiệm, khoan hậu, nhân từ với kẻ dưới. Đặc biệt ghét xa xỉ, tộc thuộc vào chầu trong cung, nếu y phục hoa lệ, xa xỉ, tất răn dạy. Có người vì việc nhà mà xin nói với Hoàng đế, Hoàng hậu rốt cuộc không cho. Cháu trai xuất giá, vì nghèo, muốn xin ân ban đồ cưới, Hoàng hậu chỉ xuất của riêng mà cấp cho. Hoàng đế từng sai Hoàng hậu xem các kho ở điện Nghi Thánh, Hoàng hậu từ chối rằng: "Kho báu của quoc gia, không phải nơi đàn bà nên vào. Bệ hạ muốn ban ân cho lục cung, xin tùy lượng mà ban, thiếp không dám phụng chiếu." Hoàng đế càng thêm kính trọng.
Tể tướng Vương Đán (王旦) tâu: "Các lộ đều đặt Chuyển vận sứ, lại sai quan đi kiểm tra thuế rượu, đua nhau lấy việc tăng thêm thu thuế, làm lợi cho nhà nước mà kể công, khiến dân bị phiền nhiễu quá đỗi." Hoàng đế nói: "Quan lại chỉ chăm tham công lao, không đoái hoài nỗi khổ của dân, trẫm rất thương xót." Bèn xuống chiếu cho Tam ty: "Lấy số thuế bậc trung trong 1 năm làm định ngạch, từ nay trong ngoài không được bàn việc tăng thuế nữa."
Tháng 5, ngày Bính Thân mồng 1, có nhật thực.
Hoàng đế cùng các Phụ thần nói đến chuyện triều sĩ có người lẫn nhau dâng sớ tiến cử, Vương Đán nói: "Tình giả dối của con người, vốn cũng khó biết. Có kẻ nói điều xấu của người mà ý là để đề cao, tiến cử; có kẻ xưng tụng tài năng của người mà trong lòng thực ra là muốn gạt bỏ, chèn ép. Đời Đường, Lưu Nhân Quỹ từng giận Lý Kính Huyền khác ý mình, định dùng mưu để trừ bỏ, bèn tâu rằng ông ta có tài làm tướng soái, rồi Kính Huyền rốt cuộc làm hỏng việc quân. Đó đều là những kẻ không lấy quốc gia làm mối lo." Hoàng đế nói: "Nếu như thế, thì hạng người hiểm trá giả dối, ở đời không thể dứt được vậy."
Ngày Mậu Thân, xuống chiếu đổi Ty Cổ làm Đăng văn cổ viện, Đăng văn viện làm Đăng văn kiểm viện. Sai Hữu chính ngôn Châu Bình Châu Khởi (鄒平周起), Thái thường thừa Kỳ Dương Lộ Chấn (祁陽路振) cùng coi việc Cổ viện, Lại bộ Thị lang Trương Vịnh (張詠) coi việc Kiểm viện, ở Kiểm viện cũng đặt trống. Trước đó có Nội thần trông coi Ty Cổ, từ đây đều bãi bỏ. Người nào có việc kiện cáo, trước hết đến Cổ viện; nếu không nhận, thì đến Kiểm viện; lại không nhận nữa, thì làm bản án giao cho người ấy, cho phép đón xa giá; nếu không cấp bản án, thì cho phép đến Ngự sử đài tự bày tỏ.
Trước đó, Hoàng đế bảo Vương Đán rằng: "Mở rộng đường ngôn luận là việc đứng đầu trong trị nước, nhưng gần đây lại quá nhiều phiền tạp rối ren. Mỗi khi xa giá ra ngoài, đơn từ dâng lên rối như tơ vò, đến khi mở ra xem xét kỹ, thì chẳng có điều gì thi hành được." Vì thế mới có việc đổi đặt như vậy.
Tù đồ bị xăm mặt ở Đinh châu là Vương Tiệp (王捷), tự nói ở Nam Khang gặp một đạo nhân họ Triệu, trao cho ông ta thanh "Tiểu hoàn thần kiếm", chính là Tư mệnh Chân quân. Hoạn quan Lưu Thừa Khuê (劉承珪) đem việc ấy tâu lên, Hoàng đế ban cho Tiệp tên là Trung Chính. Tháng ấy, ngày Mậu Thân, Chân quân giáng xuống tân đường trong nhà Trung Chính, được tôn làm Thánh Tổ, từ đó việc điềm lành kỳ lạ bắt đầu.
Ngày Mậu Ngọ, tăng cho Khổng Tử 20 hộ giữ phần mộ.
Lần đầu đặt chợ tạp mại.
Tháng nhuận, ngày Mậu Thìn, giảm vật cống hàng năm của 39 châu quân như Kiếm, Lũng, và bãi hẳn vật cống của 27 châu quân như Khuê, Giá.
Ngày Nhâm Thân, Hoàng đế ngự điện Sùng Chính, khảo thí Hiền lương phương chính Trứ tác tá lang Trần Giáng (陳絳), Lịch Thủy huyện lệnh Sử Lương (史良), Đan Dương huyện Chủ bạ Hạ Tốc (夏竦). Trước đó, Hoàng đế bảo các Tể thần: "Gần đây đặt khoa này là để cầu người có tài trí, nếu chỉ khảo văn nghĩa, thì làm sao biết được người có thể giúp ích cho thời cuộc! Nay câu hỏi sách nên dùng nghĩa Kinh, lại tham chiếu việc thời vụ." Nhân đó sai các quan Nhị chế mỗi người dâng câu hỏi sách, chọn lấy mà dùng. Bài đối sách của Giáng và Tốc xếp vào hạng thứ tư, bèn thăng Giáng làm Hữu chính ngôn, Tốc làm Quang lộc tự thừa.
Tháng ấy, đặt phép Trung thư và Khu mật viện báo cho nhau, những việc liên quan đến cơ mật quân sự, chính sự dân gian, tất phải báo qua lại. Khi đó, Trung thư bổ nhiệm Dương Sĩ Nguyên (楊士元) làm Thông phán Phụng Tường phủ, Khu mật viện lại sai ông ta kiêm coi Kho hương dược, hai phủ không biết việc của nhau, nên mới đặt phép này.
Tháng 6, ngày Nhâm Tý, Ty Tư thiên tâu: "Năm sao phải tụ hội ở Chẩn Hỏa, nhưng vì gần mặt trời, nên cùng lúc đều ẩn. Xét sách chiêm rằng: ‘Năm sao không dám tranh sáng với mặt trời, cũng như bề tôi tránh ánh sáng của vua vậy’. Từ nghìn trăm năm nay chưa từng có, xin giao cho Sử quan để ghi chép việc đặc biệt này." Hoàng đế nghe theo.
Ngày Ất Mão, táng Trang Mục Hoàng hậu ở phía tây bắc lăng Vĩnh Hy. Lúc đầu định thụy, sai Tông chính khanh vào miếu cáo. Vương Khâm Nhược (王欽若) nghi ngờ việc này, nhân lúc chầu, trình bày rõ. Vương Đán nói: "Cổ lệ của bản triều, khi định thụy cho Chiêu Hiến, Thái úy dẫn trăm quan vào miếu cáo; khi định thụy cho Hiếu Minh, chỉ Tông chính khanh vào miếu cáo mà thôi. Nay nên lấy Hiếu Minh làm chuẩn." Hoàng đế nhìn Khâm Nhược nói: "Đều có cổ lệ, không đáng nghi."
Ngày Canh Thân, Tri Khu mật viện Vương Khâm Nhược vì việc năm sao tụ hội ở Tỉnh phương Đông, mây lành xuất hiện, dâng biểu chúc mừng, chiếu giao cho Sử quán ghi chép.
Lại bộ Thị lang Trương Vịnh vì bệnh nhọt xin ra trấn giữ quận; ngày Tân Dậu, chiếu bổ Vịnh làm Tri Thăng châu.
Dời Hướng Mẫn Trung (向敏中) làm Tri Hà Nam phủ kiêm lưu thủ Tây Kinh. Trước đó, các cựu Tể tướng ra trấn nhậm, phần nhiều không để tâm vào việc lại dịch; Khấu Chuẩn (寇准) tuy có tiếng tăm lớn, nhưng đến đâu suốt ngày yến ẩm du ngoạn. Trương Tề Hiền (張齊賢) phóng khoáng tùy tính, bắt được giặc cướp, có khi lại thả cho đi, nơi ông ta đến càng không được trị. Hoàng đế nghe, đều không vui. Chỉ có Mẫn Trung siêng năng việc chính sự, đến đâu cũng nổi tiếng. Hoàng đế nói: "Đại thần ra trấn giữ một phương, há chẳng nên như Hướng Mẫn Trung sao!"
Nước Liêu ban chết cho Hoàng Thái phi ở chỗ giam giữ.
Mùa thu, tháng 7, ngày Đinh Mão, rước bài vị Trang Mục Hoàng hậu phối thờ ở biệt miếu, điện thất đặt ở trên miếu của Trang Hoài Hoàng hậu.
Nội phẩm cao ban Bùi Dũ (裴愈) bị điều ra thuộc về Đường châu.
Trước đây, Dũ coi việc Giang ở Quảng châu, gặp sứ Giao châu, nhân nói: "Nhụy hoa rồng là vật khó được, nên dùng làm đồ cống." Đến nay, châu thu hái dâng nộp, lại nói Dũ từng truyền đạt ý chỉ của chiếu. Hoàng đế nói: "Trẫm ôm lòng vỗ về phong tục xa, nào từng tuyên đòi vật gì!" Liền giao Dũ cho Ngự sử đài tra hỏi, nên mới có việc trách phạt này, lại đem nhụy hoa rồng trả về Giao châu.
Hoàng đế bảo các Phụ thần: "Gần đây xem văn chương do các từ nhân dâng lên, phần nhiều trái với ý Kinh mà lập thuyết, đó là cái gọi là ‘kẻ chẳng phải Thánh nhân thì không có phép tắc’. Kẻ nào quá lắm, phải giáng chức để răn."
Nước Liêu vì mẹ của Tây Bình vương Lý Đức Minh (李德明) qua đời, sai sứ sang điếu tế, rồi lại lệnh cho ông ta khởi phục.
Tri Nghi châu Lưu Vĩnh Quy (劉永規) cai trị thuộc hạ nghiêm khắc tàn bạo, tháng 6, ngày Ất Mão, Quân hiệu Trần Tiến (陳進) nhân oán giận của mọi người mà đánh trống hò reo, giết Vĩnh Quy, ép Phán quan Lư Thành Quân (盧成均) làm chủ soái, tự xưng là Nam Bình vương, chiếm giữ thành mà làm phản. Ngày Giáp Tuất, tin tâu đến, chiếu cho Thứ sử Trung châu Tào Lợi Dụng (曹利用) cùng những người khác lĩnh binh tiến đánh, lại dụ bọn giặc nếu có kẻ đến hàng, đều tha tội.
Quyền Tam ty sứ Đinh Vị (丁謂) tâu: "Năm Cảnh Đức thứ 3, số hộ mới thu nhận, so với năm thứ 6 niên hiệu Hàm Bình, tăng hơn 550.000 hộ, thuế thu vào tăng hơn 3.460.000, xin đặc xuống chiếu, từ nay lấy số hộ khẩu, thuế thu vào năm thứ 6 niên hiệu Hàm Bình làm định ngạch, mỗi năm so sánh số ấy, ghi chép đầy đủ dâng lên Sử quán." Hoàng đế nghe theo.
Lê Long Đĩnh (黎龍延) tự xưng Quyền An Nam Tĩnh Hải quân Lưu hậu, sai em là Minh Xưởng (明昶) cùng những người khác sang cống, Hoàng đế ban cho bộ Cửu kinh và sách Phật giáo. Ngày Tân Tị, phong Long Đĩnh làm Tĩnh Hải Tiết độ sứ, Giao Chỉ quận vương, ban tên là Chí Trung, cấp cho cờ tiết.
Ngày Mậu Tý, Hoàng đế bảo các Phụ thần: "Gần đây, hoàn toàn không có người dâng lời can gián. Các khanh nên siêng năng tiếp xúc sĩ đại phu, xét hỏi việc bốn phương để tâu lên."
Chiếu cho Hàn lâm sai họa công chia nhau đến các lộ, vẽ dâng bản đồ hình thế sông núi, địa lý xa gần, giao cho Khu mật viện, mỗi khi phát binh đồn trú, dời đổi thuế khóa, để tiện tra xét.
Ngày Quý Tị, lại đặt quan Đề điểm hình ngục các lộ. Trước đó, Hoàng đế viết tay 6 điều ghi nhớ, chỉ vào một điều bảo Vương Đán rằng: "Siêng lo nỗi ẩn khuất của dân, chọn lựa kỹ lưỡng quan lại, trẫm không ngày nào không nghĩ đến. Điều lo là hình ngục bốn phương, quan lại chưa hẳn đều là người thích đáng, chỉ một người chịu oan, liền chiêu tai họa. Tiên đế từng chọn triều thần làm Đề điểm hình ngục các lộ, nay có thể đặt lại, vẫn lấy Sứ thần làm phó. Đến nơi phải tự lòng xét hỏi việc giam giữ, xem xét kỹ hồ sơ án kiện, những quan lại tham ô nhơ bẩn, lười biếng chểnh mảng, phải ghi rõ tên tâu lên."
Tháng 8, ngày Ất Tị, đặt chức Quần mục chế trí sứ, sai Tri Khu mật viện sự Trần Nghiêu Tẩu (陳堯叟) kiêm chức ấy. Sau lại tăng thêm 1 viên Phán quan.
Ngày Đinh Mùi, Trung thư Môn hạ tâu: "Trang Mục Hoàng hậu đã mãn kỳ để tang từ lâu, yến hội mùa thu xin được cử nhạc." Không cho.
Lấy Hữu Giám môn vệ Thượng tướng quân Tiền Duy Trị (錢惟治) làm Hữu Vũ vệ Thượng tướng quân, mỗi tháng cấp tiền bổng 100 vạn, lại cho phép ở nhà dưỡng bệnh. Khi ấy, em của Duy Trị là Thái phó Thiếu khanh Duy Diễn (惟演) dâng "Thánh đức luận", Hoàng đế xem xong, bảo các Tể thần: "Văn học của Duy Diễn có thể khen, lại là công vương quý tộc, mà còn chăm chú văn bút, thật đáng khen, nên ghi tên ông ta, cùng đem bài luận giao cho Sử quán." Nhân đó nói: "Họ Tiền đời đời trung thuận, con cháu đáng thương, gần đây nghe Duy Trị khá nghèo túng." Bèn có chiếu ấy.
Ngày Kỷ Dậu, đất Ích châu động đất.
Xuất 500.000 quan tiền trong kho phủ giao cho Tam ty mua đậu và lúa mạch. Khi ấy, Tể tướng tâu rằng năm nay được mùa lớn, đậu và lúa mạch rất rẻ, bị nhà giàu tích trữ, xin quan phủ thu mua để lợi cho nông dân.
Ngày Tân Hợi, ban cho cháu đời thứ 46 của Khổng Tử là Thánh Hựu (聖佑) đỗ Đồng học cứu xuất thân. Thánh Hựu là con của Diên Thế (延世), cháu của Nghi (宜).
Hàn lâm Thị giảng học sĩ kiêm Quốc tử Tế tửu Hình Bỉnh (邢昺) vì già yếu gầy yếu, tự tâu mình là người cố hương ở Tháo châu, xin cho nghỉ về quê trông coi ruộng vườn; Hoàng đế truyền cho ông ngồi, an ủi khuyến khích, ngày Nhâm Tý, bổ làm Công bộ Thượng thư, Tri Tháo châu. Ngày hôm ấy, đặc biệt mở Long đồ các, triệu các cận thần yến ở điện Sùng Hòa, Hoàng đế làm thơ ban cho. Bỉnh nhìn bức "Lễ ký đồ" trên vách, nhân đó trình bày đại nghĩa Cửu kinh trong "Trung dung", Hoàng đế vui lòng tiếp nhận. Đến khi ông đi, lại sai cận thần đưa tiễn. Việc Thị giảng học sĩ ra làm sứ bên ngoài, bắt đầu từ Bỉnh.
Ngày Quý Sửu, Hoàng đế bảo Vương Đán và những người khác: "Trước đây chiếu cho quần thần dâng lời, trừ việc cơ mật ra, không được dùng trát tử vô danh, không phải việc công cần chầu mặt tâu, thì không được lên điện, là để ngăn người nhiều lời, dần thành gièm pha. Huống chi tất phải có văn bản rõ ràng, phong chương đàn hặc, có gì là không được! Gần đây Tích Luân (戚綸) chầu mặt nói chiếu chỉ không tiện." Nhân đó đem sớ của Luân ra cho Đán và những người khác xem, nói: "Ý của Luân là người xa xôi khó được chầu mặt tâu bày, nhưng từ khi hạ chiếu đến nay, người lên điện tâu việc chưa từng bị ngăn trở." Đán nói: "Lời đồn, lời gièm, thánh tâm vốn không bị mê hoặc. Nhưng gần đây người bàn luận lợi hại hơi ít, cũng nên để ý xét soi." Vương Ẩm Nhược (王飲若) nói: "Thần hạ lên điện một hai lần, liền mong ân trạch. Gần đây chương sớ trong ngoài, nếu theo điều khoản chiếu trước, đều phải giao cho ty sở tra hỏi." Hoàng đế nói: "Tích Luân tính tình thuần cẩn, có học vấn, bản sớ này chỉ là chưa hiểu rõ ý chỉ của chiếu mà thôi."
Ngày Đinh Tị, chiếu tu chính sử Thái Tổ, Thái Tông, sai Vương Đán giám tu, Vương Khâm Nhược, Trần Nghiêu Tẩu, Triệu An Nhân (趙安仁), Triệu Duệ (晁迥), Dương Ức (楊億) cùng tu.
Đặt chức Long đồ các Trực học sĩ, lấy Đỗ Hạo (杜鎬) làm Hữu gián nghị đại phu, kiêm chức ấy, thứ bậc xếp dưới Khu mật Trực học sĩ.
Quyền Tam ty sứ Đinh Vị dâng "Cảnh Đức hội kế lục" 6 quyển, chiếu khen thưởng.
Tháng ấy, các lộ đều tâu được mùa to.