Bước tới nội dung

Tục tư trị thông giám/Quyển 28

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tục Tư trị thông giám, quyển 28  (2025)  của Tất Nguyên, do Cơ Như Tuyết dịch
Tống kỷ 28

Từ tháng Giêng năm Kỉ Dậu (1009) đến tháng 4 năm Canh Tuất (1010), Chân Tông Đại Trung Tường Phù năm thứ 2 đến năm thứ 3, gồm 1 năm có dư

Năm Đại Trung Tường Phù thứ 2 (Liêu, Thống Hòa năm thứ 27), Công nguyên năm 1009

[sửa]

Mùa xuân, tháng giêng, ngày Đinh Tị mồng 1, triệu các Phụ thần vào nội điện triều bái Thiên thư. Từ đó về sau, hằng năm đều lấy đó làm lệ thường.

Ngự sử trung thừa Vương Tự Tông tâu: "Hàn lâm học sĩ Dương Ức (楊億), Tri chế cáo Tiền Duy Diễn (錢惟演), Bí các hiệu lý Lưu Quân (劉筠) họa vần thơ ‘Tuyên khúc’, thuật lại chuyện cung đình đời trước, lời lẽ có phần phù hoa, xa xỉ." Hoàng đế nói: "Các Thư thần là bậc tông sư của giới học giả, sao có thể không răn họ buông tuồng phóng đãng!" Bèn xuống chiếu răn rắp, khuyến khích học giả: "Từ nay, ai làm văn từ phù hoa xa xỉ, không theo phép tắc điển chế, sẽ bị nghiêm trị. Còn việc khắc in văn tập, lệnh cho Chuyển vận sứ chọn viên quan trong bộ thuộc xem xét kỹ, bản nào có thể dùng thì chép tâu lên."

Hoàng đế từ Đông phong trở về, quần thần dâng biểu chúc mừng công đức, cả nước như cuồng nhiệt. Chỉ có Tiến sĩ Tôn Tịch dâng thư nói: "Phong thiện là việc lớn của đế vương, nhưng thần nguyện bệ hạ cẩn thận với chỗ ‘đầy đủ, thành tựu’, không thể vì thế mà tự mãn, phóng túng." Hoàng đế khen lời ấy hay, liền triệu vào thi ở Trung thư; ngày Canh Ngọ, ban cho Đồng Tiến sĩ xuất thân. Lúc ấy, Tri chế cáo Chu Khởi cũng dâng lời: "Thế cuộc thiên hạ, thường lo ở chỗ yên ổn lâu ngày mà quên sợ hãi kính dè, xin đừng lấy chỗ ‘đầy đủ, thành tựu’ làm chỗ cậy dựa." Hoàng đế rất lấy làm phải.

Mùa đông năm trước, xuống chiếu ở Kinh sư ban cuộc bày tiệc uống rượu (ban bô) 5 ngày, lấy ngày mồng 5 tháng 2 làm đầu. Bấy giờ lâu ngày không mưa, Hữu Bộc xạ Trương Tề Hiền tâu: "Yến lạc là việc thuộc dương khí. Mới qua tiết Thượng Nguyên, lại sắp mở tiệc uống rượu, e rằng không phải là cách đáp lại ý trời. Xin đợi khi mưa đủ rồi sẽ làm theo chiếu chỉ." Hoàng đế nghe theo.

Bổ Điện trung thừa Khổng Húc làm Tri huyện Khúc Phụ, kiêm Kiểm giáo Tiên Thánh miếu, ban cho đai ngọc cá đỏ. Húc xin ngay tại Tiên Thánh miếu dựng học xá, và ở trai thính giảng nói, đều được chấp thuận.

Ngày Ất Dậu, lệnh cho Hộ bộ Thượng thư Ôn Trọng Thư, Hữu thừa Hướng Mẫn Trung cùng với Lại bộ Lưu nội tuyển chú định, đề cử quan lại. Trước đó, Hoàng đế bảo các Phụ thần rằng: "Lại bộ tuyển quan, dẫn các quan lại vào yết kiến, có khi cả chục ngày không vào triều, là cớ sao?" Trần Nghiêu Tẩu tâu: "Người chờ bổ nhiệm rất nhiều, nghe nói việc đình trệ quá lắm." Nhân đó nói đến phép “tỏa tuyển” đời trước. Hoàng đế nói: "Nay số ngạch ít mà người chờ bổ nhiều, dù xét tuyển 4 lần trong ngày còn lo tắc nghẽn, huống chi lại ‘tỏa tuyển’!" Nghiêu Tẩu lại xin lấy số viên chức cũ của các tỉnh, đặt lại như quan Lục tào, trăm châu mới được 600 viên. Vương Đán nói: "Nay người tụ tập chờ khuyết hơn 2.000, dù tăng thêm 2, 3 trăm viên, cũng vô ích." Bèn xuống chiếu cho Trọng Thư cùng những người khác cùng nắm việc tuyển bổ để đốc thúc.

Tháng ấy, phong Mỹ nhân Lưu thị làm Tu nghi, Tài nhân Dương thị làm Tiệp dư.

Liêu chúa đi săn ở Thụy Lộc nguyên.

Tháng 2, lệnh cho Thiểm Tây mở kho phát thóc bán rẻ cứu tế, vì hạn hán.

Ngày Tân Sửu, chia phái sứ thần xuất thóc lúa mạch ở Thường bình thương, mở 8 điểm bán ở 4 phía kinh thành, hạ giá mà bán, để bình ổn vật giá.

Ngày Kỷ Dậu, trời mưa. Xuống chiếu ban bô, lấy ngày 16 tháng 3 làm đầu.

Ngày Canh Tuất, thứ dân Lâm Hổ đánh trống Đăng văn, dâng lời rằng: "Nước nhà sai quan cầu mưa, xa giá đi khắp các cung quán, chùa miếu, tuy đã mưa 2 lần mà vẫn chưa đủ. Xin bệ hạ trừ bỏ bọn tà nịnh, quan lại chỉ ăn bám, sáng tỏ phép thưởng phạt, thăng giáng, thì trời tự mưa." Hoàng đế nói: "Điều nói đến bọn tà nịnh, ăn bám, phải nêu rõ tên; việc thưởng phạt, thăng giáng, cứ trình bày hết những điều không phải, trẫm há lại tiếc việc dùng người hiền! Nhưng họ Lâm tên Hổ, đã là điều quái lạ rồi." Sai Trung thư triệu đến hỏi, Hổ không đáp được, bèn cho về.

Lấy con trai Lư Đa Tốn là Lư Sát, Tư sĩ tham quân phủ Phục châu, giao cho Lại bộ ghi vào sổ để bổ Tri huyện, Huyện úy. Sát, năm Cảnh Đức thứ 2 dự thi Tiến sĩ, Lễ bộ tâu tên ở bậc cao. Có người nói con Đa Tốn không nên dự khoa cử, nên đặc biệt bổ làm châu lại, đến nay mới cho làm quan thân dân. Năm sau, Sát phụng tang Đa Tốn về táng ở Tương Dương, lại xuống chiếu lệnh bản châu ban cho Sát 30 vạn tiền.

Dân Ứng Thiên phủ là Tào Thành, dùng tài sản của mình chiêu mộ thợ, đến chỗ Tích Đồng Văn cư trú dựng 150 gian nhà, tụ tập hơn 1.000 quyển sách, rộng rãi chiêu sinh, giảng học rất thịnh. Phủ tâu việc ấy, xuống chiếu ban tên là “Ứng Thiên phủ Thư viện”, lệnh cho Phụng lễ lang Tích Thuấn Bân làm chủ, lại sai quan mạc chức bản phủ trông coi, lại bổ Thành làm Phủ trợ giáo. Thuấn Bân là cháu Đồng Văn, con của Luân.

Ngày Quý Sửu, Thái thường bác sĩ, Tri Ôn châu Lý Diểu tâu: "Theo chiếu, cấm dùng vàng bạc dát mỏng, dây vàng bạc để trang sức đồ dùng, y phục. Thần thấy ở Lưỡng Chiết, tăng nhân xin quyên vàng bạc châu ngọc, nghiền vụn trộn bùn để đắp tháp tượng, có cái cao rộng đến hơn 1 trượng. Phá nát châu báu, dần dần thành tục. Xin nghiêm cấm tuyệt, kẻ trái lệnh xử tội nặng." Hoàng đế nghe theo.

Phong tổ mẫu của Thái thường bác sĩ Trần Tòng Dịch là Chiêm thị làm Hà Gian huyện Thái quân. Tòng Dịch nhờ ân Đông phong, theo lệ được phong mẹ và vợ, bèn xin chuyển phong vợ sang cho tổ mẫu, nên mới có việc ấy.

Tháng 3, ngày Bính Thìn mồng 1, nhật thực.

Ngày Tân Mùi, Hoàng đế ngự lầu Càn Nguyên xem cuộc ban bô, từ đó về sau, mỗi lần 5 ngày.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Bính Tuất mồng 1, Liêu chúa đến Trung kinh xây dựng cung thất, chọn thợ giỏi ở Yên, Kế, đốc suất công dịch trong 2 năm, thành quách, cung thất, lầu gác, phủ khố, chợ búa, phố xá, đều mô phỏng chế độ Kinh sư. Xong, lập Tông miếu, điện ngự dung Cảnh Tông và Thái hậu. Trong cung có điện Vũ Công nơi Liêu chúa ở; điện Văn Hóa nơi Hoàng hậu ở đó. Thành trì ao hồ ẩm thấp, bèn đào nhiều giếng để thoát nước, dân cư cho là tiện. Lại đặt dịch quán Đại Đồng để đợi sứ nước Tống, Triều Thiên quán để đợi sứ Tân La, Lai Tân quán để đợi sứ nước Hạ.

Ngày Mậu Tý, Thăng châu đại hỏa. Sai Ngự sử đi hỏi thăm nỗi khổ của dân, miễn thuế các nhà bị cháy.

Vũ Thắng Tiết độ sứ, Phò mã đô úy Ngô Nguyên Ỷ, thuần cẩn, khiêm tốn, ở nơi phiên trấn có lòng lo cho dân, đãi khách mưu sĩ rất có lễ, xử việc kính cẩn, nơi đến đều biết giữ kỷ luật, chưa từng vượt khuôn phép, giữ mình giản dị, ít ham mê thanh sắc, chó ngựa, bổng lộc được đều chia cho thân thuộc cô bần. Bấy giờ vâng chiếu làm Tri Từ châu, xin được vào chầu, tâu rằng: "Tông thuộc của thần rất nhiều, những người có thể đảm nhiệm bổng lộc, chức vụ đều đã dâng tâu tiến cử, những người không đảm nhiệm được thì thần đều chia đều bổng lộc để nuôi dưỡng. Công chúa có vú nuôi, được vào chầu trong cung cấm, thần lo sau khi thần đi, bà ta sẽ nhờ đó mà cầu xin, mong bệ hạ không nhận." Hoàng đế rất than thở khen là hiền.

Chia định nghi trượng Thiên thư và Đại giá, riêng trang sức xe ngọc để phụng nghênh Thiên thư, đề biển là “Thiên thư ngọc lộ”.

Ngày Nhâm Thìn, Giang Hoài phát vận sứ Lý Phổ tâu: "Quân tốt áp tải lương thuyền có mang theo ít hàng hóa, đi qua các châu huyện đều bị thu thuế, xin cho miễn." Hoàng đế nghe theo.

Cấp sự trung, Phán Tập hiền viện Chủng Phóng được phép cáo về quê ở núi Chung Nam, hôm ấy được triệu kiến, mở yến tiễn ở Long Đồ các, Hoàng đế làm thơ ban cho Phóng, lệnh quần thần đều làm thơ, lại tự soạn tựa. Đỗ Hạo từ chối, nói vốn không giỏi văn, Hoàng đế xuống chiếu lệnh ông dẫn chuyện danh thần về núi đời trước, Hạo bèn đọc “Bắc Sơn di văn”, ý là bóng gió chê Phóng.

Ngày Bính Thân, Nội cung phụng quan Trịnh Chí Thành từ sứ vụ ở Mao Sơn trở về, tâu: "Đến Thăng châu, thấy chim sẻ vàng bay thành đàn che kín mặt trời, thường từ trên không rơi xuống, lại nghe trên không như có tiếng nước chảy." Hoàng đế nói: "Đó đều là điều khác thường, mà châu không tâu, là sao?" Nhân lấy sách chiêm bốc đưa cho Vương Đán xem, nói: "Đây đều là điềm dân lao khổ, nếu thủ thần biết nỗi khổ của dân, có thể phòng bị từ trước, thì tránh được tai họa. Nay Trương Vịnh ở đó, trẫm không lo." Trước đó, trong thành nhiều vụ cháy, Vịnh tra được bọn dân bất lương lén lút phóng hỏa, chặt chân rồi chém, từ đó nạn ấy dứt hẳn.

Ngày Kỷ Hợi, lấy Tam ty sứ Đinh Vị làm Tu sửa Chiêu Ứng cung sứ. Lúc mới bàn việc dựng cung, sai Vị khảo sát, Vị muốn dùng hết tài dụng quốc gia, quy mô cực lớn, nhiều cận thần nói là không nên; Đô Ngự hầu Điện tiền Trương Mân cũng nói việc xa xỉ gỗ đá không đủ để hợp ý trời. Hoàng đế triệu hỏi Vị, Vị nói: "Bệ hạ có cả thiên hạ, dựng một cung để tôn phụng Thượng đế, có gì là không được? Vả lại nay trong cung chưa có Hoàng tự, dựng cung ở chỗ đất Càn trong cung thành, chính là để cầu phúc. Quần thần không biết ý ấy của bệ hạ, nên có kẻ bừa bãi can ngăn, xin lấy lời này bảo cho họ biết." Sau đó, Vương Đán lại dâng sớ mật can gián, Hoàng đế bảo như lời Vị đã đối, Đán không dám nói nữa. Bèn đặc đặt chức danh sứ, lệnh Vị chuyên trách việc ấy.

Xuống chiếu: "Từ nay, các lộ Chuyển vận sứ, Phó sứ, Đề điểm hình ngục sở cử quan lại, nếu sau khi thăng đổi, trong 5 năm không phạm lỗi, có công lao, tài cán, thì đều do người tiến cử đứng ra xin ban thưởng thêm." Trước đó, Hoàng đế bảo Tể thần rằng: "Người tiến cử quan mà phạm tội tham ô thì bị liên đới, còn tiến cử được người hiền thì thưởng lại không đến nơi, đó không phải là cách khuyến khích." Nên mới có chiếu này.

Ngày Canh Tuất, nước Liêu bãi chức Bá châu Xử trí sứ.

Ngày Giáp Dần, xuống chiếu: "Cấm trong ngoài quần thần, nếu không phải ngày nghỉ thì không được tụ tập uống rượu mà bỏ bê chức vụ."

Tháng 5, ngày Ất Mão mồng 1, xuống chiếu truy phong đệ tử của Khổng Tử là Yển công Nhan Hồi làm Quốc công, Phí hầu Mẫn Tổn cùng 9 người làm Quận công, Thành bá Tăng Sâm cùng 62 người làm Liệt hầu, lệnh các quan ở Minh tướng quán chia nhau soạn bài tán.

Thiều châu dâng quả Tần bà, sau vì đường xa nên bãi.

Ngày Nhâm Tuất, xuống chiếu lệnh cho Trường quan Duyên châu, vào ngày Thiên thư giáng ở Thái Sơn, mỗi ngày đến Thiên Hưởng điện lập đạo tràng, thiết trai giới, lấy ngày ấy làm tiết Thiên Hưởng, lệnh các châu đều thiết trai giới, theo lời xin của Tri Tịnh châu Lưu Tông.

Ngày Bính Dần, triệu Tể tướng đến Long Đồ các xem đạo tượng, lại xem các vật điềm lành ở điện Sùng Hòa, tổng cộng hơn 400 thứ, Vương Đán và các quan dâng lời chúc mừng. Hôm ấy, vì Chiêu Ứng cung khởi công, mở yến cho Đinh Vị và các quan dưới, lại ban tiền cho quân dịch.

Tư bộ viên ngoại lang, Trực Tập hiền viện Dương Khản người Tiền Đường xin lệnh cho các huyện thuộc châu không được để lại nha lại ở dưới hương xã đuổi theo việc dân. Hoàng đế nghe theo.

Đại châu động đất.

Tháng 6, ngày Đinh Dậu, xuống chiếu: "Phu dịch tu sửa Chiêu Ứng cung, những người trong tiết Tam phục còn phải cầm đất làm việc, đều cho nghỉ." Lúc ấy Đinh Vị muốn sớm hoàn thành, xin trong Tam phục không cho nghỉ, Vương Đán nói nên thuận theo thời tiết, nên mới có chiếu này.

Trước đó, điềm lành liên tiếp đến, Tri chế cáo Vương Tằng tâu: "Đây thật là do nước nhà thái bình mà có, nhưng xin đẩy công ấy ra ngoài, không nên tự nhận, để sau này nếu có tai họa, khí độc, thì khỏi bị dư luận trách cứ." Đến khi Hoàng đế đã nhận phù mệnh, xây dựng lớn cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng, Tằng lại dâng sớ rằng

Nước nhà nhận điềm lành đặc biệt, vâng giữ bí lục, ở góc bắc thành nghiêm, mở cung bí mật thờ các chân nhân. Từ khi khởi công đến nay, đường phố mở rộng, công việc kéo dài nhiều năm, phí tổn đến hàng ức vạn. Nước nhà tôn phụng linh văn như thế, không phải là không hậu. Nhưng thần cho rằng việc xây dựng hiện nay có 5 điều bất tiện: Một là cung mới dựng, quy chế to lớn, mọi thứ gỗ dùng đều là gỗ tốt như phiền, nam, vận chuyển đến cung, càng tổn hại sức người, tuy nói chỉ dùng quân thợ, há tránh khỏi phiền nhiễu dân thường? Huống chi quân nhân cũng là lê dân, đó là điều bất tiện thứ nhất. Hai là vừa xong việc phong sùng, lại khởi công xây dựng, nội phủ phải vét hết tích trữ nhiều đời, trăm vật đều là mồ hôi máu của sinh dân, tán đi thì dễ, thu lại thì khó, đó là điều bất tiện thứ hai. Ba là họa khởi từ chỗ ẩn vi, nguy sinh từ chỗ yên ổn, nay dưới song tước, vạn người tụ tập, các loại binh sĩ tạp dịch, phần nhiều là bọn dân bất lương, nếu có kẻ chuột chạy ngoài chợ, chó trộm trong đô thị, chỉ một việc như thế cũng đủ làm bệ hạ lo, đó là điều bất tiện thứ ba. Bốn là việc làm của vương giả, tất phải theo thời lệnh, thần tra xét, thấy rằng đầu mùa hạ không được phát động đại chúng, không được khởi công đào đất, không được chặt cây lớn. Nay khởi nền dựng cung, xông vào khí nóng ẩm, khuấy động đất dày, trái với lời dạy trước, huống chi lại gặp hạn hán, dịch bệnh, nhà nhà mắc họa, há chẳng phải là do không hợp với điềm sáng tỏ của trời đất sao! Đó là điều bất tiện thứ tư. Năm là thần nghe phù mệnh cũng nói ‘thanh tịnh nuôi dân’. Thế mà lại quá chú trọng công việc chạm khắc, mở rộng việc khéo léo chạm trổ, nhiều lần làm kiệt sức vật lực, chưa hợp lòng trời, đó là điều bất tiện thứ năm. Cúi mong bệ hạ nghĩ đến đại kế của Tổ tông, xét lời răn sâu xa của Thánh hiền, dừng ở chỗ chất phác, không chuộng kỳ lạ, để thiên hạ biết bệ hạ coi trọng sức dân, há chẳng đẹp sao! Nay biên cương mới yên, phong tục dân tạm ổn, đất Quan, Phụ dân lưu tán vốn nhiều, dân gần kinh thành, việc nông tang mất mùa, tuy lệnh cho hữu ty an ủi, e rằng chưa khôi phục được ruộng vườn, trong khoảng thu đông, đói kém đáng lo. Xin bệ hạ lưu tâm nghe theo, chớ bỏ lời thần, thì thiên hạ rất may mắn!

Từ năm Cảnh Đức thứ 4 trở đi, Hoàng đế không còn đi săn nữa, ngày Nhâm Dần, xuống chiếu: "Chim ưng, chim cắt ở 5 phương, chọn để lại hơn 10 con, để khi các Vương theo hầu có lúc bày lễ, còn lại đều thả hết."

Ngày Canh Tuất, Hoàng đế ngự điện Sùng Chính thân tự coi thi Tiến sĩ và các khoa, ban cho Tiến sĩ Lương Cố cùng những người khác đỗ, xuất thân có thứ bậc. Cố là con của Hạo, trước nhờ ơn Hạo để lại mà được ban cho xuất thân Tiến sĩ. Sau khi mãn tang, đến Đăng văn, xin nhường mệnh trước, nguyện về quê dự thi, được chấp thuận.

Lúc đầu chọn đất dựng Chiêu Ứng cung, chỉ hết đến viện Nội điện trực ban. Đinh Vị và những người khác lại xin mở rộng thêm, phần nhiều là đất đen xấu; bèn lấy đất tốt ở phía bắc Đông kinh thành để thay, từ 3 thước đến 1 trượng 6, chia làm 6 bậc, mỗi ngày dùng đến mấy vạn phu dịch. Hoàng đế thấy đường xa, thương nỗi nhọc nhằn gánh vác, ngày Nhâm Tuất, xuống chiếu lệnh Tam ty dùng thuyền không cấp cho Chiêu Ứng cung chở đất, lại đào sửa đường ống dẫn nước.

Mùa thu, tháng 7, ngày Giáp Dần mồng 1, trong cõi nước Liêu mưa dầm, các sông Hoàng Hà đều tràn, cuốn trôi nhà dân.

Ngày Đinh Tị, đặt Ty Cửu sát hình ngục ở Kinh sư, giao cho Tri chế cáo Chu Khởi, Thị ngự sử Triệu Tương trông coi.

Tam ty xin xuất 10.000 tấm lụa gấm trong Nội tàng để giúp kinh phí, được chấp thuận.

Lại đổi Vạn An cung làm Tư Phúc điện.

Trước đó có chiếu giảm 9 chỉ huy quân trú đóng ở lộ Phu Diên về doanh. Ngày Ất Sửu, Linh hạt Lý Kế Xương và những người khác tâu rằng biên phòng cần phòng bị, xin cho như cũ, Hoàng đế cho rằng Tây biên yên tĩnh, mong giảm bớt việc vận chuyển, nên không cho.

Ngày Tân Mùi, đổi Chiêu Ứng cung làm Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung.

Ngày Mậu Dần, xuống chiếu phong 19 người phối hưởng ở miếu Huyền Thánh Văn Tuyên Vương Khổng Tử như Lỗ sử Tả Khâu Minh làm Bá, truy tặng Lan Đình hầu Vương Túc làm Tư không, Đương Dương hầu Đỗ Dự làm Tư đồ, lệnh cận thần mỗi người soạn một bài tán.

Ngày Canh Thìn, Thị ngự sử Triệu Tương, Phán Tam ty Đô thôi khiếm ty Bành Duy Tiết và những người khác, kê khai tâu rằng trước chiếu đại xá nhân lễ phong thiện, nợ đọng trong thiên hạ tổng cộng 12.607.000, đều được xóa.

Tháng 8, Hoàng đế muốn chọn quan làm Tri Thẩm hình viện, bảo Tể thần rằng: "Phải là người tường tận pháp lệnh." Vương Đán nói: "Nay Tư pháp đã có người, người làm Tri viện chỉ cần hiểu rõ sự lý, xét kỹ tình người, không nhất thiết phải là người thuộc lòng pháp lệnh." Hoàng đế cho là phải.

Thư thư thừa Đổng Ôn Kỳ dâng lời: "Nhà Hán lấy núi Hoắc làm Nam Nhạc. Xin lệnh cho Trường quan Thọ châu xuân thu tế lễ." Xuống chiếu lệnh Lễ quan cùng Sùng Văn viện khảo xét kỹ. Tâu rằng: "Việc phụng tự đã lâu, khó mà đổi chế. Nếu núi Hoắc có việc cầu đảo hoặc có chiếu riêng sai tế, thì giao cho châu huyện phụng hành." Hoàng đế nghe theo.

Hậu cung Đỗ thị là cháu gái Chiêu Hiến Hoàng hậu. Hoàng đế cấm đúc vàng rất nghiêm, khi từ Đông phong trở về, Đỗ thị mặc đồ vàng ra nghênh giá, Hoàng đế thấy, nổi giận, bèn lệnh cho xuất gia ở Động Chân cung làm đạo sĩ. Từ đó thiên hạ không ai dám phạm lệnh.

Tri tạp Ngự sử Triệu Tương tâu: "Thần nghe lễ nghi triều đình, tiến thoái có độ. Thần thấy thường tham văn võ quan mỗi ngày vào triều, đều sớm đến Đãi lậu viện, đợi mở cửa nội môn thì cùng vào. Nay vì đến giờ Thìn mới cho vào triều, nên phần nhiều vào muộn. Xin cho 2 viên Tri ban khu sử thường trực ở chính nha môn trông coi, ai vào muộn thì ghi tên tâu lên. Lại nữa, khi gió mưa, nóng lạnh hơi nặng, thì nhiều người lấy cớ bệnh xin nghỉ. Xin giao cho Ngự sử đài cân nhắc tâu lên, sai quan đến khám, nếu rõ ràng là dối trá, thì đàn hặc." Hoàng đế nghe theo.

Tháng 9, ngày Nhâm Tý mồng 1, Nội cung phụng quan Vương Thừa Huân tâu: "Theo chiếu, ở Minh châu chặn cửa nước sông Chương, bản châu sai Quyền Thôi quan Tổ Bách Thế giám đốc binh phu, rất siêng năng, xin cho bổ chính chức." Hoàng đế nói: "Quan châu huyện, từ mạc chức mà được bổ, đều là đặc ân, nội thần há được bàn xin!" Liền lệnh Lại bộ tuyển quan thay thế.

Trước đó, sai Cung bị khố sứ Tạ Đức Quyền đào sông Kim Thủy làm kênh, từ Thiên Ba môn dọc theo Hoàng thành đến Càn Nguyên môn, qua Thiên Nhai, rẽ đông vòng quanh Thái miếu, đều lát gạch đá, trồng cây thơm, xe ngựa đi lại, lại chồng đá làm cầu. Xen kẽ làm giếng vuông, cung, chùa, nhà dân đều được múc nước. Lại dẫn nước về phía đông, theo cống dưới thành chảy vào hào. Kinh sư được tiện lợi. Ngày Đinh Mão, Đức Quyền tâu công việc đã xong, xuống chiếu lệnh Tông chính cáo miếu, ban tiền cho quân dịch.

Ty Tư thiên tâu: "Thái âm sẽ bị thực đến mức ‘kí’, vào ngày Tốn, là bản mệnh của Hoàng đế, xin cầu đảo tế lễ." Hoàng đế nói: "Quỹ đạo tinh tú đã định, sao có thể cầu đảo!" Không cho. Sau đó quan sát, không bị khuyết, Tể thần dâng biểu chúc mừng.

Ngày Nhâm Thân, Thủ châu Phòng ngự sứ Quảng Bình công Đức Di tâu: "Con gái thần gả cho Điện trực Quách Trung Hòa, gia tộc khá đông, muốn dựng riêng một nhà." Hoàng đế nói: "Trung Hòa có cha mẹ, nếu theo lời xin ấy, thì lễ con dâu thờ cha mẹ chồng sẽ thiếu sót." Không cho.

Ngày Ất Hợi, Vô Vi quân tâu gió lớn nhổ cây, phá cửa thành, doanh lũy, nhà dân, chết đuối hơn 1.000 người. Xuống chiếu sai Nội thần đến an ủi, miễn thuế năm sau, thu nhặt chôn cất người chết, mỗi nhà ban 1 hộc gạo.

Trước đó, Hoàng đế bảo Vương Đán và những người khác rằng: "Trẫm ở Đông kinh giảng Kinh Thư 7 lần, Luận Ngữ, Hiếu Kinh cũng đều vài ba lần. Nay chư Vương trong tông thất học tập, chỉ ở kinh sách, hôm qua tâu giảng đến quyển 5 Kinh Thư, đó rất đáng mừng." Bèn triệu Ninh vương Nguyên Phốc và những người khác đến Long Đồ các xem mục lục sách, Hoàng đế bảo rằng: "Trong cung thường nghe giảng sách, tập bắn, là hơn cả mọi việc khác." Nguyên Phốc nói: "Thần xin để Thị giảng Trương Dĩnh giảng Kinh Thư, ngày rảnh không bỏ cung tên, nhân đó trình bày nghĩa điển mô." Hoàng đế vui, bèn xuống chiếu mỗi ngày giảng đều ban ăn, lệnh Nội phó Đô tri Trương Kế Năng chủ việc ấy. Lại lo Nguyên Phốc và những người khác coi nhẹ bậc chuyên kinh, nên càng thêm răn dạy, đốc thúc.

Mùa thu năm ấy, các lộ Kinh Tây, Hà Đông, Thiểm Tây, Giang Hoài, Kinh Hồ, các châu Trấn, Định, Ích, Tư, Cung, Mật đều tâu được mùa, ở Kinh sư, 1 đấu thóc giá 30 tiền.

Mùa đông, tháng 10, ngày Quý Mùi, Hùng châu tâu nước Liêu sửa lại xây thành mới. Hoàng đế bảo các Phụ thần rằng: "Trong Thệ thư năm Cảnh Đức có ước không được xây mới, sửa thành trì, nay là cớ sao?" Trần Nghiêu Tẩu nói: "Họ trước đã trái lời thề mà sửa thành, cũng là lợi cho ta." Hoàng đế nói: "Há chẳng thà bỏ lợi mà giữ tín sao? Nên lệnh cho biên thần hỏi tội việc trái ước, bắt dừng lại."

Dân Hào châu là Tề Duệ, vì tội ác nghịch mà trốn, gặp lúc Đông phong, ra đầu thú, châu theo chiếu đại xá mà tha. Tri Định Viễn huyện Vương Trọng Vi tâu: "Thông phán, Độ chi viên ngoại lang Triệu Huống nhận 300.000 tiền của Duệ mà không tâu lên, xin xử tội nặng." Xuống chiếu đặc biệt chém Duệ, luận Huống tội làm trái pháp luật, cách chức làm dân.

Ngự sử trung thừa Vương Tự Tông tâu: "Ở Hứa châu nước đọng hại ruộng dân, là vì sông Huệ Dân không được giữ đê điều cẩn thận, mỗi năm đều vỡ, hư hại." Bèn xuống chiếu lệnh Hạp môn chỉ hậu Tiền Chiêu Hậu khảo sát. Chiêu Hậu xin đào sông Tiểu Vĩnh để phân dòng nước, Hoàng đế nói: "Tháo nguồn trên, há chẳng dời họa xuống hạ lưu sao?" Chiêu Hậu không đáp được. Phán Trần châu Thạch Bảo Cát lại tâu rằng sông này nếu lan rộng, thì châu sẽ bị nước xói, hại rất lớn. Bèn sai Bạch Bì phát vận phán quan Sử Oánh đến xem. Oánh xin sửa cửa Song Đẩu ở cửa sông Giảm Thủy, để buộc nước vào lạch Hươu, điều hòa chỗ tắc nghẽn, tràn ngập, tâu được chấp thuận. Nhân đó xuống chiếu lệnh Tam ban chọn người giỏi quen việc tuần hộ đê điều, khen chê theo phép Hoàng, Biện. Từ đó quan lại cẩn chức, thủy tai dần bớt.

Ngày Giáp Ngọ, xuống chiếu trong thiên hạ đều dựng Thiên Khánh quán. Lúc ấy ít người quen Đạo giáo, chỉ người Giang Tây, Kiếm Nam vốn tôn sùng, từ đó thiên hạ mới khắp nơi có đạo tượng. Điện trung Thị ngự sử Trương Sĩ Tốn dâng lời: "Nay việc xây dựng đua nhau nổi lên, xa gần không chịu nổi phiền nhiễu, xin nhân các quán cũ mà làm." Hoàng đế nghe theo.

Ngự sử trung thừa, Quyền phán Lại bộ tuyển Vương Tự Tông tính tình khinh suất, ưa tiến thân, rất ghi nhớ chỗ xấu của Phùng Chửng, lại kết giao với em Vương Đán là Húc, nhờ Húc chuyển ý đến Đán để làm chỗ dựa. Đán ghét hành vi xấu xa ấy, nên hết sức che chở Chửng, Tự Tông rất giận. Gặp lúc lâu không mưa, Tự Tông xin vào chầu, nhân đó nhặt nhạnh chuyện em họ của Tri chế cáo Vương Tằng là Khổng Miện bị Tằng vu cáo, cùng việc Hầu Đức Chiêu được ban áo tía theo thứ tự ân xá, Lý Vĩnh Tích vì tội tham ô bị cách chức, lại được phục chức cũ, muốn nhân đó khen Đán. Hoàng đế nói: "Chỉ những việc ấy mà gây ra hạn hán sao?" Tự Tông lý kém, lại lấy lời khác công kích Đán; Đán không tranh biện, bèn thôi. Tháng ấy, Tự Tông lại xin vào chầu, nói: "Hình chính có sai, nên thành tai họa, khí độc." Nhân đó lại nói: "Khổng Miện bị oan, truyền khắp miệng người, mà Vương Tằng vẫn ở gần ban, xin bày tỏ việc giáng chức, thần xin dâng biểu tâu rõ." Hoàng đế bảo Vương Đán và những người khác rằng: "Tằng thật không có tội; nếu Tự Tông dâng biểu, cũng phải xử lý." Đán nói: "Miện có nhiều dấu vết không tốt, chỉ vì là hậu duệ Tuyên Thánh, không muốn tra xét đến cùng, nói là Miện bị oan làm tổn thương hòa khí, e rằng chưa hợp lẽ." Hôm sau, Tự Tông lại vào chầu, bèn tạ lỗi vì lời nói trước, Hoàng đế khoan dung.

Tháng 11, ngày Nhâm Tý mồng 1, Tri Đặng châu Trương Tri Bạch tâu: "Dân lưu tán Thiểm Tây liên tiếp vào cõi, có người muốn về bản quán mà không có lương ăn đường. Thần dụ khuyên hào dân xuất vài nghìn hộc thóc, tính theo đầu người mà cấp, lấy nửa tháng làm hạn, tổng cộng trên đường có 2.300 nhà, hơn 10.200 miệng ăn, phần thóc còn dư thì cấp cho người già nghèo." Xuống chiếu khen thưởng.

Vệ úy khanh, Quyền phán Hình bộ Thận Tòng Cát tâu: "Theo chiếu năm Thuần Hóa thứ 3, các châu tâu ‘ngục trống’, phải là Ty Tư lý viện, châu ty, huyện giáp thành đều không có tù nhân; lại theo chiếu sau, các lộ từ nay nếu ngục trống thì không xuống chiếu khen thưởng nữa. Thần thấy Ty Đề điểm hình ngục tâu ‘ngục trống’ phần nhiều không hợp chiếu cũ, ngoại châu mong được khen thưởng, chuộng hư danh. Gần đây Bân, Thương 2 châu xét xử tử tù, trong một đêm chém mấy người, trước đó xét hỏi sơ sài. Đời trước ở Kinh sư xử án tử còn phải 5 lần tâu, là để cẩn trọng đại hình, há nên trong một ngày đã xử tử! E rằng có oan uổng, chỉ cốt cho ‘ngục trống’. Xin theo chiếu trước, không ban khen thưởng." Hoàng đế nghe theo.

Ngày Bính Thìn, Hoàng đế soạn “Văn võ thất điều giới quan lại”, bảo Tể tướng rằng: "Chế độ nhà Hán, Thứ sử dùng 6 điều để hỏi việc, Gia Cát Lượng có ‘Võ thần thất giới’, trẫm nay tham khảo yếu đạo để răn nhắc quần thần. Lại nghĩ Tiên triều dùng thiên ‘Nho hành’ ban cho cận thần, nay có thể cùng ban một quyển."

Ngày Giáp Tý, xuống chiếu: "Các lộ quan lại nếu có chính sự ngu muội, hại dân, tra xét được thực, mà bản lộ Chuyển vận sứ, Đề điểm hình ngục ty không tiến cử, tra xét, thì luận tội." Trước đó, Tri Tần châu Tề Hóa Cơ, Tri Phu châu Hà Sĩ Tông đều vì tội tham ô mà bị xử theo pháp, Giám ty lúc đầu không tâu, nên mới nhấn mạnh chiếu này.

Hoàng đế bảo Tể tướng rằng: "Nghe nói Thôi cung Lũng châu là Trần Tiệm không giữ mình trong sạch, Chuyển vận sứ vì là cháu Trần Nghiêu Tẩu nên không dám đàn hặc, trước đây vì trái phép mà bị hặc, Nghiêu Tẩu đặc biệt xin cho bãi chức. Từ nay nếu như thế, tất phải xử tội."

Tháng 12, ngày Ất Dậu, Thái hậu nước Liêu lâm bệnh. Ngày Mậu Tý, ban lệnh đại xá. Ngày Tân Mão, Thái hậu băng, thọ 57 tuổi.

Thái hậu am hiểu chính sự, biết dùng mưu hay. Vốn quen việc quân, trong trận Thiền Uyên, thân ngự chiến xa, chỉ huy ba quân, thưởng phạt rõ ràng, tướng sĩ liều chết. Bà dạy Liêu chúa rất nghiêm, lúc Liêu chúa mới lên ngôi, nếu trong phủ khố cần một vật, tất hỏi rõ dùng vào việc gì, nếu là ban cho văn võ thần liêu thì cho, không phải thì không cho. Liêu chúa vốn không dự chính sự, buông mình vào săn bắn, nếu có kẻ hầu cận đùa giỡn với Liêu chúa, Thái hậu biết, tất đánh roi người ấy, Liêu chúa cũng không tránh khỏi bị mắng hỏi. Y phục, ngựa cưỡi của Liêu chúa đều do Thái hậu kiểm soát. Chưa bao lâu sau khi trả chính sự, bà băng, Liêu chúa thương xót đến gầy trơ xương, khóc đến nôn ra máu.

Ngày Tân Sửu, Tam ty sứ Đinh Vị và những người khác dâng “Thái Sơn phong thiện triều cận tường thụy đồ” 150 bức, Chiêu tuyên sứ Lưu Thừa Khuê dâng “Thiên thư nghi trượng đồ”, triệu cận thần đến xem ở Tư Phúc điện, rồi lại cho bá quan xem ở triều đường.

Tiết độ sứ Thiên Bình của nước Liêu là Da Luật Tín Ninh, vì việc tang Thái hậu, cưỡi ngựa trạm gấp đến báo tin, Trác châu trước hết gửi công văn cho Hùng châu, Hùng châu tâu lên. Ngày Giáp Thìn, xuống chiếu bãi triều 7 ngày, lệnh cho Lễ quan khảo định rõ chế độ phục tang, lại sai Thái thường bác sĩ Vương Tùy (王隨) làm sứ tế điếu, Thái thường bác sĩ Vương Thự (王曙) cùng những người khác làm sứ điếu úy, ban phúng viếng 5 bộ áo, lụa là gấm vóc 10.000 tấm. Ngày Ất Tị, sứ sang mừng tiết Nguyên đán của nước Liêu là Da Luật Đặc Lỗ Cổ vào chầu, xong trở về quán, lệnh cho Khách tỉnh sứ Tào Lợi Dụng lấy công văn của Trác châu đưa cho xem. Ngày Mậu Thân, sứ báo tang là Da Luật Tín Ninh đến nơi, Ngạch môn sứ nhận thư dâng vào trong, xuống chiếu cho Đặc Lỗ Cổ cùng những người khác đến chùa Khai Bảo thiết lập linh vị, cử ai tế khóc, bá quan đến dịch đô đình dịch để điếu viếng.

Ngày Kỷ Dậu, Hoàng đế ở cửa Đông trong cung mặc áo tang, phát tang khóc, quần thần dâng danh thiếp vào chầu, dâng lời úy lạo.

Triệu Đức Minh suất lĩnh thuộc hạ xuất quân xâm lấn Hồi Cốt, có sao chổi dài hiện ra giữa ban ngày, Đức Minh sợ hãi bèn lui quân về.

Năm ấy, nước Liêu lần đầu tiên ở trước ngự tiền mở khoa dẫn thí tiến sĩ, cho đỗ Lưu Tam Nghi cùng 3 người.

Năm Đại Trung Tường Phù thứ 3 (Liêu, Thống Hòa năm thứ 28), Công nguyên năm 1010

[sửa]

Mùa xuân, tháng giêng, Chung Phóng trở về núi Chung Nam. Hoàng đế bảo các Tể tướng rằng: "Phóng ẩn cư chăm học, từng nói xưa nay khác thời, không nên trái thời mà bắt chước cổ, lời ấy là gần với lẽ nhất." Bèn xuống chiếu triệu Phóng vào kinh. Phóng dâng biểu xin cho cáo lão, Hoàng đế cho phép, lại làm một bài ca ban cho, đồng thời sai mang áo quần, đồ dùng, tiền tệ tặng, lệnh cho Kinh Triệu phủ mỗi quý sai một viên mạc chức lên núi thăm hỏi. Phóng xin chức cho em là Mẫn, liền cho làm Chính tự ở Bí thư tỉnh.

Tri Thiên Hùng quân là Khấu Chuẩn tâu: "Dũng sĩ ở Trấn Vũ đưa đón sứ Liêu qua địa giới, thần đã cấp tiền sắm sửa hành trang cho từng người." Hoàng đế bảo các Phụ thần rằng: "Khấu Chuẩn ưa thu góp lòng người để cầu hư danh, các khanh nay đã thấy rồi đó." Bèn xuống chiếu bảo Chuẩn, không được tự tiện ban cấp, lệnh phải hoàn tiền bồi hoàn cho quan.

Tháng 2, Liêu chúa đi đến Trường Lạc.

Ngày Ất Dậu, Đinh Vị xin trong tiết Thừa Thiên cấm giết mổ và thi hành hình phạt, liền theo đó mà làm.

Ngày Quý Tị, dân ở Thăng châu vì Tri châu Trương Vịnh mãn nhiệm, xin cho ông ta được lưu nhiệm; liền cho Vịnh làm Công bộ Thượng thư, lệnh tái nhiệm chức cũ, lại ban chiếu khen thưởng.

Giao châu Lê Chí Trung hà khắc tàn bạo, người trong nước không theo, Đại hiệu úy Lý Công Uẩn được Chí Trung thân cận tin dùng, bèn đuổi Chí Trung ra khỏi thành rồi giết đi. Hai em ông ta là Minh Đề, Minh Xưởng tranh nhau lập, Công Uẩn lại giết cả hai, tự xưng Lưu hậu, sai sứ sang dâng cống. Hoàng đế nói: "Lê Hoàn được nước bằng điều bất nghĩa, Công Uẩn lại bắt chước theo, thật rất đáng ghét. Nhưng phong tục man di thì đâu đáng trách cứ quá! Hãy theo như chuyện cũ của Hoàn mà ban cho quan tước."

Hữu Bộc xạ, kiêm Phán Đô tỉnh Trương Tề Hiền tâu rằng ở cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng vẽ nhiều hình điềm lành, làm tổn hại đức khiêm tốn và trái với ý kính phụng Trời, lại nhiều lần xin bãi bỏ việc xây dựng cung điện, mà không được nghe theo. Ngày Tân Sửu, Tề Hiền bị điều ra làm Phán Mạnh châu.

Tháng nhuận, ngày Giáp Dần, Chính ở Đông quan là Hàn Hiển Phù chế tạo xong khí đồng Hậu Nghi, đồng thời dâng bộ sách Kinh 10 quyển do ông soạn; phép chế tạo thì dựa theo phép cũ của Lý Thuần Phong và Nhất Hành đời Đường.

Ngày Kỷ Mùi, Hà Bắc chuyển vận sứ Lý Sĩ Hành tâu: "Các quân ở bản lộ mỗi năm được cấp 700.000 tấm lụa. Đến mùa xuân, dân phần nhiều túng thiếu, thường phải vay mượn nhà hào phú, rồi mới nộp thuế, lại trả nợ cũ, vì thế lợi lộc của nghề dệt càng mỏng. Xin cho quan trước cấp lụa tiền, để đến kỳ thì nộp; dân đã được lợi, mà quan cũng đủ dùng." Chiếu cho theo, lại lệnh trả giá ưu đãi. Về sau bèn mở rộng phép ấy ra khắp thiên hạ.

Ngày Giáp Tuất, mở rộng sửa sang Xạ đường, đổi tên là Kế Chiếu đường, bày màn trướng, đặt âm nhạc, cho sĩ dân vào du ngoạn 3 ngày.

Tháng 3, ngày Nhâm Thìn, lấy Quyền Tĩnh Hải quân Lưu hậu Lý Công Uẩn làm Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân, phong Giao Chỉ quận vương, ban áo đai, đồ dùng, tiền tệ.

Ngày Đinh Dậu, Hoàng đế bảo Vương Đán cùng những người khác rằng: "Từ khi biên giới phía bắc hòa hiếu, cõi bờ không xao động, trẫm ở trong yên mà lo lúc nguy, chẳng dám nhàn rỗi, từng soạn văn để tự răn, đặt bên hữu tòa ngồi." Bèn đem các bài “Quý Lẫm”, “Thực Trân”, “Điền Phu Ngâm”, “Niệm Nông Ca”, “Tự Giới Châm” ra cho Đán cùng xem.

Ngày Quý Mão, nước Liêu dâng thụy cho Thái hậu là Thánh Thần Tuyên Hiến Hoàng hậu.

Hoàng đế làm bài “Niệm Biên thi”, ban cho các cận thần họa lại.

Hoàng đế bảo các Phụ thần rằng: "Tài năng tướng soái là khó có. Nay tuy thiên hạ vô sự, nhưng binh không thể bỏ, chiến không thể quên, đó là đạo xưa." Mã Tri Tiết nói: "Tài tướng soái không thể ngồi mà biết được, cốt xem khi lâm sự cơ biến ra sao mà thôi. Đời Hàm Bình, tài lược tướng soái không ai nghe thấy, sắp đặt không thỏa đáng, không thể chống giặc, ấy là vì chưa được người vậy." Hoàng đế nói: "Tri Tiết trấn giữ biên phòng đã lâu, kế sách nào là hay?" Tri Tiết nói: "Đất biên phòng, tuy trải ngang rất dài, nhưng nắm chỗ hiểm yếu để chẹn đường tiến của chúng, thì từ Thuận An quân đến Tây Sơn không quá 200 dặm. Nếu bày trận ở đó, đặt nhiều quân ứng viện, khiến chúng lâu ngày không thể tiến, quân chúng mỏi mệt suy kiệt, bấy giờ dùng kỳ binh kỵ nhẹ áp sát mà quấy nhiễu, nếu dám đến xâm phạm, thì lập tức sai tướng thâm nhập, liều chết giao chiến, ắt chúng sẽ không kịp xoay trở mà tan vỡ. Nay các tướng ưa dùng kỵ binh, lấy nhiều làm thắng; mà kỵ binh nhiều thì dàn khắp sông núi, mà chỗ dùng lại có hạn, nếu cứ bức bách mà tiến lên, chỉ hơi bất lợi một chút thì không ai có thể ngăn lại, đó không phải là quân có tiết chế. Thần từng nói, người giỏi dùng kỵ binh không lấy nhiều làm quý, chỉ cần đặt phục binh, xem xét quân giặc ít nhiều, đo địa thế hiểm hay dễ, giặc ít thì áp sát mà đánh, giặc đông thì tụ lại mà công kích, thường dựa vào thành ấp làm nơi quân quay về, ắt không trận nào không thắng."

Bấy giờ người Liêu đã kết minh, các đại thần đang bàn nói điềm lành, Tri Tiết thường không tán đồng, từng nói thiên hạ tuy yên, không thể quên chiến. Nhân đó tự bày tỏ: "Tuổi tác thần chưa già, trong vòng 5–7 năm nữa vẫn còn có thể thúc ngựa xông pha, nếu biên phương có báo động, xin được dự vào hàng ngũ xuất chinh, chỉ cần cho thần chức danh Phó bố trí, cùng vài con ngựa tốt, một bộ giáp nhẹ là đủ." Hoàng đế cho là phải, bèn lệnh chế áo giáp khóa bằng thép cương ban cho ông ta.

Mùa hạ, tháng 4, Trấn An Tiết độ sứ, Đồng Bình chương sự, Phò mã Đô úy Thạch Bảo Cát mất ở kinh sư. Hoàng đế bãi triều 3 ngày, truy tặng Trung thư lệnh, thụy là Trang Vũ. Gặp lúc đầu mùa hạ tế hưởng Thái miếu, chưa thể đến viếng tang ngay, sai sứ bảo với gia đình, sau khi lễ xong mới đến khóc viếng.

Bảo Cát nhiều đời làm tướng làm tướng quốc, nhà giàu có của cải, tính kiêu ngạo, từng trải các phiên trấn, đối đãi thuộc lại không theo lễ. Khi làm Soái ở Đại Danh, Diệp Tề, Tra Đạo đều là danh sĩ, ông ta đều sai xiềng cổ để thúc ép việc vận lương. Hoàng đế từng ban mật chiếu răn bảo.

Trước đó, Tào Vĩ và Trương Sùng Quý dâng bản đồ núi sông, thành trại của các châu quân hai lộ Kinh Nguyên, Hoàn Khánh. Ngày Kỷ Mùi, Hoàng đế đem ra cho Vương Khâm Nhược cùng những người khác xem, nói: "Sắp đặt đều rất thỏa đáng, đến việc trữ bị cũng cực kỳ tường tận, nên lệnh vẽ riêng 2 bản đồ, đóng ấn Khu mật, một bản giao cho bản lộ, một bản lưu ở Khu mật viện, căn cứ bản đồ mà tính việc."

Ngày Tân Dậu, ban hiệu Trinh Tố tiên sinh cho ẩn sĩ ở Thái Sơn là Tần Biện, cho trở về núi. Biện tự nói mình 130 tuổi, Hoàng đế triệu vào kinh, cùng nói chuyện, phần nhiều nói việc đời Ngũ đại, cũng không có gì kỳ lạ khác, chỉ là biết dùng thuốc dưỡng sinh nên sống lâu mà thôi.

Ngày Quý Hợi, xuống chiếu: "Mạc chức, quan châu huyện, trừ lộ Quảng Nam, Phúc Kiến cho phép vay trước tiền bổng lộc ra, thì Giang Chiết, Kinh Hồ là nơi xa, các châu Lân, Phủ, v.v., cùng các châu quân dọc biên Hà Bắc, Hà Đông, từ nay đều cho phép vay trước 2 tháng bổng lộc, các nơi gần khác thì 1 tháng."

Ngày hôm ấy, cung phi họ Lý sinh con trai. Tri Khai Phong phủ là Chu Khởi đang tâu việc, Hoàng đế bảo Khởi: "Khanh biết trẫm có việc vui chăng?" Khởi nói: "Thần không biết." Hoàng đế nói: "Trẫm vừa sinh con trai." Liền vào cấm cung, ôm vàng tiền ra, thò tay lấy ban cho Khởi. Lý thị là người Hàng châu, lúc mới vào cung, hầu hạ Lưu Tu nghi, đoan trang ít nói, Hoàng đế sai làm Ty tẩm. Khi đã có thai, theo Hoàng đế lên thềm đài, trâm ngọc rơi xuống, trong lòng lấy làm điềm xấu. Hoàng đế riêng xem quẻ, nói trâm còn nguyên thì sẽ sinh con trai; người hầu nhặt trâm dâng lên, quả nhiên không sứt mẻ, Hoàng đế rất mừng. Sau quả nhiên sinh con trai, tức là Nhân Tông. Về sau phong Lý thị làm Sùng Dương huyện quân.

Ngày Giáp Tý, nước Liêu an táng Thái hậu ở Càn lăng, và ban cho Đại Thừa tướng Gia Luật Đức Xương tên là Long Vận. Ngày Canh Ngọ, ban nhà và đất táng kèm.

Quần thần nước Liêu dâng lời rằng: "Sơn lăng đã xong, nên đổi niên hiệu." Liêu chúa nói: "Đổi niên hiệu là lễ cát tường. Đang để tang mà làm lễ cát tường, là bất hiếu." Quần thần nói: "Các Hoàng đế đời trước đổi ngày thay tháng, nên theo phép cũ." Liêu chúa nói: "Thà trái phép cũ, chứ không làm kẻ bất hiếu."

Thái thường bác sĩ Thạch Đãi Vấn dâng mười mấy điều sách lược thời vụ, đại để nói: "Biến loạn ở phương bắc, hoặc là bội ước với Trung Quốc, hoặc là bị em đoạt ngôi. Xin chọn tướng luyện binh, để sẵn sàng phòng bị." Lại nói: "Tiên triều nhiều lần dùng bọn Trung nhân lấn át tướng soái, nên ít khi có công." Hoàng đế nói: "Bề tôi chỉ trích thời chính, có liên quan đến lỗi lầm của trẫm, tuy không hợp lẽ, cũng nên khoan dung. Đãi Vấn lại đem những việc trong chế độ tổ tông không hề có, mà mặc sức bịa đặt, đó là không thể tha thứ!" Liền lệnh cho Hàn lâm học sĩ Lý Tông Ngạc tra hỏi, Đãi Vấn bí lời, sau đó bị giáng làm Đoàn luyện phó sứ ở Sở châu, không được ký tên cùng cai quản việc châu.

Ngày Ất Hợi, xuất 5 triệu tiền trong Nội khố chuộc lại ngôi nhà cũ của cố Tể tướng Lữ Đoan, ban cho con là Phan. Trước đó, Hoàng đế bảo Vương Đán cùng những người khác rằng: "Các con của Đoan đều còn nhỏ, con trưởng là Phan chân đau, việc nhà không lo liệu được, nhà cũ đã cầm cố cho người ta, anh em không ở chung, hôm qua trẫm sai Trung sứ đến xem, Phan chống gậy dâng biểu, xin ban cho chức vụ. Trẫm nghĩ, không bằng xuất tiền Nội khố chuộc lại nhà cũ, cho anh em cùng ở. Lại nữa, cho thuê nhà mỗi ngày được 1.000 tiền, có thể nuôi dưỡng. Nhưng Phan khá nhu nhược, nên phải dụ rằng, phàm có chi dùng, đều phải ghi sổ, mỗi năm nộp lên Nội thị tỉnh." Sau 6 năm, Phan cưới vợ cho em là Úy, lại dâng biểu dâng nhà ở, xin ban thêm, lại nói là nợ tiền lãi của người ta rất nhiều. Đán nói: "Bệ hạ thương cô côi, nhớ người đã mất để khuyến khích bề tôi, mà Phan lại nhiều phen làm phiền thánh ý, không thể nghe." Hoàng đế nói: "Nên lại xuất vàng lụa trong Nội khố ban cho, để trả nợ cũ. Em Phan là Tuân, vẫn cho chức vụ ở Tây Kinh, lệnh Phan cùng đi, từ nay không được vay mượn tài vật của người khác, sai hữu ty trông coi tiền thuê nhà cấp cho gia đình họ, lại xuống chiếu cho Khu mật viện xét việc hoang phí của họ." Đán nói: "Bệ hạ ban ân trước sau đã đến cùng cực rồi, đời Đường niên hiệu Nguyên Hòa, trả lại nhà cũ cho Ngụy Trưng, chỉ xuống một đạo chiếu, nào có khi nào quanh co như thế này đâu?"

Tháng ấy, Tri Hùng châu kiêm Hà Bắc An phủ sứ Lý Doãn Tắc tâu rằng đã lâu trấn thủ biên giới, xin cho nghỉ phép, tạm đi trạm ngựa vào kinh, chiếu cho phép.