Tục tư trị thông giám/Quyển 29
Năm Đại Trung Tường Phù thứ 3 (Liêu, Thống Hòa năm thứ 28), Công nguyên năm 1010
[sửa]Tháng 5, ngày Kỷ Mão mồng 1, Liêu chúa đi Trung Kinh.
Ngày Bính Tuất, An Định quận vương Duy Cát qua đời. Ông là con của Ngụy vương Đức Chiêu, hiếu học, giỏi làm văn, tinh thông các thể chữ thảo, lệ, phi bạch. Tính hết sức hiếu thuận. Lúc đầu, Thái Tổ sai Hiếu Chương hoàng hậu nuôi dưỡng ông, đến khi hoàng hậu mất, ông thương xót còn hơn mẹ đẻ; mỗi lần đọc Kinh Thi đến câu "sinh ngã cù lao" (sinh ta nhọc nhằn), nước mắt nước mũi tuôn rơi, trong tông thất đều khen là hiền. Ban thụy là Khang Hiếu.
Ngày Giáp Ngọ, xuống chiếu khen thưởng Tri Ích châu Nhậm Trung Chính, do Ty chuyển vận tâu rằng quan lại, dân chúng đều dâng trạng xin lưu ông lại. Trung Chính và Lưu Tông ở Tịnh châu đều nổi tiếng vì chính sự tốt đẹp. Hoàng đế bảo các Phụ thần rằng: "Biên phiên là nơi trọng yếu, cốt ở chỗ dùng được người. Từ nay phải trải qua các nơi trấn nhậm, rồi sau mới có thể cất nhắc làm đại thần, các khanh nên biết rõ điều ấy."
Ngày Tân Sửu, ở Kinh sư mưa to, nước ngập mấy thước trên mặt đất bằng, nhà cửa sụp đổ, có dân bị đè chết, ban cho vải lụa.
Trước đó, vợ của Cao Ly quốc vương Vương Trị là Hoàng Phủ thị cho người bên ngoài là Kim Trí Dương ra vào cung cấm, người ta đồn là có tư thông. Vương Trị đánh roi Trí Dương, đày đi xa. Vương Trị mất, con là Tụng nối ngôi, lúc ấy 18 tuổi. Hoàng Phủ phu nhân nhiếp chính, triệu Trí Dương về cho làm Hợp môn thông sự xá nhân, chẳng mấy năm, được sủng ái, vinh hiển không ai sánh kịp. Hoàng Phủ sinh một con trai, chính là con tư sinh với Trí Dương, mưu lập làm đứa bé đó làm vua. Vương Tụng có người em con chú là Tuân, hiệu là Đại Lương viện quân, Hoàng Phủ phu nhân ghen ghét, ép buộc Tuân đi tu làm sư, lại sai người ngầm gia hại, nhờ sư trong chùa giấu đi nên được thoát.
Vương Tụng lâm bệnh, bí mật triệu Cấp sự trung Thái Trung Thuận, bảo phải phò lập Tuân, không để cho nước rơi vào tay người khác họ. Trung Thuận bàn nên sai người đi đón Tuân, và triệu Tây Bắc diện tuần kiểm sứ Khang Triệu vào bảo vệ. Triệu nghe lệnh triệu, đi đến Đồng châu, bọn Chủ thư dưới trướng là Ngụy Tòng, Chưởng thư ký Thôi Xương Tố vốn oán Vương Tụng, mưu làm loạn, bảo với Triệu rằng: "Nhà vua bệnh nặng, sống chết chỉ trong chốc lát, nên đi chậm để xem biến." Triệu do dự không tiến. Hoàng Phủ phu nhân nghe tin Triệu sắp đến, ghét lắm, bèn sai Nội thị Thủ Tiết lĩnh quân ra ngăn. Cha Triệu ở Vương kinh, biết mối hiềm khích đã mở, bèn viết thư nhét vào trong gậy trúc, sai một nô bộc cạo tóc làm sư, bảo đi báo cho Triệu rằng: "Vua đã mất, bọn gian hung nắm quyền, nên gấp rút khởi binh đến!" Nô bộc ngày đêm chạy gấp đến chỗ Triệu, kiệt sức mà chết. Triệu mổ gậy lấy thư, tin là thật, bèn suất 5.000 quân giáp kỵ, lớn tiếng nói là vào để bình định quốc nạn. Đến Bình châu, mới biết Vương Tụng chưa mất, bèn ủ rũ cúi đầu rất lâu. Bọn đồng đảng nói: "Đã đến đây rồi, không thể dừng lại." Ý Triệu bèn quyết, phế Vương Tụng làm Nhượng Quốc công, giết Trí Dương, dời Hoàng Phủ phu nhân đến Hoàng châu, đày thân thích của bà ta ra các đảo ngoài biển; sai quân đón Tuân, lập làm vua. Tuân phong Triệu làm Tây Kinh lưu thủ. Triệu sau đó giết Vương Tụng ở huyện Tích Thành.
Liêu chúa bảo quần thần rằng: "Khang Triệu giết vua là Tụng mà lập Tuân, rồi nhân đó làm Tể tướng, là kẻ đại nghịch, ta nên phát binh hỏi tội chăng?" Quần thần đều nói: "Nên." Quốc cữu Tường Cổn Tiêu Địch Lý can rằng: "Nước nhà nhiều năm chinh phạt, binh sĩ đã mệt mỏi. Huống chi bệ hạ đang ở trong thời gian để tang, mùa màng thất bát, vết thương chưa lành. Cao Ly là nước nhỏ, thành lũy kiên cố, thắng cũng chẳng phải là võ công, vạn nhất thất lợi, e để lại hối hận về sau. Chi bằng sai một sứ giả, hỏi cho rõ duyên cớ, nếu chúng chịu cúi đầu nhận tội thì thôi, nếu không, khởi binh cũng chưa muộn." Liêu chúa quen thắng lợi trong việc nam phạt, không nghe, ngày Bính Ngọ, xuống chiếu cho các đạo sửa sang giáp binh để chuẩn bị đông chinh.
Tháng 6, ngày Canh Tuất, nước Liêu sai sứ sang xin mua thóc, xuống chiếu cho Hùng châu bán 20.000 thạch thóc, lấy giá rẻ để cứu giúp.
Tri Hà Trung phủ Dương Cử Chính tâu rằng phụ lão, tăng đạo trong phủ có 1.290 người dâng trạng xin xa giá thân đến tế Hậu Thổ, chiếu không cho.
Ngày Bính Thìn, ban cho các châu bài văn "Thích điến Huyền Thánh Văn Tuyên vương miếu" cùng "Đồ vẽ lễ khí tế tự".
Chiếu: "Năm trước dân đói ở Thiểm Tây có người bán con, quan phải chuộc lại trả về cho gia đình họ."
Hàn lâm Thị độc học sĩ, Lễ bộ Thượng thư Quách Trật qua đời. Hoàng đế vì tình nghĩa thầy trò cũ, thân đến khóc, ngừng chầu 3 ngày, truy tặng Tả Bộc xạ, ban thụy Văn Ý. Trật thích tiến cử, đề bạt người sau, Tống Bạch, Triệu Xương Ngôn đều là do ông tiến cử.
Hàn lâm Thị độc học sĩ, Lễ bộ Thượng thư Hình Bỉnh bị bệnh xin nghỉ. Ngày Nhâm Tuất, Hoàng đế thân đến thăm hỏi, ban cho một hòm thuốc. Theo lệ cũ, không phải tông thất, tướng quốc thì không có lễ đến thăm bệnh, dự tang, chỉ riêng Quách Trật và Bỉnh vì ân cũ mà được đặc cách. Đến khi Bỉnh mất, ngừng chầu 2 ngày, truy tặng Tả Bộc xạ. Lúc Hồng Trạm bị tội, Bỉnh góp phần rất lớn, Vương Kham Nhược ghi ơn đó, Bỉnh được sủng ái, cũng là do Kham Nhược nâng đỡ.
Mùa thu, tháng 7, ngày Bính Thân, Hộ bộ Thượng thư Ôn Trọng Thư qua đời, truy tặng Tả Bộc xạ, ban thụy Cung Túc. Trọng Thư thuở nhỏ thân thiết với Lữ Mông Chính, lại cùng đỗ một khoa. Trọng Thư bị giáng, bỏ phế nhiều năm, Mông Chính ở Trung thư, hết sức kéo lên; đến khi được dùng, lại quay sang công kích Mông Chính, sĩ luận chê trách ông ta.
Ngày Kỷ Hợi, chiếu: "Từ Đại tướng quân Nam cung, Bắc trạch trở xuống đều phải đến Thư viện giảng học kinh sử. Các con trai từ 10 tuổi trở lên đều phải vào học, mỗi ngày học kinh thư, đến quá trưa mới nghỉ; lại giao cho quan Thị giáo, Giáo thụ, Bạn độc khuyên bảo, không được để biếng nhác."
Ngày Tân Sửu, văn võ quan, tướng hiệu, người già, đạo sĩ, tăng nhân hơn 30.000 người đến cửa khuyết xin tế Hậu Thổ ở Phần Âm, không được cho. Biểu dâng 3 lần, đến tháng 8, ngày Đinh Mùi mồng 1, chiếu định sang năm xuân sẽ cử hành lễ ở Phần Âm.
Ngày Mậu Thân, lấy Tri Khu mật viện sự Trần Nghiêu Tẩu làm Tế Phần Âm Kinh độ chế trí sứ, Hàn lâm học sĩ Lý Tông Ngạc làm phó.
Hà Bắc chuyển vận sứ Lý Sĩ Hành dâng 30 vạn tiền lụa để giúp chi phí, chiếu khen thưởng.
Ngày Kỷ Dậu, phát 5.000 quân Thiểm Tây, Hà Đông đến Phần Âm làm dịch dịch, đặt trạm dịch "cấp cước", xuất ngựa trong Thái thú, tăng số quân dịch ở các trạm dịch lên hơn 8.000 người.
Ngày Canh Tuất, lệnh cho Hàn lâm học sĩ Triệu Duệ, Dương Ức cùng với Thái thường Lễ viện xét định nghi chế tế Hậu Thổ ở Phần Âm.
Chiếu: "Đường đi Phần Âm cấm săn bắn, không được xâm chiếm ruộng dân, theo như phép khi Đông phong (tế Thái Sơn)."
Ngày Nhâm Tý, Thăng châu, Hồng châu, Nhuận châu liên tiếp bị cháy, sai sứ đến an ủi, tế tự sông núi trong địa giới.
Ngày Giáp Dần, triệu các cận thần đến xem sách ở Long Đồ các, Hoàng đế xem "Nguyên Hòa quốc kế bộ", Tam ty sứ Đinh Vị tâu rằng: "Đời Đường, mỗi năm từ Giang Hoài vận 40 vạn thạch gạo đến Trường An, nay là hơn 500 vạn, phủ khố đầy ắp, kho tàng dồi dào." Hoàng đế nói: "Phong tục dân chúng yên ổn, giàu có, thật nhờ trời đất, tông miếu ban phúc, mà quốc khố có dự trữ, cũng là do các quan tính toán dốc sức." Vị lạy tạ hai lần.
Ngày Đinh Tỵ, chiếu: "Huyện Bảo Đỉnh không được đánh roi người, kẻ có tội đều giải lên phủ để đuổi đi."
Ngày Canh Thân, Giải châu tâu rằng muối ở ao tự mọc không cần gieo, vị rất ngon; lấy phần tinh khiết, sáng đẹp nhất dâng lên. Chiếu sai sứ tế miếu Ao.
Ban cho Đại lý Bình sự Tô Kỳ đỗ Tiến sĩ. Kỳ là con của Dịch Giản, con rể của Tể tướng Vương Đán. Trước kia Kỳ dự thi Tiến sĩ, đến khi xướng bảng, bị gạt sang các khoa khác, Tri Khu mật viện Trần Nghiêu Tẩu tâu rõ với Hoàng đế, Hoàng đế quay hỏi Đán, Đán đứng tránh sang một bên, không đáp. Kỳ nói: "Xin cho về huyện tu học." Ra ngoài, Nghiêu Tẩu bảo Đán: "Ngài chỉ cần một lời, thì Kỳ sẽ đỗ Tiến sĩ." Đán cười nói: "Hoàng thượng thân ngự điện thi sĩ tử thiên hạ, là để tỏ chí công. Ta làm Tể tướng, nếu tự tiến cử thân thuộc trước long đình, sĩ tử đầy sân, há chẳng là thất lễ sao?" Nghiêu Tẩu hổ thẹn tạ rằng: "Nay mới biết Tể tướng thật có phong độ riêng." Đến đây, Kỳ dâng bài văn mình làm, được triệu vào thi ở Học sĩ viện, rồi có chiếu này. Con rể trưởng của Đán là Điện trung thừa Hàn Ức ở Ung Khâu cũng từng dâng văn mình làm, Hoàng đế rất muốn triệu vào thi, Đán hết sức từ chối. Theo lệ, Ức phải giữ chức ở một quận xa, Hoàng đế đặc biệt triệu kiến, đổi làm Thái thường bác sĩ, Tri Dương châu. Đán riêng bảo con gái rằng: "Hàn lang vào Xuyên, con cứ về nhà ta, đừng lo. Nếu ta có cầu xin gì với hoàng thượng, sau này người ta sẽ chỉ Hàn lang là kẻ nhờ cha vợ tâu xin mà khỏi đi xa, thì cái hại ấy chẳng nhỏ đâu." Ức nghe, mừng nói: “Ông đối đãi với tôi thật hậu."
Ngày Bính Dần, Liêu chúa đến bái Hiển lăng, Càn lăng.
Ngày Đinh Mão, quần thần dâng biểu 5 lần xin tôn thêm tôn hiệu; không cho.
Liêu chúa thân cầm quân đánh Cao Ly, lấy Hoàng đệ Sở vương Long Dụ ở lại giữ Kinh sư, Bắc phủ Tể tướng, Phò mã đô úy Tiêu Ba Nhã Nhĩ làm Đô thống, Bắc diện Lâm Nha Tiêu Tăng Nỗ làm Đô giám.
Ngày Tân Mùi, lệnh cho Tào Lợi Dụng tế sông Phần.
Hữu ty định nghi lễ tế Hậu Thổ, đo đạc sân miếu, chọn đất đào huyệt, các thứ ngọc sách, ngọc quỹ, thạch quỹ, thạch cảm, ấn báu, đều theo như chế độ tế Xã Thủ; chiếu cho theo đó.
Ngày Ất Hợi, 1.700 phụ lão Hà Trung phủ đến cửa khuyết nghênh giá, Hoàng đế an ủi hỏi han, ban cho tiền lụa.
Tháng 9, ngày Mậu Dần, chiếu: "Hành doanh Tây lộ nên để Nghi loan ty chỉ dùng lều bạt bằng vải dầu làm nhà, để phòng việc túc vệ, không cần che phủ bằng lau trúc."
Ngày Tân Tỵ, Hà Đông chuyển vận sứ, Binh bộ Lang trung Trần Nhược Chuyết xin lấy 10 vạn quan tiền, cỏ khô, thóc gạo trong địa hạt mình chuyển vận đến Hà Trung để giúp kinh phí, cho phép.
Ngày Quý Mùi, Trần Nghiêu Tẩu tâu: "Đắp đàn trên gò Thuế, theo chế độ Phương khâu. Bên cạnh đôi bách cổ phía bắc miếu có gò đất nổi lên, có thể dùng ngay chỗ ấy."
Ngày Ất Dậu, nước Liêu sai sứ sách phong Tây Bình vương Lý Đức Minh làm Hạ quốc vương. Lại sai Thừa mật trực học sĩ Cao Chính, Dẫn tiến sứ Hàn Kỷ sang tuyên hỏi Cao Ly vương Tuân.
Ngày Đinh Hợi, Hoàng đế soạn "Tông thất tọa hữu minh" kèm chú, ban cho Ninh vương Nguyên Ốc trở xuống, theo lời xin của Tri Tông chính đẳng Triệu Tương.
Tri Hoa châu Thôi Đoan tâu rằng hơn 2.000 phụ lão muốn đến cửa khuyết xin xa giá ngự Tây Nhạc, chiếu trả lời.
Ngày Quý Tỵ, đánh chết Nội nhân Cao phẩm Giang Thủ Ân ở Trịnh, vì tội tự tiện lấy lúa non trên ruộng dân và sai khiến quân sĩ làm việc riêng. Người luận bàn cho rằng triều đình thi hành hình phạt không tư vị, trong ngoài đều kinh sợ mà mừng.
Ban đầu, Hữu ty bàn rằng: "Bên cạnh nơi tế tự khó hành lễ triều kiến, muốn đợi khi trở về Hà Trung, mở triều hội, ban đại xá." Bấy giờ Trần Nghiêu Tẩu và những người khác tâu: "Trước hành cung Bảo Đỉnh có thể lập đàn, xây tường bao, theo như chế độ Đông phong." Chiếu theo lời Nghiêu Tẩu và những người khác.
Ngày Giáp Thìn, trong cung ban ra 16 điều an ủi, vỗ về, ban cho An phủ sứ Giang, Hoài Nam.
Mùa đông, tháng 10, ngày Canh Tuất, Trần Nghiêu Tẩu tâu rằng phụ lão Giải châu muốn đến cửa khuyết nghênh giá, chiếu bảo Nghiêu Tẩu khuyên ngăn.
Ngày Mậu Ngọ, lệnh cho Tam ty sứ Đinh Vị đến đường Phần Âm tính toán lương thảo.
Ngày Canh Thân, Đinh Vị và những người khác dâng "Đại Trung Tường Phù phong thiện ký" 50 quyển, Hoàng đế làm bài tựa, cất vào Bí các.
Tháng này, Nữ Chân dâng 10.000 con ngựa tốt cho nước Liêu, xin theo đi đánh Cao Ly, Liêu chúa cho. Cao Ly vương Vương Tuân sai sứ dâng biểu lên Liêu xin bãi binh, không cho.
Tháng 11, ngày Canh Thìn, đồng hồ thiên văn bằng đồng do Tư thiên đài Hàn Hiển Phù chế tạo được dời đặt ở Long Đồ các, triệu các Phụ thần cùng xem. Chiếu bảo Hiển Phù chọn quan Giám hoặc con cháu có thể dạy được để truyền lại phép ấy.
Lý Doãn Tắc tâu việc người Liêu khởi binh đánh Cao Ly, Hoàng đế bảo Vương Đán và những người khác rằng: "Khiết Đan đánh Cao Ly, vạn nhất Cao Ly cùng quẫn, hoặc quy phụ ta, hoặc đến xin viện binh, thì xử trí thế nào?" Đán nói: "Nên xét cái lớn. Khiết Đan đang giữ vững minh ước, còn Cao Ly cống nạp nhiều năm không đến một lần." Hoàng đế nói: "Đúng. Có thể bảo Đăng châu chờ xem, nếu Cao Ly có sứ đến xin viện binh, thì bảo rằng nhiều năm cống nạp không vào, không dám tâu lên triều đình; nếu có người đến quy phụ, thì chỉ nên lưu giữ, cứu giúp, không cần tâu lên."
Liêu chúa thân suất 40 vạn bộ kỵ, gọi là Nghĩa quân, ngày Ất Dậu, vượt sông Áp Lục. Khang Triệu suất quân chống giữ, đánh bại, lui giữ Đồng châu. Liêu chúa phong thư vào mũi tên, bảo với Cao Ly rằng: "Trẫm vì tiên vương Tụng thờ nước ta đã lâu, nay nghịch thần Khang Triệu giết vua lập trẻ nhỏ, nên thân suất tinh binh, đã đến biên giới nước ngươi. Các ngươi nếu trói Khang Triệu dâng lên, thì ta có thể lui quân." Ngày Bính Tuất, Triệu chia quân làm ba, bày trận bên kia sông, một doanh ở phía tây châu, chiếm chỗ hợp lưu ba sông, Triệu ở giữa, một doanh ở núi gần châu, một doanh đóng sát thành. Triệu dùng xe gươm bày trận, quân Liêu tiến đánh, nhiều lần bị đẩy lui. Triệu sinh lòng khinh địch, ngồi đánh cờ đạn với người. Ngày Bính Tuất, tiên phong nước Liêu là Da Luật Mẫn Nặc suất Tường Cổn Da Luật Đạt Lỗ đánh phá trại Tam Thủy, bắt chém Triệu và Phó tướng Lý Lập, đuổi quân thua hơn 10 dặm, thu được lương thực, áo giáp, binh khí bỏ lại nhiều không kể xiết. Gặp lúc đại quân Liêu chúa đến, chém hơn 30.000 thủ cấp. Ngày Mậu Tý, các châu Đồng, Hoắc, Quý, Ninh đều đầu hàng. Đô thống Tiêu Ba Nhã Nhĩ lại đại phá quân Cao Ly ở núi Nỗ Cổ Đạt.
Ngày Tân Mão, Vương Tuân sai sứ dâng biểu xin vào chầu, Liêu chúa lệnh cho quần thần bàn, đều cho là nên nhận. Tích Khánh cung sứ Da Luật Dao Châu một mình nói: "Tuân mới một trận đã bại, vội xin giảng hòa, đó là giả trá đó thôi, nếu nhận lời e mắc mưu. Đợi đến khi thế lực nó cùng kiệt, nhận cũng chưa muộn." Liêu chúa nóng lòng cầu công, cho vào chầu, bèn cấm quân sĩ bắt người, cướp bóc, lấy Chính sự xá nhân Mã Bảo Hựu làm Khai Kinh lưu thủ, An châu Đoàn luyện sứ Ngang Khắc Ba làm Phó lưu thủ, sai Thái tử Thái sư Y Lan đem 1.000 kỵ binh đưa Bảo Hựu và những người khác đến Kinh, lại sai Hữu Bộc xạ Cao Chính suất binh đi đón Vương Tuân.
Trước đó, Tuân sai Trung lang tướng Trí Thái Văn cứu viện Tây Kinh, còn nước Liêu sai Lư Nghị, Lưu Kinh vào Tây Kinh dụ hàng. Tướng giữ thành đã soạn biểu xin hàng, Thái Văn đến, đốt biểu, giết Nghị, Kinh. Trong thành sinh nghi, Thái Văn ra đóng quân ở phía nam thành. Gặp lúc Đông Bắc giới Đô tuần kiểm sứ Trác Tư Chính suất quân đến, hợp quân với Thái Văn vào thành giữ. Nước Liêu lại sai Hàn Kỷ và những người khác đến dụ, Tư Chính đem kỵ binh tinh nhuệ xông ra giết Kỷ và những người khác. Tư Chính lấy Thái Văn làm tiên phong ra chống, Bảo Hựu, Y Lan và những người khác thua chạy. Lại vây nơi ở của Cao Chính, Chính cùng tráng sĩ dưới trướng phá vòng vây ra, quân còn lại phần nhiều chết. Liêu chúa nổi giận, lại sai Y Lan đánh, Thái Văn nhiều trận đều bại. Qua 5 ngày, Liêu chúa tiến đóng phía tây thành, trong thành hoảng sợ, Tư Chính giả nói sẽ xuất chiến, đêm mở cửa bỏ đi, Thái Văn chạy về.
Các đại thần Cao Ly muốn đầu hàng, Khang Hàm Bảo nói: "Nên tránh mũi nhọn của chúng, rồi từ từ mưu việc phục hưng." Vương Tuân bèn đêm mang hậu cung và Lại bộ Thị lang Thái Trung Thuận cùng những người khác trốn đi. Ba Nhã Nhĩ, Mẫn Nặc và những người khác phá Khai Kinh, đốt hết cung miếu, nhà dân, đuổi đến sông Thanh rồi quay về.
Ngày Canh Tý, Thiểm châu tâu rằng sông Hoàng Hà ở huyện Bảo Đỉnh trong vắt. Tháng 12, ngày Bính Ngọ, sông Hoàng Hà ở huyện Bảo Đỉnh lại trong vắt lần nữa. Tập Hiền Hiệu lý Yến Thù dâng "Hà Thanh tụng".
Ngày Nhâm Tý, mở yến lớn ở điện Hàm Quang. Các doanh quân đóng ngoài Tân thành đều cho dự yến đến tối, sai Nội thị cầm chìa khóa đến các cửa, đợi mọi người ra hết, đóng cửa, mang chìa khóa về. Từ đó thành lệ định.
Ngày Ất Mão, cáo Thái miếu, rước Thiên thư, theo như chế độ Đông phong.
Ngày Bính Thìn, lấy Tư chính điện Đại học sĩ Hướng Mẫn Trung quyền Đông Kinh lưu thủ; Tam ty sứ Đinh Vị làm Hành tại Tam ty sứ, Diêm thiết Phó sứ Lâm Đặc làm phó.
Ngày Đinh Tỵ, Hàn lâm học sĩ Lý Tông Ngạc và những người khác dâng "Tân tu chư đạo đồ kinh" 1.566 quyển, chiếu khen thưởng.
Cấm các hạng người theo hầu đốt phá cỏ cây hai bên đường.
Tri Tạp Ngự sử Triệu Tương xin theo "Chu Lễ" đặt chức Thổ huấn, Tụng huấn, sưu tập ghi chép sông núi, cổ tích, phong tục nơi đi qua, để cung cấp cho Hoàng đế xem; chiếu giao cho Tiền Dịch, Trần Việt, Lưu Quân, Tống Thụ phụ trách việc ấy, mỗi trạm dâng một quyển.
Long Đồ các Đãi chế Tôn Thích, do kinh học mà tiến thân, giữ đạo tự xử, hễ có điều gì muốn nói thì chưa từng a dua cầu vui. Hoàng đế từng hỏi về Thiên thư, Thích đáp: "Ngu thần nghe rằng: ‘Trời nào nói gì!’ Há lại có thư sao!" Hoàng đế biết Thích chất phác trung hậu, thường khoan dung ưu đãi. Năm ấy, đặc mệnh cho Hướng Mẫn Trung bảo Thích dâng tấu trình bày chỗ được, mất của triều đình. Thích dâng 4 điều: nạp gián, thứ trực, nhẹ sưu, mỏng thuế, triều đình phần nhiều thi hành lời ông. Đến khi sắp có việc tế Phần Âm, gặp năm hạn, lúa gạo ở Kinh sư và các quận gần đó giá đều cao vọt, Thích bèn dâng sớ rằng
- Tiên vương bói việc chinh phạt trong 5 năm, mỗi năm xem điềm lành, điềm lành quen rồi mới tiến hành, nếu không quen thì càng phải tu đức mà đổi việc bói. Nay bệ hạ vừa xong lễ Đông phong, lại bàn việc đi Tây, ấy là trái với ý thận trọng bói chinh phạt 5 năm của tiên vương, đó là điều không thể thứ nhất. Hậu Thổ Phần Âm, việc ấy không thấy trong kinh điển. Xưa Hán Vũ Đế sắp làm đại lễ phong thiện, muốn thong thả việc ấy, nên trước phong Trung Nhạc, tế Phần Âm, rồi mới tuần hành các quận huyện, dần dần đến Thái Sơn. Nay bệ hạ đã đăng phong, lại muốn làm việc này, đó là điều không thể thứ hai. Sách Chu Lễ nói Viên khâu, Phương trạch là nơi tế trời đất ở ngoại giao, nay Nam, Bắc giao chính là vậy. Đầu đời Hán tiếp nhà Tần, chỉ lập Ngũ chỉ để tế trời, mà Hậu Thổ không có tế tự, nên Vũ Đế lập miếu ở Phần Âm. Từ đời Nguyên, Thành trở về sau, theo nghị của công khanh, dời Hậu Thổ Phần Âm về Bắc giao, các vua đời sau phần nhiều không tế Phần Âm nữa. Nay bệ hạ lại bỏ Bắc giao mà tế Phần Âm, đó là điều không thể thứ ba. Tây Hán đóng đô ở Ung, cách Phần Âm rất gần. Nay bệ hạ vượt qua nhiều ải trọng yếu, qua núi hiểm, nhẹ bỏ gốc rễ là Kinh sư, đó là điều không thể thứ tư. Hà Đông là nơi nhà Đường dựng nghiệp, nhà Đường lại đóng đô ở Ung, nên đời Minh Hoàng đến Hà Đông, nhân đó tế Hậu Thổ, khác với việc của Thánh triều ta. Nay bệ hạ vô cớ muốn tế Phần Âm, đó là điều không thể thứ năm. Gặp tai mà sợ, là lý do Chu Tuyên trung hưng. Mấy năm nay, lụt hạn nối nhau, bệ hạ nên tự sửa mình, tu đức để đáp lại sự quở trách của trời, há nên thuận theo bọn gian tà, nhọc dân đi xa, quên đại kế xã tắc, mà ham cuộc du ngoạn trống tiêu! Đó là điều không thể thứ sáu. Sấm sét ra vào tháng 2, tháng 8, sai thời thì thành điềm lạ; nay sấm sét ở mùa đông, là điềm lạ càng lớn. Trời răn dạy rõ ràng, bệ hạ chưa tỉnh, đó là điều không thể thứ bảy. Tiên vương lo cho dân trước, rồi sau mới dốc sức vào việc tế thần, nay công việc xây dựng của quốc gia nhiều năm chưa dứt, lụt hạn gây tai, đói kém phần nhiều; lại muốn nhọc dân để tế thần, thần liệu có hưởng chăng! Đó là điều không thể thứ tám. Bệ hạ muốn làm lễ này, chẳng qua như Hán Vũ Đế, Đường Minh Hoàng khắc đá ca công mà thôi, đó đều là hư danh. Bệ hạ sáng suốt, nên noi theo việc của hai Đế, ba Vương, há chỉ bắt chước cái hư danh ấy! Đó là điều không thể thứ chín. Đường Minh Hoàng vì sủng ái mà hại chính sự, gian nịnh nắm quyền, thân phải lưu vong, nước gặp tai ương, binh lửa quấn quanh Ngụy khuyết, nay người bàn việc dẫn chuyện đời Khai Nguyên làm công nghiệp rực rỡ, muốn dẫn dụ bệ hạ mà làm theo, đó là điều không thể thứ mười. Thần còn sợ lời nói không hết ý, xin bệ hạ ban cho hỏi han thêm, để thần trình bày trọn vẹn.
Hoàng đế sai Nội thị Hoàng Phủ Kế Minh bảo phải ghi rõ từng điều mà dâng lại, bấy giờ Thích lại dâng sớ rằng
- "Bệ hạ sắp đi Phần Âm, mà lòng dân Kinh sư chưa yên, dân Giang, Hoài khổ vì điều động, phải trấn an và thương xót họ. Hơn nữa, công việc xây dựng chưa dứt thì bọn trộm cướp cướp bóc tất nổi lên, Khiết Đan sửa binh không xa biên giới, tuy sai sứ đơn độc đi, há giữ được lòng chúng! Xưa Hoàng Sào nổi lên vì đói khát, Trần Thắng khởi sự vì sưu dịch. Tùy Dạng Đế vì ham xa lược, Đường Cao Tổ nhân đó dựng nghiệp; Hậu Tấn Thiếu chủ ngu tối việc biên phòng, Da Luật Đức Quang nhân đó vào Biện. Nay bệ hạ cúi theo bọn gian nịnh, bỏ xa Kinh sư, không nghĩ dân mệt, không lo họa biên thùy, đi qua nơi nhiều năm liền đói kém, sửa lễ tế đã lâu bỏ, lại sao biết trong đám dân đói không có kẻ đại tặc như Hoàng Sào? Trong đám phu dịch không có người chí lớn như Trần Thắng? Ngay dưới nách không có anh hùng rình rập? Trong vùng Yên, Ký không có địch nhân chờ cơ? Bệ hạ đang tế Hậu Thổ, dừng giá ở Hà Trung, nếu kỵ binh địch phá ước, bất ngờ đến Chiết Nguyên, bệ hạ biết Vệ Hàm Tín có thể giữ vững cầu sông? Chu Oánh ở Trung Sơn có thể đánh lui quân địch? Hoặc bọn đầu sỏ, hào kiệt tụ tập ngoài đồng, cướp bóc châu huyện, xâm lấn kinh kỳ, hành tại nghe tin, há không kinh hãi? Bệ hạ dù ngồi trước chiếu hỏi kế, quần thần muốn bày mưu lạ, theo thần mà xét, e là không kịp. Lại nữa, thần thấy bọn gian thần ngày nay, vì tiên đế kính sợ thiên tai, chiếu dừng phong thiện, nên khuyên bệ hạ gắng làm Đông phong, cho là nối chí tiên đế. Tiên đế muốn bình định U, Sóc ở phía bắc, lấy Kế Thiên ở phía tây, đại công chưa thành, giao cho bệ hạ, thế mà quần thần chưa từng dâng một mưu, vạch một kế, để giúp bệ hạ nối chí tiên đế. Trái lại, hạ lời, nặng lễ, cầu hòa với Khiết Đan, làm hẹp nước, ràng buộc tước vị, dung túng Bảo Cát; cho rằng ‘vua nhục thì thần chết’ là lời suông, lấy việc lừa dưới dối trên làm bổn phận. Bịa đặt điềm lành, mượn danh quỷ thần, vừa xong Đông phong, liền bàn Tây hạnh, nhọc thánh giá, hại dân đói, mong đi về không việc gì, cho là đã lập đại công. Như thế là bệ hạ lấy cơ nghiệp gian nan của tổ tông làm vốn cho bọn nịnh tà cầu may, đó là điều khiến thần than dài, khóc lớn vậy!
Bấy giờ quần thần nhiều lần dâng tấu về điềm lành, Thích lại dâng sớ nói: "Năm năm tuần thú, là thường điển trong Ngu thư; xem dân mà đặt giáo hóa, là minh văn trong Hệ từ Kinh Dịch. Hà tất phải có mây vàng khí tía mới có thể phong núi; lúa tốt cỏ lạ rồi mới đi xem phương! Nay chim điêu, hươu núi đều được ghi vào tấu chương, hạn thu, sấm đông đều được xưng là điềm mừng. Nếu là để lừa trời, thì trời không thể lừa; nếu là để dối dân, thì dân không thể dối; nếu là để lừa hậu thế, thì hậu thế tất không tin; trong bụng chê cười, người có hiểu biết đều như vậy, làm hoen ố thánh minh, chẳng phải chuyện nhỏ!" Sớ dâng lên, không được trả lời.
Năm Đại Trung Tường Phù thứ 4 (Liêu, Thống Hòa năm thứ 29), Công nguyên năm 1011
[sửa]Mùa xuân, tháng giêng, ngày Ất Hợi mồng 1, Liêu chúa từ Cao Ly rút quân, các thành đã hàng lại phản. Đến Nam Tuấn Lĩnh cốc thuộc Quý châu, mưa to liền mấy ngày, ngựa lạc đều mệt, giáp binh phần nhiều bỏ lại, đến khi tạnh mới qua được.
Quan Đề điểm hình ngục Thiểm Tây tâu rằng Phó Đô bộ thự Bân, Ninh, Hoàn, Khánh là Trần Hưng dung túng cấm binh dưới quyền đi cướp bóc, chiếu tha không giết, ngày Tân Tỵ, dời Tri Vĩnh Hưng quân Vương Tự Tông thay.
Đông thành Bân châu có miếu Linh Ứng công, bên cạnh có hang núi, bầy cáo ở đó, bọn yêu phụ dựa vào đó để làm họa phúc cho người, phàm hạn hán, dịch bệnh đều đến cầu đảo. Đến khi Tự Tông đến nhậm chức, phá miếu ấy, hun khói hang, bắt được mấy chục con cáo, giết hết, việc tế tự tà dâm bèn dứt.
Chiếu: "Kẻ làm việc ở Phần Âm mà lười biếng, tội không được tha."
Ngày Quý Mùi, Đới châu tâu rằng giá gạo một đấu hơn 10 tiền.
Ngày Ất Dậu, thân tập nghi lễ tế Hậu Thổ ở điện Sùng Đức.
Ngày Đinh Hợi, đến bái điện Thần ngự Thái Tông ở viện Khải Thánh, thánh dung Nguyên Đức hoàng hậu ở viện Phổ An, cáo việc sắp đi.
Ngày Kỷ Sửu, Liêu chúa đến đóng quân bên sông Áp Lục. Ngày Canh Dần, Hoàng hậu và Hoàng đệ Sở vương Long Dụ nghênh giá ở thành Lai Viễn.
Ngày Đinh Dậu, xa giá rước Thiên thư rời Kinh sư. Quần thần tâu rằng trên mặt trời có khí vàng như tấm lụa, mây ngũ sắc như cái lọng. Tối hôm ấy, nghỉ ở huyện Trung Mâu.
Ngày Mậu Tuất, nghỉ ở Trịnh châu. Lệnh cho Trần Bành Niên, Vương Thự cùng xét định các bài từ, trạng nghênh giá.
Ngày Canh Tý, nghỉ ở huyện Củng. Phán Hà Dương Trương Tề Hiền yết kiến ở trạm Tỵ Thủy, hầu ăn xong, lập tức trở về nhiệm sở.
Ngày Tân Sửu, đi qua Tư thôn, dựng màn làm điện, rước án thần của Sơn lăng đặt ở đó, Hoàng đế mang ủng, mặc bào, lạy khóc, dâng lễ. Hôm ấy, có mây trắng từ trên lăng bốc lên, chốc lát phủ kín màn thần, quần thần cho là do nỗi thương xót thảm thiết của Hoàng đế cảm động mà nên. Tối, nghỉ ở huyện Ỷm Sư.
Ngày Nhâm Dần, đến Tây Kinh.
Ngày Giáp Thìn, rời Tây Kinh, đến trạm Từ Giản, Thái quan bắt đầu dâng đồ chay. Tối, nghỉ ở huyện Tân An.
Tháng 2, ngày Ất Tỵ mồng 1, nghỉ ở huyện Miện Trì.
Ngày Mậu Thân, Đông Kinh tâu rằng ngục trống.
Ngày Nhâm Tý, ra khỏi Đồng Quan, qua sông Vị, nghỉ ở Nghiêm Tín thương, sai cận thần tế Tây Nhạc.
Ngày Bính Thìn, nghỉ ở trấn Vĩnh An, sai cận thần tế Hà Độc.
Ngày Đinh Tỵ, rời trấn Vĩnh An, quần thần tâu rằng có mây vàng theo xe rước Thiên thư. Pháp giá vào huyện Bảo Đỉnh, đến Phụng chỉ cung.
Ngày Mậu Ngọ, trai giới. Triệu các cận thần lên đình Diên Khánh, trông về phía nam thấy Tiên Chưởng, nhìn xuống phía bắc thấy Long Môn, từ cung đến gò Thuế, trồng dày cây quý, lục sư đóng quân vòng quanh, cờ xí, màn trướng của hành tại rực rỡ, bày hàng, ngắm nhìn rất lâu.
Ngày Kỷ Mùi, Thủ thần huyện Bảo Đỉnh tâu rằng suối Phấn phun lên, có ánh sáng như đuốc. Ngày Canh Thân, quần quan ngủ lại ở nơi tế.
Ngày Tân Dậu, bày đủ pháp giá đến đàn Thùy, dọc đường đốt lửa, ánh sáng rực như ban ngày, đường đi quanh co uốn khúc, chung quanh đều bày nghi trượng cờ vàng. Đến chỗ cạnh đàn, Hoàng đế mặc áo cổn miện, lên đàn, tế Hậu Thổ địa kỳ, làm đủ ba tuần hiến, dâng Thiên thư đặt ở bên trái chỗ ngồi của thần, lấy Thái Tổ, Thái Tông cùng phối hưởng, mọi nghi lễ đều theo như lễ phong thiện. Ty Tư thiên tâu rằng có khí vàng quấn quanh đàn, mặt trăng hiện hai vành, các sao đều không thấy, chỉ có sao Đại Giác là sáng rõ. Một lát sau, Hoàng đế đổi mặc mũ Thông thiên, áo gấm mỏng màu đỏ, ngồi liễn đến miếu, lên điện xướng ca, dâng lễ, xem xét phong kín hòm đá, sai quan chia ra dâng lễ các thần. Lên đình Khuy Khâu, trông sông Phần, ngó núi Lương, ngoảnh bảo tả hữu rằng: "Đây là chỗ Hán Vũ Đế cho thuyền lầu dạo chơi vậy." Ngay ngày ấy, trở về cung Phụng Kỳ. Xuống chiếu đổi cung Phụng Kỳ làm cung Thái Ninh, tăng thêm, tu sửa điện thất, đặt tượng Hậu Thổ Thánh Mẫu, lại sai quan tế cáo Hà Độc.
Ngày Nhâm Tuất, ngự đàn Triều Cận, nhận triều hạ chúc mừng. Đại xá thiên hạ, ân ban như lệ Đông phong. Lập huyện Bảo Đỉnh làm quân Khánh Thành, cho miễn sưu dịch 2 năm, ban cho thiên hạ mở hội uống rượu 3 ngày. Mở yến lớn ở điện Mục Thanh, ban rượu, thức ăn, áo lụa cho các bô lão. Hoàng đế soạn các bài tán "Phần Âm nhị thánh phối hưởng minh", "Hà Độc", "Tây Hải" v.v.
Ngày Quý Hợi, rời quân Khánh Thành, đến xem suối Phấn. Chiều, nghỉ ở trấn Vĩnh An.
Ngày Giáp Tý, nghỉ ở phủ Hà Trung, đến thăm miếu Thuấn, ban tên cho giếng Thuấn là suối Quảng Hiếu. Qua cầu sông, xem trâu sắt. Lại đến miếu Hà Độc, lên đình phía sau, thấy dân có người chèo thuyền mà đánh cá, có người cầm cày mà cày ruộng, Hoàng đế nói: "Bách tính làm việc, vui vẻ thay! Nếu khiến quan lại không xâm lấn, làm cho lo sợ, thì họ cứ dùng thường ngày mà chẳng tự biết vậy."
Triệu triệu sĩ nơi đồng nội là Lý Độc, Lưu Tốn; Độc lấy cớ bệnh từ chối, bèn trao cho Tốn chức Đại lý bình sự, rồi cho về hưu. Độc là con của Oánh, tính thuần hậu đạm bạc, ưa thích cổ học, Vương Đán, Lý Tông Ngạc với ông vốn quen biết từ đời trước, thường khuyên ông ra làm quan, Độc đều không đáp. Bấy giờ Trực Sử quán Tôn Miễn nói về đức ẩn dật của ông, Trần Nghiêu Tẩu lại tiến cử. Đến khi ông lấy cớ bệnh mà không đến, Hoàng đế sai nội thị đến thăm hỏi, lệnh cho trưởng quan hàng năm theo thời tiết đến thăm nom.
Ngày Ất Sửu, ngự lầu Tuyên Ân xem hội uống rượu.
Gia thêm tôn hiệu cho Tây Nhạc Kim Thiên vương là Thuận Thánh Kim Thiên vương, sai Thiếu khanh Hồng lư bộc xạ Bùi Trang đến tế cáo. Lại xuống chiếu tu sửa miếu Di, Tề.
Ngày Bính Dần, ban yến hội uống rượu cho thân vương, phụ thần, bách quan tại Thượng thư tỉnh ở hành tại, cộng 2 ngày.
Ngày Mậu Thìn, rời phủ Hà Trung. Ngày Kỷ Tỵ, nghỉ ở huyện Hoa Âm, đến quán Vân Đài xem họa tượng Trần Đoàn, miễn tô thuế ruộng của quán ấy. Ngày Canh Ngọ, đến miếu Thuận Thánh Kim Thiên vương, quần thần đứng hầu theo thứ bậc, sai quan chia ra dâng lễ các thần trong miếu. Lại đến quán Cự Linh Chân Quân, đều miễn tô thuế ruộng của quán, mở yến cho quan theo hầu và bô lão ở lầu Tuyên Trạch trong hành cung. Triệu kiến ẩn sĩ núi Hoa là Trịnh Ẩn, ẩn sĩ Phu Thủy là Lý Ninh, ban hiệu ẩn sĩ là Trinh Hối tiên sinh.
Ngày Tân Mùi, nghỉ ở huyện Vấn Hương, triệu đạo sĩ quán Thừa Thiên là Sài Thông Huyền, ban cho ngồi, hỏi về yếu chỉ của đạo vô vi, miễn tô thuế ruộng của quán ấy. Thông Huyền hơn 100 tuổi, giỏi thuật dưỡng khí, lời nói không văn sức, phần nhiều lấy việc tu thân, cẩn thận hạnh kiểm mà giảng giải.
Ngày Nhâm Thân, nghỉ ở huyện Hồ Thành, mở yến cho bô lão châu Quắc ở cửa hành cung.
Tháng 3, ngày Giáp Tuất mồng 1, nghỉ ở Thiểm châu, triệu triệu sĩ nơi đồng nội là Ngụy Dã, ông lấy cớ bệnh từ chối không đến. Dã ở ngoài đông giao của châu, không cầu nghe biết, đạt đạt; Triệu Xương Ngôn, Khấu Chuẩn đến giữ châu này, đều lấy lễ khách mà đãi. Thơ của Dã tinh luyện khổ công, có phong vị người đời Đường, sứ nước Liêu từng nói nước mình được quyển đầu bộ "Thảo Đường tập" của ông, xin cầu trọn bộ, Hoàng đế xuống chiếu ban cho. Đến đây, nhân lúc Hoàng đế tuần hạnh rảnh rang, ngoảnh trông giữa rừng núi, đình tạ u tịch tuyệt vời, ý rằng không phải chỗ dân tục ở; khi ấy Dã đang dạy hạc múa, chốc lát báo có trung sứ đến, ông ôm đàn vượt bờ mà chạy. Hoàng đế bèn sai sứ vẽ lại chỗ ông ở dâng lên, lệnh cho trưởng quan thường thêm thăm hỏi vỗ về.
Ngày Ất Hợi, đến miếu Thuận Chính vương, mở yến cho quan theo hầu và bô lão ở lầu Phối Trạch Huệ Dân. Lại lên lầu Bắc, trông sông lớn, ban áo mặc thường ngày cho quân vận hà. Hôm ấy mưa, Thạch Phổ xin dừng giá trong thành, khỏi lội bùn lầy, nhân đó lệnh cho đoàn tùy tùng đến Tây Kinh.
Ngày Mậu Dần, nghỉ ở huyện Tân An. Khi Hoàng đế trở về, vì đường xa, thương lính vệ vác kiệu, cầm lọng vất vả, phần nhiều ngồi xe ngựa, đội mũ mây đen. Ngày hôm sau, vào Tây Kinh, vì Tri Hà Nam phủ Tiết Ảnh có thành tích trị lý, ban thơ khen ngợi. Ngày Quý Mùi, Trương Tề Hiền từ Hà Dương đến triều, là do Hoàng đế triệu.
Ngày Giáp Thân, đến nhà Thái tử Thái sư Lữ Mông Chính, an ủi vỗ về, ban thưởng thêm. Hỏi Mông Chính: "Các con ai có thể dùng được?" Đáp rằng: "Con của thần chỉ như heo chó; cháu thần là Di Giản, có tài làm Tể tướng."
Trần Nghiêu Tẩu, Lý Tông Ngạc từ phủ Hà Trung đến triều, tâu rằng từ khi bắt đầu đo đạc việc tế tự cho đến khi lễ xong, tổng số công việc đất gỗ hơn 3.900.000, chỉ sai quân sĩ khuân vác, vận chuyển lương thảo, việc cung ứng trạm dịch cũng chưa từng làm phiền nhiễu dân đinh, Hoàng đế khen phải.
Ngày Mậu Tý, Đinh Vị tâu rằng có hơn 200 con hạc bay lượn trên điện Thiên Thư, lại có hơn 500 con bay tụ ở điện Thái Thanh.
Ngày Ất Sửu, ngự lầu Ngũ Phượng xem hội uống rượu.
Xa giá sắp đi tế lăng, ngày Giáp Ngọ, rời Tây Kinh.
Ngày Ất Mùi, Hoàng đế mặc thường phục, cưỡi ngựa đến huyện Vĩnh An, trai giới ở hành cung. Ngày Bính Thân, đến bái lăng An, lăng Vĩnh Xương, lăng Vĩnh Hy, lăng Nguyên Đức Hoàng Thái hậu. Hoàng đế dâng lễ, khóc thương, làm cảm động người bên cạnh. Lại đi khắp các lăng của các Hoàng hậu, các phần mộ của chư vương mà dâng lễ. Sai trung sứ đi khắp tế các phần mộ thân thích nhà vua và đến Nhữ châu tế phần mộ Tần vương.
Ngày Đinh Dậu, nghỉ ở huyện Củng, Trương Tề Hiền xin về Hà Dương, ban áo đai, đồ khí, tiền tệ như lệ dự tế.
Ngày Mậu Tuất, đến huyện Phí Thủy. Đường ải Hổ Lao hiểm trở, lệnh cầm đuốc để cảnh báo người đi đường. Hà Dương kết cờ xếp gấm làm lầu, bày đủ âm nhạc, Hoàng đế vì ngày giỗ Đường Thái Tông vừa gần, bèn lập tức dừng lại. Chiều, đến huyện Huỳnh Dương. Đổi ải Hổ Lao làm ải Hành Khánh.
Ngày Kỷ Hợi, nghỉ ở Trịnh châu. Ngày Canh Tý, triệu quan theo hầu mở yến ở lầu Hồi Loan Khánh Tứ, mở yến cho bô lão dưới lầu, không dùng âm nhạc.
Ngày Quý Mão, nghỉ ở Uyển Khánh viên, ban dê, rượu cho các Đô bộ, Tiền triệt, để khao thưởng tướng sĩ.
Đại Thừa tướng nước Liêu, Tấn quốc vương Da Luật Long Vận, theo quân chinh phạt Cao Ly trở về, mắc bệnh, Liêu chúa cùng Hoàng hậu thân đến xem thuốc, tháng này mất, thọ 71 tuổi. Truy tặng chức Thượng thư lệnh, thụy Văn Trung, triều đình cấp cho đồ táng, lập miếu bên cạnh Càn lăng.
Nước Liêu lấy Bắc viện Đại vương Da Luật Thật Lỗ làm Bắc viện Khu mật sứ, phong Hàn vương. Từ khi Da Luật Long Vận biết việc Bắc viện, chức trách phần nhiều bỏ bê, đến ngày Thật Lỗ nhận mệnh, triều đình trong ngoài đều mừng.
Khi Long Vận mắc bệnh, Liêu chúa hỏi: "Ai có thể thay khanh?" Long Vận nói: "Lang quân Bắc viện Da Luật Thế Lương có thể đảm nhiệm." Thật Lỗ lại đến hỏi về việc chọn người cho Bắc phủ, Long Vận nói: "Không ai hơn được Thế Lương." Thế Lương tài năng nhanh nhẹn, giỏi ứng đối, thông đạt điển cố, Liêu chúa từng biết đến, bèn cho thay Thật Lỗ làm Bắc viện Đại vương.
Mùa hạ, tháng 4, ngày Giáp Thìn mồng 1, xa giá từ Phần Âm trở về.
Ngày Kỷ Dậu, đến bái Thái miếu, lại đến bái miếu Nguyên Đức Thái hậu.
Ngày Canh Tuất, xuống chiếu vì thời tiết dần nóng bức, ở Kinh sư ban hội uống rượu nên kéo dài đến mùa thu năm nay.
Ngày Quý Sửu, sai cận thần đến tế tạ Hậu sĩ, Tây Nhạc, Tây Hải, Tây Độc, lại sai quan chia nhau đến các lăng dâng lễ.
Ngày Kỷ Mùi, xuống chiếu kính cẩn đề biển miếu Hậu Thổ Phần Âm là "Thái Thủ".
Lấy Tiến sĩ phủ Hà Trung là Tiết Nam làm Thử Tướng tác giám Chủ bộ, vốn là người đầu tiên đến cửa khuyết xin tế Phần Âm vậy.
Ngày Ất Sửu, tu sửa Thượng thư tỉnh, 3 tháng thì xong.
Ngày Đinh Mão, Hứa quốc công Lữ Mông Chính mất, truy tặng Trung thư lệnh, thụy Văn Mục. Mông Chính có khí lượng, ở trong phủ chính không ưa thay đổi, cải cách. Lúc mới tham tri chính sự, vào triều, có triều sĩ chỉ ông ta nói: "Người này cũng tham tri chính sự ư?" Mông Chính làm như không nghe. Đồng liêu không bằng lòng, muốn hỏi cho ra tên họ, Mông Chính vội ngăn lại rằng: "Một khi biết tên họ, suốt đời không quên được, chi bằng đừng biết thì hơn." Từng hỏi các con rằng: "Ta làm Tể tướng, dư luận bên ngoài thế nào?" Các con nói: "Rất tốt. Nhưng người ta nói là không có khả năng làm việc, quyền xử lý phần nhiều bị đồng liêu tranh giành." Mông Chính nói: "Ta quả thực không có tài, chỉ là giỏi dùng người mà thôi." Có triều sĩ cất giữ cổ kính, tự nói có thể soi được 200 dặm, muốn dâng cho Mông Chính để cầu được biết đến. Mông Chính cười nói: "Mặt ta chẳng qua to bằng cái đĩa nhỏ, cần gì soi đến 200 dặm!" Người nghe đều than phục.
Tháng 5, ngày Giáp Tuất mồng 1, Liêu chúa xuống chiếu những việc đã tâu, đều gửi cho các ty kèm vào Nhật lịch. Lại xuống chiếu: người trong tộc trướng có tội, xăm mặt theo lệ người các bộ.
Lang trung Bộ Hình Vương Tế mất. Lúc lâm chung tự thảo di biểu, đại lược lấy việc tiến cử người hiền, bãi bỏ bọn dua nịnh, bỏ những chi phí xây dựng đất gỗ không cấp bách mà nói, còn lại không đụng đến việc riêng.
Ngày Quý Tỵ, xuống chiếu các thành châu đặt miếu Khổng Tử.
Ngày Ất Mùi, xuống chiếu gia thêm đế hiệu cho Ngũ Nhạc, lấy Hướng Mẫn Trung cùng những người khác làm sứ phụng sách Ngũ Nhạc, đến tế, khi phụng sách mặc áo cổn miện.
Nước Liêu lấy Tham tri chính sự Lưu Thận Hành làm Nam viện Khu mật sứ, Tể tướng Nam phủ Hình Bão Chất biết việc Nam viện Khu mật sứ. Thận Hành là con của Cảnh; Bão Chất là em của Bão Phác.
Tháng 6, ngày Bính Ngọ, sao Thái Bạch hiện ban ngày.
Ngày Ất Mão, Bắc viện Khu mật sứ nước Liêu là Hàn vương Thật Lỗ mất. Ngày Bính Thìn, lấy Nam viện Đại vương Hoa Cách làm Bắc viện Khu mật sứ.
Trước đó, Chiêu thảo sứ lộ Tây Bắc nước Liêu là Tiêu Thác Vân từ Túc châu trở về, được gả Công chúa Thượng Kim Hương, phong Phò mã đô úy, gia chức Đồng chính sự Môn hạ Bình chương sự. Thác Vân nói với Liêu chúa rằng: "Chuẩn Bố nên chia ra các bộ, đặt Tiết độ sứ để cai trị." Ngày Đinh Tỵ, đặt các Tiết độ sứ các bộ Chuẩn Bố. Từ đó về sau, các Tiết độ sứ phần nhiều không có tài, dân các bộ phần nhiều oán giận.
Các châu Lưỡng Chiết, Phúc Kiến, Kinh Hồ, Quảng Nam, theo chế độ ngụy trước kia nộp tiền thân đinh, mỗi năm cộng 454.000 quan. Dân ai có con, hoặc bỏ không nuôi, hoặc bán làm nô bộc, hoặc cho đi xuất gia làm tăng, đạo. Mùa thu, tháng 7, ngày Nhâm Thân mồng 1, xuống chiếu đều bãi bỏ cả.
Viện Quốc sử dâng bộ "Thái Tổ kỷ" đã biên soạn, Hoàng đế chép ra hơn 20 điều nghĩa lệ trong kỷ ấy chưa đúng, bảo Vương Đán, Vương Khâm Nhược và những người khác rằng: "Như gọi lầu chuông trống là lậu thất, lò gốm là ty Nhiên, há chẳng bằng chỉ thẳng tên gọi của nó sao? Tất cả nên sửa lại cho đúng!" Khâm Nhược nói: "Đó là do Triệu Duệ, Dương Ức biên soạn." Hoàng đế nói: "Khanh từng tham dự vào chăng?" Vương Đán nói: "Triều đình soạn tập đại điển, đều phải hết lòng, cố làm cho rộng rãi, đầy đủ, ban đầu vốn không có phân biệt bên này bên kia." Nhân đó xuống chiếu: "Mỗi quyển từ nay trước hết phải dâng bản thảo, quan Biên tu và quan Đồng tu sử, lúc đầu biên soạn hoặc xem xét lại lần thứ hai, đều phải ghi đủ tên họ; nếu có việc sửa đổi, thêm bớt sự kiện, chữ nghĩa, cũng đều ghi rõ dưới tên mình, để xét sự siêng năng hay biếng nhác."
Ngày Nhâm Ngọ, các châu Trấn, Mi, Xương động đất.
Ngày Giáp Ngọ, Phùng Chửng bị bãi làm Thượng thư Bộ Hình, Tri Hà Nam phủ.
Tháng 8, Hoàng đế bảo Tể tướng rằng: "Triều đình nên giữ phép tắc đã định, nếu chăm chăm muốn thay đổi, thì kẻ vin vào quấy nhiễu sẽ nhiều. Mới biết mệnh lệnh ban ra, không thể không cẩn thận. Nay nói việc nào đó có lợi, liền nhẹ dạ sửa đổi, lúc đầu mọi người đều cho là phải, lâu ngày lại hóa thành có hại, phải thêm cắt bỏ, sửa chính, ấy là triều lệnh sáng ban chiều đổi vậy. Lại nữa, người giữ chức, không nên quá khoan dung tha thứ, đến nỗi buông lỏng; hoặc dò tìm tội ác, không kể phiền nhiễu, lại đi đến chỗ quá đáng." Vương Đán nói: "Người xưa có nói: pháp ban ra thì tệ nạn sinh, lệnh hạ xuống thì gian tà nảy. Khoan thì dân trễ nải, kẻ phạm pháp nhiều; nghiêm thì dân tàn khốn, không chỗ đặt tay chân; chính là ý ấy vậy."
Ngày Giáp Thìn, Duyện châu tâu rằng có loài rệp sinh ra, có loại sâu màu xanh, hễ cắn vào thì hóa thành nước, bấy giờ gọi là "bàng bất khẳng trùng". Hoàng đế bảo Tể tướng rằng: "Hôm qua sai người lén xem lúa má ở Đông Kỳ, đại để chỗ bị hại không quá 3, 4 phần." Vương Đán nói: "Bệ hạ lo cho dân sâu sắc, Thượng thiên ắt phải rủ lòng phù hộ; huống chi liên năm được mùa, năm nay tổn thất nhỏ, cũng chưa đến nỗi mất mát quá đáng."
Hữu Gián nghị Đại phu, Tri Quảng châu Dương Đàm, siêng năng việc quan, nơi nào đến cũng được tiếng là có tài cán. Nam Hải có lợi thuyền buôn phiên, các đời mục thủ trước sau hoặc bị lời chê trách, Đàm giữ mình cẩn thận, thanh liêm, người xa đều ưa thích. Đến khi ông mất, bô lão có người rơi lệ.
Tam ty sứ Đinh Vị tâu: "Đông phong và Phần Âm ban thưởng ức vạn, thêm vào đó là miễn giảm tô thuế các lộ, bãi bỏ tiền khẩu toán, ân trạch rộng lớn, e rằng kinh phí của các ty không đủ." Hoàng đế nói: "Việc nước phải làm, chính là ở chỗ ân trạch đến được bách tính. Chỉ cần trọng gốc, ức chế ngọn, tiết dụng, cẩn thận độ lượng, tự nhiên sẽ giàu đủ!"
Ngày Ất Tỵ, sao Thái Bạch hiện ban ngày.
Ngày Ất Sửu, khắc bài "Đại Trung Tường Phù tụng" do Hoàng đế ngự chế ở cửa Tả Thừa Thiên Tường Phù môn.
Sông vỡ ở quân Thông Lợi.
Tháng 9, ngày Quý Tỵ, ngự lầu Càn Nguyên xem hội uống rượu, cộng 5 ngày.
Mùa thu năm ấy, Liêu chúa đi săn ở rừng Tùng Bình Địa.
Mùa đông, tháng 10, ngày Canh Tý mồng 1, Liêu chúa đóng quân ở Quảng Bình Điện.
Ngày Đinh Tỵ, Hoàng đế vì Giang Nam, Hoài Nam tiếp giáp nhau, mà giá muối, rượu không đồng, lệnh cho Tam ty cùng Giang Hoài Chế trí phát động sứ Lý Phổ định ra phép tắc tâu lên. Hữu ty tâu lo mất thuế khóa hàng năm, Hoàng đế nói: "Nếu tiện cho dân, thì cần gì phải lo thu nhập hàng năm!"
Điện trung Thị ngự sử Tiết Khuê, tính cương trực, không a dua, gặp việc dám nói. Hoàng đế khi ấy thường mở yến cho đại thần, đến nỗi có người say sưa, Khuê can rằng: "Lúc bệ hạ mới nối ngôi, chăm lòng muôn việc mà ít khi yến tiệc, sủng hạnh. Nay thiên hạ quả không việc, mà vui chơi không chừng mực, lại nữa đại thần nhiều lần say rượu, không giữ oai nghi, chẳng phải là cách để tôn nghiêm triều nghi." Hoàng đế khen lời ông.
Tháng 11, ngày Canh Ngọ mồng 1, Liêu chúa đến Hiển châu.
Ngày Bính Tý, Hoàng đế ngự điện Sùng Chính thân tự thi Tiến sĩ, ban cho Trương Sư Đức và những người khác đỗ Tiến sĩ, xuất thân có thứ bậc khác nhau. Sư Đức là con của Khứ Hoa.
Ngày Nhâm Ngọ, Tri Hà Nam phủ Phùng Chửng xin cấp tiền cho quan mua cỏ, thóc, Trần Nghiêu Tẩu nói: "Tăng giá mà mua, không bằng dời ngựa đi nơi khác. Ở Kinh sư trước kia giữ lại 20.000 con ngựa, nay giữ 7.000, số còn lại đều giao cho các giám ở ngoài, lại muốn trong số 7.000 con ấy đem 4.000 giao cho Thuần Trạch giám, mỗi năm có thể bớt được hơn 3.000.000 tiền cỏ, thóc. Nếu có việc ban cấp, sáng lấy chiều đến vậy." Hoàng đế theo. Lại nói: "Ngựa đến 100.000 con thì nên dừng." Vương Đán nói: "Cho dân gian nuôi dưỡng, trong kho nhà nước khi cần gấp thì lấy giá gốc mà mua, cũng như chuồng ngựa ở ngoài vậy. Vả lại, chi phí cỏ, thóc đều xuất từ hai thứ thuế, bớt chút phần ăn của ngựa, để dùng làm quân trữ, cũng là việc cấp thiết của đời nay." Mã Triết nói: "Ngựa nhiều mà không tinh, tuy 100.000 con, chọn được ngựa dùng được chỉ độ 4, 5 vạn mà thôi. Tích trữ nhiều ngựa hèn yếu, chi phí càng nặng." Hoàng đế cho là phải.
Thị lang Bộ Công Chủng Phóng, nhiều lần đến cửa khuyết, rồi lại trở về núi. Có người gửi thư trào phúng việc ra vào của ông ta, lại khuyên ông ta bỏ chức, ở nơi núi non, Phóng không đáp. Về cuối đời, Phóng khá tô điểm xe ngựa, y phục, ở Trường An rộng rãi mua ruộng tốt, lợi tức hàng năm rất lớn, cũng có việc ép giá mua, đến nỗi sinh tranh tụng, môn nhân, tộc thuộc dựa thế ông mà hoành hành. Vương Tự Tông ra giữ Trường An, lúc đầu rất kính trọng Phóng, Phóng say rượu thì hơi kiêu ngạo, hai bên bàn luận, chê trách lẫn nhau. Tự Tông giận, bèn dâng sớ nói những nhà kiêm tính trong địa hạt mình có hơn 10 tộc, mà Phóng đứng đầu, lại kể tội em, cháu Phóng vô lại, cướp đoạt lợi lớn của dân đinh, xin ban cho Phóng 100 mẫu ruộng ở Chung Nam, dời Phóng đến núi Tung. Lời sớ hết sức bêu xấu, gọi Phóng là loài si mị, lại nhiều lần sai người trách Phóng việc bất pháp. Hoàng đế khi ấy đang đãi Phóng hậu, xuống chiếu lệnh Lang trung Bộ Công Thi Hộ tra xét, gặp lúc đại xá nên thôi. Bấy giờ Phóng tự xin dời ở núi Tung, Hoàng đế xuống chiếu sai nội thị dựng nhà ban cho. Nhưng ông vẫn qua lại Chung Nam, xem xét ruộng đất, mỗi lần đi đều cấp ngựa trạm, dư luận lúc bấy giờ dần dần chê trách.
Ngày Mậu Tuất, xuống chiếu gia thêm tôn hiệu cho các Hậu của Ngũ Nhạc, lại sai quan đến tế cáo.
Tháng này, xuống chiếu sai 1 sứ thần quản lý việc nhà cố Thái sư Triệu Phổ; vợ Phổ là họ Hòa mất, nhân nhà ông tự xin mà cho phép.
Tháng 12, ngày Canh Tý mồng 1, Liêu chúa lại đến Quảng Bình Điện.
Ngày Mậu Thân, Thái thường bác sĩ Giang Tự Tông tâu: "Bệ hạ thân lâm mọi việc chính sự, đã 15 năm, việc trong sân điện, đều do thánh đoán, làm nhọc tâm tư. Nay xin việc lớn về lễ nhạc, chinh phạt thì xuất phát từ một người, còn các việc nhỏ khác giao phó cho đại thần, bách ty." Hoàng đế nói: "Người này khá hiểu đại thể." Bèn xuống chiếu khen Tự Tông, theo lời ông xin.
Ngày Quý Sửu, nước Liêu vì Tri Nam viện Khu mật sứ Hình Bão Chất tuổi già, xuống chiếu cho ngồi xe nhỏ vào triều.
Tháng này, nước Liêu đặt 2 châu Quy, Ninh.
Năm ấy, nước Liêu ngự thi Tiến sĩ, cho Cao Thừa Nhan và 1 người nữa đỗ.