Bước tới nội dung

Tục tư trị thông giám/Quyển 38

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tục Tư trị thông giám, quyển 38  (2025)  của Tất Nguyên, do Cơ Như Tuyết dịch
Tống kỷ 38

Từ tháng 8 năm Kỉ Tị (1029) đến tháng Chạp năm Nhâm Thân (1032), Nhân Tông Thiên Thánh năm thứ 7 đến Minh Đạo nguyên niên, gồm 3 năm có dư

Năm Thiên Thánh thứ 7 (Liêu, năm Thái Bình thứ 9), Công nguyên năm 1029

[sửa]

Tháng 8, ngày Đinh Hợi mồng 1, có nhật thực.

Chiếu: "Bãi bỏ ruộng chức điền trong thiên hạ, triều đình thu hết hoa lợi, rồi căn cứ theo giá trị mà chia đều cấp phát." Trước đó, có người dâng sớ nói: "Ruộng chức điền nơi có nơi không, không được đều; lại có bọn lại dịch không tốt, thường thu nhiều, làm hại dân nghèo." Bèn lệnh cho Tư chính điện học sĩ Yến Thù cùng Tam ty, Thẩm quan, Tam ban viện, Lại bộ Lưu nội thuyên cùng bàn, mọi người đều cho là phải, nên mới có chiếu này.

Ngày Kỷ Sửu, lấy Lữ Di Giản làm Chiêu Văn quán Đại học sĩ.

Ngày Tân Mão, Hạ Tông lại làm Khu mật phó sứ, Trần Nghiêu Tộ, Vương Thự đều làm Tham tri chính sự, Khu mật sứ Trương Kỳ đổi làm Sơn Nam Đông đạo Tiết độ sứ. Tông và Di Giản không ưa nhau, nên lấy Nghiêu Tộ thay.

Ban đầu, nước Bột Hải từ niên hiệu Thần Sách trở đi thần phục nước Liêu, không đặt thuế độc quyền rượu, muối, men, lại nới lỏng việc thu thuế ở cửa ải, chợ búa, dân Bột Hải yên ổn với đó. Từ khi Phùng Diên Tu, Hàn Thiệu Huân lấy phép ở đất Yên, châu Bình để ràng buộc họ, dân không chịu nổi. Gặp lúc đất Yên đói kém, Hộ bộ phó sứ Vương Gia dâng kế sách đóng thuyền, bắt dân nơi ấy chở thóc đi cứu tế; đường thủy hiểm trở, nhiều thuyền bị lật chìm, lại thêm roi vọt đánh đập, tra khảo cướp bóc, dân oán hận, nghĩ đến làm loạn. Ở Đông Kinh, quân Xá Lợi, Tường cẩn Đại Diên Lâm nhân đó làm biến, bèn bắt giam Lưu thủ, Phò mã Đô úy Tiêu Hiếu Tiên và Nam Dương công chúa, giết Thiệu Huân, Gia để làm vui lòng quân chúng, tự xưng niên hiệu Hưng Liêu, đổi niên hiệu là Thiên Khánh.

Lúc ấy, Liêu chúa đóng quân ở Hắc Lĩnh, Phó Lưu thủ Vương Đạo Bình vượt thành chạy đi báo biến, lập tức điều binh các đạo tiến đánh kịp thời. Khi đó, Quốc cữu, Tường cẩn Tiêu Thực Địch trước đã suất quân thuộc quyền chiếm giữ nơi hiểm yếu, chặn đường vượt sang phía tây của giặc. Đại Diên Lâm viết thư kết giao với Chủ trại ở Bảo châu là Hạ Hành Mỹ, muốn ông ta suất quân Bột Hải làm loạn; Hành Mỹ bắt người đưa thư giao cho Thống quân Gia Luật Phổ Cổ, Phổ Cổ bèn giết 800 quân Bột Hải, vào chiếm Bảo châu, cắt đứt đường phía đông của giặc. Đại Diên Lâm chia quân sang phía tây đánh chiếm Thẩm châu, Phó sứ Trương Kiệt nói dối là muốn hàng, Đại Diên Lâm tin, không gấp đánh; đến khi biết là lừa, mới đánh, thì việc phòng thủ đã chuẩn bị xong, không hạ được, phải rút về. Nữ Chân phía nam, phía bắc đều theo Đại Diên Lâm, sứ cống nước Cao Ly cũng không đến.

Mùa đông, tháng 10, ngày Bính Tuất mồng 1, nước Liêu lấy Nam Kinh Lưu thủ, Yên vương Tiêu Hiếu Mục làm Đô thống, Tiêu Thực Địch làm Phó, Tiêu Phổ Nỗ làm Đô giám, đi đánh Đại Diên Lâm. Gặp giặc ở giữa sông Bồ, quân hơi lui, Phổ Nỗ chỉ huy cánh hữu, Thực Địch chỉ huy cánh tả, giáp công, trước hết chiếm giữ các nơi hiểm yếu mà Cao Ly, Nữ Chân có thể đến cứu, khiến chúng không thể cầu viện, quân giặc tan vỡ, truy kích đánh bại ở phía bắc Bình Sơn. Phổ Nỗ không mặc giáp, cưỡi ngựa xông lên, đuổi giết tàn quân. Sau đó, đại quân vây Đông Kinh, Phổ Nỗ đi đánh các ấp phản loạn. Ở núi Hống Hống, Đại Diên Lâm đào hào sâu tự vệ, cố thủ không dám ra.

Tháng 11, ngày Quý Hợi, tiết Đông chí, Hoàng đế dẫn bá quan vào điện Hội Khánh chúc thọ Hoàng thái hậu, rồi ngự điện Thiên An nhận triều hạ. Bí các giáo lý Phạm Trọng Yêm dâng sớ nói: "Thiên tử có đạo thờ cha mẹ, nhưng không có lễ làm bề tôi; có ngôi ngồi quay mặt về nam, không có nghi thức quay mặt về bắc. Nếu phụng dưỡng cha mẹ trong cung mà hành lễ gia nhân thì được. Nay Hoàng thượng quay lại đứng cùng hàng với bá quan, là làm tổn hại thân phận quân vương, giảm uy nghi của chủ thượng, không thể làm phép cho đời sau." Sớ dâng lên, không trả lời; ông lại dâng sớ xin Thái hậu trả lại chính quyền, cũng không trả lời, bèn xin bổ ra ngoài. Chẳng bao lâu, được bổ làm Đồng phán Hà Trung phủ.

Ngày Bính Dần, nước Liêu lấy Trương Kiệt làm Thẩm châu Tiết độ sứ, thăng Chủ trại Bảo châu Hạ Hành Mỹ làm Bình chương sự. Triệu vào triều các Tiến sĩ Hoàng thành là Trương Nhân Kỷ cùng 22 người, cho vào triều, thi thơ phú, đều ban cho đỗ.

Ngày Nhâm Thân, nước Liêu lấy Phò mã Đô úy Lưu Tứ Đoan tạm quyền Tri Tuyên huy Nam viện.

Tháng 12, ngày Canh Dần, lấy Tri chế cáo Lý Trọng Dung làm Phán Lễ bộ. Theo lệ cũ, 3 khoa Mậu tài dị đẳng, Cao đảo khâu viên, Trầm luân thảo trạch, những bài sách luận dâng lên, trước giao cho Lễ bộ khảo xét tâu lên, rồi mới được triệu vào thi. Lúc ấy, Trực Sử quán Khang Hiếu Cơ phê định 10 người như Phú Bật, trái với Lễ bộ; Hoàng đế đổi lệnh cho Trọng Dung, lại cho Hiếu Cơ cùng tham gia phê định, rồi lấy sách luận của Phú Bật và những người khác ra đối chiếu lại. Phú Bật là người Hà Nam.

Ngày Tân Hợi, lấy Tả Tư gián, Long Đồ các đãi chế Khổng Đạo Phụ làm Tri Vận châu, vì ông xử lý việc tra xét hình ngục không thỏa đáng. Đạo Phụ từng cực lực luận tội Tào Lợi Dụng, La Sùng Huân chuyên quyền, khi ấy Lợi Dụng đã chết, còn Sùng Huân vẫn được trọng dụng.

Năm Thiên Thánh thứ 8 (Liêu, năm Thái Bình thứ 10), Công nguyên năm 1030

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Bính Dần, lệnh Tư chính điện học sĩ Yến Thù tạm quyền Tri Lễ bộ cống cử.

Ngày Giáp Tuất, Đô bộ thự Trấn Định phủ, Định châu lộ, Chương Vũ Tiết độ sứ Tào Vĩ mất, truy tặng Thị trung, thụy là Vũ Mục. Vĩ làm tướng không bằng cha là Khoan, nhưng dùng người được hết lòng chết vì mình. Lúc bình thời thì ung dung khoan hòa, đến khi hành quân thì bày nhiều mưu lạ, xuất nhập thần tốc. Có lần, ông bày nhạc uống rượu với thuộc lại, đang giữa tiệc, bỗng không thấy Vĩ đâu; hôm sau, ông ung dung ra coi việc, đầu lĩnh giặc đã bị quăng dưới sân. Ông cầm quân gần 40 năm, chưa từng có chút thất bại. Chân Tông mỗi khi gặp tấu báo biên giới, tất thân viết chiếu hỏi vặn đến hơn chục lần, mà Vĩ vẫn giữ ý kiến ban đầu, rốt cuộc không ai bẻ được. Khi đào hào biên giới, ông thường lệnh cho sâu rộng 1 trượng 5 thước, chỗ núi hiểm không thể đào, thì nhân thế núi dựng đứng mà sửa sang, khiến đủ để ngăn địch, về sau đều lấy đó làm phép.

Người Lâm Truy là Giả Đồng từng đến thăm Vĩ, Vĩ muốn đi tuần biên, mời ông ta cùng đi. Đồng hỏi: "Quân tùy tùng ở đâu?” Vĩ nói: "Đã chuẩn bị rồi." Đến khi ra, lên ngựa, thấy 3.000 giáp sĩ vây quanh, mà trước đó không nghe tiếng người ngựa. Đồng về, nói với người ta: "Đúng là danh tướng." Vương Khâm Nhược đang lúc hiển quý, nghe tên Đồng, muốn mời ra dùng, ông cố từ chối không đến. Lâu sau, mới làm Đồng phán Củng châu. Đầu niên hiệu Thiên Thánh, ông dâng thư nói: "Từ niên hiệu Tường Phù trở đi, đường ngôn gián bị bít, Đinh Vị nhân lúc sơ hở mà bày chuyện điềm lành để lừa dối Tiên đế. Nay tội gian của Vị đã rõ, nên công bố cho thiên hạ, chỉnh lại sự sai lầm về điềm lành, để Tiên đế khỏi bị đời sau bàn nghị." Lại nói Khấu Chuẩn trung trực, tiết tháo sáng tỏ, nên cho trở về nội địa. Khi ấy Thái hậu đang lâm triều, mà Đồng nói như vậy, người ta cho là khó làm được. Sau thăng 2 lần, làm Tri Đế châu, mất.

Tập Hiền giáo lý Hoa Dương Bành Thừa khẩn khoản xin được gần quê, chiếu cho Thừa làm Tri Phổ châu. Người Thục được làm quan ở châu quận quê mình, bắt đầu từ Thừa. Người Phổ châu ít ai biết học, Thừa bèn hưng học, triệu con em trong châu làm sinh viên, dạy dỗ, phong tục nhờ đó mà đổi.

Ngày Tân Tị, xây Hội Thánh cung ở Tây Kinh, huyện Vĩnh An.

Tháng 2, ngày Mậu Tý, chiếu: "Những tờ cáo phong chức từ tam phẩm trở lên thời Ngũ đại còn lưu giữ, thì con cháu được theo luật ấm mà xếp thứ ấm thụ, nhưng phải có 3 viên Bảo quan bảo chứng." Chủ bút Ngự sử đài, người Củng châu là Thạch Giới dâng sớ cho là không nên, bị bãi chức.

Liêu chúa đi đến Long Hóa châu.

Tháng 3, ngày Giáp Tý, ngự điện Sùng Chính thi Tiến sĩ Lễ bộ đã dâng tên; ngày Bính Dần, thi các khoa khác. Ngày Đinh Mão, ban cho 200 Tiến sĩ như Hàm Bình vương Vương Củng Thọ đỗ, 49 người đồng xuất thân; ngày Kỷ Tị, lại ban cho 573 người các khoa khác đỗ và đồng xuất thân. Chiếu đổi tên Củng Thọ thành Củng Thần.

Ngày Nhâm Thân, ngự Hậu uyển, thưởng hoa câu cá. Hằng năm, các quan tùy tùng làm thơ, có người chuẩn bị trước; lần này xuất hành bất ngờ, nhiều người lúng túng, bọn ưu nhân lấy đó làm trò cười, tả hữu đều cười lớn. Hôm sau, thu hết thơ giao cho Trung thư, xếp hạng hay dở. Bí các giáo lý Hàn Hy làm thơ dở nhất, bị giáng chức, làm Đồng phán Ký châu.

Ngày Ất Hợi, chiếu: "Tông thất gả con gái, phải chọn người trong sĩ tộc có hạnh kiểm, nghĩa khí; kẻ nào dám lấy tiền của làm việc hôn nhân, Ngự sử đài, Nha môn tuần tra trong kinh phải xét tâu."

Lấy Độ chi phó sứ, Hình bộ lang trung, người Tiền Đường là Đường Túc làm Long Đồ các đãi chế. Túc thanh liêm, chính trực, tiết kiệm, thản nhiên với công danh. Khi ở Độ chi, gặp lúc mua lúa mạch cho Kinh sư, số lượng đã đủ, có hào tộc muốn nộp cho triều đình mấy chục vạn thạch, nhờ quyền quý trong cung can thiệp. Thái hậu trực tiếp bảo Túc, Túc nói: "Lúa mạch chứa trong kho thường không quá 2 năm, nhiều thì mục nát không ăn được, huống chi là làm rối phép nước!" Rốt cuộc không nhận. Từng làm Tri Hồng châu, thuyền đậu ở Nam Khang, không lập tức lên nhậm chức. Có người hỏi, Túc nói: "Chức điền lấy tháng 4 làm hạn, nay vội đi, há chẳng bị chê là chạy theo lợi sao?” Qua hơn 1 tháng mới lên đường.

Tam ty vì đang xây Thái Nhất cung và các viện Hồng Phúc, mua gỗ ở Thiểm Tây. Đồng phán Hà Trung phủ Phạm Trọng Yêm nói: "Chiêu Ứng, Thọ Ninh, điềm trời răn gần đây. Nay lại xa xỉ xây cất, phá sản dân, không phải là thuận lòng người, hợp ý trời." Chẳng bao lâu, ông được dời sang Trần châu, lại nói: "Ân sủng phần nhiều do nội chỉ mà bổ quan, không phải chính sự thời thái bình, xin lấy Thượng quan, Hạ Lâu làm răn." Việc tuy không thi hành, nhưng Hoàng đế khen lòng trung.

Đô thống nước Liêu Tiêu Hiếu Mục vây Đông Kinh, cách thành 5 dặm, bốn mặt đắp thành lũy, dựng lầu gác, khiến trong ngoài không thông. Phò mã Tiêu Hiếu Tiên và Nam Dương công chúa bị Đại Diên Lâm giam, nghe tin quân Liêu đến, Hiếu Tiên cùng em gái đào đất trốn ra. Công chúa đi sau, bị người giữ thành phát hiện, bị giết. Công chúa là con gái thứ tư của Liêu chúa.

Mùa hạ, tháng 4, Liêu chúa đến Càn lăng. Lấy Gia Luật Hành Bình làm Quảng Bình quân Tiết độ sứ, lấy Hạ Hành Mỹ làm Trung Thuận quân Tiết độ sứ.

Tháng 5, ngày Mậu Thân, Liêu chúa đến Bách Pha tránh nóng.

Ngày Giáp Dần, ban cho cháu đời thứ 25 của Trương Đạo Lăng ở Long Hổ sơn, Tín châu là Trương Càn Diệu hiệu Hư Tĩnh tiên sinh, lấy cháu ông là Kiến Tố làm Thí Tướng tác giám Chủ bạ, lại cho đời đời được tập tước hiệu Tiên sinh, miễn tô thuế, sưu dịch.

Tháng 6, ngày Quý Tị, Giám tu Quốc sử Lữ Di Giản cùng các quan dâng bộ “Tân tu Quốc sử” ở điện Sùng Chính. Theo lệ cũ, sử soạn xong, từ Giám tu trở xuống đều được thăng chức, Di Giản cố từ chối.

Ngày Ất Tị, ngự điện Sùng Chính, thi người khoa Thư phán bạt tú và Võ cử. Phép Võ cử, trước xem cưỡi ngựa bắn cung, rồi thi sách để định đỗ hay trượt, cung ngựa để định cao thấp, mỗi khi gặp Chế cử thì đều thi như vậy.

Ngày Mậu Thân, lấy người khoa Thư phán bạt tú là Tư lý tham quân Tuyên châu, người Khúc Giang là Dư Tĩnh làm Tướng tác giám thừa, Tri Hải Dương huyện; An Đức Tiết độ Thôi quan, người Hà Nam là Doãn Thù làm Vũ Thắng Tiết độ Chưởng thư ký, Tri Hà Dương huyện.

Mùa thu, tháng 7, ngày Đinh Tị, chiếu tu soạn “Quốc triều Hội yếu”.

Ngày Bính Tý, sách vấn người Chế cử, ngự điện Sùng Chính, sách vấn Hiền lương phương chính, năng trực ngôn cực gián là Thái thường bác sĩ, người Thành Đô là Hà Vịnh, và Mậu tài dị đẳng là Phú Bật. Vịnh, Bật đối sách, đều được xếp hạng thứ tư. Ngày Đinh Sửu, lấy Vịnh làm Tư bộ viên ngoại lang, Đồng phán Vĩnh Hưng quân, ban cho phẩm phục ngũ phẩm; Bật làm Tướng tác giám thừa, Tri Trường Thủy huyện.

Ngày Nhâm Ngọ, nước Liêu chiếu sang năm thi hành phép cống cử.

Tháng 8, ngày Mậu Tý, chiếu: "Những người bị lưu phối chết dọc đường, thì vợ con được cấp lương ăn, đưa về quê quán."

Đông Kinh nước Liêu bị vây đã lâu, trong thành phá nhà lấy gỗ làm củi. Ngày Mậu Thân, tướng giặc là Dương Tường Thế bí mật gửi thư xin hàng, ban đêm mở cửa nam cho quân Liêu vào, bắt Đại Diên Lâm, đất Bột Hải được bình định. Phò mã Đại Lực Thu, vì dính líu việc Đại Diên Lâm, bị xử tử.

Tháng 9, ngày Bính Thìn, bãi việc bá quan chuyển đối. Từ khi khôi phục chế độ chuyển đối, người nói việc khá nhiều, đại thần không vui, nên lại bãi.

Ngày Ất Sửu, Khu mật phó sứ Khương Tuân mất.

Tỳ nữ nhà Lưu Mỹ ra vào trong cấm cung, chiêu tập quyền lợi rất lớn, Khu mật trực học sĩ, Hình bộ Thị lang Triệu Chẩn kết giao thân mật với ả. Ngày Kỷ Tị, thăng Chẩn làm Khu mật phó sứ. Chiếu mệnh chưa ban ra, có người chạy đến báo cho Chẩn, Chẩn hỏi: "Đông đầu, hay Tây đầu?” Ý ông ta là muốn vào Trung thư. Người đời truyền nhau làm chuyện cười.

Đầu thời Tống, lợi muối đều thuộc về triều đình, muối do dẫn nước vào Giải trì mà kết tinh gọi là “khóa diêm”, ở Hoài, Chiết, Thục, Quảng nấu nước biển, nước giếng mặn mà thành thì gọi là “mạt diêm”, lúc đầu đều cho thương nhân tự do buôn bán. Đến niên hiệu Hàm Bình, Lương Đỉnh xin triều đình tự bán muối Giải trì, chẳng bao lâu, vì công tư phiền nhiễu, lại trở về cho thương nhân buôn bán như cũ. Hoàng đế mới lên ngôi, đặt Kế trí ty, bàn lợi hại của trà, muối. Phép trà đổi sang “thiếp xạ”, còn muối thì triều đình tự bán, lợi ít mà hại nhiều. Hai ao muối tích muối thành gò, trên đó cây mọc to đến ôm. Tuyển nhân Vương Cảnh dâng sớ, xin cho thương nhân được buôn bán, định giá bình quân mà bán, để giảm bớt sức dân, Thái hậu cho là phải, lệnh Thịnh Độ, Vương Tùy bàn đổi chế độ.

Tùy cùng Quyền Tam ty sứ Hồ Tắc vạch ra 5 điều lợi của việc cho thương nhân buôn bán, dâng lên rằng: "Khi cấm thương nhân, phải chặt cây đóng thuyền để chở muối, khiến binh dân mệt nhọc, không chịu nổi, nay bỏ tệ ấy, đó là 1 lợi. Ban đầu dùng đường bộ vận chuyển, lại phải phát ‘thiếp đầu’, lại bắt xe dân chở, người nghèo sợ dịch, nhiều năm trốn tránh, nay đều bãi bỏ, đó là 2 lợi. Vận chuyển bằng thuyền có nạn chìm đắm, bọn quan coi kho tham ô, trộn lẫn bùn cát, diêm thạch, vị mặn đắng, sinh bệnh nặng, nay đều được dùng muối thật, đó là 3 lợi. Tiền tệ của nước, gọi là ‘hóa tuyền’, là muốn cho lưu thông, mà nhà giàu cất giữ tiền không đem ra, nên dân dụng đều túng thiếu, nay mỗi năm thu được hơn 60 vạn của thương nhân, cũng giúp chi dùng, đó là 4 lợi. Mỗi năm giảm bớt tiền cấp cho quân lính, phu làm ruộng muối, đó là 5 lợi." Mùa đông, tháng 10, ngày Bính Thân, chiếu bãi phép độc quyền ở 3 Kinh, 28 châu quân, cho thương nhân đem tiền hoặc vàng bạc vào Kinh sư, do Nha môn Khế hóa vụ cấp phiếu, nhận muối ở Giải trì, nhưng lại nhấn mạnh cấm tư nhân buôn lậu. Chiếu ban xuống, dân ở Bồ, Giải đều lập trai đường “Cảm Thánh Ân”. Từ đó tuy thương nhân buôn bán lưu thông, nhưng số thuế muối nộp vào triều đình mỗi năm giảm đi.

Ngày Nhâm Dần, đặt chức Thiên Chương các đãi chế, địa vị dưới Long Đồ các đãi chế, lệnh Cúc Vịnh, Phạm Phúng giữ chức ấy.

Tháng này, Liêu chúa đóng quân ở Trường Ninh Điện.

Tháng 11, ngày Bính Dần, triều yết Kính Linh cung. Ngày Đinh Mão, tế Thái miếu. Ngày Mậu Thìn, hợp tế Trời Đất ở Viên Khâu, đại xá, vào điện Hội Khánh chúc mừng Hoàng thái hậu.

Ngày Tân Hợi, Đô thống nước Liêu Tiêu Hiếu Mục và các tướng từ Đông Kinh khải hoàn, mặc giáp phục vào chầu, Liêu chúa ban yến, khao thưởng. Hôm sau, phong Hiếu Mục làm Đông Bình vương, ban hiệu Tả quốc công thần. Phò mã Tiêu Thực Địch phong Lan Lăng quận vương, Tiêu Tằng Nỗ gia phong Thị trung, lấy Tiêu Huệ làm Nam Kinh Thống quân sứ. Chẳng bao lâu, lấy Hiếu Mục làm Đông Kinh Lưu thủ. Sau khi Đông Kinh bị tàn phá, Hiếu Mục vỗ về thu nạp dân lưu tán, chính sự chủ trương khoan giản, dân yên ổn. Liêu chúa chiếu cho người các họ cũ nước Bột Hải, ai có công lao, tài lực thì được bổ dụng, còn lại chia ra ở các châu Lai, Tập, Thiên, Nhuận.

Tháng 12, ngày Quý Mùi, gia ân cho bá quan.

Ngày Nhâm Thìn, lấy Tư hộ tham quân Lôi châu là Đinh Vị làm Đạo châu Tư hộ tham quân.

Ngày Đinh Mùi, Định Nan Tiết độ sứ, Tây Bình vương Triệu Đức Minh sai sứ đến, dâng 70 con ngựa, xin ban cho 1 tạng “Phật kinh”, được chấp thuận.

Năm ấy, Đồng phán Hà Trung phủ Phạm Trọng Yêm dâng sớ, xin Thái hậu trả lại quyền chính, đại lược nói: "Bệ hạ che chở thánh thân, nghe quyết đại chính, ngày tháng đã lâu. Nay Hoàng đế tuổi xuân đã lớn, duệ triết minh thánh, mà vẫn nắm cương trời, giao nút đất, không phải là điềm lành của ‘hoàng thường’. Há chẳng bằng giữ gìn phúc thọ ở Trường Lạc, thu lại đại quyền, trả cho chân chủ, để hưởng sự phụng dưỡng của thiên hạ!" Sớ dâng lên, không trả lời.

Nước Cao Ly sang cống.

Năm Thiên Thánh thứ 9 (Liêu, năm Thái Bình thứ 11, tháng 6 đổi thành năm Cảnh Phúc thứ 1), Công nguyên năm 1031

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Bính Thìn, tiết Trường Ninh, bá quan lần đầu vào điện Hội Khánh chúc thọ Hoàng thái hậu.

Ngày Kỷ Mùi, nước Quy Tư, Sa châu đều sai sứ dâng sản vật địa phương. Ngày Canh Thân, Tư chính điện học sĩ Yến Thù tâu: "Chiêm Thành, Quy Tư, Sa châu, Khung Bộ Xuyên man di thường có kẻ dắt cả nhà vào cống, xin theo lệ triều trước, giao cho Quán bạn sứ hỏi han phong tục đường sá, lại vẽ hình người, y phục, mũ mão, dâng lên Sử quán." Được chấp thuận.

Ngày Tân Dậu, lấy Hình bộ Thượng thư, Tri Hứa châu Trương Sĩ Tốn làm Định Quốc Tiết độ sứ, Kiểm giáo Thái phó. Khi ấy Sĩ Tốn vào triều, mong được lại làm Tể tướng. Thiên Chương các đãi chế Cúc Vịnh tâu: "Tào Lợi Dụng tự ý làm mưa làm gió, Sĩ Tốn thân thiết với hắn, kéo hắn lên đến chức Tể tướng, Bệ hạ đặc biệt dùng ông ta làm quan Đông cung. Thần xin chặt bỏ tình cũ, giương cao công luận, sớm khiến ông ta ra trấn phiên." Sĩ Tốn bèn đi nhậm chức Hứa châu.

Ngày Đinh Mão, lấy Tư bộ viên ngoại lang Triệu Tông Khác làm Tri chế cáo. Tông Khác là con của Triệu Duệ. Tống Thụ từng nói: "Từ đời Đường trở đi, chỉ có Dương Vu Lăng là thân thấy con cháu lại tiếp tục nắm việc soạn thảo chiếu mệnh, nay mới có nhà Triệu vậy."

Ngày Tân Mùi, Tiền Duy Diễn đổi làm Phán Hà Nam phủ. Duy Diễn mượn cớ bệnh, ở lại Kinh sư đã lâu, khi được bổ làm Trần châu, lại chần chừ không đi, còn mưu tính chức Tể tướng. Thiên Chương các đãi chế Phạm Phúng tâu: "Duy Diễn từng làm Khu mật sứ, vì là thân thích Hoàng thái hậu mà bị bãi, để tỏ rõ triều đình không tư riêng, nay không thể lại dùng." Điện trung Thị ngự sử, người Tu Thành là Quách Khuyến cũng thúc giục Duy Diễn lên đường. Duy Diễn tự nói: "Mồ mả tổ tiên ở Lạc Dương, xin giữ việc cung khóa." Bèn lệnh Duy Diễn giữ Hà Nam, giục ông ta đi.

Hàn lâm học sĩ Thịnh Độ xin cho con là Phụng lễ lang Thân Phủ được vào quán các đọc sách, được chấp thuận.

Tháng 2, ngày Quý Tị, chiếu khôi phục chức điền.

Tháng 3, ngày Nhâm Tý, Lễ bộ viên ngoại lang, Thiên Chương các đãi chế Cúc Vịnh mất.

Ngày Quý Hợi, ban cho châu học ở Thanh châu bộ “Cửu kinh”, theo lời xin của Vương Tằng. Từ đó, các châu quận lập học đều được ban sách.

Liêu chúa từ đầu xuân đi đến sông Hỗn Đồng, rồi lại đến sông Trường Xuân. Cuối đời, Liêu chúa mắc bệnh tiêu khát, lời nói nhiều kiêng kỵ, phàm việc chết chóc, bọn thị thần hầu cận đều không được nhắc đến, đến nay bệnh càng nặng.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Mậu Dần, chiếu ở Lũng châu có vụ án luận 5 dân thường là cướp giết người, xử tử, dù sau đó có đại xá, cũng đều theo tội nặng mà xử.

Tháng 5, ngày Ất Sửu, xét tù.

Trong cõi nước Liêu, các sông vì mưa lớn chảy tràn, mất cả dòng cũ.

Tháng 6, bệnh Liêu chúa nguy kịch, dùng trạm cấp tốc triệu Đông Kinh Lưu thủ Tiêu Hiếu Mục, Thượng Kinh Lưu thủ Tiêu Hiếu Tiên và Tả Thừa tướng Trương Kiệm, bảo họ phò lập Thái tử, hết sức không được làm trái lời thề với Nam triều. Ngày Kỷ Mão, Liêu chúa băng ở hành cung bên sông Đại Phủ, thọ 61 tuổi, thụy là Văn Vũ Đại Hiếu Tuyên Hoàng đế, miếu hiệu Thánh Tông.

Thánh Tông giữ lời ước rất nghiêm, chưa từng khơi dậy việc biên giới. Ở ngôi 49 năm, xét oan ức, cất nhắc người có tài hạnh, tra xét kẻ tham tàn, kiềm chế xa xỉ vượt lễ, ghi công con cháu người chết trận, cứu giúp các bộ tộc nghèo khó, trách mắng cận thần nịnh hót, từ chối nữ nhạc nước Cao Ly, trong các Hoàng đế nước Liêu được gọi là vị chúa hiền. Đến khi băng, Thái tử lên ngôi, đổi niên hiệu là Cảnh Phúc.

Ban đầu, Thánh Tông biết Nguyên phi và Hoàng hậu có hiềm khích, lúc bệnh căn dặn Thái tử rằng: "Hoàng hậu hầu hạ cha đã 40 năm, vì bà ấy không có con, nên lập mày làm Thái tử. Tao chết rồi, mẹ con mày tuyệt đối không được giết bà." Nguyên phi nghe thế càng giận. Khi bệnh Thánh Tông nguy kịch, Nguyên phi mắng Hoàng hậu: "Con mụ già kia, sủng ái cũng phải có chừng mực chứ!" Sai tả hữu dìu Hoàng hậu ra. Di chiếu của Thánh Tông phong Hoàng hậu làm Hoàng thái hậu, Nguyên phi làm Hoàng thái phi; Nguyên phi giấu chiếu, tự xưng là Hoàng thái hậu nắm quyền chính.

Thái hậu đã được chí, kéo Tiêu Hiếu Tiên cùng mưu kín, muốn vu cho Hoàng hậu có tội, vì Phò mã Tiêu Thực Địch được Hoàng hậu yêu mến, nên rất ghen ghét. Tần Tấn công chúa lén nghe được mưu ấy, bảo Thực Địch rằng: "Chàng sắp vô tội mà bị giết, thà chạy sang Nữ Chân để giữ mạng, còn hơn là chết." Thực Địch nói: "Triều đình há lại chịu dùng lời đồn để hại trung lương? Tôi thà chết, không sang nước khác." Gặp lúc Hộ vệ Phùng Gia Nỗ, Y sĩ trong trướng là Da Luật Hỷ Tốn đón ý dâng lời vu cáo, vu cho Bắc phủ Tể tướng Tiêu Xước Bố và Thực Địch mưu phản, muốn phụng Hoàng hậu nhiếp chính, rồi từ từ bàn người nên lập. Thái hậu lệnh tra xét. Ngày Tân Sửu, Thái hậu giết Xước Bố, Thực Địch và 7 người đồng đảng, lời cung khai liên lụy đến Hoàng hậu. Liêu chúa nghe, bảo rằng: "Hoàng hậu hầu hạ Tiên đế đã nhiều năm, nuôi dưỡng thân ta, đáng làm Thái hậu, nay không được như thế, lại còn kết tội bà, có phải đạo chăng?” Thái hậu nói: "Người này nếu còn sống, e sau này sinh hậu hoạn." Liêu chúa nói: "Hoàng hậu không con, lại tuổi già, dù còn sống cũng không làm được gì." Thái hậu không nghe, rốt cuộc cho chở Hoàng hậu bằng xe nhỏ giam ở Thượng Kinh. Khi ấy, bề tôi nước Liêu đều sợ uy thế Thái hậu, không ai dám nói. Khu mật sứ Tiêu Phác một mình dâng thư bày tỏ Hoàng hậu bị vu oan, không được trả lời, Phác uất ức, đến nỗi nôn ra máu.

Hùng châu nhận được tin báo tang của Liêu Thánh Tông. Ngày Tân Sửu, ngưng triều 7 ngày, ở Kinh sư và các vùng biên giới Hà Bắc, Hà Đông cũng cấm âm nhạc 7 ngày, sai sứ sang tế viếng, phúng điếu và chúc mừng tân quân lên ngôi.

Mùa thu, tháng 7, ngày Bính Ngọ mồng 1, Liêu Thái hậu dẫn tông thất đến khóc lớn ở điện Thái Bình, nước Cao Ly sai sứ đến phúng điếu. Liêu chúa triệu Tấn vương Tiêu Phổ Cổ cùng các vương uống rượu, đánh bạc, đến nửa đêm mới thôi.

Phụng lăng quân Tiết độ sứ nước Liêu là Da Luật Cát Thực đến báo tang, Hoàng đế mặc đồ tang ở điện nhỏ phía đông cửa Nội đông môn, quay mặt về phía nước Liêu mà khóc, cất tiếng 5 lần rồi thôi, Hoàng thái hậu cũng khóc theo như nghi thức ấy. Sai cận thần đến quán sứ viếng, mặc thường phục, đai đen, buộc dây lưng thô, không đeo ngư phù.

Ngày Đinh Mùi, Liêu chúa đánh cầu (kích cúc).

Ngày Canh Tuất, nước Liêu phát chẩn cho dân đói ở Kế châu.

Ngày Ất Mão, nước Liêu vì mấy năm được mùa, bãi việc cấp lương cho Nam Kinh Thống quân ty.

Ngày Đinh Tị, Liêu chúa đến bái tượng Thánh Tông, khóc thương rất lâu, nhân đó lệnh vẽ tượng Bắc phủ Tể tướng Tiêu Hiếu Hữu, Nam phủ Tể tướng Tiêu Hiếu Mục đặt ở điện Ngự dung.

Ngày Mậu Ngọ, lệnh Khổng Đạo Phụ làm Sứ sang chúc mừng Liêu Thái hậu được sách phong. Từ đây mới đặt Sứ chúc mừng lễ sách phong Thái hậu nước Liêu.

Ngày Nhâm Thân, Liêu chúa đến bái thần chủ trong trướng. Lúc ấy, Ảo Ôi họ Tiêu mới vào cung, cũng lệnh cho bái.

Ngày Quý Dậu, lấy Hàn lâm Thị giảng học sĩ, Binh bộ Thị lang Tôn Thực làm Công bộ Thượng thư, Tri Vận châu. Thực 3 lần xin cáo lão, được triệu vào điện Thừa Minh, Hoàng đế ân cần khuyên giải. Thực vì tuổi đã hơn 70, cố xin, rơi lệ, Hoàng đế cũng thương xót. Chiếu cho dân là Phùng Nguyên giảng “Lão Tử” 3 chương, mỗi người ban 200 tấm lụa. Vì không được cho cáo lão, ông xin làm quan ở gần Kinh, nên được ban chức cao, lại chiếu phải đợi yến tiễn rồi mới đi.

Ngày Giáp Tuất, Hữu Chính ngôn Trần Chấp Trung bị bãi chức Độ chi phán quan, về làm việc ở Ty Gián. Lúc ấy, Gián nghị đại phu, Tư gián, Chính ngôn đều không trực tiếp đảm nhiệm chức gián, phải có chiếu riêng đến Ty Gián làm việc, mới gọi là Gián quan.

Tháng 8, ngày Đinh Sửu, Thái tử Thiếu bảo cáo lão Mã Lượng mất, truy tặng Hữu Bộc xạ. Lượng có trí lược, nhanh nhẹn trong việc chính sự, nhưng đến đâu cũng không có tiếng là liêm khiết. Đến khi mất, vì con rể là Lữ Di Giản đang làm Tể tướng, nên được thụy là Trung Túc, người ta không cho là phải.

Quyền Tri Khai Phong phủ Khấu Trạm mất. Trạm ban đầu theo Đinh Vị, nên sớm được thăng tiến. Đến khi Vị thất thế, ông bị giáng, uất ức không vui. Bí thư thừa Bành Văn làm bài “Tang gia cẩu” để châm biếm ông.

Tháng 9, ngày Mậu Thân, Liêu chúa thân đến xem mộ Cảnh lăng.

Ngày Kỷ Tị, lấy Hữu Gián nghị đại phu Trình Lâm làm Cấp sự trung, Quyền Tri Khai Phong phủ.

Con Vương Mông Chính là Tề Hùng đánh chết người già, Lâm lệnh cho hữu ty khám nghiệm. Mông Chính có thông gia với Thái hậu, Thái hậu nhân lúc Lâm vào chầu, nói: "Tề Hùng không phải là người giết, mà là nô bộc của hắn từng đánh người ấy." Lâm nói: "Nô bộc không được tự tiện xử người, lại khiến chủ nhân cùng chịu tội." Thái hậu im lặng. Rốt cuộc xử theo pháp luật.

Ngày Canh Ngọ, lấy Lại bộ Thượng thư, Tri Thiên Hùng quân Vương Tằng làm Chương Đức Tiết độ sứ, vẫn Tri Thiên Hùng quân. Sứ nước Liêu qua lại, đều thu xếp xe ngựa rồi mới đi qua, không ai dám ồn ào. Dân vui với chính sự của ông, vẽ tượng, lập sinh từ thờ khi ông còn sống.

Ngày Giáp Tuất, nước Liêu sai sứ đến tạ việc phúng điếu.

Mùa đông, tháng 10, ngày Mậu Dần, Tể thần nước Liêu là Lữ Đức Mậu mất.

Ngày Kỷ Mão, lấy Hàn lâm học sĩ Tống Thụ làm Long Đồ các học sĩ, Tri Ứng Thiên phủ.

Khi ấy, Thái hậu vẫn xưng chế, 5 ngày một lần ngự điện Thừa Minh, buông rèm quyết đoán việc, mà Hoàng đế chưa từng một mình đối diện quần thần. Thụ tâu: "Nên noi theo chế độ đời Đường niên hiệu Tiên Thiên, lệnh quần thần vào chầu ở Tiền điện, trừ việc quân quốc đại sự và bổ nhiệm, còn thì đều ở Tiền điện xin chỉ." Tấu dâng lên, trái ý Thái hậu, nên lệnh ông ra trấn thủ. Thị ngự sử Lưu Tùy, Điện trung Thị ngự sử Quách Khuyến đều nói Thụ có văn từ, nên giữ lại trong triều, nhưng không được nghe theo.

Ngày Bính Tuất, hạ chiếu răn bảo, cảnh tỉnh các quan, là do lời thỉnh cầu của Thị ngự sử tri tạp sự Lưu Tùy (劉隨). Đại lược nói: "Gần đây, trong hàng sĩ đại phu, danh tiết không được gắng giữ. Kẻ khoe công lao thì đoạt lấy công đẹp để gần với tiếng tăm; kẻ mong được tiến dụng thì làm điều hiểm ác để cầu ân sủng. Người được phân nhiệm trấn giữ biên thùy thì có kẻ tâu xin không biết chán; người được giao việc tra xét án vụ thì có kẻ cho rằng khoan dung buông thả mới là phải. Tham lam mà không biết xấu hổ, nên chỉ lo mưu lợi riêng; già mà không có tài, lại chẳng biết lui về. Nay dựa theo phép huấn cũ, để răn bảo mọi người; nếu ai hơi có chỗ trái với phép tắc của quan lại, ắt sẽ tự mình bị giao cho pháp luật công."

Nước Liêu sai sứ sang, dâng các di vật của tiên chúa. Ngày Kỷ Dậu, lại sai sứ sang tạ ơn việc chúc mừng Hoàng đế lên ngôi và lễ sách phong Thái hậu.

Tháng nhuận, ngày Tân Hợi, quan lại nước Liêu tâu xin lấy ngày sinh của Liêu chúa làm Vĩnh Thọ tiết, ngày sinh của Thái hậu làm Ứng Thánh tiết, được chuẩn cho.

Ngày Tân Dậu, Liêu chúa duyệt binh, xem áo giáp mới chế tạo.

Ngày Quý Hợi, lấy Diêm thiết phó sứ Vương Tông (王鬷) người Triệu châu làm Thiên Chương các đãi chế.

Trước đó, Mã Tự Lương (馬季良) dâng lời: "Thương nhân ở Kinh sư thường mua bán giấy giao dịch trà muối với giá rẻ, xin triều đình lập nha môn thu mua." Tự Lương đang được dùng, các quan hữu ty không ai dám trái ý, chỉ riêng Tông không đồng ý, nói: "Tranh lợi với dân, há hợp thể thống quốc gia sao!" Việc ấy bèn bỏ.

Ngày Đinh Mão, nước Liêu phát chẩn cứu đói cho Hoàng Long phủ.

Ngày Mậu Thìn, Tri Duyện châu Tôn Thức (孫奭) vào chầu từ biệt, được yến tiệc riêng ở lầu Thái Thanh, lại triệu Thái tử Thiếu bảo đã cáo quan là Triệu Quảng (晁迥) cùng các cận thần đều dự. Hôm sau, Thức vào tạ, lại được lệnh giảng sách “Lão Tử”, ban cho áo bào, đai vàng, ngựa yên cương đầy đủ. Đến lúc lên đường, lại ban yến ở viên Thụy Thánh, lại ban thơ, chiếu lệnh các cận thần đều làm thơ.

Tháng 11, ngày Tân Tị, dời Tam quán đến Sùng Văn viện. Trước đó, Tam quán và Bí các ở trong Tả Dịch môn, ngoài Tả Thăng Long môn. Năm Đại Trung Tường Phù thứ 8, Đại nội bị cháy, tạm dời sang ngoài Hữu Dịch môn, đến đây Sùng Văn viện sửa xong, lại dời đến đó.

Ngày Bính Thân, nước Liêu an táng Văn Vũ Đại Hiếu Tuyên Hoàng đế tại Kính lăng.

Trước đó, Da Luật Tư Trung (耶律資忠) được Thánh Tông tin dùng, vì trái ý quyền quý nên bị giáng làm Chiêu Đức tiết độ sứ. Đến đây, ông ta dâng biểu xin dự lễ táng. Khi đến nơi, phục xuống trước linh cữu khóc lớn, nói: "Thần may được gặp minh chúa, bỗng dưng bị gièm pha vu cáo, không được hết sức báo đáp như chó ngựa." Khóc đến tắt thở rồi lại tỉnh. Liêu chúa sai ngự y chữa bệnh, lâu ngày, Tư Trung nói: "Quốc cữu Hiếu Tiên không có lòng lo cho nước, bệ hạ không nên lại dùng niên hiệu Cảnh Phúc của nhà Đường." Bọn cầm quyền vì thế ghét ông ta, sai trở về trấn nhậm. Chẳng bao lâu thì mất.

Ngày Đinh Hợi, khẩn cấp cấm luyện phèn ở hai lộ Xuyên.

Tháng 12, ngày Quý Sửu, Liêu chúa từ Kính lăng trở về.

Thái hậu nghe chính sự, Liêu chúa không thân dự việc thường ngày, quần thần dâng biểu xin, Liêu chúa không theo.

Ngày Giáp Dần, chiếu cho Bộ Lại tuyển bổ: "Những người chờ bổ nhiệm mà cha mẹ trên 80 tuổi, thì tạm bổ vào chức gần quê nhà."

Năm ấy, nước Liêu phong con của Lý Đức Minh (李德明) là Nguyên Hạo (元昊) làm Hạ Quốc công, gả Hưng Bình công chúa cho.

Năm Minh Đạo thứ 1 (Liêu, năm Trọng Hi thứ 1), Công nguyên năm 1032

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Nhâm Thân mồng 1, Liêu Thái hậu ngự chính điện, nhận lễ triều bái của Liêu chúa và quần thần.

Ngày Ất Hợi, lấy Tri Giang Lăng phủ, người Hội Kê là Đỗ Duyên (杜衍) làm Hà Bắc Đô chuyển vận sứ. Trước đó, lệnh cho Duyên giữ Kinh Nam, Điện trung Thị ngự sử Quách Khuyến (郭勸) nói Duyên thanh liêm, ngay thẳng, nên giữ lại ở triều trung, nhưng không được nghe theo. Gặp lúc Hà Bắc thiếu quân phí, bèn sai Duyên đến đó lo liệu, không tăng thuế với dân mà vẫn đủ dùng.

Ngày Đinh Sửu, Liêu chúa đi Tuyết Lâm.

Ngày Quý Tị, chiếu: "Quan xét hạch mà tâu hặc quan lại thuộc quyền, rồi lại bị thuộc lại kiện ngược, từ nay không được thụ lý."

Tháng 2, ngày Quý Mão, Giám tu Quốc sử Lữ Di Giản (呂夷簡) dâng bộ “Tam triều bảo huấn” 30 quyển.

Ngày Canh Tuất, lấy Tri Hứa châu, Định Quốc tiết độ sứ Trương Sĩ Tốn (張士遜) làm Hình bộ Thượng thư, Đồng Trung thư Môn hạ Bình chương sự.

Ngày Đinh Mão, lấy Thuận dung của Chân Tông là Lý thị làm Thần phi. Ngày hôm ấy, Thần phi mất. Khi bà mới sinh Hoàng đế, Hoàng Thái hậu liền nhận làm con mình. Hoàng đế lên ngôi hơn 10 năm, Thần phi lặng lẽ ở trong hàng tần ngự của tiên triều, chưa từng tự xưng khác, người ta sợ Thái hậu cũng không ai dám nói, suốt đời Thái hậu, Hoàng đế không tự biết mình do Thần phi sinh ra. Đến khi bệnh nguy kịch, mới được tiến phong, thọ 46 tuổi.

Ban đầu, trong cung chưa cử tang, Tể tướng Lữ Di Giản vào chầu tâu việc, nhân nói: "Nghe có cung tần qua đời." Thái hậu giật mình nói: "Tể tướng cũng dự vào việc trong cung sao?” Rồi kéo Hoàng đế cùng đứng dậy. Một lát sau, Thái hậu ngồi một mình sau rèm, triệu Di Giản hỏi: "Một cung nhân chết, có can dự gì đến tướng công đâu?” Di Giản nói: "Thần mang danh Tể tướng, việc trong ngoài không gì không nên dự." Thái hậu nổi giận nói: "Tướng công muốn ly gián mẹ con ta sao?” Di Giản nói: "Thái hậu nếu không nghĩ đến Lưu thị, thần không dám nói; nếu còn nghĩ đến Lưu thị, thì lễ tang nên theo lối trọng hậu." Thái hậu chợt hiểu, vội nói: "Ấy là Lý Thần phi, vậy nên làm thế nào?” Di Giản bèn xin cử tang ở điện Hoàng Nghi, dùng lễ phẩm bậc nhất quàn tại chùa Hồng Phúc. Lại bảo Nội thị La Sùng Huân (羅崇勳): "Thần phi nên dùng hoàng bào của Hoàng hậu để liệm, dùng thủy ngân lấp đầy quan tài." Hữu ty đoán ý Thái hậu, nói rằng năm tháng chưa thuận lợi. Lúc ấy có chiếu muốn đục tường thành cung để đưa tang ra, Di Giản vội xin vào chầu, Thái hậu đoán biết ý, sai Sùng Huân hỏi, Di Giản nói: "Đục tường là trái lễ, tang nên đưa ra từ cửa Tây Hoa môn." Thái hậu lại sai Sùng Huân nói: "Há ngờ khanh cũng như thế!" Di Giản nói: "Thần ở chức Tể tướng, lẽ ra phải tranh luận ở triều. Thái hậu không cho, thần quyết không lui." Sùng Huân đi lại 3 lần, Thái hậu vẫn không cho. Di Giản nghiêm mặt bảo Sùng Huân: "Thần phi sinh ra Thánh thượng, mà tang không thành lễ, sau này ắt có người chịu tội vì việc ấy, chớ bảo là hôm nay Di Giản không nói!" Sùng Huân sợ, phi ngựa báo, Thái hậu bấy giờ mới cho.

Tháng 3, ngày Nhâm Thân mồng 1, nước Liêu lệnh Thượng phụ, Khuất Thủy quận vương Địch Lễ (迪禮) lại làm Đặc Lý Côn.

Từ khi Liêu Thái hậu nhiếp chính, liền truy phong tằng tổ làm Lan Lăng vương, cha làm Tề vương, các em trai đều phong vương, bọn nô lệ họ Tiêu được làm Đoàn luyện, Phòng ngự, Quan sát, Tiết độ sứ đến hơn 40 người. Dân Yên vô lại phần nhiều mạo xưng là nhạc công, để làm nô cho họ Tiêu.

Ngày Mậu Tý, bắt đầu thi hành “Thiên Thánh biên sắc”.

Thái thường bác sĩ An Khâu Minh Hạo (安丘明鎬), trước làm thuộc lại ở mạc phủ châu Kì, Tri châu Đặng Dư Khánh (鄧餘慶) tham tàn bạo ngược, việc trong châu đều do Minh Hạo giữ cho ngay thẳng. Tiết độ sứ Tạ Khuê (薛奎) lĩnh Tần châu, Ích châu, đều chiêu Minh Hạo theo mình. Đến đây, Minh Hạo bị bãi chức Đồng phán Ích châu, về triều, được ban cho yết kiến, Hoàng đế hỏi các phụ thần về sở trường của Minh Hạo, Khuê nói: "Minh Hạo có văn học, tính trầm tĩnh, sắc bén, có thể quyết đoán việc lớn, xin bệ hạ sớm dùng." Ngày Kỷ Sửu, lệnh Minh Hạo tạm quyền chức Thôi quan phủ Khai Phong, chẳng bao lâu thì cho làm chính thức.

Giang, Hoài hạn hán. Ngày Mậu Tuất, chiếu xét lại tù nhân bị giam, tội lưu trở xuống đều giảm 1 bậc, tội trượng, tội đánh roi đều tha.

Ngày Kỷ Hợi, bãi tiền đinh thân ở Vụ châu, Tú châu.

Mùa xuân năm ấy, Liêu chúa mở cuộc săn lớn. Thái hậu lo Liêu chúa nhớ ơn nuôi dưỡng của Tề Thiên Hoàng hậu, nhân lúc Liêu chúa ra ngoài săn bắn, sai người phi ngựa đến Thượng Kinh giết Hoàng hậu. Hoàng hậu nói: "Ta thật vô tội, thiên hạ đều biết, hãy đợi ta tắm rửa rồi sau mới chết, được chăng?” Sứ giả lui ra, đến khi quay lại thì Hoàng hậu đã mất, thọ 50 tuổi. Nhân đó giết hơn 100 người hầu cận, an táng theo lễ thứ dân.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Mậu Ngọ, Tri Địch châu Vương Thiệp (王涉) vì tội mạo nhận đất công làm ruộng chức điền, bị phát phối đến Lao thành Quảng Nam.

Tháng 6, Điện trung Thị ngự sử, người Ký là Trương Tồn (張存) dâng sớ nói: "Từ khi bệ hạ nối ngôi đến nay, rộng nghe lời nói thẳng, không có điều kiêng kỵ, người trong thiên hạ đều mong được nói lời ngay thẳng. Từ mùa thu năm trước, chiếu bãi việc bách quan chuyển đối, mùa đông năm ngoái giáng chức Ngự sử Tào Tu Cổ (曹修古) và những người khác, mới đây lại nghe Tiến sĩ Lâm Hiến Khả (林獻可) vì dâng phong thư mà bị đày xa đến Lĩnh Nam, lòng người hoang mang, trong ngoài không hiểu. Thần sợ rằng từ nay lời nói trung trực, cùng những manh mối trị loạn, an nguy, sẽ bị che lấp mà không đến được." Nhân đó lần lượt dẫn việc Chu Xương, Chu Vân, Tân Khánh Kị, Tân Bì đời xưa để mở rộng ý cho Hoàng đế.

Mùa thu, tháng 7, ngày Ất Dậu, Tham tri chính sự Vương Thự (王曙) bị bãi, làm Tư chính điện học sĩ, Tri Thiểm châu, là do ông ta tự xin vì bệnh.

Ngày Tân Mão, lấy Môn hạ tỉnh làm Gián viện, dời Môn hạ tỉnh cũ sang phía tây Hữu Dịch môn. Tiên triều tuy đặt quan Gián quan nhưng chưa từng lập viện, đến khi Trần Chấp Trung (陳執中) làm Gián quan, nhiều lần xin, từ đây mới đặt Gián viện.

Liêu chúa săn bắn ở rừng Tùng Bình Địa.

Tháng 8, ngày Tân Sửu, lấy Tam ty sứ, Binh bộ Thị lang Yến Thù (晏殊) làm Khu mật phó sứ. Ngày Bính Ngọ, lại lấy Yến Thù làm Tham tri chính sự.

Liêu chúa đóng quân ở Xích Hà nguyên. Ngày hôm ấy, Hoàng tử Hồng Cơ (洪基) sinh.

Ngày Giáp Dần, lấy Dương Sùng Huân (楊崇勳) làm Khu mật phó sứ.

Ngày Mậu Ngọ, chiếu Quốc tử giám trùng tu Thất thập nhị hiền đường, từ Tả Khâu Minh (左丘明) trở xuống 21 người, đều vẽ hình mặc triều phục theo phẩm trật của họ.

Ngày Nhâm Tuất, sửa xong điện Văn Đức. Đêm ấy, Đại nội bị cháy, lan đến 8 điện: Sùng Đức, Trường Xuân, Tư Phúc, Hội Khánh, Sùng Huy, Thiên Hòa, Thừa Minh, Diên Khánh. Hoàng đế cùng Hoàng Thái hậu tránh lửa trong vườn; ngày Quý Hợi, dời sang ngự ở cung Diên Phúc.

Ngày Giáp Tý, lấy Tể tướng Lữ Di Giản làm Sứ tu sửa Đại nội, Khu mật phó sứ Dương Sùng Huân làm Phó sứ.

Ngày Ất Sửu, chiếu lệnh quần thần nói thẳng những điều thiếu sót, sai lầm.

Trước đó, Đại nội cháy, bách quan triều sớm mà cửa cung không mở. Các phụ thần xin được vào chầu, Hoàng đế ngự ở cửa Củng Thần, bách quan bái dưới lầu, riêng Tể tướng Lữ Di Giản không bái, Hoàng đế hỏi cớ, ông ta nói: "Trong cung có biến, quần thần mong được trông thấy thánh nhan một lần." Hoàng đế vén rèm cho thấy mặt, Di Giản bấy giờ mới bái.

Ngày Đinh Mão, đại xá. Chiếu: "Việc xây dựng cung điện, nên theo quy chế cũ của Tổ tông, lại phải giảm bớt, tiết kiệm hơn nữa."

Lúc ấy, hoạn quan lập ngục tra xét việc cháy, bắt được một người thợ may áo lửa, đã bị ép cung nhận tội, giao cho phủ Khai Phong, lệnh lập hồ sơ. Quyền Tri phủ sự Trình Lâm (程琳) biện bạch là không phải, bèn lệnh cho thợ vẽ sơ đồ nơi lửa lan qua, lại nói: "Hậu cung người đông mà chỗ ở chật, bếp lò gần vách gỗ, lâu ngày khô mà bén lửa, đây hẳn là thiên tai, không nên đổ cho người." Giám sát Ngự sử, người Nghi Hưng là Tưởng Đường (蔣堂) cũng nói: "Lửa cháy không dấu vết, sao biết không phải ý trời? Bệ hạ nên tu đức để ứng biến, nay lại muốn đổ tội cho cung nhân, giao cho quan lại xử. Cung nhân đã vào ngục, muốn gì mà không được, rồi lại ban chết cho họ, ấy là làm nặng thêm sự quở trách của trời." Hoàng đế vì thế giảm nhẹ việc xét xử, rốt cuộc không ai bị xử tử.

Tháng ấy, Điện trung thừa, người Hà Nam là Đằng Tông Lượng (滕宗諒), Bí thư thừa, người Đại Danh là Lưu Việt (劉越) theo chiếu dâng phong thư. Tông Lượng nói: "Nước nhà lấy Hỏa đức mà vương, nay lửa mất tính của nó, là do chính sự mất gốc." Nhân đó xin Thái hậu trả lại chính quyền; còn Việt cũng xin Thái hậu trả lại chính quyền, lời lẽ càng cứng cỏi thẳng thắn; đều không được trả lời.

Tháng 9, ngày Đinh Hợi, Vĩnh Hưng quân báo: Tả vệ Đại tướng quân, Phân ty Tây Kinh Lý Sĩ Hành (李士衡) mất. Sĩ Hành trước sau coi việc tài chính 20 năm, tuy tài trí hơn người, nhưng vốn tham, gia sản đến mấy ức vạn, xây đại trạch ở trong lý Trường An, trông như cung phủ.

Ngày Canh Dần, làm lại sách bảo, vì sách bảo cũ bị cháy. Hữu ty tâu: sách bảo là pháp vật, dùng vàng ròng 2.700 lạng. Chiếu đổi dùng bạc, ngoài mạ vàng.

Mùa đông, tháng 10, ngày Kỷ Dậu, Liêu chúa đi Trung Kinh.

Tháng 11, ngày Giáp Tuất, vì sửa xong Đại nội, Hoàng đế kính cáo trời đất ở điện Thiên An, rồi vào bái Thái miếu, đại xá, đổi niên hiệu. Ngày hôm ấy, trở về cung Diên Phúc.

Ngày Kỷ Mão, tiết Đông chí, bách quan chúc mừng Hoàng Thái hậu ở điện Văn Đức, Hoàng đế ngự điện Thiên An nhận lễ triều bái.

Ngày hôm ấy, Liêu chúa dẫn quần thần dâng tôn hiệu cho Thái hậu là Pháp Thiên Ứng Vận Nhân Đức Chương Thánh Hoàng Thái hậu; quần thần dâng tôn hiệu cho Liêu chúa là Văn Vũ Thần Thánh Chiêu Hiếu Hoàng đế. Đại xá, đổi niên hiệu Trọng Hy. Chưa đầy 1 năm mà lại đổi niên hiệu lần nữa, vẫn là do lời của Da Luật Tư Trung.

Liêu chúa lấy Tiêu Tát Ban (蕭薩班) làm Chi hậu lang quân. Tát Ban là con của Hiếu Mục (孝穆), tính liêm khiết, cứng cỏi, phong thái sáng sủa, giỏi đánh cầu, cưỡi ngựa, bắn cung. Mỗi khi Liêu chúa yến ẩm, ưa đùa cợt, Tát Ban tuy được sủng ái, luôn giữ lễ, người đương thời khen ngợi.

Nước Liêu có Tiêu Hãn Gia Nỗ (蕭罕嘉努), thuở nhỏ hiếu học, đọc rộng kinh sử, thông cả chữ Liêu, chữ Hán, từng làm Hữu thông tiến, coi vườn dẻ ở Nam Kinh, đến đây được lệnh Đồng tri Tam ty sứ sự.

Định Nan tiết độ sứ, Tây Bình vương Triệu Đức Minh (趙德明), tổng cộng lấy vợ 3 họ: Vệ Mộ thị (衛慕氏) sinh Nguyên Hạo; Mị Mê thị (咩迷氏) sinh Đằng Ngộ (成遇), Nga Tàng (訛藏); Khuất Hoài thị (屈懷氏) sinh Thành Ngôi (生成嵬). Nguyên Hạo tên hồi nhỏ là Ngôi Lý (嵬理), tiếng Khương gọi “tiếc” là Ngôi, “giàu sang” là Lý. Tính ông ta hung bạo, sắc bén, đa nghi, nhẫn tâm; mặt tròn, sống mũi cao, cao hơn 5 thước; hiểu Phật học, thông chữ phiên, chữ Hán, trên án đặt sách luật, thường mang theo “Dã chiến ca”, “Thái Nhất kim giám quyết”. Bỗng kéo quân tập kích Dạ Lạc Cách Khả Hãn vương, đánh bại, chiếm được Cam châu. Nhiều lần can Đức Minh không nên làm thần nước Trung Quốc, Đức Minh thường răn: "Ta dùng binh đã lâu, rốt cuộc không ích gì, chỉ tự làm mệt thôi. Dòng họ ta 30 năm mặc gấm vóc, ấy là ân của Tống Thiên tử, không thể phụ." Nguyên Hạo nói: "Mặc da lông, chăn nuôi súc vật, là điều tiện lợi cho người họ Phiên. Anh hùng sinh ra, phải làm vương bá, cần gì gấm vóc!" Sau khi chiếm Cam châu, lại khởi binh đánh chiếm Tây Lương phủ. Đến đây, Đức Minh chết, Nguyên Hạo kế vị, báo tin cho Diên châu. Chiếu đình chỉ chầu 3 ngày, truy tặng Thái sư, Thượng thư lệnh kiêm Trung thư lệnh, sai Độ chi viên ngoại lang Chu Xương Phù (朱昌符) làm Tế điến sứ, ban tặng lụa rất hậu. Hoàng đế cùng Hoàng Thái hậu để tang Đức Minh trong vườn, bách quan đến dâng lời chia buồn.

Ngày Tân Mão, tiến phong Mạnh vương Nguyên Nghiễm (元儼) làm Kinh vương.

Ngày Quý Tị, lấy Nguyên Hạo làm Kiểm giáo Thái sư kiêm Thị trung, Định Nan tiết độ sứ, Tây Bình vương, sai Tư phong viên ngoại lang Dương Cáo (楊告) làm Sứ mang cờ tiết và sắc thư. Nguyên Hạo vừa kế thừa tước phong, liền ngấm ngầm mưu phản. Lúc ấy đổi niên hiệu Minh Đạo, mà Nguyên Hạo kiêng tên cha, bèn tự xưng niên hiệu Hiển Đạo trong nước, tuy vẫn cống nạp, nhưng mầm mống tiếm xưng đã nảy. Lần đầu tiếp sứ giả, bày chiếu ngồi tôn cao, còn Cáo dời chỗ ngồi, ngồi vào vị trí khách, không chịu nhún. Lại nghe sau nhà có tiếng rèn đúc của mấy trăm người, biết ắt sẽ phản, chỉ vì nhút nhát nên không dám nói. Cáo là con của Doãn Cung (允恭).

Ngày Bính Thân, chiếu trả lại cho gia đình ruộng trang của Đinh Vị (丁謂) bị tịch thu ở Tô châu, vẫn lấy con ông ta là cựu Nội điện thừa chế Vũ (羽) làm Cung phụng quan.

Tháng ấy, nước Liêu sách phong Lý Nguyên Hạo làm Hạ Quốc vương.

Tháng 12, ngày Canh Tý, chiếu sang năm tháng 2 Hoàng đế thân cày ở Tịch điền, trước hết xin Hoàng Thái hậu kính cáo Tông miếu, tạm bãi lễ Nam giao, mọi ân thưởng đều thi hành sau khi lễ xong.

Ngày Tân Sửu, lệnh Lễ quan khảo định nghi chế Tịch điền và nghi lễ Hoàng Thái hậu vào bái miếu. Ban đầu, Thái hậu muốn hoàn toàn dùng lễ phục của Hoàng đế, Tham tri chính sự Yến Thù viện dẫn lễ phục của Vương hậu trong “Chu quan” để đối đáp, trái ý Thái hậu; các phụ thần đều quanh co không quyết. Tạ Khuê nói: "Nếu Thái hậu nhất định mặc lễ phục ấy, thì bái như thế nào?” Ông ta hết sức trình bày điều không nên. Thái hậu bèn đổi sang lễ phục khác, tuy rốt cuộc không chịu bỏ hẳn, nhưng cũng giảm bớt phần nào nghi lễ.

Ngày Nhâm Dần, lấy Tuyên huy Nam viện sứ kiêm Khu mật phó sứ Dương Sùng Huân làm Khu mật sứ. Sùng Huân hết lời từ tạ, Thái hậu cùng Hoàng đế nói: Tiên đế khen Sùng Huân chất phác, trung tín, có thể giao việc lớn, nên lại thăng vượt bậc.

Ngày Nhâm Tý, lấy Thái tử Trung doãn, người An Dương là Hàn Kì (韓琦) làm Thái thường thừa, Trực Tập hiền viện.

Trước đó, Kì thi Tiến sĩ đỗ thứ 2, vừa xướng tên, Thái sử tâu dưới mặt trời hiện mây ngũ sắc, mọi người hai bên đều chúc mừng.

Ngày Kỷ Mùi, người dâng phong thư nói: "Gần đây chiếu rằng dân Hoài Nam đói, có người đem con trai con gái thuê cho người khác, triều đình thay họ chuộc về. Nay dân gian không dám thuê mướn người, mà kẻ nghèo có khi không tự sống nổi, xin cho họ được tùy tiện." Được chuẩn cho.

Ngày Canh Thân, lệnh Quyền Tam ty sứ Lý Tư (李諮) cùng Thịnh Độ (盛度), Vương Tùy (王隨) bàn lại phép giải muối. Năm Thiên Thánh thứ 8, đã cho phép giải muối thông thương, thi hành 1 năm, số tiền thu vào so với năm Thiên Thánh thứ 7 tăng 15 vạn quan, năm sau lại giảm 9 vạn; về sau mỗi năm càng hao hụt, nên lệnh Tư và những người khác bàn lại. Độ, Tùy trước đây đều cho rằng thông thương là tiện lợi.

Năm ấy, Đồng phán Trần châu, Thái thường bác sĩ Phạm Trọng Yêm (范仲淹), vì ở Kinh sư nhiều việc bổ nhiệm quan chức, ban thưởng không qua hữu ty, bèn gửi tấu theo trạm, lấy việc đời Đường Trung Tông dùng Mặc sắc tà phong quan làm răn; lại nhiều lần luận tệ hại của việc nội giáng.

Nước Liêu lấy Tiêu Hiếu Hữu (蕭孝友) làm Tây Bắc lộ Chiêu thảo sứ, phong Lan Lăng quận vương. Trước đó, Tiêu Cách (蕭革) làm Chiêu thảo sứ, chỉ dùng uy để chế ngự Tây Khương, các bộ phần nhiều phản. Hiếu Hữu xuống xe, phần nhiều dùng ân dụ vỗ về, mỗi lần họ vào cống, liền tăng thêm vật ban thưởng, người Khương yên ổn. Về sau dần thành thói nuông chiều, phong khí kiêu ngạo của các bộ dần dần bốc lên. Hiếu Hữu là em trai Thái hậu.

Trong các em trai Thái hậu, chỉ có Hiếu Mục (孝穆) địa vị cao, càng sợ Thái hậu, hễ được ban thưởng liền từ chối không nhận, vợ con không có vẻ kiêu căng. Còn Hiếu Tiên (孝先) là kẻ kiêu ngạo, ngang ngược nhất, lại càng được dùng. Chị của Thái hậu là Tần Quốc phu nhân, sớm góa chồng, có tiếng xấu, Thái hậu thấy Trường Sa vương Sắc Gia Nỗ (色嘉努) dung mạo đẹp, bèn giết vợ ông ta, gả Tần Quốc cho. Em gái là Tấn Quốc phu nhân, ưa dung mạo đẹp của Hộ bộ Thị lang Canh Nguyên Cát (耿元吉), Thái hậu theo lời xin của Tấn Quốc, cũng giết vợ ông ta, gả Tấn Quốc cho.

Nước Liêu cho 57 người như Lưu Sư Trinh (劉師貞) đỗ Tiến sĩ.