Bước tới nội dung

Tục tư trị thông giám/Quyển 4

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tục Tư trị thông giám, quyển 4 của Tất Nguyên, do Cơ Như Tuyết dịch
Tống kỷ 4

Bắt đầu từ tháng 4 năm Giáp Tí (964) đến tháng chạp năm Bính Dần (966), Thái Tổ Can Đức năm thứ 2 đến năm thứ 4, cộng 2 năm có dư

Thái Tổ Khải Vận Lập Cực Anh Vũ Duệ Văn Thần Đức Thánh Công Chí Minh Đại Hiếu Hoàng Đế

Năm Càn Đức thứ 2 (Liêu, Ứng Lịch năm thứ 14), Công nguyên năm 964

[sửa]

Mùa hạ, tháng 4, mùng 1 là ngày Đinh Mùi, lấy Viên Châu quân sự phán quan trước đây là Dĩnh Chế (穎贄) làm Trứ tác tá lang. Vì Chế ứng thí khoa Hiền lương phương chính năng trực ngôn cực gián, khi sách vấn thì hợp ý Hoàng đế nên được bổ dùng vậy.

Ngày Mậu Thân, phát chẩn cứu đói ở Hà Trung.

Ngày Kỷ Dậu, miễn cho các đạo năm ấy, những ruộng không có mạ khỏi nộp thuế mùa hạ.

Ngày Ất Mão, cải táng Tuyên Tổ Chiêu Vũ Hoàng Đế, Chiêu Hiến Hoàng Hậu tại An lăng, Hiếu Huệ Hoàng Hậu Hạ thị, Hiếu Minh Hoàng Hậu Vương thị được phối táng ở đó.

Hoàng đế muốn đặt chức phó cho Triệu Phổ (趙普) mà khó ở chỗ danh xưng, bèn triệu Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Đào Cốc (陶穀) hỏi rằng: “Quan dưới Thừa tướng 1 bậc là chức gì?” Đáp: “Đời Đường có chức Tham tri cơ vụ, Tham tri chính sự.” Ngày Ất Sửu, lấy Binh bộ Thị lang Tiết Cư Chính (薛居正), Lữ Dư Khánh (呂餘慶) đều lấy bản chức kiêm Tham tri chính sự, nhưng không tuyên chiếu, không áp ban, không biết ấn, không được lên Chính sự đường, chỉ sai đến thự Tuyên huy sứ để bàn việc; trong sân điện đặt riêng chỗ ngồi lát gạch ở sau chỗ của Tể tướng; ở cuối sắc chỉ, chỗ ký chức tước thì bớt đi mấy chữ so với Tể tướng; bổng lộc và các khoản cấp phát hàng tháng đều giảm một nửa. Ấy là vì ý vua chưa muốn cho Cư Chính và những người khác ngang hàng với Phổ vậy.

Ngày Nhâm Thân, dời 326 hộ dân các huyện ở Vĩnh châu có nuôi trùng độc (tức nuôi sâu bọ làm hại người) đến chỗ hẻo lánh trong huyện, không được lại ghi tên vào hương đảng.

Lấy Tần Tái Hùng (秦再雄) làm Thứ sử Thần châu. Tái Hùng là người Diêu ở Thần châu, võ nghệ khỏe mạnh, có mưu lược lạ, vốn được bọn Man kính sợ phục tùng. Hoàng đế triệu đến Biện Kinh, xét thấy có thể giao việc, bèn thăng làm Thứ sử, cho tự chọn thuộc lại, cấp cho thuế ruộng. Tái Hùng đến châu, hằng ngày huấn luyện binh sĩ, được 3.000 người, có thể mặc giáp lội nước, vượt sông, bay qua hào sâu; lại sai người chia phát của cải cho các Man, truyền đạt ý triều đình muốn vỗ về chiêu dụ, kẻ hàng phục ngày càng đông. Từ đó Kinh, Tương không còn loạn biên giới nữa.

Tháng 5, ngày Kỷ Mão, Tri chế cáo Cao Tích (高錫) vì tội nhận hối lộ của phiên trấn, bị giáng làm Tư mã Lai châu.

Ngày Tân Tị, Tông chính khanh Triệu Lệ (趙礪) vì tội tham ô, bị đánh trượng, xóa tên khỏi sổ quan lại.

Liêu chúa bắn hươu liếm muối ở núi Bạch Ưng, kéo dài đến hơn 10 ngày; tháng 6, ngày Bính Ngọ là mồng 1, săn bắn ở núi Ngọc, trọn tháng quên về.

Ngự sử đài, Thái thường lễ viện tâu: “Đông cung Tam sư là quan nhất phẩm, Bộc xạ là nhị phẩm, nếu bách quan dâng biểu, chưa rõ nên xếp ai trước.” Hoàng đế sai Lưỡng chế bàn. Ngày Mậu Thìn, Hàn lâm học sĩ Đậu Nghi (竇儀) và những người khác tâu: “Bộc xạ là thầy trưởng của trăm quan, Đông cung Tam sư là chức thần tử của Thái tử, nên lấy Bộc xạ đứng đầu trong biểu.” Hoàng đế nghe theo.

Ngày Kỷ Dậu, lấy Quang Nghĩa (光義) làm Trung thư lệnh, Quang Mỹ (光美) làm Đồng Trung thư Môn hạ Bình chương sự, con là Đức Chiêu (德昭) làm Quý châu Phòng ngự sứ. Theo lệ cũ, hoàng tử ra khỏi cung thì lập tức phong vương, Hoàng đế vì Đức Chiêu chưa đến tuổi đội mũ, nên đặc biệt giảm bớt lễ ấy.

Mùa thu, tháng 7, xuống chiếu rằng: “Cái việc tuyển chọn, cân nhắc quan lại, chỉ dựa vào thâm niên, e rằng có anh tuấn bị chìm đắm ở hàng quan lại thấp. Từ nay, những người thường điều đến dự tuyển, giao cho Nam tào của Lại bộ chọn trong các chức vụ đã trải qua, ai nhiều công trạng mà không có lỗi lầm, thì phải tùy tài mà phân biệt xếp đặt.”

Ngày Tân Mão, xuống chiếu cho Đào Cốc và 43 người, mỗi người trong chức vụ mạc phủ hiện tại, quan kinh sư và châu huyện, cử 1 người có thể làm Thông phán phiên quận; nếu chức trách không hợp, sự việc liên lụy thì cùng bị tội.

Ngày Giáp Ngọ, lệnh cho phiên trấn không được lấy người mới vào quan làm Chưởng thư ký, phải trải qua 2 nhiệm kỳ, có văn học mới cho tâu xin bổ nhiệm.

Tháng 8, ngày Mậu Thân, Liêu chúa vì sinh nhật gặp ngày đại xá, không nhận lời chúc mừng, đặc xá tù nhân ở kinh sư; ngày Ất Dậu, xét giảm tội tù.

Tháng 9, ngày Giáp Tuất là mồng 1, Chu Dịch bác sĩ Hề Dự (奚嶼) bị giáng làm Càn châu Tư hộ, Khố bộ Viên ngoại lang Vương Di Tôn (王貽孫) bị giáng làm Tả Tán thiện đại phu, đều vì tội chấm thi con em quan lại không công bằng.

Ngày Tân Sửu, Thái tử Thái phó Lỗ quốc công Phạm Chất (范質) mất. Chất nằm bệnh, Hoàng đế nhiều lần đến nhà thăm hỏi, lại sai nội phu nhân đến vấn an. Nhà Chất khi nghênh tiếp, đồ đựng không đủ, nội phu nhân tâu lên, Hoàng đế liền sai Hàn lâm ty ban cho giường bày quả, đồ đựng rượu, lại đến nhà ông, nói rằng: “Khanh làm Tể tướng, sao tự làm khổ mình đến thế?” Chất đáp: “Thần trước ở Trung thư, cửa không có khách riêng, những người cùng uống rượu đều là thân thích lúc nghèo hèn, cần gì nhiều đồ đựng! Vì thế lần lữa không sắm, chẳng phải vì sức không kham.” Chất tính nóng nảy, giữ mình thanh liêm cứng cỏi, thích vạch lỗi người ngay trước mặt. Từng nói với đồng liêu: “Người nào có thể dùng mũi hít 3 đấu giấm, thì có thể làm Tể tướng vậy.” Từ thời Ngũ đại, Tể tướng phần nhiều lấy của ở phương trấn, Chất là người đầu tiên dứt hẳn việc ấy. Bổng lộc, ban thưởng được bao nhiêu, đều chia cho cô quả, kẻ không nơi nương tựa. Khi bệnh nguy kịch, dặn con là Mân chớ xin tặng thụy quá mức, chớ khắc bia mộ. Đến khi mất, Hoàng đế rất thương tiếc, truy tặng Trung thư lệnh, ban tiền phúng viếng rất hậu. Sau nhân bàn việc chọn người phụ tá, Hoàng đế bảo tả hữu rằng: “Trẫm nghe Phạm Chất ngoài nhà ở ra không gây dựng tài sản, thật là Tể tướng vậy!”

Ngày Nhâm Dần, Phan Mỹ (潘美) và những người khác chiếm được Sầm châu.

Mùa đông, tháng 10, ngày Bính Thìn, Liêu chúa lấy người coi hươu là Thẩm Tư (矧思) làm Tráp Tát Nhung, ban cho đai vàng, chén vàng, bạc 200 lạng, những người thuộc quyền ông ta, từ tội tử hình trở xuống, đều cho phép ông ta tự quyết.

Lúc đầu, Nam Hán nội Thường thị Thiệu Đình Côn (邵廷琄) nói với vua nước ấy rằng: “Hán nhân lúc loạn đời Đường mà dựng nước, ở đây hơn 50 năm, may là Trung Quốc gặp nhiều biến cố, đao binh không đến, mà ta cũng kiêu vì vô sự. Nay binh sĩ không biết cờ trống, người chủ không biết tồn vong, xin sửa sang binh bị, lại thông hiếu với nước Tống.” Sưởng không dùng. Đến đây mới sợ, bèn lấy Đình Côn làm Chiêu thảo sứ.

Hoàng đế vốn mưu đánh Thục. Gặp lúc Thục Sơn Nam Tiết độ phán quan Trương Đình Vĩ (張廷偉) khuyên Tri Khu mật viện sự Vương Chiêu Viễn (王昭遠) rằng: “Ông vốn không có công lao, bỗng chốc địa vị đến Khu mật, nếu không tự lập đại công, lấy gì chặn miệng đời! Chi bằng thông hiếu với nước bên cạnh, khiến họ phát binh xuống phía nam, ta từ Hoàng Hoa, Tử Ngọ cốc xuất binh ứng viện, khiến Trung Nguyên bị địch trước sau, thì đất Quan Hữu có thể vỗ về mà lấy được vậy.” Chiêu Viễn cho là phải, khuyên Thục chúa sai Tôn Ngộ (孫遇), Triệu Ngạn Thao (趙彥韜), Dương Quyên (楊蠲) v.v. mang thư viết trên lụa, vo thành hoàn sáp, đi đường tắt gửi cho Bắc Hán chúa, nói rằng đã tăng binh ở Bào, Hán, hẹn Bắc Hán vượt sông cùng khởi binh. Ngộ và những người khác đến kinh đô, Ngạn Thao lén lấy thư dâng lên. Ngạn Thao là người Hưng châu.

Có Mục Chiêu Tự (穆昭嗣), lúc đầu dùng phương kỹ hầu hạ họ Cao, nhờ đó làm Hàn lâm y quan, Hoàng đế nhiều lần triệu vào hỏi về địa lý đất Thục, Chiêu Tự nói: “Kinh Nam tức là nơi hội tụ của Tây Xuyên, Giang Nam, Quảng Nam. Nay đã chiếm được những nơi ấy, thì đường thủy, đường bộ đều có thể tiến vào Thục.” Hoàng đế rất vui. Vài ngày sau, được thư Ngạn Thao dâng, Hoàng đế cười nói: “Ta đánh phía tây đã có danh nghĩa rồi!” Bèn tha tội cho Ngộ, Quyên, sai họ chỉ rõ hình thế núi sông, nơi đồn trú, đường sá xa gần, vẽ bản đồ dâng lên.

Tháng 11, ngày Giáp Tuất, lệnh cho Trung Vũ Tiết độ sứ Vương Toàn Bân (王全斌) làm Tây Xuyên hành doanh Phụng châu lộ Đô bố trí, Vũ Tín Tiết độ sứ Đại Danh Thôi Nghiêm Tiến (崔彥進) làm phó, Thù mật phó sứ Vương Nhân Thiệm (王仁贍) làm Đô giám, Ninh Giang Tiết độ sứ Phạm Dương Lưu Quang Nghĩa (劉光義) làm Quy châu lộ phó Đô bố trí, Khu mật thừa chỉ Tào Bân (曹彬) làm Đô giám, hợp bộ kỵ 60.000, chia đường tiến đánh, Cấp sự trung Thẩm Nghĩ Luân (沈義倫) làm Tùy quân chuyển vận sứ, Quân châu Thứ sử Đại Danh Tào Hán (曹翰) làm Tây Nam diện chuyển vận sứ. Hoàng đế dụ hành doanh rằng: “Nơi nào đi qua, không được đốt phá nhà cửa, bắt bớ quan lại, dân chúng, đào bới mồ mả, chặt phá dâu tằm, ai trái lệnh thì xử theo quân pháp.” Sai Tác tác ty đo đạc cửa Hữu Dực, phía nam trông xuống sông Biện, xây nhà cho Thục chúa ở, để đợi khi hắn đến. Ngày Ất Hợi, Toàn Bân và những người khác từ biệt, yến tiệc ở điện Sùng Đức, Hoàng đế đem bản đồ vẽ ra trao cho Toàn Bân và những người khác, nhân đó nói rằng: “Phàm hễ chiếm được thành trại, chỉ kê khai khí giới, cỏ rơm, lương thực, tất cả dùng tiền và lụa chia cho chiến sĩ, thứ ta muốn lấy chỉ là đất đai mà thôi.”

Liêu chúa rong chơi săn bắn vô độ, ngày Nhâm Ngọ, ngày Đông chí, yến ẩm suốt đêm; từ đó ban ngày ngủ, ban đêm uống rượu.

Thục chúa nghe có quân phương bắc, lệnh cho Vương Chiêu Viễn làm Tây Nam hành doanh Đô thống, Triệu Sùng Thao (趙崇韜) làm Đô giám, Hàn Bảo Chính (韓保正) làm Chiêu thảo sứ, Lý Tiến (李進) làm Phó Chiêu thảo sứ, dẫn quân ra đánh. Thục chúa bảo Chiêu Viễn rằng: “Quân ngày nay là do khanh gọi đến, hãy gắng vì trẫm lập công!” Chiêu Viễn khá tự phụ về mưu lược, khi mới xuất phát từ Thành Đô, Thục chúa sai Tể tướng Lý Hạo (李昊) và những người khác tiễn ngoài thành. Chiêu Viễn tay cầm thiết như ý, chỉ huy quân sự, tự ví mình với Gia Cát Lượng. Rượu say, xắn tay áo nói với Hạo rằng: “Ta chuyến này đâu chỉ là phá địch, sẽ đem hai ba vạn bọn trẻ mặt xăm dữ tợn này, lấy Trung Nguyên như trở bàn tay vậy!”

Tháng 12, ngày Tân Dậu, Vương Toàn Bân và những người khác đánh chiếm được các trại Kiền Khư, Độ Vạn Nhận, Yến Tử v.v., rồi chiếm Hưng châu, đánh bại 7.000 quân Thục, thu được hơn 400.000 hộc quân lương, Thục Thứ sử Lam Tư Hoãn (藍思綰) lui giữ Tây huyện. Toàn Bân lại đánh hơn 20 trại Thạch Thùy, Ngư Quan, Bạch Thủy Các, đều chiếm được.

Thục Hàn Bảo Chính nghe Hưng châu thất thủ, bèn bỏ Sơn Nam, lui giữ Tây huyện. Mã quân Đô chỉ huy sứ Sử Diên Đức (吏延德) đem quân tiên phong đến, Bảo Chính nhút nhát sợ hãi, không dám ra, sai quân mấy vạn người, dựa núi quay lưng vào thành, kết trận tự giữ, Diên Đức đánh tan, đuổi bắt được Bảo Chính và phó của y là Lý Tiến, thu được hơn 300.000 hộc lương. Thôi Nghiêm Tiến cùng Mã quân Đô giám Khang Diên Trạch (康延澤) và những người khác đuổi quân bại, qua núi Tam Tuyền, đến Gia châu, giết bắt rất nhiều. Quân Thục đốt phá tuyệt đường sàn, lui giữ Gia Manh.

Lưu Quang Nghĩa và những người khác vào đường Hiệp, liên tiếp phá các trại Tùng Mộc, Tam Hội, Vu Sơn, giết tướng của chúng là Nam Quang Hải (南光海) v.v., chết hơn 5.000 người, bắt sống Chiến trạo Đô chỉ huy sứ Viên Đức Hoằng (袁德宏) v.v., đoạt hơn 200 chiến thuyền, lại chém bắt hơn 60 quân thủy. Lúc đầu, Thục ở Quỳ châu khóa sông làm cầu phao, trên đó dựng 3 tầng địch trại, hai bên bờ sông bày đặt pháo cụ. Khi Quang Nghĩa và những người khác lên đường, Hoàng đế đem bản đồ, chỉ chỗ ấy bảo Quang Nghĩa rằng: “Ngược dòng đến đây, chớ dùng thủy quân tranh chiến, phải sai bộ kỵ lén đánh trước, đợi chúng hơi lui, rồi dùng chiến thuyền giáp công, ắt lấy được.” Quang Nghĩa và những người khác đến Quỳ, cách Sở Giang chừng 30 dặm, bỏ thuyền, trước đoạt cầu phao, rồi lại kéo thuyền lên, bèn phá được thành châu, đóng quân ở phía tây thành Bạch Đế.

Thục Ninh Giang Tiết độ sứ người Thái Nguyên là Cao Nghiêm Trù (高彥儔) bảo phó sứ Triệu Sùng Tế (趙崇濟), Giám quân Vũ Thủ Khiêm (武守謙) rằng: “Quân bắc vượt hiểm xa đến, lợi ở đánh nhanh, nên cố thủ thành lũy để làm chúng mệt mỏi.” Thủ Khiêm nói: “Giặc đóng dưới thành mà không đánh, còn đợi gì nữa?” Ngày Mậu Thìn, Thủ Khiêm một mình dẫn hơn 1.000 quân dưới trướng ra đánh, Quang Nghĩa sai Mã quân Đô chỉ huy sứ Lăng Xuyên Trương Đình Hàn (張廷翰) v.v. dẫn quân giao chiến với Thủ Khiêm ở Trư Đầu Phô, Thủ Khiêm thua chạy, Đình Hàn và những người khác thừa thắng leo lên thành, chiếm được. Nghiêm Trù liều chết chiến đấu không thắng, thân trúng hơn 10 mũi giáo, tả hữu đều tan chạy. Nghiêm Trù chạy về phủ đệ, chỉnh y quan, hướng tây bắc lạy hai lạy, lên lầu, phóng lửa tự thiêu. Vài ngày sau, Quang Nghĩa và những người khác tìm được xương ông ta trong tro tàn, dùng lễ mà chôn.

Vương Toàn Bân vì người Thục chặt đường sàn, đại quân không tiến được, bàn lấy đường La Xuyên vào Thục. Khang Diên Trạch lén bảo Thôi Nghiêm Tiến rằng: “Đường La Xuyên hiểm trở, quân khó cùng qua, chi bằng chia quân sửa đường sàn, hẹn hội đại quân ở Thâm Độ là được.” Nghiêm Tiến sai báo Toàn Bân, Toàn Bân ưng thuận. Chẳng mấy ngày, đường gác hoàn thành, bèn tiến đánh Kim Sơn trại, lại phá Tiểu Mạn Thiên trại, còn Toàn Bân cũng đem đại quân theo đường La Xuyên đến Thâm Độ, hội với Nghiêm Tiến. Người Thục dựa sông mà bày trận, Nghiêm Tiến sai Bộ quân Đô chỉ huy sứ Trương Vạn Hữu (張萬友) v.v. đánh, đoạt cầu của chúng. Gặp lúc trời tối, quân Thục lui giữ Đại Mạn Thiên trại. Hôm sau, Nghiêm Tiến, Diên Trạch, Vạn Hữu chia quân làm 3 đường đánh, người Thục đem hết tinh binh ra chống, lại bị đại bại, thừa thắng chiếm trại, bắt trại chủ là Nghĩa châu Thứ sử Vương Thẩm Siêu (王審超), Giám quân Triệu Sùng Ác (趙崇渥) và Tam Tuyền Giám quân Lưu Diên Tộ (劉延祚). Đại tướng Vương Chiêu Viễn, Triệu Sùng Thao dẫn quân đến đánh, 3 trận 3 bại, đuổi đến bắc Lợi châu, Chiêu Viễn và những người khác trốn đi, qua Cát Bách Tân, đốt cầu phao, lui giữ Kiếm Môn. Ngày Nhâm Thân cuối tháng, Toàn Bân và những người khác vào Lợi châu, thu được 80 vạn hộc quân lương.

Tháng ấy, kinh sư tuyết lớn, Hoàng đế dựng trướng nỉ ở điện Giảng Vũ, mặc áo bào, mũ lông chồn tía để xử lý việc. Bỗng bảo tả hữu rằng: “Ta mặc như thế này, thân còn thấy lạnh, nghĩ đến tướng soái chinh tây xông pha sương tuyết, làm sao chịu nổi!” Liền cởi áo bào, mũ, sai Trung hoàng môn cưỡi trạm ngựa mang ban cho Toàn Bân, lại dụ các tướng rằng không thể ban cho khắp. Toàn Bân lạy nhận, cảm động rơi lệ.

Lúc đầu, Liêu Thái Tổ uy phục phương bắc sa mạc, chia đặt quan bộ trướng. Bộ Thốc Lữ Bất, Thất Vi bộ, vốn tên là Đại, Tiểu Nhị Hoàng Thất Vi, Thái Tổ dùng kế hàng phục, đặt làm 2 bộ, thuộc Bắc phủ Tiết độ sứ. Bộ Ô Khố liệt vào ngoại thập bộ, không thể thành nước, phụ thuộc vào Liêu, thường tu sửa cống nạp. Đến đây vì Liêu chúa thất chính, Hoàng Thất Vi cướp ngựa bò mà phản. Thống quân Sở Cố Chất (楚固質) đón đánh, phá được, hàng phục quân chúng. Chẳng bao lâu, bộ Ô Khố phản, cướp tài sản, súc vật của dân, Tường Cổn Tàng Dẫn (詳袞藏引) dẫn quân đánh, bị thua, Tàng Dẫn chết trận.

Nam Đường chúa cực tin pháp Phật, lấy tiền vàng trong cấm cung chiêu mộ người xuất gia làm tăng, lúc ấy tăng ở kinh đô hơn vạn người, đều trông vào quan huyện cấp dưỡng. Nam Đường chúa lui chầu, cùng hoàng hậu mặc áo tăng, tụng kinh Phật, lạy quỳ đến nỗi tay chân nổi cục chai; tăng có tội, sai lễ Phật rồi tha. Hoàng đế nghe chuyện mê hoặc ấy, bèn chọn thiếu niên có tài biện luận, cho sang phía nam gặp Nam Đường chúa, bàn luận về thuyết tính mệnh, Nam Đường chúa tin theo, gọi là "một Phật ra đời", từ đó không còn để ý việc trị nước giữ biên nữa.

Xuống chiếu cho dân các châu phía bắc sông Giang và các hộ đình trại muối ở các giám được phép dọc sông bắt cá, hái lượm và qua sông buôn bán. Trước đây, phía bắc sông Giang đặt trường thuế độc quyền, cấm thương nhân qua sông và dân chúng dọc sông chặt củi, năm ấy vì Giang Nam đói kém liên tiếp, nên đặc biệt bãi bỏ lệnh cấm ấy.

Năm Càn Đức thứ 3 (Liêu, Ứng Lịch năm thứ 15), Công nguyên năm 965

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, Thục chúa nghe Vương Chiêu Viễn và những người khác bại trận, rất sợ, bèn tăng mộ binh giữ Kiếm Môn, sai Thái tử Nguyên Triết (元喆) làm Nguyên soái, Thị trung Thái Nguyên Lý Đình Khuê (李廷珪), Đồng Bình chương sự Trương Huệ An (張惠安) làm phó, mang giáp hơn vạn người. Cờ xí đều dùng gấm thêu, lấy gấm bọc cán cờ, sắp xuất phát thì mưa, Nguyên Triết lo bị ướt, bèn sai tháo hết. Chốc lát mưa tạnh, lại trang sức, thì tất cả đều treo ngược trên cán. Nguyên Triết lại đem theo mấy chục cơ thiếp và nhạc công, người thấy đều lén cười. Vương Toàn Bân và những người khác từ Lợi châu tiến đến Kiếm Môn, đóng quân ở Ích Quang, vì Kiếm Môn hiểm trở, bèn hội bàn kế tiến đánh. Thị vệ quân đầu Hướng Đào (向韜) nói

“Nghe lời hàng binh nói, phía đông sông Ích Quang vượt qua mấy dãy núi lớn, có đường hẹp tên là Lai Tô, người Thục đặt trại ở bờ tây sông, bờ đối diện có thể qua. Từ đó ra phía nam Kiếm Môn 20 dặm, đến Thanh Cường điếm, hợp với quan đạo, nếu đại quân đi đường này, thì hiểm trở của Kiếm Môn không thể trông cậy được nữa.”

Toàn Bân và những người khác liền muốn cuốn giáp đến đó, Khang Diên Trạch nói

“Người Thục nhiều lần chiến bại, khí phách đã mất, có thể gấp đánh mà hạ được. Vả lại đường hẹp Lai Tô, chủ soái không nên tự đi, chỉ nên sai một viên thiên tướng đi mà thôi. Nếu đến được Thanh Cường, ở phía bắc cùng đại quân giáp công Kiếm Môn, thì Chiêu Viễn và những người khác ắt bị bắt vậy.”

Toàn Bân và những người khác cho là phải, sai Sử Diên Đức chia quân tiến đến Lai Tô, bắc cầu phao qua sông để vượt, người Thục thấy thế, bỏ trại chạy. Diên Đức bèn đến Thanh Cường, Vương Chiêu Viễn dẫn quân lui đóng ở Hán Nguyên Pha, để thiên tướng giữ Kiếm Môn, Toàn Bân và những người khác dùng tinh binh đánh mạnh, phá được. Đến Hán Nguyên, Triệu Sùng Thao bày trận, thúc ngựa xông lên trước, Chiêu Viễn ngồi trên ghế hồ, không thể đứng dậy. Sùng Thao chiến bại, vẫn tự tay chém mấy người, rồi bị bắt, Chiêu Viễn cởi mũ, bỏ giáp mà chạy. Ngày Giáp Tuất, Toàn Bân và những người khác chiếm được Kiếm châu, giết hơn vạn quân Thục. Chiêu Viễn chạy sang Đông Xuyên, trốn trong nhà dân, bị kỵ binh truy kích bắt được.

Ngày Ất Hợi, xuống chiếu chôn cất quân sĩ chết trận khi chinh phạt Thục, những người bị thương thì cấp lụa vải.

Thục Thái tử Nguyên Triết cùng Lý Đình Khuê và những người khác ngày đêm vui chơi, không lo quân chính, đến Miên châu, nghe Kiếm Môn đã mất, định lui giữ Đông Xuyên; hôm sau, bỏ quân chạy về phía tây, nơi đi qua đều đốt nhà cửa, kho tàng rồi mới đi. Thục chúa biết Kiếm châu đã mất, Nguyên Triết cũng chạy về, hoảng hốt không biết làm sao, hỏi tả hữu: “Kế nên làm thế nào?” Có lão tướng Thạch Phụng Quân (石奉頵) đáp: “Quân đông từ xa đến, thế không thể lâu, xin gom quân cố thủ để làm chúng mệt mỏi.” Thục chúa than rằng: “Cha con ta dùng áo đẹp cơm ngon nuôi sĩ tốt 40 năm, một sớm gặp địch, không thể vì ta mà bắn một mũi tên về phía đông, nay dù muốn đóng cửa thành, ai chịu liều chết!” Tư không, Bình chương sự Lý Hạo khuyên Thục chúa phong kín kho tàng để xin hàng, Thục chúa nghe theo, bèn sai Hạo thảo biểu. Ngày Kỷ Mão, sai Thông tấu Thái Nguyên Y Thẩm Trưng (伊審徵) mang biểu xin hàng đến trước quân. Lúc đầu, khi Tiền Thục mất nước, biểu xin hàng cũng do Hạo soạn, người Thục đêm viết trên cửa nhà ông rằng: “Nhà họ Lý đời đời soạn biểu xin hàng.”

Liêu chúa lấy Thù mật sứ Nhã Lý Khắc Tư (雅裏克斯) làm Hành quân Đô thống, Hổ quân Tường Cổn Khắc Tô (克蘇) làm Hành quân Đô giám, tăng thêm 300 quân bộ đồ lỗ bộ, hợp quân các bộ đánh bộ Ô Khố. Khi Ô Khố phản, Bộ Đạt Tề (布達齊) một mình không phản, Hoàng đế ban chiếu khen. Chẳng bao lâu, bộ Ô Khố giết thủ lĩnh của mình rồi đến hàng; sau lại phản nữa.

Ngày Ất Dậu, Vương Toàn Bân và những người khác đóng quân ở Vị thành, Y Thẩm Trưng mang biểu xin hàng của Thục chúa đến. Toàn Bân nhận, sai Thông sự Xá nhân Nhữ Âm Điền Khâm Tộ (田欽祚) cưỡi trạm ngựa vào tâu, lại sai Khang Diên Trạch đến Thành Đô gặp Thục chúa, nói rõ ân tín, an ủi quân dân. Lúc đầu, Lưu Quang Nghĩa và những người khác xuất phát từ Quỳ châu, các Thứ sử Vạn, Thi, Khai, Trung, Toại v.v. đều ra hàng. Quang Nghĩa vào thành, đem hết tiền lụa trong kho phủ chia cho quân sĩ. Các tướng nơi đi qua, đều muốn giết chóc, chỉ có Tào Bân ngăn cấm, mới thôi, vì thế quân đường Hiệp từ đầu đến cuối không phạm một mảy may. Hoàng đế nghe, cười nói: “Ta dùng được người rồi vậy!” Ban chiếu khen ngợi Bân.

Ngày Mậu Tý, Lại bộ Lang trung Đặng Thủ Trung (鄧守中) chấm thi các ty lại viên, thư phán không đúng, vua sai thi lại, giáng chức mấy người, giáng Thủ Trung làm Bản tào Viên ngoại lang.

Ngày Tân Mão, Vương Toàn Bân đến Thăng Tiên kiều, Thục chúa làm đủ lễ mất nước, ra gặp ở cửa quân; Toàn Bân nhân danh vua mà tha cho. Thục chúa lại sai em là Nhã vương Mạnh Nhân Chế (孟仁贄) mang biểu cầu xin thương xót.

Ngày Bính Thân, Điền Khâm Tộ từ Tây Xuyên về, biểu xin hàng của Mạnh Sưởng (孟昶) lấy mồ mả tổ tiên và mẹ già làm lời cầu xin, Hoàng đế ban chiếu trả lời ưu hậu, lại dụ tướng sĩ, bách tính Tây Xuyên, khiến đều yên ổn ở chỗ mình.

Ngày Đinh Dậu, xá tội trong cõi Thục, miễn thuế ruộng còn thiếu năm Càn Đức thứ 2, ban cho nửa thuế mùa hạ năm nay, bỏ các sưu dịch vô danh và những khoản tăng thêm vào thuế điều, giảm giá muối, phát chẩn cho người thiếu ăn, trả lại những người bị bắt làm nô.

Từ khi Toàn Bân và những người khác xuất phát từ kinh sư đến khi Sưởng hàng, chỉ 66 ngày, tổng cộng được 46 châu, 240 huyện, 534.029 hộ. Toàn Bân bình định Thục xong, muốn nhân thế lấy Vân Nam để dâng công. Hoàng đế rút kinh nghiệm họa Thiên Bảo đời Đường khởi từ Nam Chiếu, dùng rìu ngọc vạch phía tây sông Đại Độ mà nói: “Ngoài chỗ này không phải là của ta vậy.”

Vài ngày sau khi Toàn Bân và những người khác vào Thành Đô, Lưu Quang Nghĩa và những người khác mới đến, Mạnh Sưởng biếu tặng Quang Nghĩa và những người khác, cùng lễ yến quân đều như lúc đầu. Sau đó chiếu thư ban thưởng các quân, cũng không phân cao thấp, tướng sĩ hai đường tranh công, bắt đầu ghen ghét nhau. Trước đó, Toàn Bân nhận chiếu, mỗi khi sắp đặt việc gì đều cùng các tướng bàn bạc, vì thế dù việc nhỏ cũng mỗi người một ý, không thể quyết ngay. Toàn Bân cùng Thôi Nghiêm Tiến, Vương Nhân Thiệm v.v. ngày đêm yến ẩm, không lo quân vụ, thả cho thuộc hạ bắt bớ phụ nữ, cướp của cải, người Thục khổ sở. Tào Bân nhiều lần xin rút quân, Toàn Bân và những người khác không nghe.

Tháng 2, ngày Nhâm Dần mồng 1, nhật thực.

Ngày Quý Mão, lệnh Tham tri chính sự Lữ Dư Khánh tạm quyền Tri Thành Đô phủ, Thù mật Trực học sĩ Phùng Toản (馮瓚) tạm quyền Tri Tư châu. Dư Khánh đến Thành Đô, lúc ấy trộm cướp nổi lên khắp nơi, tướng sĩ còn cậy công mà kiêu ngạo phóng túng, Vương Toàn Bân và những người khác không thể cấm. Một ngày, chợ thuốc mới họp, nha lại đường phố chạy báo có quân hiệu say rượu cầm dao, cướp đồ của thương nhân, Dư Khánh lập tức sai bắt chém bêu đầu, quân trong thành sợ phục, dân mới yên ở. Toản đến Tư châu, xử lý việc chỉ mấy ngày, gặp lúc quân hiệu Ngụy Thục là Thượng Quan Tiến (上官進) tụ tập hơn 3.000 kẻ trốn tránh, cướp mấy vạn dân làng, đêm đánh thành châu. Toản nói: “Đây là bọn ô hợp, nhân đêm ập đến, ắt không có chí cố thủ, nên giữ vững để trấn áp, đến sáng tự tan.” Trong thành chỉ có 300 quân, chia giữ các cửa, Toản ngồi trên lầu thành, bí mật sai thúc canh, chưa đến nửa đêm đã đánh 5 hồi trống, giặc kinh sợ, bỏ chạy. Bèn thả quân đuổi, bắt được Tiến, chém ở chợ, chiêu hàng hơn 1.000 người, đều tha tội, cõi châu bèn yên.

Lấy Thục Hưng châu Mã bộ quân Đô chỉ huy sứ Triệu Ngạn Thao làm Hưng châu Thứ sử, để thưởng công dẫn đường quê hương.

Ngày Bính Ngọ, vì quân tây đi qua, dân có lao dịch điều phát, cung ứng, nên ban cho các châu Tần, Phụng, Lũng, Thành, Giai, Tương, Kinh Nam, Phòng, Quân nửa thuế mùa hạ năm nay; An, Sùng Phục, Dĩnh, Đặng châu, Quang Hóa, Hán Dương quân được giảm 2 phần 10; người ở phường, quách không phải nộp thuế nhà nửa năm.

Ngày Đinh Tị, Quyền tri Cống cử Lư Đa Tốn (盧多遜) tâu tiến sĩ Lưu Sát (劉察) v.v. có 7 người trúng cách.

Ngày Canh Thân, Mạnh Nhân Chế từ Thành Đô về. Biểu Mạnh Sưởng dâng có câu "tự xét lỗi lầm, vẫn còn lo sợ", Hoàng đế chiếu trả lời, đại lược rằng: “Đã tự cầu ở nhiều phúc, thì nên rửa sạch lỗi trước. Trẫm không nuốt lời, ngươi chớ quá lo.” Chiếu vẫn không gọi tên, lại gọi mẹ Sưởng là Quốc mẫu.

Tháng 3, Mạnh Sưởng cùng quan thuộc đều đem cả nhà về triều, theo đường Hạp châu mà xuống.

Lúc đầu, chiếu phát quân Thục đến kinh, đều ưu đãi cấp tiền hành trang, Vương Toàn Bân và những người khác tự ý giảm số ấy, lại thả cho quân lính quấy nhiễu. Quân Thục oán giận, đi đến Miên châu, bèn làm loạn, cướp các huyện thuộc mà phản, tôn cựu tướng Thục Toàn Sư Hùng (全師雄) làm soái, quân đến hơn 10 vạn, xưng là Hưng Quốc quân. Toàn Bân sai Mã quân Đô giám Chu Quang Tự (朱光緒) đi chiêu dụ, Quang Tự giết sạch họ hàng Sư Hùng, lấy ái nữ và hành trang của y, Sư Hùng giận, bèn không còn ý quay về, dẫn quân gấp đánh Miên châu, không được, đánh phá Bành châu, vào chiếm, 10 huyện thuộc Thành Đô đều khởi binh hưởng ứng Sư Hùng. Sư Hùng tự xưng Hưng Thục Đại vương, mở mạc phủ, đặt hơn 20 Tiết độ, chia giữ nơi hiểm yếu. Thôi Nghiêm Tiến, Cao Nghiêm Huy (高彥暉) v.v. chia đường đánh dẹp, bị Sư Hùng đánh bại, Nghiêm Huy tử trận, quân giặc càng mạnh. Sư Hùng chia quân chặn Kiếm Các, dọc sông đặt trại, nói rằng muốn đánh Thành Đô. Từ đó những kẻ theo Sư Hùng làm loạn có 17 châu, bưu trạm không thông, Toàn Bân và những người khác rất sợ.

Từ đời Đường Thiên Bảo trở đi, phương trấn đóng trọng binh, phần nhiều dùng thuế thu được để tự nuôi, gọi là Lưu sứ, Lưu châu, số nộp lên triều đình rất ít. Đến Ngũ đại, phương trấn càng mạnh, thường sai bộ thuộc coi tràng viện, thu nặng để tự lợi. Những nơi thuộc Tam ty, bổ quan lớn đến trông coi, ngoài số phải nộp, đều tự lấy; hoặc riêng nhận tiền của, gọi là Cống phụng, để mong ân thưởng. Vua mới lên ngôi, vẫn theo chế cũ, Mục thủ đến chầu, đều có Cống phụng. Đến khi Triệu Phổ làm Tể tướng, khuyên bỏ tệ ấy, nhấn mạnh lệnh cho các châu, ngoài chi phí độ chi, phàm vàng lụa để giúp quân dụng, đều gửi về kinh, không được giữ lại. Lại nữa, khi phương trấn khuyết soái, dần dần sai văn thần tạm quyền tri, ở các tràng viện, thỉnh thoảng sai quan kinh triều đến giám sát, lại đặt Chuyển vận sứ, làm điều lệ, sổ sách, dần dần tinh mật, do đó lợi quy về công, ngoại quyền bị cắt. Năm Kiến Long đầu, cống phú đều nhập Tả tàng khố, đến khi lấy Kinh, Hồ, hạ Tây Thục, tích trữ đầy đủ, vua bảo tả hữu rằng: “Chiến tranh, đói kém, phải dự bị trước, không thể đến lúc mới nặng thuế ở dân.” Bèn ở sau điện Giảng Vũ riêng lập Nội khố, để chứa vàng lụa, gọi là Phong trụng khố, phàm số dư dùng hàng năm đều nhập vào đó.

Ngày Đinh Sửu, Đại Thất Vi bộ trướng thủ lĩnh Diên Ni Cát (寅尼吉) của Liêu làm phản. Ngày Quý Mùi, 40 hộ người Ngũ Phường phản, chạy sang bộ Ô Khố. Liêu chúa ham săn bắn, vui giận không chừng, người coi chim ưng hơi làm trái ý liền chết, hoặc bị hình phạt nướng, chải sắt, nên người Ngũ Phường bỏ sang phản.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Ất Tị, Tiểu Hoàng Thất Vi phản. Nhã Lý Khắc Tư, Khắc Tô đánh, bị Thất Vi đánh bại, sai sứ trách mắng. Ngày Ất Mão, lấy Đồ Lý (圖裏) thay Nhã Lý Khắc Tư làm Đô thống, lấy Ni Cổ (尼古) làm Giám quân, dẫn kỵ binh nhẹ tiến đánh, lại sai Đái Mã Tầm Chi Lý (岱瑪尋支裏) mang chiếu dụ hàng.

Ngày Quý Hợi, dẫn nước sông Ngũ Trượng cho chảy xuyên qua cung thành, đi qua hậu viện, ao hồ trong nội đình, nước đều đến cả.

Lúc đầu, Vương Toàn Bân (王全斌) lo bọn quân Thục đã đầu hàng sẽ làm loạn, dời chúng đặt trong Giáp thành ở Thành Đô. Đến đây, các tướng muốn giết sạch chúng. Khang Diên Trạch (康延澤) xin chọn ra 7.000 người già yếu bệnh tật thả cho, số còn lại dùng binh lính hộ vệ đưa về, theo dòng sông mà xuống; nếu giặc đến đánh cướp, giết cũng chưa muộn. Các tướng không nghe. Người chết cộng hơn 27.000.

Trước đó, Hoàng đế sai sứ đem màn trướng, đồ dùng của Ngự phủ ra đón Mạnh Sưởng (孟昶) ở Giang Lăng, lại lệnh hữu ty làm nhà cho quan thuộc của Sưởng, lại sai sứ đến Giang Lăng, chia phát yên ngựa, xe cộ. Tháng 5, ngày Ất Dậu, Sưởng đến gần ngoại ô, Khai Phong doãn Quang Nghĩa (光義) ra vườn Ngọc Tân an ủi. Ngày Bính Tuất, bày đại trận các đạo quân trước cửa khuyết. Sưởng cùng em là Nhân Triệt (仁贄), con là Nguyên Triết (元喆), Nguyên Cược (元珏), Tể tướng Lý Hạo (李昊) v.v… 33 người mặc đồ trắng chờ chịu tội ngoài cửa Minh Đức. Có chiếu tha tội, ban cho Sưởng và những người khác áo bào, mũ đai. Hoàng đế ngự điện Sùng Nguyên, đủ lễ mà yết kiến. Lễ xong, ngự cửa Minh Đức, xem các đạo quân theo thứ tự trở về doanh. Bèn yến tiệc Sưởng và những người khác ở điện Đại Minh, ban cho vật phẩm có phân bậc.

Tháng 6, ngày Giáp Thìn, lấy Mạnh Sưởng làm Khai phủ Nghi đồng Tam ty, Kiểm hiệu Thái sư kiêm Trung thư lệnh, phong Tần quốc công. Ngày Canh Tuất, Sưởng mất, Hoàng đế vì ông ta ngừng chầu 5 ngày, truy tặng Thượng thư lệnh, truy phong Sở vương, thụy Cung Hiếu, cấp 1.000 tấm vải lụa để phúng viếng, việc mai táng do quan lại cung cấp.

Lúc đầu, mẹ Sưởng là Lý thị (李氏) theo Sưởng đến kinh sư, Hoàng đế nhiều lần sai khiêng kiệu bà vào cung, bảo rằng: “Quốc mẫu hãy tự giữ gìn, chớ buồn khổ; nếu nhớ quê hương, ngày khác sẽ cho đưa về.” Lý thị nói: “Khiến thiếp về đâu?” Hoàng đế nói: “Về Thục thôi.” Lý thị nói: “Nhà thiếp vốn ở Thái Nguyên, nếu được về già nơi cửa ải Bính, ấy là nguyện của thiếp.” Lúc đó Hoàng đế đã có ý bắc chinh, nghe lời ấy, mừng nói: “Đợi bình xong Lưu Quân (劉鈞), sẽ theo như nguyện của mẹ.” Nhân đó hậu ban tiền của. Đến khi Sưởng mất, Lý thị không khóc, nâng chén rưới xuống đất nói: “Mày không thể chết vì xã tắc, tham sống đến ngày nay để mà làm gì. Tao sở dĩ nén chết là vì còn có mày; nay mày đã chết, tao còn sống làm gì nữa!” Bèn không ăn mấy ngày mà chết.

Khi Liêu chúa sai người đi dụ Thất Vi (室韋), là muốn vỗ về khiến họ đầu hàng. Đến khi Tầm Chi Lý (尋支裏) đến, dụ bảo, họ không theo, lại lệnh Nha Lý Khắc Tư (雅裏克斯) suất quân mục dân chúng đuổi đánh, giao chiến ở sông Sài Hà, không lợi. Thủ lĩnh Thất Vi là Dần Ni Cát (寅尼吉) chạy trốn vào bộ Đức Liệt Lặc (德埒勒). Bộ Đức Liệt Lặc là 1 trong 10 bộ ngoài quốc thổ của nước Liêu. Tháng này, bộ Đức Liệt Lặc đến đầu hàng, Thất Vi được bình định, bèn chuyên tâm đánh bộ Ô Khố (烏庫).

Lưu Quang Nghĩa (劉光義), Tào Bân (曹彬) nhiều lần phá Toàn Sư Hùng (全師雄), mũi nhọn giặc hơi lui. Chẳng bao lâu, Hổ Tiệp chỉ huy sứ Lữ Hàn (呂翰) lại lấy Gia châu làm phản, cùng tướng giả mạo của Sư Hùng là Lưu Trạch (劉澤) hợp lại, quân đến 5 vạn, giết đuổi Thứ sử, Thông phán. Tào Bân suất quân hội với Nhân Thiệm (仁贍) v.v… vây Hàn ở Gia châu, Hàn bỏ thành chạy, đuổi đánh, đại phá, giết mấy vạn người, Hàn chạy giữ Nha châu.

Mùa thu, tháng 7, Hoàng đế nghe ở Hành doanh Tây Xuyên có đại tướng cắt vú vợ dân rồi giết, lập tức triệu đến cửa khuyết, chém ở đô thị. Cận thần xin cứu rất khẩn thiết, Hoàng đế bèn rơi lệ nói: “Dấy binh là để cứu giúp, hỏi tội, đàn bà có tội gì, mà tàn nhẫn đến thế! Phải mau đặt pháp để đền oan cho họ.”

Nam Hán chúa là Sưởng giết Chiêu thảo sứ của mình là Thiệu Đình Côn (邵廷琄). Đình Côn đóng quân ở Oanh Khẩu (洸口), chiêu tập kẻ trốn chạy, đào ngũ, huấn luyện binh sĩ, sửa sang chiến bị, người trong nước nhờ đó được yên ổn đôi chút. Có kẻ gièm rằng Đình Côn sẽ mưu bất trắc, Sưởng tin, ban chết cho Đình Côn.

Trân châu Thứ sử Điền Cảnh Thiên (田景遷) vào nội phụ.

Ngày Giáp Tuất, Nha Lý Khắc Tư nước Liêu tâu rằng bộ Ô Khố đến Hà Đức Lạc (河德濼), bèn sai Y Lặc Hy Ba (伊勒希巴), Thường Tư (常斯) v.v… đánh chúng. Ngày Đinh Sửu, bộ Ô Khố cướp dân cư ở ải Ngọc Lâm phía bắc Thượng Kinh, sai Lâm Nha Tiêu Can (林牙蕭幹), Lang quân Gia Luật Hiền Thích (耶律賢適) đi đánh, ngày Canh Thìn, Nha Lý Khắc Tư v.v… giao chiến với bộ Ô Khố, không lợi.

Tháng 8, ngày Kỷ Dậu, chiếu lấy Đô giám binh mã Tây Xuyên là Khang Diên Trạch làm Thứ sử Phổ châu. Diên Trạch đến xin Vương Toàn Bân cho quân hộ tống, Toàn Bân chỉ cấp cho 100 người. Diên Trạch đến Giản châu, chiêu tập kẻ trốn chạy, được hơn 1.000 người, dạy tập trận pháp, đem theo mà đi. Đến cõi giặc, treo bảng tỏ rõ uy tín, số người chiêu tập lại được thêm 3.000, bèn phá hơn 3 vạn quân Lưu Trạch, thế giặc hơi suy.

Ngày Tân Dậu, lấy Tả tán kỵ Thường thị Hoa Dương Âu Dương Củng (華陽歐陽炯) làm Hàn lâm học sĩ. Củng tính thẳng thắn, không câu thúc, rất thích sáo dài, Hoàng đế đôi khi triệu vào tiện điện thổi khúc. Ngự sử trung thừa Lưu Ôn Tẩu (劉溫叟) nghe, gõ cửa điện xin vào, can rằng: “Chức vụ ở Ty Hàn lâm là coi việc cáo mệnh, không thể làm việc của kẻ ca kỹ.” Hoàng đế nói: “Chúa tôi Mạnh Sưởng đắm chìm trong thanh sắc, Củng đến chức Tể tướng mà còn quen tập kỹ nghệ này, nên mới bị ta bắt. Sở dĩ triệu Củng, là muốn nghiệm lời người nói không sai thôi.” Ôn Tẩu tạ rằng: “Thần ngu muội, không hiểu được ý sâu xa răn rịt của bệ hạ.” Từ đó không triệu Củng nữa. Ôn Tẩu thường chiều tối đi qua trước tây khuyết cửa Minh Đức, Hoàng đế đang cùng mấy người Trung hoàng môn lên lầu, người đánh ngựa bí mật biết, báo cho Ôn Tẩu, Ôn Tẩu bảo truyền hô như thường mà đi qua. Hôm sau, xin vào chầu, lại nói: “Thiên tử lên lầu không đúng lúc, thì kẻ thân cận đều trông mong ân xá, các quân dưới gầm xe cũng mong thưởng cấp; thần sở dĩ quát dẫn mà đi qua, là muốn tỏ cho mọi người biết bệ hạ không lên lầu trái thời.” Hoàng đế khen là phải.

Tháng 9, ngày Kỷ Tị, Hoàng đế ngự điện Giảng Vũ, duyệt binh các đạo, được hơn 1 vạn người, đặt tên kỵ binh là quân Kiêu Hùng, bộ binh là quân Hùng Vũ, đều thuộc Ty Thị vệ.

Mùa đông, tháng 10, ngày Đinh Mùi, Thường Tư nước Liêu tiến đánh bộ Ô Khố, đại phá chúng. Bộ Ô Khố liền được bình định.

Tháng 11, ngày Đinh Mão mồng 1, Khang Diên Trạch vào Phổ châu. Trước đó thành châu bị đốt phá sạch, bèn dựa núi dựng rào, vừa đi vừa đánh, lấy lương ở Toại châu, lại xây thành Phổ châu. Rồi Lưu Trạch lĩnh quân đến đầu hàng, chiếu cho Diên Trạch kiêm chức Đông Xuyên 7 châu Chiêu an tuần kiểm sứ.

Thị thư giám, kiêm Phán Đại lý tự Doãn Chuyết (尹拙) v.v… tâu

Sách Thư Nghi của Lưu Nhạc (劉嶽) đời Hậu Đường, nói vợ để tang cha mẹ chồng 3 năm, khác với luật, nhưng cũng theo chiếu mà thi hành, xin riêng định lại.”

Chiếu cho bách quan hội nghị, Tả Bộc xạ Ngụy Nhân Phổ (魏仁浦) v.v… dâng bản nghị rằng:

“Cẩn xét Lễ, thiên Nội tắc nói: ‘Vợ thờ cha mẹ chồng như thờ cha mẹ mình.’ Cha mẹ chồng với cha mẹ đẻ là một. Cổ lễ có nói để tang 1 năm, tuy có thể khảo cứu về nghĩa; Thư Nghi chép văn 3 năm, thực là hợp với lễ. Phàm chế độ ngũ phục, các đời trước thêm bớt đã nhiều. Như chị dâu, em chồng vốn không có tang, Đường Thái Tông lệnh để tang Tiểu công; ông bà cố nội vốn để 3 tháng, tăng thành 5 tháng; con dâu trưởng để tang Đại công, tăng thành 1 năm; các con dâu khác để tang Tiểu công, tăng thành Đại công; cha còn sống mà để tang mẹ 1 năm, Cao Tông tăng thành 3 năm; phụ nữ đối với cậu dì bên chồng vốn không có tang, Minh Hoàng lệnh theo chồng mà để tang; lại tăng cậu dì cùng để tang Ty ma, lại đường cậu dì để tang Đản miễn. Đến nay tuân hành, đã thành điển chế. Huống chi trong 3 năm, bàn ghế vẫn còn, há có thể chồng mặc áo thô sô, vợ khoác gấm vóc? Vợ chồng là một thể, mà buồn vui khác nhau, xét theo tình người, thực tổn hại đến trị bình. Huống phụ nữ đối với chồng có tang 3 năm, mà đối với cha mẹ chồng chỉ để 1 năm, ấy là tôn chồng mà hạ cha mẹ chồng vậy. Lại Chiêu Hiến thái hậu mất, Hiếu Minh hoàng hậu thân hành để tang 3 năm, có thể làm phép cho muôn đời.

Tháng 12, ngày Đinh Dậu mồng 1, bắt đầu lệnh cho vợ để tang cha mẹ chồng 3 năm Tề trảm, theo chồng.

Ngày Kỷ Hợi, chiếu cho Giám quân, Tuần kiểm trong quản hạt Tây Xuyên không được dự việc châu huyện.

Tháng này, Liêu chúa đóng quân ở Hắc Sơn Bình Điện.

Năm Càn Đức thứ 3 (Liêu, Ứng Lịch năm thứ 15), Công nguyên năm 966

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, mùng 1 là ngày Đinh Mão, Liêu chúa say rượu, không nhận lễ chúc mừng.

Ngày Giáp Thân, Liêu chúa vi hành trong chợ, ban bạc lụa cho nhà bán rượu.

Ngày Đinh Hợi, lấy Khách tỉnh sứ Đinh Đức Dụ (丁德裕) làm Tây Xuyên Đô tuần kiểm sứ, cùng với Dẫn tiến phó sứ Vương Ban (王班), Nội ban đô tri Trương Dự (張嶼) cùng suất quân đến Tây Xuyên.

Tháng này, người Liêu xâm phạm Dịch châu, Giám quân Nhâm Đức Nghĩa (任德義) đánh lui.

Tháng 2, bọn An Quốc Tiết độ sứ La Nghiêm Khuê (羅彥瑰) đánh bại quân Bắc Hán ở Tĩnh Dương (靜陽), bắt tướng của chúng là Lộc Anh (鹿英).

Quyền Tri Cống cử Vương Hựu (王祐) tâu rằng Tiến sĩ trúng cách 6 người, các khoa trúng cách 9 người. Hoàng đế sợ có người tài bị bỏ sót, ngày Tân Dậu, lệnh trong số người thi hỏng chọn kẻ ưu tú, cho thi rồi nâng lên.

Ngày Giáp Tý, miễn thuế ruộng mùa hạ năm nay ở Tây Xuyên và một nửa các khoản thu khác, ruộng không cày cấy được thì miễn hết.

Tháng 3, ngày Kỷ Tị, Liêu chúa đi săn phía đông, trên đường bắt được ngỗng, liền uống rượu say suốt đêm.

Ngày Quý Dậu, bãi bỏ Nghĩa thương.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Nhâm Tý, bãi bỏ việc Quang châu cống chim ưng, diều.

Ngày Đinh Tị, con của Thiên Đức quân Tiết độ sứ Vu Diên Siêu (於延超) nước Liêu đến đầu hàng.

Tháng này, chiếu rằng

“Keo kiệt trong việc xuất nạp, gọi là hữu ty. Nếu mưu cầu có thặng dư, tất sẽ hết sức bóc lột. Tri Quang Hóa quân là Trương Toàn Thao (張全操) tâu rằng Tam ty lệnh cho chủ lại các trường viện các nơi, hễ có thặng dư thóc trên 1 vạn thạch, cỏ khô trên 5 vạn bó thì báo tên lên, xin thi hành thưởng điển. Nếu chẳng phải là thu gấp đôi thuế dân, bớt phần ăn của quân, thì làm sao có được! Nên truy thu hồi việc ấy, không được ban hành nữa, ngoài hao hụt do quan định, nghiêm cấm tuyệt.”

Lúc đầu, Hoàng đế sai Hữu Thập di Tôn Phùng Cát (孫逢吉) đến Thành Đô thu sách vở, pháp vật của Thục. Tháng 5, ngày Ất Hợi, Phùng Cát về, những pháp vật dâng lên đều không đúng quy cách, đều lệnh đốt hủy; sách vở giao cho Sử quán.

Mạnh Sưởng dùng đồ xa xỉ, vượt lễ, đến cả bô tiểu cũng trang sức bằng thất bảo, Hoàng đế lập tức lệnh đập vỡ, nói: “Tự cung phụng như thế, muốn không mất nước, được chăng?” Hoàng đế thân mình giữ tiết kiệm, thường mặc áo đã giặt giũ, xe ngự, đồ dùng đều chuộng mộc mạc, trong điện ngủ treo rèm có viền vải xanh, rèm màn trong cung không có trang sức hoa văn. Từng đem áo vải gai cũ ban cho tả hữu, nói: “Đây là thứ ta từng mặc dùng.” Khai Phong doãn Quang Nghĩa nhân dự yến trong cấm trung, thong thả nói việc đồ dùng của người quá sơ sài, Hoàng đế nghiêm mặt nói: “Ngươi không nhớ lúc ở trong trại Giáp Mã sao?”

Lúc đầu, Hoàng đế đổi niên hiệu hiện nay, lệnh Tể tướng soạn niên hiệu đời trước chưa từng có để dâng. Khi bình xong Thục, cung nhân Thục có người vào Nghiệp đình, Hoàng đế xem đồ đựng trong hòm, được chiếc gương cũ, mặt sau có chữ “Càn Đức năm thứ 4 đúc”, Hoàng đế rất kinh ngạc, đem gương cho Tể tướng xem, đều không trả lời được. Bèn triệu học sĩ Đào Cốc (陶穀), Đậu Nghi (竇儀) hỏi, Nghi nói: “Đây tất là vật của Thục. Xưa Ngụy Thục vương Diễn (王衍) có niên hiệu này, chắc là đúc vào năm ấy.” Hoàng đế bèn than: “Tể tướng phải dùng người đọc sách.” Từ đó càng trọng Nho thần. Triệu Phổ (趙普) lúc đầu nổi tiếng về đường lại, ít học thuật, Hoàng đế thường khuyên đọc sách, Phổ bèn tay không rời sách.

Ngày Giáp Thân, Liêu chúa vì hạn hán, chèo thuyền trên ao cầu mưa; không mưa, bèn bỏ thuyền đứng trong nước, chốc lát thì mưa.

Ngày Canh Dần, Hoàng đế thân thử những người thi Chế khoa là Giang Thiệp (姜涉) v.v… dưới lầu Tử Vân. Thiệp v.v… văn lý sơ lược, không đáp được sách vấn, đều ban rượu ăn rồi cho về.

Tháng 6, chiếu: “Thần tử trong nhà không được riêng nuôi hoạn quan. Nội thị 30 tuổi trở lên, mới được nuôi 1 con. Sĩ thứ dám có hoạn đồng nam thì không dung.”

Vương Toàn Bân phá giặc soái Toàn Sư Hùng ở trại Quán Khẩu, bắt 2.000 đảng của hắn, Sư Hùng đem quân chạy về Kim Đường.

Đến mùa thu, tháng 7, ngày Bính Dần, vì năm được mùa, chiếu cho Trưởng lại các châu huyện khuyên dân tích trữ, tiết kiệm, chớ chơi bời lười biếng, và cấm dân đánh bạc.

Cấm tướng soái lấy tinh binh trong quân làm Nha binh.

Ngày Mậu Thìn, thủ lĩnh Tây Nam Di là Đổng Cảo (董暠) v.v… vào nội phụ.

Ngày Giáp Tuất, lấy cựu Vĩnh châu Thứ sử người Tấn Dương là An Thủ Trung (晉陽安守忠) làm Hán châu Thứ sử. Thủ Trung lúc đầu hộ quân Điền điền ở Hà Âm, đến khi quân ta phá Thục, Hoàng đế triệu Thủ Trung, bảo rằng: “Phong tục xa xôi, hà khắc, Nam Trịnh là nơi người chạy trốn tụ tập, khanh thay trẫm vỗ về cai trị.” Liền sai Thủ Trung Quyền tri Hưng Nguyên. Bấy giờ dời giữ Hán châu, lúc đại quân trở về, cung cấp chi dùng tốn gấp bội, công khố không đủ, Thủ Trung giúp bằng tiền riêng. Hoàng đế mỗi lần sai sứ, tất dặn rằng: “An Thủ Trung ở Thục, có thể tự giữ mình, các ngươi đi gặp ông ta, phải noi theo cách làm người của ông ta.”

Ngày Nhâm Ngọ, Liêu chúa bảo hữu ty: “Trước ngày hành hạnh, chỗ dừng chân tất phải dựng tiêu chí cao, khiến dân không phạm. Nay nghe hạ thấp tiêu trong cỏ rậm, để dân lỡ bước vào, nhân đó lấy của. Từ nay ai còn như thế, xử tội chết.”

Tháng này, lấy hậu duệ đời thứ 44 của Khổng Tử là Nghi (宜) làm Chủ bạ huyện Khúc Phụ. Nghi thi Tiến sĩ không đỗ, bèn dâng thư kể gia thế, đặc biệt bổ dụng.

Tháng 8, ngày Tân Sửu, triệu Tể tướng, Khu mật sứ, Khai Phong doãn, Hàn lâm học sĩ Đậu Nghi, Tri chế cáo Vương Hựu v.v… yến dưới lầu Tử Vân, nhân bàn đến việc dân, Hoàng đế bảo Tể tướng Triệu Phổ v.v… rằng: “Bọn dân hạ ngu, tuy không phân biệt được đậu với lúa, nhưng nếu phiên hầu không vỗ về nuôi dưỡng, chỉ chăm làm khắc nghiệt, trẫm quyết không dung.” Phổ đối rằng: “Bệ hạ yêu dân như thế, ấy là tấm lòng của Nghiêu, Thuấn vậy.”

Ngày Canh Tuất, Khu mật trực học sĩ Phùng Toản (馮瓚), Lăng cẩm phó sứ Lý Mỹ (李美), Điện trung thị ngự sử Lý Tiệp (李檝), bị Tể tướng Triệu Phổ vu tội tham ô, xử tử; gặp lúc đại xá, đày ra đảo Sa Môn, trên đường không được ân xá.

Ngày Bính Thìn, sông Hoàng Hà vỡ ở Hoạt châu, làm hỏng đại đê huyện Linh Hà, phát mấy vạn binh sĩ, dân phu sửa chữa, những người bị nước ngập được miễn thuế mùa thu.

Tháng nhuận, chiếu cầu sách thất lạc: “Phàm quan lại, dân chúng ai đem sách đến dâng, lệnh Sử quán xem tên sách, trong quán không có thì thu. Người dâng sách đưa đến Học sĩ viện khảo hỏi về lý sự quan lại, ai có thể làm quan thì tâu lên.” Năm ấy, Tam Lễ của Thiệp Bật (涉弼), Tam Truyện của Bành Can (彭幹), Học cữu Chu Tải (朱載), đều ứng chiếu dâng sách, lệnh chia đặt vào Thư phủ, ban cho Thiệp v.v… đỗ khoa.

Ngày Giáp Tý, lấy trấn Quán Khẩu làm Vĩnh Khang quân.

Vương Toàn Bân tâu phá giặc soái Lữ Hàn, chiếm được Nha châu.

Ngày Ất Sửu, nước sông tràn vào huyện Nam Hoa.

Liêu chúa xem hươu rừng nhập vào đàn hươu thuần, đứng ngựa uống rượu đến chiều.

Ngày Ất Hợi, chiếu: “Dân ai có thể trồng dâu, táo, khai khẩn ruộng hoang thì không thu thuế; Lệnh, Tá nào khuyên được dân đến làm thì được thưởng.”

Tháng 9, ngày Nhâm Thìn mồng 1, Hổ Tiệp chỉ huy sứ Tôn Tiến (孫進), Long Vệ chỉ huy sứ Ngô Hoàn (吳環) v.v… 27 người, vì kết đảng với Lữ Hàn làm loạn mà bị xử chém, tru di nhà Tôn Tiến.

Ngày Canh Tý, Liêu chúa nhân tiết Trùng Cửu yến ẩm, đêm nối ngày, hơn 10 ngày mới thôi.

Ngày Bính Ngọ, chiếu cho Ngô Việt lập miếu Đại Vũ ở Cối Kê.

Quân trú phòng Tây Xuyên nhiều người trốn vào trong đảng giặc, có người xin xét giết vợ con họ. Hoàng đế bảo Khu mật sứ Lý Sùng Cự (李崇矩) rằng: “Trẫm lo trong đó có kẻ bị giặc bức bách, không phải bản tâm.” Bèn tha hết, không giết.

Mùa đông, tháng 10, ngày Tân Dậu mồng 1, chiếu cho Thái thường tự, từ nay Đại triều hội lại dùng hai điệu múa. Trước đó Trung Nguyên nhiều biến loạn, lễ nhạc khí cụ dần hư hỏng, Hoàng đế mới lệnh Phán Thái thường tự là Tuấn Nghi Hòa Hiến (浚儀和峴) khảo cứu tu sửa, riêng dựng bộ cung huyền 36 giá đặt ở sân, hai giá Đăng ca đặt trong điện, lại đặt 12 án cổ xuy, cùng cờ phướn, khiên mâu, sáo địch, lông trĩ v.v… mà người múa cầm, và y phục, đều như chế cũ. Hoàng đế cho rằng tiếng Nhã nhạc cao, gần với bi ai, lệnh Hòa Hiến khảo luận. Hiến dâng sớ nói: “Đồng vọng nghiệt ở Tây Kinh có thể đối chiếu phép cổ, tức là thước đá trên bóng biểu đài Ty Thiên nay. Lấy thước do Vương Phác (王樸) định mà đối chiếu, ngắn hơn thước đá 4 phân. Tiếng nhạc cao là do đó.” Hoàng đế bèn lệnh theo phép cổ chế thước mới, cùng ống Hoàng chung 9 tấc, cho thợ đối chiếu âm thanh, quả thấp hơn ống do Phác định 1 cung. Lại trong cung đem kê nếp núi Dương Đầu ở Thượng Đảng ra đo thước định luật, cũng tương hợp, bèn chế lại 12 ống luật để lấy âm. Từ đó tiếng Nhã nhạc mới hòa dịu.

Ngày Quý Hợi, chiếu các quận lập miếu lăng cổ đế vương, đặt hộ dân theo cấp bậc.

Ngày Canh Thìn, nước Liêu vì Bắc Hán chúa có tang mẹ, sai sứ phúng điếu.

Tháng 11, ngày Quý Tị, ngày Nam chí, Hoàng đế ngự điện Càn Nguyên nhận triều bái xong, mặc thường phục ngự điện Đại Minh, quần thần dâng thọ, lần đầu dùng Nhã nhạc Đăng ca và hai điệu múa Văn Đức, Vũ Công.

Thông phán đặt ở các châu, phần nhiều tranh giận với Trưởng lại, thường nói: “Ta là Giám châu, triều đình sai ta đến giám ngươi!” Trưởng lại cử động phần nhiều bị họ chế ngự. Có người nói họ quá lắm, nên kiềm bớt, ngày Ất Mùi, chiếu: “Thông phán các châu không được ỷ quyền tư lợi, phải cùng Trưởng lại liên ký văn thư, mới được ban hành.”

Ngày Quý Sửu, Hàn lâm học sĩ, Lễ bộ Thượng thư Đậu Nghi mất. Hoàng đế vì Nghi lúc ở Sở châu không chia lụa cho thân lại, thường khen ông ta có giữ phép, nhiều lần trước mặt đại thần nói muốn dùng làm Tể tướng. Đến khi Triệu Phổ chuyên chính, Hoàng đế lấy làm phiền, muốn nghe lỗi của ông ta, triệu Nghi, nói đến việc Phổ nhiều điều bất pháp, lại khen Nghi sớm có tài vọng. Nghi hết lời nói Phổ là khai quốc nguyên huân, công trung sáng thẳng, Hoàng đế không vui. Nghi về, bảo các em rằng: “Ta ắt không thể làm Tể tướng, nhưng cũng không đến nỗi bị đày Chu Nhai, nhà ta có thể giữ được.” Phổ vốn ghen Nghi cương trực, cùng bọn Tiết Cư Chính (薛居正), Lữ Dư Khánh (呂餘慶) tham tri chính sự, Đào Cốc, Triệu Bàng (趙逄), Cao Tích (高錫) v.v… kết đảng phụ họa, cùng bài xích Nghi, ý Hoàng đế nguội dần. Đến nay Nghi mất, Hoàng đế thương xót nói: “Trời sao cướp mất Đậu Nghi của ta nhanh thế!” Truy tặng Tả Bộc xạ.

Ngày Canh Thân, yêu nhân Trương Long Nhi (張龍兒) v.v… 24 người bị xử chém, tru di nhà Trương Long Nhi, Lý Ngọc (李玉), Dương Mật (楊密), Nhiếp Vân (聶贇).

Tháng 12, ngày Giáp Tý, Liêu chúa đến nhà Điểm kiểm Đô điểm kiểm tiền quân là Gia Luật Y Lại Ha (耶律伊賴哈), yến ẩm liền mấy ngày. Y Lại Ha là con Hợp Lỗ (合魯), Kiểm hiệu Thái sư, lúc đầu nhờ chức của cha mà vào hầu, Liêu chúa coi như bạn áo vải, cùng bàn cơ mật. Liêu chúa nghiện rượu, nhiều lần vì việc nhỏ mà giết người. Có người coi chim trĩ, vì làm chim trĩ bị thương mà trốn, bắt được, muốn giết, Y Lại Ha can rằng: “Tội này không đáng chết.” Liêu chúa rốt cuộc giết, giao xác cho Y Lại Ha nói: “Thu người bạn cũ của ngươi đi.” Y Lại Ha không nhận. Lại có người coi hươu là Tường côn (詳袞) làm mất 1 con hươu, bị giam, đáng chết, Y Lại Ha lại can rằng: “Mạng người rất trọng, há có thể vì 1 con thú mà giết?” Lâu sau, được tha. Liêu chúa tuy không hoàn toàn theo lời Y Lại Ha, nhưng rất yêu quý ông ta. Từng theo đi săn mùa thu, có người giỏi bắt chước tiếng hươu gọi được 1 con hươu đực đến. Luật pháp nước Liêu, hươu đực có sừng, chỉ thiên tử được bắn. Liêu chúa lệnh Y Lại Ha bắn, vừa giương cung, hươu ngã, Liêu chúa rất vui, ban thưởng hậu. Đến nay, yến vui lắm, lại ban chậu vàng, gấm mịn và 100 con ngựa chửa, người hầu hai bên được phong quan rất nhiều.

Đinh Đức Dụ cùng Tây Xuyên binh mã Đô giám Trương Diên Thông (張延通) suất quân phá giặc, bắt giả Đô thống của chúng là Khang Tộ (康祚), phanh thây ở chợ. Diên Thông là người Lộ Thành.

Khang Diên Trạch sau khi xây thành Phổ châu, Vương Khả Liêu (王可僚) lại hợp quân mấy châu đến đánh, Diên Trạch đánh đuổi, truy kích đến Hợp châu. Toàn Sư Hùng bệnh chết ở Kim Đường, Đức Dụ và Vương Toàn Bân v.v… chia nhau đi chiêu tập, quân giặc đều được bình định.

Tháng này, Bắc Hán lại chiếm Lương châu.

Đạt Lặc Đạt (達勒達) vào cống. Đạt Lặc Đạt vốn là một chi khác của tộc Mạt Hạt (靺鞨) đông bắc, sau niên hiệu Nguyên Hòa nhà Đường dời đến núi Âm Sơn, đến nay đến cống.