Bước tới nội dung

Tục tư trị thông giám/Quyển 48

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tục Tư trị thông giám, quyển 48  (2025)  của Tất Nguyên, do Cơ Như Tuyết dịch
Tống kỷ 48

Từ tháng 10 năm Ất Dậu (1045) đến tháng 3 năm Đinh Hợi (1047), Nhân Tông Khánh Lịch năm thứ 5 đến năm thứ 7, gồm 1 năm có dư

Năm Khánh Lịch thứ 5 (Liêu, Trọng Hy năm thứ 14), Công nguyên năm 1045

[sửa]

Mùa đông, tháng 10, ngày Ất Mão, nước Liêu sai sứ sang dâng xe Nguyên Long và số dê ngựa bắt được của nước Hạ.

Ngày Tân Dậu, rước thần chủ Chương Hiến Minh Túc Hoàng hậu, Chương Ý Hoàng hậu vào Thái miếu, đại xá thiên hạ.

“Các lộ Chuyển vận sứ trước đây đều kiêm danh nghĩa ‘đới án sát’, gần đây nghe nói làm việc quá phiền nhiễu khắt khe, quan lại không yên với chức trách, đến nỗi có kẻ bảo dụ châu huyện, khiến họ tố cáo lẫn nhau; như thế là tổn thương phong hóa, không ích gì cho việc nước, nay đều bãi bỏ." Lúc bấy giờ, những người cầm quyền ngăn trở, sửa đổi những việc Phạm Trọng Yêm (范仲淹), Phú Bật (富弼) đã thi hành, nhân dịp ban xá tội, bèn có mệnh lệnh này. Ban đầu, có người bàn xin mở rộng ân huệ đến trăm quan, lại ban thưởng hậu cho quân sĩ. Tham tri chính sự Ngô Dục (吳育) nói: "Không có việc gì mà mở đường cho kẻ cầu may, ai là người đã vì bệ hạ mà nêu ra lời bàn ấy? Xin trị tội hắn." Sau đó, Hoàng đế bảo các phụ thần rằng: "Người ngoài oán trách những người cầm quyền, nên phòng ngừa chuyện ồn ào." Dục nói: "Ắt là kẻ dâng lời bàn ấy muốn nhân đó làm lay động thính ý của bệ hạ, xin đừng lo. Thần đã lấy thân phó cho nước, còn sợ gì chuyện này nữa?" Hoàng đế sai nội sứ đi xem xét trộm cướp ở Sơn Đông, về tâu: "Giặc cướp không đáng lo, nhưng ở Duyện châu có Đỗ Duyên (杜衍), ở Vận châu có Phú Bật, người Sơn Đông đặc biệt tôn kính yêu mến hai người ấy, đó mới là điều đáng lo." Hoàng đế muốn dời 2 người sang Hoài Nam. Dục nói: "Giặc cướp không đáng lo. Nhưng bọn tiểu nhân nhân thời thế mà lật đổ đại thần, đó không phải là phúc của quốc gia."

Việc bàn dời chức vì thế bị gác lại.

Ngày Giáp Tý, Liêu chúa làm lễ vọng tế ở núi Mộc Diệp.

Ngày Kỷ Tị, chiếu gửi cho Lưu Thực (劉湜) – người đi theo tiếp sứ Liêu: "Biên giới phía bắc gần đây đắp đồn trại ở thành Ngân Phường, lấn vào cõi Hán 10 dặm, hãy dùng lời thề ước mà bảo dụ sứ giả, lệnh phá bỏ đi."

Ngày Canh Ngọ, Hoàng đế ngự cửa Nội Đông môn, ban rượu cho các quan theo hầu 3 tuần, tấu nhạc Quân dung. Ngự đến cửa vườn Quỳnh Lâm, ban cơm cho các quan theo hầu. Rồi đi săn ở thôn Dương, yến tiệc tại điện Ốc, tấu nhạc Giáo phường, sai sứ đem hươu, thỏ săn được phi ngựa dâng lên Thái miếu. Sau đó triệu các bô lão đến hỏi han, ban cho ăn uống, trà, lụa, lại ban bạc, lụa cho quân sĩ Ngũ phường theo thứ bậc khác nhau.

Ngày Tân Mùi, bắt đầu ban lịch cho nước Hạ.

Ngày Canh Thìn, bãi việc Tể tướng kiêm Khu mật sứ. Lúc ấy, Giả Xương Triều (賈昌朝), Trần Chấp Trung (陳執中) tâu: "Buổi đầu dựng nước, lấy hai ti cùng nắm đại quyền, trước đây vì vùng Quan, Thiểm chưa yên, việc quân cần thống nhất, nên lại cho kiêm lãnh. Nay Tây Hạ đã vào triều, biên phòng đã có trật tự, nên trả lại ấn Khu mật, may ra hợp với phép nước, thần đẳng xin bãi việc kiêm Khu mật sứ." Đã xuống chiếu cho phép, lại chiếu cho Khu mật viện: "Phàm việc cơ yếu quân quốc, cứ như cũ cùng bàn bạc rồi thi hành."

Tháng 11, ngày Nhâm Ngọ mồng 1, nước Hồi Cốt sai sứ sang cống nước Liêu.

Khu mật viện xin từ nay việc thăng giáng các thần liêu quản quân, các Trưởng quan vùng biên viễn, và các chức Tướng quân kiềm hạt binh mã các lộ trở lên, đều cùng bàn với Tể tướng, được chuẩn cho.

Ngày Đinh Hợi, tiết Đông chí, yến tiệc tông thất ở điện Sùng Chính.

Ngày Tân Mão, chiếu cho Ty Đề điểm hình ngục lộ Kinh Đông xem xét tình trạng sống chết của Thạch Giới (石介) rồi tâu lên. Trước đó, Giới nhận mệnh làm Thông phán Bộc châu, về nhà đợi bổ. Năm ấy tháng 7, ông bệnh mất. Hạ Tông (夏竦) rất hằn Giới, lại muốn lật đổ Phú Bật, gặp lúc ở Từ châu, Khổng Trực Ôn (孔直溫) mưu phản, lục soát nhà hắn, được thư của Giới, Tông nhân đó tâu rằng: "Giới thực ra chưa chết, Bật ngầm sai ông ta vào nước Khiết Đan mưu khởi binh, Bật sẽ làm nội ứng." Những người cầm quyền tin theo lời ấy, nên mới có chiếu này, lại còn bắt giam vợ con Giới ở châu khác.

Ban đầu, có người ở Từ châu tố cáo Trực Ôn cùng đồng đảng dùng tà pháp dụ dỗ quân sĩ làm biến, nhưng Chuyển vận sứ không nhận đơn, người ấy liền gấp đến gặp Ty Đề điểm hình ngục Lữ Cư Giản (呂居簡). Cư Giản lệnh không được nói là có người không nhận đơn, rồi lại cùng Chuyển vận sứ hợp mưu bắt Trực Ôn cùng đồng đảng. Sau khi bọn chúng bị giết, ở Bộc châu lại có kẻ mưu phản, dân chúng xao động, kinh hoảng tan vỡ. Cư Giản phi ngựa đến, bắt được kẻ cầm đầu, giết đi, duyệt binh, khao thưởng quân sĩ, nên gian mưu không phát. Cư Giản là con của Mông Chính (蒙正). Lúc ấy cũng có chiếu xuống Duyện châu xét thực hư việc Giới chết. Tri châu Đỗ Duyên (杜衍) họp quan thuộc mà nói việc ấy, mọi người không ai dám đáp. Chưởng thư ký Tiết độ Thái Ninh là Cao Viện Cung Đỉnh Thần (高苑龔鼎臣) một mình nói: "Giới bình sinh ngay thẳng, trung hậu, sao lại có chuyện ấy được! Xin lấy cả họ mà bảo đảm rằng ông ấy tất đã chết." Duyên kinh sợ, lấy bản tấu trong ngực ra cho xem, nói: "Lão phu đã bảo đảm cho Giới rồi, ông tuổi còn trẻ, thấy nghĩa ắt làm, sao có thể lường được!"

Trực giảng Quốc tử giám Tôn Phục (孫復) bị giáng làm Giám thu thuế Khánh châu. Khổng Trực Ôn bị giết, lục soát nhà hắn, được bài thơ hắn để lại cho Phục nên mới thế.

Chiếu rằng biên sự đã yên ổn, trộm cướp dần suy, Tri Vận châu Phú Bật, Tri Thanh châu Trương Tồn (張存) đều bãi chức An phủ sứ, Tri Bân châu Phạm Trọng Yêm bãi chức An phủ sứ 4 lộ Thiểm Tây, thực ra là do kẻ gièm pha nói Thạch Giới mưu loạn, Bật sẽ khởi binh cả một lộ để ứng viện nên mới vậy. Trọng Yêm trước đó viện cớ bệnh xin giải chức biên, ngày hôm ấy đổi làm Tri Đặng châu.

Ban đầu, Hàn lâm học sĩ Diệp Thanh Thần (葉清臣) đang chịu tang cha, có người từng xin cho ông được khởi phục làm biên soái, nhưng rồi không thi hành. Đến đây, Thanh Thần mãn tang, Tể tướng Trần Chấp Trung vốn có hiềm khích với Thanh Thần, không muốn ông ở trong triều, bèn nhân đó thi hành lại lời xin trước. Ngày Canh Tý, đổi bổ Thanh Thần làm Hàn lâm Thị độc học sĩ, Tri Bân châu.

Ngày Nhâm Dần, lấy Điện trung Thị ngự sử Lưu Thực làm Lễ bộ viên ngoại lang kiêm Thị ngự sử Tri tạp sự. Người đương thời cho rằng Thực dò ý Tể tướng rất sâu, nên mới khiến Doãn Sư (尹洙) bị tội, vì thế được thăng thưởng hậu.

Ngày Giáp Thìn, nước Liêu lấy Đồng tri Bắc viện Tuyên huy sứ Tiêu A Lạt (蕭阿刺) làm Bắc phủ Tể tướng.

Tháng 12, ngày Quý Sửu, lấy Tri Lộ châu Quách Thừa Hựu (郭承佑) làm Phó đô bộ thự Bính, Đại, kiêm Tri Đại châu. Trước đó, Đỗ Duyên tâu xin bãi chức quân của Thừa Hựu, đến đây lại phục chức. Khi Bao Chửng (包拯) từ nước Khiết Đan trở về, tâu rằng: "Biên soái Hà Bắc nên chọn lựa kỹ càng, mà Đại châu lại càng không thể giao phó khinh suất. Nay triều đình ủy nhiệm Quách Thừa Hựu, e rằng tất làm hỏng việc. Xin sớm triệu về, dùng người khác có tài. Các tướng giữ biên dọc theo biên giới, ai nhút nhát, không đảm đương nổi, cũng xin sớm cho đổi đi nơi khác."

Liêu chúa xem quân Hán tập bắn pháo, bắn tên, đâm thương. Ngày Quý Hợi, Liêu chúa quyết xử các vụ án tồn đọng.

Năm Khánh Lịch thứ 6 (Liêu, Trọng Hy năm thứ 15), Công nguyên năm 1046

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Ất Dậu, Liêu chúa đi đến sông Hỗn Đồng.

Cấm người Liêu đem nô tỳ bán cho người Hán.

Ngày Mậu Tý, Vương Nghiêu Thần (王堯臣) bị bãi chức Tam ty sứ, làm Hàn lâm học sĩ Thừa chỉ kiêm Đoan Minh điện học sĩ, Quần mục sứ. Nghiêu Thần coi việc tài chính tổng cộng 3 năm, trước đó, người tiền nhiệm là Diêu Trọng Tôn (姚仲孫) vay tiền Nội tàng mấy trăm vạn, lâu ngày không trả được, Nghiêu Thần tra xét sổ sách, trả hết, mà chi phí quân quốc vẫn dồi dào dư dật, chưa từng tăng thuế với dân. Các Chuyển vận sứ 3 lộ Ích, Tử, Khê đều xin tăng thu thuế muối giếng, mỗi năm có thể được hơn 10 vạn quan tiền, Nghiêu Thần kiên quyết không theo. Hoàng đế hỏi lý do, ông đáp: "Vùng Ung, Thục xa xôi hẻo lánh, ân trạch ít khi tới, mà cống nạp thường gấp đôi, sức dân vì thế khốn khổ. Triều đình đã chưa có cách gì để cứu giúp, lại còn mưu lợi ở đó, là chồng thêm khổ, tuy có lợi nhỏ, nhưng ắt sẽ tổn hại lớn." Hoàng đế khen lời đối đáp ấy. Tuy nhiên, bọn quyền thần, sủng thần nhân đó nhiều lần bị ông chặn bớt, ở kinh sư thường có lời đồn, đến cả những người bên cạnh Hoàng đế cũng có kẻ gièm pha chê bai ông, Hoàng đế đều không hỏi đến, còn Nghiêu Thần thì vẫn thản nhiên như cũ. Sau đó, ông tâu với Hoàng đế: "Mẹ thần đã già, xin giải bớt việc phiền nặng." Khi ông bị bãi, Hoàng đế an ủi, Nghiêu Thần dập đầu nói: "Không phải do thần có tài, chỉ vì bệ hạ tin dùng thần mà thôi."

Lễ bộ Thượng thư, Tri Hà Nam phủ Phạm Ung (范雍) mất, truy tặng Thái tử Thái sư, thụy là Trung Hiến. Ung thích mưu tính nhưng ít việc thành, cũng hơi biết người, vui lòng tiến cử sĩ. Địch Thanh (狄青) lúc đầu làm Tiểu hiệu, phạm pháp đáng chém, Ung tha cho, sau trở thành danh tướng.

Ngày Giáp Ngọ, lệnh Hàn lâm học sĩ Tôn Biện (孫抃) quyền Tri cống cử.

Ngày Bính Thân, lấy Hàn lâm học sĩ, Tri chế cáo Tô Thân (蘇紳) làm Tri Hà Dương. Thân hăng hái cầu tiến, giỏi công kích người, sĩ đại phu đều sợ và ghét ông. Có người dâng sớ vạch tội trạng, nên lệnh cho ra trấn thủ, Thân từ Dương châu trở lại Hàn lâm chưa đầy 3 tháng. Năm ấy, ông mất ở Hà Dương. Thân cùng Lương Thích (梁適) cùng ở trong hai cấm (Hàn lâm, Bí các), người ta cho là hiểm trá, có câu nói: "Thảo đầu mộc cước, hãm nhập đảo trác” (ý chỉ hai họ Lương, Tô: 梁 – bộ mộc, 紳 – bộ mịch trên chữ thân, ví như cỏ đầu, chân gỗ, sa vào chỗ lật đổ).

Ngày Mậu Thân, dời quân thú ở Quảng Nam đến nơi đất tốt, để tránh lam chướng.

Tháng 2, ngày Nhâm Tý mồng 1, ban cho Thái phó trí sĩ Trương Sĩ Tốn (張士遜) bổng tháng 10 vạn.

Ngày Ất Mão, Liêu chúa đi đến sông Trường Xuân.

Ngày Quý Hợi, Chuyển vận sứ lộ Kinh Hồ Nam là Chu Hanh (周沆) tâu: "Bản lộ giặc Man chưa yên, mà quan quân đã thú lâu ngày, xin vay tiền công 1.000 quan để khao thưởng tướng tá." Được chuẩn cho. Hanh lại tâu: "Bọn Man thắng liền mấy trận nên đang kiêu, chưa dễ vỗ về, nên đợi thu đông mới tiến quân. Đất Man hiểm trở, khí độc, người của chúng dũng mãnh, giỏi dùng giáo, khiên, quân phương bắc không thể địch nổi. Xin chọn ở 3 châu Ung, Nghi, Dung những người Trừng hải trung đảm, biết rõ núi sông, quen thuộc kỹ nghệ của chúng, 3.000 người, đánh thẳng vào sào huyệt, số quân còn lại chặn giữ các núi, nếu chúng ra thì săn bắt, đợi đến khi thế cùng lực kiệt, rồi mới có thể vỗ về." Triều đình dùng kế ấy, cuối cùng bình được giặc Man.

Ngày Mậu Dần, ở Thanh châu động đất.

Chiếu cho Kinh lược An phủ và Chuyển vận ty Thiểm Tây: "Triều đình mở cửa đón nước Hạ, vốn là muốn giảm chi phí, nghỉ sức dân. Từ khi họ nhận phong, dâng biểu thề, đã hơn 1 năm, mà điều độ vẫn không giảm so với lúc dùng binh; hãy bàn việc cắt giảm các khoản chi, cùng những quan viên, chỉ sử, sứ thần mới tăng thêm mà nay không còn dùng, đều kê rõ tâu lên." Là theo lời Khu mật sứ Bàng Tịch (龐籍).

Quyền Đồng tri Lễ bộ cống cử Trương Phương Bình (張方平) tâu: "Chế độ thi cử của Lễ bộ hiện nay, định ra từ triều trước. Từ đầu niên hiệu Cảnh Hựu, có người vì đổi thể văn mà được trúng cao khoa, kẻ hậu tiến truyền nhau bắt chước, đều quên mất sở học vốn có. Gần đây, văn cách ngày càng mất đi lề cũ, mỗi người bày ra ý mới, tranh nhau làm lạ. Đến khi Thái học được xây dựng lớn, giảng quan trăm người càng được tôn trọng, do sở thích của họ mà dần thành phong khí, lấy quái đản, phỉ báng làm cao, lấy phóng túng, dung tục làm giàu, vượt khỏi khuôn phép, làm mê hoặc hậu học; triều đình nhiều lần xuống chiếu răn bảo, mà người học vẫn thích phóng túng, hiếm ai tự quay lại. Nay ở cống viện, người dự thi có kẻ làm phú theo thể mới đến hơn 800 chữ, mỗi câu có khi 16, 18 chữ, còn luận thì hơn 1.200 chữ, sách thì bỏ điều được hỏi mà phóng túng ý riêng, bày ra chuyện khác, há đó là ý của triều đình khi chọn hiền tài, thu góp nhân tài để sẵn sàng cho việc trị nước sao! Những kẻ thêm học thể mới mà rườm rà, không hợp quy thức, thần đều đã đánh hỏng. Xin nhắc lại chiếu trước, treo lên cho mọi người xem." Chiếu cho theo lời tâu. Lúc ấy, Ngự sử Vương Bình (王平) lại xin phú không được quá 400 chữ. Nhưng Lễ bộ lại cho rằng tài nghệ được chọn, chỉ hơn kém một chữ mà đến nỗi bị đánh hỏng, thì gần như trái với tình người. Từ đó lại lấy số chữ cũ làm hạn.

Tháng 3, ngày Tân Tị mồng 1, có nhật thực. Ngự điện Sùng Chính. Xét giảm tội tù, tội tạp từ tử tội trở xuống đều giảm 1 bậc, tội trượng trở xuống thì tha.

Ngày Ất Dậu, nước Liêu nhân Thái hậu mừng tiết Ứng Thánh, giảm tử tội, tha tội đồ trở xuống.

Ngày Canh Dần, ở Đăng châu động đất, núi Cự Vu sụp. Từ đó động đất không dứt, mỗi năm hễ động đất thì đáy biển phát ra tiếng như sấm.

Ngày Đinh Dậu, Liêu chúa chiếu cho các đạo mỗi năm phải kê tâu việc kiện tụng trong ngục.

Nước Cao Ly sang cống nước Liêu.

Ngày Nhâm Dần, ban cho Tiến sĩ người Dương Nhân là Giả Ảm (賈黯) cùng các bậc đỗ, xuất thân, đồng xuất thân theo thứ bậc khác nhau. Ngày Quý Mão, ban cho các khoa đỗ và xuất thân. Ngày Giáp Thìn, ban cho các khoa đặc tấu danh đồng xuất thân, cùng các Trưởng sử, Tư mã, Văn học các châu.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Tân Hợi mồng 1, nước Liêu cấm quan dân 5 kinh đánh cầu (kích cúc).

Ngày Giáp Dần, giáng Hà Đông Chuyển vận sứ Lý Chiêu Cấu (李昭遘) làm Tri Trạch châu, vì khi đi sứ nước Liêu, người theo hầu từng trộm chén bạc của Liêu. Người theo hầu của Chiêu Cấu đã bị đánh chết, chiếu lệnh đem chén bạc trả lại Liêu. Người đương thời cho rằng kẻ trộm đã bị xử tử, mà trả chén thì tổn hại đến thể thống. Phán Đại Danh phủ Hạ Tông cũng dâng tấu xin bãi việc trả chén, nhưng không được nghe theo. Tri Hùng châu Vương Nhân Húc (王仁旭) nộp thẳng chén bạc vào kho quân tư, người ta cho là hợp lẽ.

Ngày Mậu Ngọ, nước Liêu bãi quân thú ở trướng Diêu Liễn.

Ngày Nhâm Tuất, nước Liêu lấy Tiết độ sứ Bắc Nữ Chân là Tường yển Tiêu Cảo Lục (蕭杲陸) làm Đại vương 6 bộ Khiết.

Ngày Giáp Tý, Liêu chúa đến núi Vĩnh An để tránh nóng.

Ngày Giáp Tuất, 180 hộ ở vùng sông Bồ Lô, Mao Đỏa Hạt Lạn quy phụ nước Liêu.

Liêu chúa lấy Tả Trung thừa Tiêu Duy Tín (蕭惟信) làm Quốc vương phó nước Yên Triệu. Liêu chúa bảo ông rằng: "Yên Triệu tả hữu đều nhiều kẻ nịnh hót, không nghe lời trung, dần dần thành tính. Ngươi phải dùng đạo mà khuyên bảo, khiến nó biết nghĩa vua tôi, cha con; kẻ nào không thể cho ở trong vương đệ, hãy kê tên tâu lên." Duy Tín vốn ưa học, giỏi biện luận, đến khi làm Vương phó, có thể lấy lễ mà phụ đạo.

Ngày Bính Tý, dời Tri Định châu Vương Đức Cơ (王德基) làm Tri Hùng châu kiêm Duyên biên An phủ sứ. Ban đầu, các quan giữ thành sợ sinh chuyện, chưa từng ra ngoài đi săn, đến khi Đức Cơ tới, mới thả kỵ binh đi săn trên biên giới. Dân cư quanh cửa ải rất đông, mà tường thành cũ đổ nát, lâu ngày không ai dám sửa, Đức Cơ liệu trước, điều động binh phu xây đắp cho hoàn chỉnh. Nước Liêu mỗi năm sai sứ đem hoa quả, đồ ăn sang tặng, trước đây các quan đều thay đổi y phục rồi mới ra gặp, Đức Cơ tiếp đãi theo lễ thường; lại mỗi khi có công văn qua lại, theo lệ do quan trong châu chủ việc tiếp đãi, đến đây ông cho Ty chỉ sử thay mặt.

Ngày Kỷ Mão, Quyền Ngự sử trung thừa Trương Phương Bình tâu: "Trung thư, Khu mật viện mấy năm gần đây khi bổ nhiệm, thăng giáng, thường dự sẵn bút phê của Hoàng đế, đợi nửa năm hoặc 1, 2 năm sau mới cho thăng chức hoặc đổi chức. Việc thăng giáng vốn có quy củ thường, nếu vì công lao đáng thưởng mà thăng vượt bậc, ai dám nói không được! Nhưng nếu việc do cầu may mà ra, dù kéo dài ngày tháng, sao dẹp được lời bàn của mọi người! Ví như người buôn bán ở chợ, làm khế ước, định kỳ hạn trả, chẳng những làm tăng ơn huệ bừa bãi, mà thực cũng tổn hại thể thống trị nước. Xin từ nay, văn võ quan nào vin vào lệ trước mà mong thăng đổi, đều phải rõ ràng giáng chức để răn." Được chuẩn cho.

Tháng 5, ngày Giáp Thân, mưa đá, động đất.

Ngày Mậu Tý, giảm chỉ tiêu thu tiền muối giếng ở Khung châu mỗi năm 1.00 vạn quan. Thuế muối 4 lộ Xuyên, Hiệp là chỗ quan lại trông vào để cung cấp, nhưng mạch giếng khi phát khi yếu, mà chỉ tiêu thu vẫn như cũ, người đảm nhiệm thường lo tăng thu để lập công, nhiều lần gây họa cho người sau. Triều đình tha thiết muốn trừ khổ cho dân, nhất là nghĩ đến người xa, hễ có ty nào tâu lên, thường lập tức cho miễn giảm, trước sau không thể kể hết.

Ngày Bính Thân, chiếu cho Thiểm Tây mua ngựa của các bộ phiên.

Ngày Đinh Dậu, người Kinh Đông là Lưu Cẩn (劉巹), Lưu Miện (劉沔), Hồ Tín (胡信) mưu phản, bị xử tử.

Tháng 6, ngày Canh Tuất mồng 1, xuống tờ trát ngự tiền cho Hạ An Kỳ (夏安期) cùng những người khác: "Gần đây lệnh cho cùng với các Kinh lược An phủ ty các lộ Thiểm Tây bàn việc giảm chi phí biên giới, phải hết lòng tính toán, để thành lợi ích lâu dài cho triều đình."

Chiếu cho Hạ Tông cùng các Giám ty Hà Bắc xét những biên soái, Trưởng quan không làm tròn chức trách.

Ban đầu, khi Ngô Dục ở Hàn lâm, tiến cử Đường Tuần (唐詢) làm Ngự sử; chưa đến nhiệm sở thì mẹ mất. Mãn tang, Dục đang làm Tham tri chính sự, mà Tể tướng Giả Xương Triều có họ thân với Tuần, Dục nhiều lần vì Xương Triều mà nói, Tuần theo lệ cũ phải bãi chức Ngự sử, Xương Triều bất đắc dĩ cho Tuần làm Tri Lư châu. Phàm quan bị điều ra ngoài đều được vào triều từ biệt, riêng Tuần được cho vào yết kiến. Trung thừa Trương Phương Bình nhân đó tâu: "Tuần tài chất tốt đẹp, nên lưu lại để đảm nhiệm chức ngôn quan." Chiếu cho phép, Dục tranh luận mà không được. Từ đó Tuần oán Dục mà theo về phía Xương Triều.

Ngày Quý Sửu, nước Liêu lấy Tây Kinh Lưu thủ Da Luật Mã Lục (耶律瑪陸) làm Đô bộ thự Hành cung người Hán, Tham tri chính sự Dương Cật (楊佶) bị điều ra làm Tiết độ sứ Vũ Định quân. Lúc ấy, Vũ Định đại hạn, lúa má sắp khô, đêm Cật đến nhậm chức, mưa xuống đầy đủ, trăm họ ca tụng.

Ngày Đinh Tị, sao băng xuất hiện ở phía nam chòm Doanh thất, to như cái chén, ánh sáng soi đất, mơ hồ có tiếng, bay về phía bắc đến chòm Vương Lương thì tắt.

Ngày Tân Dậu, chiếu cho Hà Đông Kinh lược sứ Trịnh Tiển (鄭戩) cắt giảm chi phí biên giới bản đạo.

Ngày Quý Hợi, Hoàng đế bảo các phụ thần: "Gần đây có người dâng sớ nói về biến sao, quốc gia tuy không có yêu dị, cũng nên sửa mình cảnh giác, huống chi là vì bị giáng trách mà hiện ra! Trời răn bảo người quân vương, khiến cùng nhau sửa đức, cũng như người quân vương biết lỗi của bề tôi, trước hết răn bảo, khiến họ tự mới lại, thì không sa vào tội ác vậy." Giả Xương Triều cùng các quan đều nhận lỗi, lạy hai lần.

Ngày Mậu Thìn, Liêu chúa ngự điện Thanh Lương, cho 68 người như Vương Đường (王棠) đỗ Tiến sĩ. Đường là người Tân Thành, Đốc châu, bác cổ, giỏi làm văn, đương thời cho là được người.

Ngày Tân Mùi, Tri Ích châu Văn Ngạn Bá (文彥博) tâu: "5 châu Ích, Bành, Khung, Thục, Hán không phải là nơi dùng ngựa, mà mỗi châu đều cùng nuôi quân kỵ hơn 2.000 người, xin đều đổi thành bộ binh." Chiếu cho đổi 1/3.

Tham tri chính sự Ngô Dục và Tể tướng Giả Xương Triều không hợp nhau, Giám sát Ngự sử Đường Tuần vốn oán Dục, bèn đón ý Xương Triều dâng sớ rằng: "Khoa Hiền lương phương chính, trực ngôn cực gián, Mậu tài dị đẳng, từ Hán đến Đường đều không đặt thường xuyên, nếu trời hiện tai dị, chính sự có khiếm khuyết, thì chiếu lệnh người đương chức tiến cử. Bản triều noi theo văn cũ, đến đời Chân Tông, 3 lần đặt khoa này. Bệ hạ lên ngôi, tăng khoa lên 6, lúc đầu ứng chiếu chỉ vài người, sau đến hơn 10 người, nay gần 30 người. Hễ trúng khoa này, chưa đầy mấy năm, đều đến hiển chức. Xin từ nay, không đặt khoa này cùng lúc với Tiến sĩ, nếu vì tai dị mà mở khoa phi thời, nên như phép đời Hán, do Hoàng đế thân hành sách vấn, bãi việc thi ở Bí các." Sớ dâng lên, Hoàng đế gạch tên ông ta giao cho Trung thư, Dục dâng sớ bác lại. Hoàng đế cho là lời Dục đúng, liền chiếu cho Lễ bộ: "Từ nay, khoa Chế khoa đặt cùng lúc với cống cử Tiến sĩ, ghi làm phép nay; lại phải do cận thần luận tiến cử, không được tự tiến cử." Hoàng đế nhân đó bảo các phụ thần: "Kẻ dâng sớ ấy xin theo bút phê trong cung, nay trẫm mới biết hắn dối trá." Dục lại tâu: "Kẻ âm tà phá việc, chính nên phân biệt rõ ràng, xin nêu tên ra mà xét hỏi, để tỏ rõ quốc pháp." Dục vốn do thi Chế sách mà đỗ, Hoàng đế nhiều lần khen là hiền, cho là được người, nên Tuần hết sức công kích, ý nhằm vào Dục, không nhằm vào Chế khoa. Em Dục lấy em gái Lý Tuân Húc (李遵勖), sinh 6 con rồi góa. Tuần lại tâu: "Em dâu Dục ở góa đã lâu, không cho tái giá, muốn dùng đó để dựa vào họ Lý mà tự tiến." Đại để là đón ý Xương Triều, lại muốn báo thù; Hoàng đế rốt cuộc không nghe.

Mùa thu, tháng 7, Tam ty sứ Vương Củng Thần (王拱辰) tâu: "Thời Thái Tổ có 12 vạn quân, thời Thái Tông có 18 vạn, thời Chương Thánh có 40 vạn, nay gấp đôi. Quân cốt ở tinh, không cốt ở nhiều, bọn dư thừa ngồi ăn không, không phải kế. Tam ty tuy nắm đại kế tài dụng, nhưng việc thực ở ngoài, xin các biên soái các đạo đều cùng gánh trách nhiệm ấy." Ngày Ất Dậu, chiếu cho Phán Đại Danh phủ Hạ Tông, Tri Bính châu Trịnh Tiển, Tri Vĩnh Hưng quân Trình Lâm (程琳) đều kiêm nhiệm việc tính toán lương thảo bản lộ, theo lời Củng Thần.

Bân vương Toại Cách (豳王遂格) của nước Liêu mất.

Ngày Canh Dần, Kinh lược ty Hà Đông tâu mưa làm hỏng tường thành các châu Hân, Đại.

Ngày Ất Mùi, nước Liêu lấy cựu Nam phủ Tể tướng Da Luật Hỷ Tốn (耶律喜遜) làm Tường yển Đông Bắc lộ.

Ngày Bính Thân, lấy Tri Cát châu Dư Tĩnh (余靖) làm Phân ty Nam Kinh, cho phép ở Thiều châu. Ban đầu, Tĩnh làm Gián quan, từng hặc tấu Thái thường bác sĩ Như Hiếu Tiêu (茹孝標) bất hiếu, giấu tang mẹ, nên bị bãi. Khi Thanh (chỉ Phạm Trọng Yêm) thất thế, Hiếu Tiêu nhân đó cùng Tri Gián viện Tiền Minh Dật (錢明逸) nói rằng Tĩnh thuở nhỏ từng ở Quảng châu, phạm pháp bị đánh roi, Minh Dật liền hặc tấu Tĩnh không nên ở gần bên vua. Tĩnh nghe, không yên, xin về nuôi mẹ. Gặp lúc triều đình hạ lệnh xuống Quảng châu tra xét, được việc ấy là thực. Tĩnh lúc đầu tên là Hy Cổ, dự thi Tiến sĩ, chưa được cấp quyển, Chủ bạ Khúc Giang đối xử tốt với ông. Tri Thiều châu ghét Chủ bạ, bới tội, không được gì, chỉ được việc ông ta cùng ngồi với Tĩnh. Chủ bạ vì phạm lệnh nên bị bãi chức, còn Tĩnh sau khi bị đánh roi, bèn đổi tên, sang châu khác lấy quyển, rồi đỗ. Hồ sơ còn đó, nên mới có chiếu này.

Nước Liêu kê biên quân các đạo.

Ngày Đinh Dậu, Liêu chúa đi đến núi Thu Sơn. Ngày Tân Sửu, nước Liêu cấm tùy tùng giẫm đạp ruộng dân.

Đô Lâm Nha Hàn lâm kiêm Tu quốc sử nước Liêu là Tiêu Hãn Gia Nỗ (蕭罕嘉努), thấy Liêu chúa đi săn, chưa từng không can gián, gặp lúc Hữu ty tâu rằng đi săn ở Thu Sơn, hổ, gấu làm chết bị thương mấy chục người, Hãn Gia Nỗ chép vào sử sách. Liêu chúa thấy, lệnh bỏ đi, Hãn Gia Nỗ ra rồi lại chép vào. Hôm khác, Liêu chúa thấy, nói: "Bút sử nên như thế." Liêu chúa từng hỏi Hãn Gia Nỗ: "Nước ta từ khi dựng nghiệp đến nay, ai là vị chúa hiền?" Hãn Gia Nỗ đáp là Mục Tông. Liêu chúa lấy làm lạ, nói: "Mục Tông ham rượu, vui giận thất thường, coi người như cỏ rác, khanh sao gọi là hiền?" Hãn Gia Nỗ nói: "Mục Tông tuy bạo ngược, nhưng giảm sưu, nhẹ thuế, dân vui sống, suốt đời Mục Tông không có tai biến. Gần đây ở Thu Sơn, người chết bị thương nhiều, thần vì thế cho Mục Tông là hiền hơn." Liêu chúa im lặng.

Ngày Nhâm Dần, Hoàng đế bảo Tể tướng: "Hôm trước cho con của Lý Dụng Hòa (李用和) là Tử Chương (子璋) làm Hợp môn Phó sứ, nay con thứ là Tử Tuấn (珣) xin làm Thông sự xá nhân. Trẫm đã bảo hắn rằng: ‘Tước lộc của triều đình là thứ cùng thiên hạ chia, nếu nhà ngoại thích, anh em đều được bổ nhiệm, thăng chức theo ý mình, thì trẫm lấy gì đãi các công thần cựu thần?’” Giả Xương Triều đáp: "Nhà mẹ đẻ Hoàng hậu, từ xưa vốn nhiều được ân trạch. Nay bệ hạ biết quý tiếc tước lộc, không chịu ban bừa, chẳng những tỏ cho thiên hạ thấy sự chí công, mà cũng là giữ phúc cho ngoại thích."

Ngày Quý Mão, lấy Mã quân Phó đô chỉ huy sứ Hứa Hoài Đức (許懷德) làm Lưu hậu tĩnh An quân. Các quan ngôn sự dâng chương luận tội ông ta nối tiếp nhau, Ngự sử trung thừa Trương Phương Bình tâu: "Hoài Đức bừa bãi vin vào thể lệ, cầu may mà xin, làm rối loạn quân chế, quấy nhiễu triều chương, xin đoạt chức quân, giao cho Hoàn vệ, hoặc cho làm Tri một châu." Hoàng đế không nghe.

Ngày Ất Tị, Hộ bộ Phó sứ Hạ An Kỳ cùng những người khác tâu rằng cùng với Kinh lược sứ Phủ Diên là Thẩm Mạc (沈邈) đã giảm bãi 44 quan viên, sứ thần.

Tháng 8, ngày Ất Mùi, chiếu: "Con cháu thần liêu, ỷ vào ấm thụ mà vô lại, từng bị hình phạt, nếu lại phạm tội riêng, thì không được chuộc tội nữa." Lúc ấy, ở Thiệu Vũ quân tâu: "Cháu của cố Bí thư giám trí sĩ Cung Thự (龔曙) nhiều lần phạm luật tê ngưu, đáng được miễn tội vì ấm thụ." Hoàng đế đặc biệt lệnh thi hành hình phạt thật, lại ghi thêm điều luật này.

Ngày Quý Sửu, Quốc vương nước Cao Ly là Khâm (欽) mất, con là Huy (徽) nối ngôi.

Ngày Nhâm Tuất, chiếu cho Kinh lược ty Thiểm Tây, Hà Đông: "Người phương tây tuy đã nạp khoán xưng thần, nhưng lòng họ quanh co khó tin. Sợ rằng các lộ nhân sau khi bãi binh, dần dần lơi lỏng biên bị, nên càng phải chăm luyện binh sĩ, sửa sang thành lũy! Nếu giặc đến, có kẻ không làm theo chiếu, lập tức kê tên tâu lên."

Ngày Quý Hợi, sách vấn khoa Hiền lương phương chính, năng trực ngôn cực gián, Thái thường bác sĩ Tiền Nghiễm Viễn (錢彥遠) bài sách vào bậc 4, được thăng Lễ bộ viên ngoại lang, Tri Nhuận châu. Nghiễm Viễn là con của Dịch (易), anh của Minh Dật. Họ Tiền cha con, anh em đều do thi Chế sách mà đỗ, đương thời cho là việc hiếm có.

Ngày Quý Dậu, lấy Tham tri chính sự Ngô Dục làm Khu mật Phó sứ, Khu mật Phó sứ Đinh Độ (丁度) làm Tham tri chính sự. Dục ở trong phủ, gặp việc dám nói. Tri Vĩnh Tĩnh quân Hướng Thụ (向綬) nghi Thông phán Giang Trung Lập (江中立) gièm mình, bèn vu cho tội, ép phải tự sát. Dục muốn xử Thụ tội chết, Tể tướng Giả Xương Triều hơi lo liệu giúp hắn, nên được xử nhẹ, Dục bèn tranh luận trước mặt Hoàng đế, người trong điện đều biến sắc. Dục biện luận không thôi, rồi xin rằng: "Điều thần tranh luận là chức trách, nhưng sức không thắng nổi, xin bãi chức thần." Bèn đổi chỗ với Độ. Độ làm Khu mật Phó sứ, đứng sau Bàng Tịch. Lúc ấy, con gái Tịch gả cho con trai Tham tri chính sự Tống Tường (宋庠), Tường cố xin với Hoàng đế, cho rằng vì thân thích nên không thể cùng làm việc, nên vượt cấp dùng Độ. Ban đầu, Xương Triều tranh luận với Dục, Hoàng đế muốn bãi cả hai, Ngự sử trung thừa Trương Phương Bình sắp vào chầu, Xương Triều sai người nhờ Phương Bình giúp mình, định lấy Phương Bình thay Dục. Phương Bình giận, xua đuổi mà nói: "Lời ấy sao lại đến tai ta!" Đến khi vào chầu, ông hết sức luận rõ phải trái, tà chính của hai người, nhưng rốt cuộc Dục vẫn bị bãi. Người đời đều cho rằng Phương Bình thực ra đã dọn đường cho Xương Triều.

Ngày Giáp Tuất, lấy Giám sát Ngự sử Đường Tuần làm Tri Hồ châu, rốt cuộc vì hiềm thân với Tể tướng mà bị bãi.

Tháng 9, ngày Canh Dần, lấy Hộ bộ Phó sứ Hạ An Kỳ làm Đô Chuyển vận sứ Thiểm Tây. An Kỳ cùng các Kinh lược An phủ ty các lộ bàn việc biên giới, tâu xin bãi các quan viên, và loại bỏ 5 vạn quân biên không đủ sức đảm nhiệm.

Khi nhiều lần xảy ra tai dị, Hộ bộ viên ngoại lang kiêm Thị ngự sử tri tạp sự là Mai Chí (梅摯) dẫn sách “Hồng Phạm” dâng sớ bàn về điềm biến và lời răn rằng: "Trong ‘Hồng Phạm’ nói: ‘Vua xét việc như xét năm’, ý là vua phải tổng quản trăm quan, giống như một năm bao gồm cả bốn mùa, hễ có chỗ nào không thuận thì phải xét lại chức trách của mình. Nay nhật thực ở mùa xuân, động đất ở mùa hạ, mưa lụt ở mùa thu, trong 1 năm mà biến dị lan đến 3 mùa, ấy là ý trời cho rằng bệ hạ xét lại chức trách của mình chưa đến nơi, nên ân cần răn bảo vậy. Sông Y, sông Lạc nước dâng đột ngột, cuốn trôi nhà cửa; nước biển tràn vào Thai châu, giết hại dân chúng; sông Tiền Đường vỡ đê; sông Hoàng Hà tràn bờ, đó chính là cái gọi là ‘nước không thấm xuống dưới’. Bệ hạ nên tự trách mình, tu dưỡng đức hạnh, để xoay chuyển sự che chở của Thượng đế; âm không thắng được dương, thì tai dị sẽ suy giảm mà đức lớn sẽ dấy lên vậy." Lại nói: "Quyền Thiểm Tây chuyển vận sứ Trương Nghiêu Tả (張堯佐) không có tài, do từ trong cung cấm mà được tiến cử, e rằng sẽ làm tổn hại thánh đức của bệ hạ." Đồng thời dâng sớ xin giảm bớt số viên chức ở Tư chính điện học sĩ, triệu các quan đãi chế cùng bàn việc chính, khôi phục chế độ bách quan vào chầu tâu bày trực tiếp. Hoàng đế bảo các đại thần: "Mai Chí bàn việc có phép tắc." Bèn bổ làm Hộ bộ phó sứ.

Ngày Quý Mão, ở Đăng châu có động đất. Hoàng đế nói: "Sơn Đông nhiều năm liền động đất, nên phòng ngừa biến cố chưa xảy ra. Hãy xuống chiếu lệnh Đăng châu phải nghiêm chỉnh võ bị."

Ngày Giáp Thìn, nước Liêu cấm dùng bẫy lưới bắt cáo, thỏ.

Mùa đông, tháng 10, ngày Đinh Mùi mồng 1, chiếu rằng: "Trước đây sai Trương Tử Thức (張子奭) đến Diên châu cùng nước Hạ bàn việc phân định biên giới, vùng đất Phong châu phải hoàn toàn thuộc vào cõi Hán. Nếu điều đã bàn không được hòa hợp, thì cho phép lấy vùng 40 dặm ngoài sông Hoành Dương, nơi trước đây bị xâm chiếm cày cấy, làm đất cấm. Nếu chúng vẫn cố chấp, thì lấy sông Hoành Dương làm ranh giới." Trước đó, nước Hạ sau khi dâng 9 trại như Ngọ Quý Bàng, Ngô Di, Dĩ Bố v.v., lại nộp vùng đất cũ của Phong châu, muốn lấy các nơi Mạt Ninh Lãng v.v. làm ranh giới. Triều đình giao cho Hà Đông kinh lược là Trịnh Tiển (鄭戩). Tiển tâu rằng: "Các nơi Mạt Ninh Lãng v.v. đều ở phía nam Phong châu, ăn sâu vào vùng trung tâm của Phủ châu, nếu theo như điều chúng đề nghị, thì thế lực 2 châu Lân, Phủ sẽ khó giữ, nên thẳng thắn lấy bờ bắc sông Hoành làm ranh giới." Hoàng đế bèn giao bản đồ địa vực mà Tiển dâng cho Tử Thức mang đi bàn bạc.

Ngày Kỷ Dậu, Liêu chúa đóng quân ở Trung Hội Xuyên.

Ngày Tân Mùi, chiếu phát binh đánh giặc Diêu ở Hồ Nam.

Tháng 11, ngày Kỷ Mão, sai Trứ tác tá lang Sở Kiến Trung (楚建中) đến Diên châu, cùng bàn việc phân định cương giới với nước Hạ, vì Trương Tử Thức chết dọc đường do bệnh.

Bổ Quyền Ngự sử trung thừa Trương Phương Bình (張方平) làm Hàn lâm học sĩ, quyền Tam ty sứ.

Từ niên hiệu Khai Bảo trở về sau, muối ở Hà Bắc cho phép dân tự do buôn bán, triều đình thu thuế, mỗi năm định ngạch là 15 vạn quan tiền. Có người dâng sớ xin cấm tư thương, đặt chế độ chuyên bán để thu khoản lợi còn sót; lúc ấy Dư Tĩnh (余靖) làm quan gián nghị, tâu rằng: "Xưa Thái Tổ Hoàng đế đặc biệt mở rộng ân huệ để ban ơn cho vùng Hà Sóc, nên cho phép thông thương muối, chỉ bắt thu thuế. Nay nếu một sớm một chiều đặt chế độ chuyên bán, cắt đứt hẳn, thì giá ắt sẽ tăng vọt; dân nếu ôm mối oán hận, lúc hối hận thì còn kịp gì nữa! Xin cho vẫn như cũ, để thương nhân thông thương, không được tự tiện tăng giá muối để khơi dậy oán giận của dân." Việc ấy bèn bị gác lại. Đến khi Vương Củng Thần (王拱辰) làm Tam ty sứ, lại dâng nghị bàn muốn chuyên bán toàn bộ muối của 2 châu, triều đình giao nghị bàn xuống bản lộ, Đô chuyển vận sứ là Ngư Chu Tuần (魚周詢) cũng cho là không nên, lại nói: "Thương nhân buôn muối, cùng quan lại các châu huyện trên đường đi lại thông đồng làm bậy, số thuế đáng thu thì 10 phần chỉ được 2, 3. Xin sắc cho các châu huyện tính thuế theo 10 phần, cho phép thương nhân đến các châu huyện nơi bán muối đều nộp tiền thuế, mỗi năm có thể thu được hơn 70 vạn quan tiền." Tam ty tâu xin dùng kế ấy, Hoàng đế nói: "Khiến dân phải ăn muối đắt ngay lập tức, há phải là ý của trẫm sao!"

Bấy giờ Tam ty lại đặt ra phép chuyên bán mới mà chưa ban hành, Phương Bình vào chầu gặp Hoàng đế, hỏi rằng: "Hà Bắc lại chuyên bán muối lần nữa, là vì sao?" Hoàng đế nói: "Mới bàn đặt phép, chứ không phải là chuyên bán lần thứ hai." Phương Bình nói: "Chu Thế Tông từng chuyên bán muối Hà Bắc, ai phạm thì lập tức xử tử. Khi Thế Tông bắc phạt, các bô lão chặn đường khóc lóc kêu oan, xin lấy thuế muối chia đều vào tiền hai thuế mà bãi bỏ lệnh cấm. Nay tiền hai thuế, chính là tiền muối đó, há chẳng phải là chuyên bán lần thứ hai sao? Hơn nữa, nay còn chưa chuyên bán, mà người Khiết Đan vẫn thường lén lút buôn bán không dứt; nếu đặt chuyên bán, thì muối trong nước sẽ đắt, muối của Khiết Đan càng dễ bán, ấy là để ta gom oán hận mà khiến chúng được lợi. Muối của chúng ngày càng nhiều, nếu không dùng binh thì không thể cấm; một khi biên giới rạn nứt, số lợi muối thu được, có thể bù nổi phí tổn dùng binh hay không?" Hoàng đế bừng tỉnh nói: "Khanh hãy bảo Tể tướng lập tức bãi bỏ." Phương Bình nói: "Phép tuy chưa ban xuống, nhưng dân đã đều biết, nên trực tiếp dùng thủ chiếu mà bãi bỏ, không thể để từ cơ quan hữu ty ban ra." Hoàng đế rất vui, lệnh Phương Bình bí mật soạn thủ chiếu, ban xuống, lại khắc chiếu ở Bắc Kinh. Về sau, bô lão đi qua nơi dán chiếu, tất đều cúi đầu rơi lệ.

Ngày Quý Mùi, giặc Diêu ở Hồ Nam xâm phạm cõi Anh châu, Thiều châu.

Ngày Đinh Hợi, nước Liêu lấy Nam viện Khu mật sứ Tiêu Hiếu Hữu (蕭孝友) làm Bắc phủ Tể tướng, lấy Khiết Đan hành cung đô bộ thự Da Luật Nhân Tiên (耶律仁先) làm Nam viện Đại vương, lấy Bắc phủ Tể tướng Tiêu Cách (蕭革) kiêm chức Đồng tri Bắc viện Khu mật sứ sự, lấy Tri Y Lặc Hy Ba sự Da Luật Tín Tiên (耶律信先) làm Hán nhân hành cung đô bộ thự. Tiêu Cách ỷ sủng chuyên quyền, Nam viện Tuyên huy sứ Da Luật Nghĩa Tiên (耶律義先) ghét ông ta, nhân lúc hầu yến, nói với Liêu chúa rằng: "Cách là kẻ xảo trá nịnh hót, ưa gây loạn, một mai được trọng dụng, ắt làm hỏng việc nước." Liêu chúa không nghe. Hôm khác, trong tiệc yến, Liêu chúa lệnh quần thần đánh bạc, ai thua thì phạt uống một chén lớn. Nghĩa Tiên phải đối bạc với Cách, bèn buồn bã nói: "Thần dẫu không thể tiến cử người hiền, bãi bỏ kẻ bất tiếu, nhưng há có thể cùng quốc tặc đánh bạc sao!" Cách giả vờ nói: "Công đùa ta chẳng quá lắm sao?" Liêu chúa cũng bảo: "Khanh say rồi đó!" Nghĩa Tiên lớn tiếng mắng không thôi, Liêu chúa nổi giận, Hoàng hậu can rằng: "Nghĩa Tiên say rượu phát cuồng, khi tỉnh có thể trị tội." Hôm sau, Liêu chúa bảo Cách: "Nghĩa Tiên vô lễ, nên giáng chức hắn." Cách nói: "Tài của Nghĩa Tiên, há có thể qua khỏi thánh giám! Nhưng thiên hạ đều biết hắn trung trực, nay lấy lỗi say rượu mà trị tội, e trái với lòng người." Liêu chúa thấy Cách bị xúc phạm mà không chấp, càng thêm hậu đãi. Cách thường giả dối lấy lòng vua, phần nhiều là những việc như thế. Nghĩa Tiên uất ức không vui, nhưng khi bàn việc thì chưa từng nản chí. Sau lại đánh bạc trước mặt Liêu chúa, Nghĩa Tiên khấn rằng: "Trước đây nói lỗi người, mạo phạm thiên uy; hôm nay một lần gieo xúc xắc, có thể tỏ bày lòng ngu thành." Chẳng bao lâu thì được quân cờ “Đường ấn”, Liêu chúa kinh ngạc. Nghĩa Tiên là em của Nhân Tiên.

Ngày Tân Sửu, Hoàng đế đi săn ở Hàn thôn phía nam thành. Từ Ngọc Tân viên, Hoàng đế bỏ kiệu, cưỡi ngựa, chia mấy nghìn kỵ sĩ làm hai cánh tả hữu, cờ trống theo thứ tự, hợp vây bãi săn, chu vi hơn 10 dặm, các đội quân ứng tiếp nhau. Hoàng đế cầm cương giữa đường, tự tay giương cung bắn tên, nhiều lần bắt được thú. Lúc ấy dân cư dọc đường có người nuôi cáo, thỏ, vịt trời, trĩ, lùa vào trong bãi săn, Hoàng đế nhân đó bảo các phụ thần rằng: "Đi săn là để rèn luyện việc võ, không phải chỉ cốt bắt được thú." Bèn lệnh thả hết. Đến Cức điếm, ngự ở trướng điện, triệu hỏi các bô lão nơi đi qua, về số con cháu phụng dưỡng, về loại cây trồng thích hợp với đất đai, lại than rằng họ ăn mặc thô sơ mà vẫn được sống lâu, nên thêm lời an ủi. Khi về, đến gần ngoại thành, sai vệ sĩ lần lượt biểu diễn kỹ nghệ trước ngự giá, từng đôi đối nhau, vung dây cương, cầm thương quyết thắng. Lại bảo các phụ thần rằng: "Việc này cũng có thể dùng để xem tài năng dũng cảm của binh sĩ vậy." Miễn thuế ruộng 1 năm cho dân có ruộng nằm trong vòng vây nơi đi qua.

Ngày Ất Tị, nước Liêu phát chẩn cho dân nghèo ở Nam Kinh.

Tháng 12, ngày Nhâm Thân, nước Liêu đại xá tội từ đồ trở xuống, lấy ngày này là ngày sinh khi còn sống của Thánh Tông. Liêu chúa đắm mình trong Phật pháp, chăm lo làm những ân huệ nhỏ, nhiều lần ban xá miễn, tha cho rất nhiều tử tù, phong độ của Thánh Tông vì thế mà suy giảm.

Năm Khánh Lịch thứ 7 (Liêu, Trọng Hy năm thứ 16), Công nguyên năm 1047

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Bính Tý mồng 1, ngự Đại Khánh điện nhận triều hạ.

Ngày Kỷ Mão, Liêu chúa đi đến Hỗn Đồng giang.

Ngày Giáp Thân, Tri Đại tông chính sự Doãn Nhượng (允讓) xin từ nay về sau, phàm tông thất mà tự tiện đến trước mặt vua cầu xin ân huệ, thì phạt 1 tháng bổng lộc, lại đình chỉ vào chầu; được chuẩn y.

Ngày Đinh Hợi, chiếu: những con ngựa bị chết trong số ngựa đã trưng thu ở Hà Bắc, hạn trong 2 năm phải bồi thường.

Ngày Mậu Tý, Thượng thư Tả thừa, Tri Duyện châu là Đỗ Duyện (杜衍), lấy danh nghĩa Thái tử Thiếu sư mà cáo lão về hưu. Lúc ấy ông mới 70 tuổi, ngày Nguyên đán dâng biểu trả lại ấn thụ. Giả Xương Triều (賈昌朝) vốn không ưa Duyện, liền thuận theo lời xin. Người đương thời cho rằng Duyện là cựu Tể tướng, chỉ một lần dâng biểu mà được cho nghỉ, lại giữ chức vị Tam thiếu, đều không hợp lệ thường, ấy là do Xương Triều chèn ép ông.

Ngày Quý Tị, lấy Tri chế cáo Dương Vĩ (楊偉) quyền tri Gián viện. Vĩ từng nói: "Quan gián nghị nên bàn luận những việc lớn, chuyện nhỏ nhặt thì đâu đáng luận!" Nhưng đương thời chê rằng lời ông không có ích gì.

Ngày Nhâm Dần, chiếu giảm thuế cho dân Liên châu bị giặc Diêu làm hại, tính theo năm làm “Hạ tổ” (tức giảm bớt số thuế phải nộp trong năm).

Tháng 2, ngày Đinh Mùi, chiếu cho Lưu nội thuyên: "Những người nộp thóc được ban chức quan, không được bổ làm Tư lý, Tư pháp tham quân và phán quan ở thượng châu; người có thâm niên, không có lỗi lầm, mới được ghi tên bổ làm Chủ bộ, Huyện úy; nếu theo thứ bậc mà vào làm Huyện lệnh, Lục sự tham quân, thì Ty tuyển quan cứ theo quy chế mà đề cử, chỉ cho phép trông coi việc vật dụng." Đây là theo lời thỉnh cầu của Ngự sử tri tạp Lý Đông Chi (李東之).

Ngày Kỷ Dậu, chiếu lấy 30 vạn quan tiền “Giao tử” ở Ích châu tại Tần châu, chiêu mộ người nộp thóc gạo.

Ngày Bính Thìn, lệnh 2 viên Nội thị đề cử việc phát lương hàng tháng cho quân đội. Lúc ấy Thị ngự sử, người Địch châu là Ngô Đỉnh Thần (吳鼎臣) tâu rằng: "Lương phát cho các quân ở phiên ban phần nhiều đã cũ mục, lại đấu thăng không nhất định, xin dùng Nội thị để kiểm tra." Hôm sau, các quan giám kho dâng trình lương quân, Hoàng đế dụ rằng: "Từ nay phải đủ số mà phát cho họ." Lúc ấy vệ sĩ đều ở dưới điện, Điện tiền đô chỉ huy sứ Lý Chiêu Lượng (李昭亮) nhân đó dẫn họ quỳ lạy tạ ơn. Nhưng lương quân từ Giang, Hoài vận chuyển đến Kinh sư, lại để tích trữ nhiều năm rồi mới phát, lương phát cho thượng quân thì đấu thăng chỉ vừa đủ, trung, hạ quân thì thường chỉ được 8, 9 phần trong 10, tuy đã sai Nội thị đề cử, rốt cuộc vẫn không thi hành được.

Ngày Canh Thân, Liêu chúa đến Ngư Nhi Lạc. Ngày Tân Dậu, cấm quần thần khi dự yến vui mà dâng tấu xin việc riêng. Chiếu rằng các quan “Thế tuyển” phải chọn người có tài năng trong hàng kỳ lão các bộ mà dùng.

Trước đó, Khu mật sứ Mã Bảo Trung (馬保忠) nói với Liêu chúa rằng: "Khiến thiên hạ cường thịnh là đạo Nho, khiến thiên hạ suy yếu là đạo Lại. Nay việc ban chức quan, phần nhiều là dùng lại mà không dùng nho. Nếu tôn sùng đạo Nho thì phong tục làng xóm sẽ được sửa, đức hạnh được sửa thì dòng dõi mũ áo sẽ hưng thịnh. Từ nay, phàm những học thuyết không phải là giáo huấn của Thánh đế Minh vương, Khổng, Mạnh, xin hạ minh chiếu nghiêm cấm tuyệt." Liêu chúa không nghe.

Tháng 3, ngày Quý Mùi, chiếu cầu những việc có thể khoan giảm sức dân, cho phép quan lại tâu trình qua trạm dịch; gửi bản sao lên Chuyển vận sứ ty, xét kỹ điều nào có thể thi hành thì lập tức thi hành.

Phá bỏ thuyền rồng ở Hậu uyển. Trước đó, hữu ty xin tu sửa để phòng khi ngự giá đến chơi, Hoàng đế đặc biệt chiếu phá bỏ.

Ngày Đinh Hợi, vì hạn nên bãi bỏ đại yến. Ngày Quý Tị, chiếu rằng: "Từ mùa đông đến mùa xuân, hạn hán chưa dứt, ngũ cốc không gieo được, nông dân mất việc làm. Trẫm nghĩ tai biến xảy đến, ắt không phát ra vô cớ, hẳn là do trẫm không mẫn, không sáng, làm động đến cơn giận của Thượng đế, lỗi do trẫm gây ra, dân thực có tội gì! So với việc giáng bệnh xuống dân, chẳng bằng chuyển tai ương sang trẫm. Từ nay tránh dùng chính điện, giảm bớt bữa ăn thường ngày, các thần liêu trong ngoài, hãy chỉ rõ những việc cấp thiết của thời thế, phong kín tấu lên. Các Tam sự đại phu, hãy đồng lòng cùng nhau răn nhắc, để xứng với ý trẫm run sợ vậy!"

Hoàng đế mỗi khi sai Học sĩ thảo chiếu, chưa từng thêm bớt câu chữ. Đến đây, Dương Sát (楊察) đang cầm bút, sau khi dâng bản thảo chiếu, cho rằng chưa hết ý tự trách, nên lại soạn chiếu này.

Liêu chúa đến Hắc Thủy Lạc. Sai sứ đi xét xử tù nhân ở Song châu.

Ngày Ất Mùi, Giả Xương Triều bị bãi làm Vũ Thắng tiết độ sứ, Đồng bình chương sự, Tri Đại Danh phủ kiêm Hà Bắc an phủ sứ; Khu mật phó sứ, Hữu gián nghị đại phu Ngô Dục (吳育) bị bãi làm Cấp sự trung, trả về hàng quan thường. Xương Triều và Dục nhiều lần tranh luận trước mặt Hoàng đế, người đương thời phần nhiều cho rằng Xương Triều không phải. Lúc ấy đang lo vì hạn, Xương Triều dẫn sách “Hán tai dị sách miễn Tam công” (sách ghi việc nhà Hán vì tai dị mà miễn chức Tam công) dâng biểu xin bãi chức. Ngự sử trung thừa Cao Nhược Nặc (高若訥) đang ở Kinh diên, Hoàng đế hỏi về nguyên do hạn, Nhược Nặc nhân đó nói: "Âm dương không hòa, trách nhiệm ở Tể tướng. ‘Hồng Phạm’ nói: ‘Đại thần không cung kính, thì mưa không đúng thời.’” Hoàng đế nghe theo lời ấy, lập tức bãi chức Xương Triều và những người khác; chẳng bao lâu lại lệnh Dục làm Tri Hứa châu.

Lấy Hà Dương Tam thành tiết độ sứ, Đồng bình chương sự, Tri Đại Danh phủ là Hạ Tông (夏竦) theo chức cũ mà kiêm làm Khu mật sứ. Theo lệ cũ, văn thần từ chức Tể tướng chuyển sang chức Khu mật sứ, tất phải nộp tiết, trả lại chức cũ, chỉ riêng Tông thì không như vậy. Trước đó, hạ chiếu triệu Tông làm Tể tướng, quan Gián nghị, Ngự sử tâu rằng: "Đại thần hòa thuận thì chính sự hưng khởi, Tông và Trần Chấp Trung (陳執中) xưa nay bàn luận không hợp, không thể cho cùng làm Tể tướng." Qua 3 ngày, bèn dán tờ “thiếp ma” đổi mệnh lệnh.

Lấy Tri Ích châu, Khu mật trực học sĩ Văn Ngạn Bá (文彥博) làm Hữu gián nghị đại phu, Khu mật phó sứ.

Hoàng đế nhân theo kiến nghị của Lý Đông Chi, lại đi săn ở gần ngoại thành. Trong cuộc đi săn ở phía nam thành, vệ sĩ không kịp chỉnh đốn ngựa mà quay về, đêm ấy có chim trĩ rơi chết trong điện, người can gián cho là điềm không lành. Tháng này, sắp lại xuất cung, người can gián rất nhiều, Ngự sử, người Thành Đô là Hà Đàm (何郯) lời nói càng thẳng thắn, nên bãi việc đi săn. Lại chiếu đình chỉ việc Kiến châu chế tạo trà Long Phượng.

Ngày Đinh Dậu, đổi Khu mật phó sứ Văn Ngạn Bá làm Tham tri chính sự, lấy Quyền Ngự sử trung thừa Cao Nhược Nặc làm Khu mật phó sứ.

Ngày Kỷ Hợi, ban cho Thiên Chương các đãi chế kiêm Thị giảng là Tăng Công Lượng (曾公亮) phẩm phục tam phẩm. Theo lệ cũ, quan Đãi chế vào tạ ơn, chưa từng được ban phẩm phục. Đến đây Hoàng đế ngự Ỷ Anh các, trực tiếp ban cho.

Công Lượng tự mình tu soạn “Khởi cư chú”, đáng lẽ được thăng làm Tri chế cáo, Giả Xương Triều là bạn rể của ông, vì tránh hiềm, nên cho ông làm Đãi chế ở Thiên Chương các. Sau khi Xương Triều bị bãi đã nửa năm, mới lệnh ông làm Tri chế cáo.

Ngày Nhâm Dần, giáng Tể thần, Công bộ Thị lang Trần Chấp Trung làm Cấp sự trung, Tham tri chính sự, Cấp sự trung Tống Tường (宋庠) làm Hữu gián nghị đại phu, Công bộ Thị lang Đinh Độ (丁度) làm Trung thư xá nhân. Trước đó, Giả Xương Triều dẫn chuyện đời Hán xin bãi chức Tể tướng, sau khi Xương Triều bị bãi, Chấp Trung và những người khác lại nhắc lại lời xin trước, nên mỗi người đều bị giáng 1 cấp mà vẫn cùng phụ chính như cũ.

Khi Hoàng đế ngự giá đến Tây Thái Nhất cung, trời đang nắng gắt, Hoàng đế đẩy tán che ra mà không dùng, đến lúc quay về thì mưa làm ướt chân.

Ngày ấy, nước Liêu có tuyết lớn.

Ngày Quý Mão, chiếu tạm đình chỉ khoa cử tiến sĩ.