Bước tới nội dung

Tục tư trị thông giám/Quyển 49

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tục Tư trị thông giám, quyển 48  (2025)  của Tất Nguyên, do Cơ Như Tuyết dịch
Tống kỷ 49

Từ tháng 4 năm Đinh Hợi (1047) đến tháng 3 năm Mậu Tí (1048), Nhân Tông Khánh Lịch năm thứ 7 đến năm thứ 8, gồm 1 năm

Năm Khánh Lịch thứ 7 (Liêu, Trọng Hy năm thứ 16), Công nguyên năm 1047

[sửa]

Mùa hạ, tháng 4, ngày Ất Tị mồng 1, Liêu chúa nghe tin Thái hậu không khỏe, liền phi ngựa đến thăm bệnh. Ngày Bính Ngọ, Thái hậu khỏi, Liêu chúa lại đi Hắc Thủy Lạc.

Ngày Kỷ Dậu, chiếu rằng: "Trước đây, Kinh Đông chuyển vận sứ Tiết Thân (薛紳) dùng bọn lại viên văn chức là Khổng Tông Đán (孔宗旦), Thượng Đồng (尚同), Từ Trình (徐程), Lý Tư Đạo (李思道) làm tai mắt, rình xét những lỗi nhỏ nhặt của châu huyện để tăng thêm việc hình ngục, đương thời gọi là ‘Tứ Trừng’ (bốn con mắt trợn). Trước đây, Giang Đông chuyển vận sứ Dương Hoằng (楊紘), Phán quan Vương Xước (王綽), Đề điểm hình ngục Vương Đỉnh (王鼎), đều lấy sự khắc nghiệt xét hỏi làm hơn, đương thời gọi là ‘Tam Hổ’. Như thế há xứng với ý trẫm lấy lòng trung hậu mà đãi người sao! Hoằng đã bị giáng làm Tri Hoành châu, mà bọn Thân vẫn còn tại chức; nay giáng Thân làm Tri Thiểm châu, Đỉnh làm Tri Thâm châu; Xước đang để tang, đợi đến ngày mãn phục rồi sẽ xin chỉ. Từ nay không được lại dùng bọn họ làm Bộ sứ giả. Bốn người Tông Đán và những kẻ cùng bọn, đều cho đi sai phái ở những nơi nhỏ xa." Xước là người Ích Đô, Đỉnh là người Diên Tử, ba người này cùng với Hoằng đều là do Phạm Trọng Yêm (范仲淹) và những người khác tiến cử dùng. Thiên Chương các đãi chế, Thị giảng Dương An Quốc (楊安國) nhân buổi giảng ở ngự tọa mà nói với Hoàng đế chuyện "Tam Hổ, Tứ Trừng", nên mới có chiếu này.

Trước đó, Xước làm quan Tường phúc ở Hình bộ, có người tên Liêu Quân (廖均), dựa thế lực người đương quyền để rửa tội. Trung thư theo lệ cũ chuyển sang Hình bộ, thuộc lại không ai dám trái, chỉ riêng Xước cho rằng chiếu đã định thì lệ phải theo đó, nay bỏ chiếu mà dùng lệ, không phải là điều quan có trách nhiệm dám tâu. Bọn chấp chính tuy rất ghét, nhưng rốt cuộc không bẻ được. Sau thăng làm Thông phán Hùng châu. Thành trì đã hư hỏng đã lâu, tướng giữ thành lo sợ trái với lời thề với người nước Liêu nên không dám sửa. Xước cho rằng nay chỉ sửa chữa như cũ, không có tăng thêm mở rộng, đối với lời thề vốn không hại gì. Khi khởi công, người Liêu quả đến hỏi. Xước đáp lại bằng lời nói trước đó, lại cố ý làm chậm việc tiếp sứ, đến khi sứ trở về thì việc sửa chữa đã xong, nước Liêu cũng không hỏi nữa. Đỗ Diên (杜衍), Phú Bật (富弼) đặc biệt khen tài ông. Đến khi mãn tang, bị giáng làm Thông phán Lai châu.

Ngày Canh Tuất, lấy Kinh Đông chuyển vận sứ Bao Chửng (包拯) làm Trực Tập Hiền viện, Thiểm Tây chuyển vận sứ.

Ngày Nhâm Tý, ngự chính điện, lại dùng thường thiện, và ban cho hai phủ bài "Hỷ Vũ thi".

Ngày Ất Mão, Trần Chấp Trung (陳執中), Tống Tường (宋庠), Đinh Độ (丁度) đều được phục chức cũ đã bị giáng.

Ngày Đinh Mão, có người dâng sớ phong thượng nói: "Chuyển vận ty các lộ rộng cầu ‘xuất thặng’ để cầu lấy lòng trên. Dân nộp thuế khóa, vốn đã là hơn nửa số thuế, lại bắt tăng hao, gọi là ‘nhuận quan’. Ở các châu quân thuộc các lộ Giang Tây, theo lệ, dân nộp 1 thạch gạo thì ‘xuất thặng’ 1 đấu; thường có bọn thần lại vơ vét, ngoài phần tăng hao lại còn đòi thêm 1 đấu nữa. Một lộ Giang Tây, mỗi năm lấy 1.00 vạn thạch làm hạn ngạch cho Hoài, mỗi thạch thu thêm 1 đấu, tính theo 1.00 vạn thạch thì số thu đã đến 10 vạn thạch. 10 vạn thạch gạo hao mà vào kho, thì dân nghèo tất phải ăn gạo đắt. Đây chỉ là sơ lược nêu ra tệ hại của một lộ, huống chi thiên hạ rộng lớn, thuế khóa dồi dào, thì tệ ấy không cùng. Thần e rằng các lộ chuyển vận ty còn có những thứ khắc lột vô danh như thế, xin bệ hạ xem xét các tấu mục của họ, nếu có chỗ thu gom ngang ngược, lấy tên là ‘xuất thặng’, thì xin giáng phạt, giáng chức cho thỏa đáng." Hoàng đế xem xong, nói: "Xưthuwfowfngf nói đại thần vơ vét còn tệ hơn trộm cướp, nay bóc lột như thế là khiến trẫm kết oán với dân vậy." Liền hạ chiếu đình chỉ, dứt bỏ.

Nước Liêu vì Thái hậu khỏi bệnh, ban chiếu đại xá trong nước.

Ngày Kỷ Tị, chiếu: quan Gián quan, ngoài việc triều tham, nếu không phải công việc thì không được ra vào cầu kiến.

Tháng 5, ngày Bính Tý, lấy Đông đầu cung phụng quan Lý Vĩ (李瑋) làm Tả vệ tướng quân, Phò mã đô úy, chọn cho lấy Phúc Khang công chúa. Vĩ là con thứ của Dụng Hòa (用和), Hoàng đế nhớ mãi Chương Ý Thái hậu (章懿太后), mà không có cách nào hậu đãi gia đình bà, nên gả trưởng nữ cho.

Tri Gián viện Vương Chí (王贄) tâu: "Trong chương sớ của thần liêu, có việc đáng phải thay đổi, thì chuyển cho Lưỡng chế và các quan Đài gián cùng bàn, thường kéo dài hơn nửa năm mà chưa thấy quyết định, vốn không có điều lệ, chỉ cốt dây dưa. Xin từ nay, những việc cần phê trạng giao cho Lưỡng chế và các quan Đài gián cùng định, thì xin hạn trong 5 ngày phải nhóm bàn, trong nửa tháng phải cùng ký tên dâng lên; nếu ý kiến bất đồng, thì cho phép dâng tấu riêng." Chuẩn theo.

Ngày Mậu Dần, chiếu: võ thần nếu chưa từng trải qua chức Tri châu, Tri quân mà không có lỗi, thì không được trao chức Đồng đề điểm hình ngục.

Ngày Kỷ Sửu, bổ bọn Diêu Đường Hòa (猺唐和) đã hàng làm Động chủ.

Lấy Tri Thanh châu, Hàn lâm học sĩ, Hộ bộ lang trung Diệp Thanh Thần (葉清臣) kiêm Long Đồ các trực học sĩ, làm Đô đốc bộ sứ Vĩnh Hưng quân lộ kiêm bản lộ An phủ sứ, Tri Vĩnh Hưng quân. Ban đầu, Hoàng đế muốn thăng chức Thanh Thần làm Gián nghị đại phu, Tể tướng Trần Chấp Trung nói: "Như thế là quá hậu, xin tạm cho kiêm chức Long Đồ các trực học sĩ." Hoàng đế cho. Theo lệ cũ, người mới được bổ làm Tri Vĩnh Hưng quân thì phải được ban tặng đồ dùng. Chấp Trung nói: "Thanh Thần gần đây đã được ban thưởng rồi." Bèn không cho nữa. Thanh Thần càng oán hận, khi qua kinh, xin được vào chầu, ở trước Hoàng đế kể tội Chấp Trung, lại cố sức từ chối không nhận chức Long Đồ các trực học sĩ, Hoàng đế ban tặng đồ dùng, ông cũng không nhận. Tuy vậy, Hoàng đế vẫn đối đãi Chấp Trung như cũ.

Đô giám Thủy Lạc thành Lưu Hỗ (劉滬) mất. Em là Uyên (淵) đưa tang về phía đông, dân cư chặn đường khóc lóc, xin được chôn ông ở Thủy Lạc, lập đền ở góc thành, hàng năm tế tự. Kinh lược ty tâu: "Bọn thục hộ phiên quan Ngưu Tưởng Bô (牛獎逋) v.v. xin được con cháu của Hỗ làm chủ giữ thành." Bèn đổi lệnh, lấy em Hỗ là Thuần (淳) làm Đô giám Thủy Lạc thành.

Ngày Kỷ Hợi, lệnh Hàn lâm học sĩ Dương Sát (楊察) xét định tha bỏ các khoản nợ thiếu trong thiên hạ.

Ngày Tân Sửu, chiếu: "Phàm ở hai biên tây bắc có việc lớn, từ nay lệnh Trung thư, Khu mật viện triệu Lưỡng chế trở lên cùng bàn."

Tháng 6, ngày Mậu Thân, Liêu chúa đến núi Vĩnh An để tránh nóng.

Ngày Đinh Tị, tù trưởng bộ Chuẩn Bố (准布) vào triều nước Liêu, dâng sản vật địa phương.

Ngày Mậu Ngọ, nước Liêu hạ chiếu cho sĩ thứ được dâng lời bàn luận việc nước.

Ngày Nhâm Tuất, đặt Ngự sử đài ở Lưu thủ ty Bắc Kinh.

Chiếu: "Thần liêu khi đổi nhiệm sở mà xin vào triều yết kiến, ở lại Kinh sư không được quá 10 ngày."

Trước đó, Hạ Tông (夏竦) nói Thạch Giới (石介) thực ra chưa chết, Phú Bật ngầm sai ông ta vào nước Khiết Đan mưu khởi binh, triều đình nghi ngờ. Lúc ấy, Bật làm Tri Vận châu, liền bị bãi chức Kinh Tây lộ An phủ sứ. Sau đó, biên giới phía bắc yên ổn, lời gièm của Tông không nghiệm. Bật từ Vận châu đổi sang Thanh châu, vẫn kiêm Kinh Đông lộ An phủ sứ.

Tông ở Khu mật viện, lại gièm rằng Giới khuyên nước Khiết Đan không theo, rồi lại vì Bật mà đến Đăng, Lai kết nạp bọn hung ác ở Kim Khanh mấy vạn người để làm loạn, xin đào mộ mở quan tài để nghiệm. Thị ngự sử Tri tạp sự Hàn Thành Trương Biện (韓城張昪) và Ngự sử Hà Đàm (何郯) từng cực lực luận việc này. Đàm tâu: "Việc này khởi đầu hoàn toàn do Hạ Tông, ý vốn không ở Thạch Giới. Vì khi Phạm Trọng Yêm, Phú Bật ở hai phủ, Tông từng được lệnh làm Khu mật sứ, do quần thần bàn nghị không theo, liền bị bãi. Tông nghi Trọng Yêm và những người khác gạt bỏ mình, mà Giới từng được Trọng Yêm v.v. tiến cử, nên muốn đẩy Giới vào chỗ tội nặng để làm nhơ bẩn các bề tôi trung nghĩa. Tất cả đều do mối hận ngày trước chưa từng được trả, nay nhân lúc đang ở chức vị trọng yếu, bèn mượn thế triều đình để báo thù mà thôi. Còn việc Thạch Giới sống chết, xin đừng truy xét nữa, để giữ đại thể." Hoàng đế không nghe, lại hạ chiếu lệnh các quan Giám ty xét hỏi.

Trung sứ mang chiếu đến Phụng Phù, Đề điểm hình ngục Lữ Cư Giản (呂居簡) nói: "Nay phá mộ mở quan tài, mà Giới thực đã chết, thì sẽ làm sao? Hơn nữa, việc tang táng không phải một nhà có thể lo hết, tất có thân tộc, môn sinh và người lo khâm liệm, nếu triệu đến hỏi mà lời khai không khác nhau, thì lệnh họ viết giấy bảo đảm theo quân lệnh, cũng có thể đáp ứng chiếu chỉ vậy." Trung sứ nói: "Hay lắm!" Khi về tâu, ý Hoàng đế quả được giải. Vợ con Giới lúc đầu bị quản thúc ở châu khác, đến khi việc đã phân minh, mới được trở về.

Mùa thu, tháng 7, ngày Tân Tị, chiếu lệnh Lưỡng chế và Thái thường lễ viện bàn việc gia tăng thụy hiệu cho Chân Tông.

Ngày Nhâm Ngọ, lấy Hộ bộ phó sứ Trương Nghiêu Tả (張堯佐) làm Hà Đông Đô chuyển vận sứ.

Ngày Tân Mão, Liêu chúa đến Khánh châu.

Ngày Tân Sửu, cấm việc đem đồ dư trong cống phẩm biếu tặng cận thần.

Tháng 8, ngày Đinh Mùi, ban thóc lụa cho xử sĩ Khổng Cốc (孔攵) ở huyện Long Hưng, châu Nhữ. Cốc là hậu duệ đời thứ 46 của Khổng Tử, tính tình cô tịnh thanh khiết, ưa đọc sách. Có vài trăm mẫu ruộng, thuế khóa thường nộp trước làng xóm; gặp năm đói, đem phần dư của mình chia cho những người thiếu, chưa từng tính toán hơn thiệt. Nghe điều thiện của người khác thì coi như do mình làm. Mọi cử chỉ đều theo lễ pháp, trong vòng trăm dặm quanh nơi ở, người ta đều yêu mến, hễ gặp Cốc trên đường thì đều thu tay áo tránh sang một bên. Khi chôn cha, ông dựng lều ở mộ 3 năm, nằm trong quan tài vỡ, mỗi ngày ăn một bát gạo đầy, trên vách mọc hơn chục cây linh chi tím. Châu vì hạnh kiểm mà tâu lên, nên có ân ban này, lại chiếu miễn thuế cho nhà ông.

Ngày Bính Thìn, gia tăng thụy hiệu cho Chân Tông là: "Ứng phù khảo cổ, thành công nhượng đức, văn minh võ định, Chương Thánh Nguyên Hiếu", theo nghị của Trương Phương Bình (張方平) và những người khác.

Ngày Mậu Ngọ, đổi chức Văn Minh điện học sĩ thành Tử Thần điện học sĩ. Văn Minh điện trong cấm trung đã không còn, từ sau Trình Vũ (程羽), Lý Phảng (李昉) cũng không còn lấy đó mà bổ nhiệm, lại hai chữ "Văn Minh" trùng với thụy hiệu của Chân Tông. Theo nghị của Tống Tường.

Lần đầu đặt chức Thiên Chương các trực học sĩ, địa vị ở dưới Long Đồ các trực học sĩ.

Ngày Ất Sửu, chia Hà Bắc làm 4 lộ, mỗi lộ đặt Đô bộ sứ.

Tháng 9, ngày Giáp Tuất, giáng Tri Vị châu Trương Kháng (張亢) làm Tri Từ châu. Lúc ấy, Tam ty cấp thưởng tế Giao, vật trong kho châu tốt mà giá định rẻ, vật Tam ty cấp thì xấu mà giá định cao, Kháng lệnh san bằng giá để tiện cho quân nhân. Chuyển vận sứ tâu Kháng tự tiện giảm giá do Tam ty định, Khu mật sứ Hạ Tông ôm mối oán cũ, nhân đó giáng Kháng. Ngự sử Tống Hỉ (宋禧) lại tâu Kháng từng dùng bạc trong kho để mua bán, lại giáng làm Tri Thọ châu.

Từ tháng 7 đến tháng này, Liêu chúa ngày ngày đi săn ở các núi Sở Bất Câu, Hà Liệt, Hệ Luân, Thạch Tháp.

Mùa đông, tháng 10, ngày Nhâm Dần mồng 1, lấy Tập Hiền điện tu soạn, người Phạm Dương là Trương Khuê (張揆) làm Thiên Chương các đãi chế kiêm Thị độc học sĩ. Khuê soạn "Thái Huyền tập giải", được triệu kiến ở điện Diên Hòa, lệnh ông gieo cỏ thi, được quẻ "Đoạn Thủ", bèn nói: "‘Đoạn Thủ’ theo Chu Dịch là quẻ Quải, là tượng dương cương quyết trừ âm nhu, quân tử tiến mà tiểu nhân lui." Hoàng đế vui, nên có lệnh bổ nhiệm này.

Ngày Tân Hợi, Liêu chúa đến Trung Kinh.

Thái tử Thái phó trí sĩ Lý Địch (李迪) sau khi về Phù châu, con là Đông Chi (東之) làm Thị ngự sử Tri tạp sự, phụng Địch vào Kinh sư. Hoàng đế nhiều lần sai sứ thăm hỏi, muốn triệu kiến, nhưng ông lấy cớ bệnh yếu từ chối. Ngày Nhâm Tý, Địch mất, truy tặng Tư không, Thị trung, thụy Văn Định. Hoàng đế tự đề tên bia mộ là "Di Trực chi bi", lại đổi tên thôn Đặng Hầu ở huyện Quyện Thành, nơi Địch táng, thành Di Trực hương.

Ngày Bính Thìn, nước Liêu định cho công chúa làm lễ dâu con với cha mẹ chồng.

Ngày Ất Sửu, Hà Dương, Hứa châu động đất.

Ngày Canh Ngọ, tù trưởng Thiết Lê Tiên Môn (鐵驪仙門) vào triều nước Liêu, Liêu chúa vì đây là lần đầu vào cống, gia phong sứ giả làm Hữu Giám môn vệ đại tướng quân.

Tháng 11, ngày Mậu Dần, Liêu chúa tế núi Mộc Diệp. Ngày Kỷ Sửu, đến Trung Kinh, vào chầu Thái hậu.

Ngày Nhâm Thìn, nước Liêu cấm tiết lộ việc trong cung.

Ngày Bính Thân, triều hưởng Cảnh Linh cung. Ngày Đinh Dậu, hưởng Thái miếu và Phụng Từ miếu. Ngày Mậu Tuất, ngày Đông chí, tế Trời Đất ở Viên Khâu, đại xá.

Cùng ngày, Vương Tắc (王則), tướng quân Tuyên Nghị ở châu Bối, chiếm giữ thành làm phản. Tắc vốn người châu Trác, năm đói, trôi dạt đến châu Bối, tự bán mình làm người chăn cừu, sau thuộc vào quân Tuyên Nghị làm Tiểu hiệu. Phong tục Bối, Ký chuộng yêu thuật quỷ mị, cùng nhau học các kinh như "Ngũ Long Trích Lệ" và các sách đồ sấm, nói rằng Phật Thích Ca suy tàn, Phật Di Lặc sẽ cai quản đời. Ban đầu, khi Tắc rời Trác, mẹ từ biệt, khắc chữ "Phúc" trên lưng làm dấu, bọn yêu nhân bèn bịa truyền rằng chữ "Phúc" nổi lên, tranh nhau tin theo. Lại có lại dịch châu là Trương Loan (張巒), Bốc Cát (卜吉) chủ mưu, kết đảng với các châu Đức, Tề, hẹn đến ngày Nguyên đán năm sau sẽ chặt cầu phao châu Chiết, làm loạn Hà Bắc. Gặp lúc đồng đảng là Phan Phương Tịnh (潘方淨) mang dao giấu trong áo, dâng thư xin yết kiến Lưu thủ Bắc Kinh là Giả Xương Triều (賈昌朝), việc bị phát giác, bị bắt, nên không đợi đến kỳ đã vội làm phản.

Lúc ấy, Tri châu Trương Đắc Nhất (張得一) đang cùng thuộc lại đến yết Thiên Khánh quán, Tắc dẫn bọn theo mình cướp kho binh khí, Đắc Nhất chạy vào giữ doanh Nghiêu Tiệp. Giặc đốt cửa, bắt được Đắc Nhất, giam lại. Binh mã đô giám Điền Bân (田斌) cùng tùy tòng đánh nhau trong ngõ, không thắng, phải ra ngoài. Cửa thành đóng chặt, Đề điểm hình ngục Điền Kinh (田京), Nhâm Hoàng Thường (任黃裳) mang ấn, bỏ nhà, đu dây xuống thành, giữ cửa Nam Quan. Giặc sai Thông phán Thúc Lộc là Đổng Nguyên Hanh (董元亨) lấy chìa khóa kho quân nhu, Nguyên Hanh chống lại, bị giết. Lại thả tù trong ngục, có tù nhân oán Tư lý tham quân Vương Tưởng (王獎), bèn giết Tưởng. Sau đó, Tiết độ phán quan Lý Hạo (李浩), lệnh huyện Thanh Hà là Tề Khai (齊開), Chủ bạ Vương Dật (王湙) đều bị hại. Tắc tự xưng là Đông Bình quận vương, lấy Trương Loan làm Tể tướng, Bốc Cát làm Khu mật sứ, lập quốc hiệu là An Dương. Treo bảng ở cửa nhà mình là "Trung Kinh", nhà ở, chuồng ngựa, kho tàng đều đặt tên hiệu. Đổi niên hiệu là Đắc Thánh, lấy tháng 12 làm tháng Giêng. Dân từ 12 tuổi đến 70 tuổi đều xăm trên mặt chữ "Nghĩa quân phá Triệu đắc thắng". Cờ xí, hiệu lệnh đều lấy Phật làm tên gọi. Trong thành, lấy mỗi lầu làm một châu, viết tên châu, bổ bọn theo mình làm Tri châu, mỗi mặt thành đặt một Tổng quản. Nhưng người đu dây xuống thành ngày một nhiều, bèn lệnh người giữ thành cứ 5 ngũ làm một bảo, hễ có một người đu xuống, thì dần dần chém hết.

Giả Xương Triều sai Kiềm hạt Đại Danh phủ là Hác Chất (郝質) đem quân tiến gấp đến châu Bối. Tháng 12, ngày Tân Sửu mồng 1, Xương Triều dâng thư báo châu Bối làm phản. Trong cung xuất trát giao cho Trung thư, Khu mật viện, lập tức chọn tướng lĩnh đi dẹp. Lại lệnh châu Chiết, châu Mạnh, châu Định, phủ Chân Định sớm đặt phòng bị, không để giặc chạy thoát.

Ngày Nhâm Dần, sai Nhập nội áp ban Mạch Doãn Ngôn (麥允言), Tây Kinh tác phường sứ Vương Khải (王凱) đến châu Bối bắt giết quân giặc, lại chiếu lệnh Giả Xương Triều phát tinh binh hộ vệ họ.

Đô bộ sứ Cao Dương quan là Vương Tín (王信) nghe tin châu Bối loạn, liền lĩnh quân bản bộ đến đóng sát chân thành. Ngày Giáp Thìn, lấy Tín làm Đô bộ sứ chiêu tróc dưới thành châu Bối.

Ngày Mậu Thân, gia ân cho bá quan, Vương Di Vĩnh (王貽永) phong làm Toại quốc công, Hạ Tông phong Anh quốc công, Chương Đắc Tượng (章得象) phong Tuân quốc công, Vương Đức Dụng (王德用) phong Kỳ quốc công.

Chế độ cũ, tướng, tướng quốc ăn ấp 1 vạn hộ thì phong Quốc công. Vương Đán (王旦) làm Tể tướng, vượt 1 vạn hộ, nhưng khiêm nhường không nhận. Năm ấy, nhân ân huệ tế Giao, trong ngoài tướng, tướng quốc chỉ có Tông đủ 1 vạn hộ, Trung thư xin phong Anh quốc công, nhân đó chiếu rằng Tiết độ sứ kiêm Bình chương sự dù chưa đủ 1 vạn hộ cũng được phong, nên Di Vĩnh, Đắc Tượng, Đức Dụng đều được phong Quốc công.

Ngày Canh Tuất, lấy Quyền Tri Khai Phong phủ Minh Cảo (明鎬) làm Hà Bắc Thể lượng An phủ sứ.

Ngày Tân Hợi, Liêu chúa yết Thái Tổ miếu, xem bức "Thu Tấn đồ" của Thái Tông.

Ngày Quý Sửu, Liêu chúa hỏi thăm sức khỏe Thái hậu.

Ngày Giáp Dần, đổi Tri Thương châu Cao Kế Long (高繼隆) làm Tri Bối châu, sai Nội thị Hà Thành Dụng (何誠用) mang chiếu đến treo bảng chiêu an quân giặc châu Bối. Ngự sử trung thừa Cao Nhược Nặc (高若訥) tâu: "Hà Sóc là nơi trọng binh tích tụ, nay bỏ châu Bối không đánh, sau này sẽ mở đầu loạn, bị nước Liêu cười." Không nghe.

Ngày Ất Mão, nước Liêu vì Thái hậu khỏi bệnh, lệnh các tội tạp từ tử tội trở xuống đều giảm một bậc, từ đồ trở xuống thì miễn.

Ngày Canh Thân, Nam phủ Tể tướng nước Liêu là Đỗ Phòng (杜防), Hàn Thiệu Vinh (韓紹榮) tâu việc có sai sót, mỗi người bị đánh đại trượng, giáng Phòng làm Tiết độ sứ Vũ Định quân.

Tam ty sứ Trương Phương Bình tâu: "Xét từ khi dùng binh ở Thiểm Tây đến nay, trong ngoài tăng đặt cấm quân hơn 860 chỉ huy, khoảng hơn 40 vạn người, trong đó kỵ binh hơn 120 chỉ huy, nếu số ngựa đủ, tính hơn 6 vạn con; các chỉ huy thuộc Tam lộ Bảo Tiệp, Chấn Vũ, Tuyên Nghị, Vũ Vệ, Thanh Biên, Phiên Lạc v.v. đều là binh sĩ bản đạo, liên doanh trông vào hòa ước cấp dưỡng khoảng hơn 20 vạn người, so với quân đóng đồn giữ thì khoảng 40 vạn người. Lại từ năm Khánh Lịch thứ 3 trở về sau, tăng thêm việc cấp phát bạc lụa cho tây bắc, trong ngoài văn võ nhàn quan ngày càng tăng, nên chi dụng của Tam ty không đủ. Lợi núi rừng sông biển trong thiên hạ, thuế trà, muối, rượu và các khoản thu khác, so với các triều trước, đều tăng thêm rất nhiều, có thể nói không còn sót lợi nào. Thế mà việc điều độ của hữu ty lại luôn thiếu thốn, chỉ vì chi phí quá rộng, không liệu thu mà định chi mà ra. Việc cấp bách hiện nay, không gì trước hơn là thực, hóa; thực, hóa không đủ, lấy gì mà giữ nước! Cúi xin lệnh Trung thư, Khu mật viện xét kỹ tính toán, chờ thánh đoán quyết. Làm sớm thì hiệu quả cũng phải mấy năm sau mới thấy; nếu như cứu cháy, cứu đuối, thì càng không kịp vậy."

Ngày Vương Tuất, Cao Ly vào cống nước Liêu.

Năm Khánh Lịch thứ 8 (Liêu, Trọng Hy năm thứ 17), Công nguyên năm 1048

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng. Ngày Tân Mùi, quốc chúa nước Hạ là Nãng Tiêu (曩霄) mất, ngụy thụy là Vũ Liệt Hoàng đế, miếu hiệu Cảnh Tông, lăng gọi là Thái lăng.

Nãng Tiêu tổng cộng lấy 7 vợ: Một là Mễ Mẫu thị (米母氏), là con cậu mình, sinh một con trai, vì dung mạo giống người khác nên giết đi. Hai là Tác thị (索氏). Ba là Đô La thị (都羅氏), mất sớm. Bốn là Mễ Mi thị (咩迷氏), sinh con trai A Lý (阿理), mưu giết Nãng Tiêu, bị người tên Ngọa Hương Khất (臥香乞) tố giác, xử dìm xuống sông, Mễ Mi thị cũng bị giết. Năm là Nhã Nhĩ thị (雅爾氏), là con gái của Dụ Lặc Thả Tòng (裕勒且從), người cao gầy, có mưu trí, Nãng Tiêu sợ bà, cho đội mũ vàng Khởi Vân quan, không cho người khác đội. Sinh 3 con trai: một là Ninh Minh (寧明), ưa phương thuật, theo đạo sĩ học thuật bế cốc, khí nghịch mà chết; kế là Ninh Lệnh Cách (寧令格), Nãng Tiêu thấy dung mạo giống mình, đặc biệt yêu quý, lập làm Thái tử; kế là Tiết Mai (薛埋), mất sớm. Sau lại nạp Mã Y Khắc (瑪伊克), cũng là gái sơn dã, dựng Thiên Đô sơn để ở. Họ Nhã Nhĩ bèn tuyên truyền: "Con gái ta gả đã 20 năm, chỉ ở chỗ cũ, mà được con gái Mã Y Khắc vào thì lại cho tu sửa nội cung!" Nãng Tiêu nổi giận. Gặp lúc có người tố cáo anh em bọn Dụ Lặc Thả, Cương Lý (剛哩), Lăng Thành Bô (淩城逋) mưu nhân đêm cưới vợ của Ninh Lệnh Cách mà làm loạn, Nãng Tiêu bèn tru di 3 nhà Dụ Lặc Thả, Cương Lý, Lăng Thành Bô. Sau đó, Nhã Nhĩ thị kêu oan: "Anh em tôi vô tội mà bị giết." Nãng Tiêu hối hận, hạ lệnh tìm người còn sống sót, được vợ Dụ Lặc Thả là Diêm Vu (閻于) ở nhà Tam Hương, sau tư thông với bà ta, Nhã Nhĩ thị biết, bèn bắt bà ta xuất gia làm ni, hiệu là Mật Tàng đại sư. Sáu là Da Luật thị (耶律氏). Bảy là Mã Y Khắc thị, ban đầu định nạp làm vợ Ninh Lệnh Cách, Nãng Tiêu thấy nàng ta đẹp, bèn tự mình lấy, gọi là Tân Hoàng hậu. Ninh Lệnh Cách phẫn uất, giết Nãng Tiêu, nhưng không chết, chỉ cắt mũi rồi bỏ đi, trốn ở nhà Hoàng Lô Ngạc Đặc Bằng (黃蘆鄂特彭), bị Ngạc Đặc Bằng giết. Nãng Tiêu vì vết thương ở mũi mà chết, khi ấy 46 tuổi.

Mật Tàng thị ban đầu làm ni, ở nhờ Giới Đàn viện ở Hưng châu, sau có thai thì Nãng Tiêu chết. Nãng Tiêu trối lại lập người em họ con chú là Ủy Cách Ninh Lệnh (委格甯令). Các đại tù trưởng như bọn Nặc Y Thượng Đô (諾伊尚都) cùng Mật Tàng Ngạc Đặc Bằng bàn việc lập người. Mật Tàng là dòng họ lớn, Ngạc Đặc Bằng là trưởng tộc ấy. Mọi người muốn theo di mệnh lập Ủy Cách Ninh Lệnh. Riêng Ngạc Đặc Bằng không cho, nói: "Ủy Cách Ninh Lệnh không phải con vua, lại không có công, sao lập làm vua được!" Nặc Y Thượng Đô nói: "Nay nước không có chủ, vậy lập ai? Hay là ông muốn chăng! Nếu ông có thể giữ được đất Hạ, thì cũng là điều mọi người cầu mong." Ngạc Đặc Bằng nói: "Tôi đâu dám! Nước Hạ từ tổ khảo đến nay, cha chết con nối, thì quốc dân mới phục. Nay Mật Tàng ni mang thai di cốt của tiên vương, nếu may sinh con trai, thì có thể nối tiên vương, ai dám không phục!" Mọi người nói: "Phải." Bèn lập Mật Tàng ni làm Thái hậu. Nãng Tiêu chết 3 tháng thì nàng ta sinh con trai, tức là Lượng Tộ (諒祚). Lấy vợ của Mao Duy Xương (毛惟昌), Cao Hoài Chính (高懷正) thay nhau cho bú, còn chính sự ở trong tay Mật Tàng thị. Duy Xương, Hoài Chính đều là người Hán, vốn thuộc hạ của Dụ Lặc Thả, nên được thân cận. Sau đó, Hoài Chính cho người Hạ vay bạc, Duy Xương trộm áo Bàn Long mà Nãng Tiêu ban, đều bị Ngạc Đặc Bằng tru di.

Ngày Ất Hợi, Minh Cảo cho rằng thành Bối châu cao vững, khó công phá, bèn mưu xây tường chắn, tính dùng 2 vạn dân phu, hẹn 30 ngày có thể cao bằng thành. Giặc cũng trên thành dựng chiến bằng, đối diện với quân triều đình, gọi là "Hỷ Tương Phùng". Tường chắn sắp xây xong, bị giặc đốt, lửa cháy 3 ngày không tắt. Bèn dùng kế của quân hiệu Lưu Tuân (劉遵), đào địa đạo từ thành nam, đồng thời ngày ngày đánh thành bắc để phân tán sức giặc.

Dân Bối châu có bọn Uông Văn Khánh (汪文慶), Quách Bân (郭斌), Triệu Tông Bản (趙宗本), Uông Thuận (汪順), từ trên thành buộc thư vào tên bắn vào trướng Minh Cảo, hẹn làm nội ứng, đêm đến đu dây kéo quân triều đình lên. Đã cho vào được mấy trăm người, đốt lầu tường, giặc phát giác, dẫn quân ra đánh. Ban đầu, quân triều đình đã lên thành, muốn độc chiếm công lao, bèn cắt dây để chặn người lên sau. Đến khi giao chiến với giặc, quân ít không địch nổi, cùng với bọn Văn Khánh lại đu dây xuống. Đêm ấy, thành suýt nữa bị hạ. Ngày Bính Tý, ban cho Văn Khánh, Bân chức Tây đầu cung phụng quan, Tông Bản, Thuận chức Hữu thị cấm.

Ngày Đinh Sửu, lấy Tham tri chính sự Văn Ngạn Bác (文彥博) làm Hà Bắc Tuyên phủ sứ, bản lộ Thể lượng An phủ sứ Minh Cảo làm phó. Cảo đốc thúc các tướng đánh thành Bối châu đã lâu không hạ được. Hoàng đế lo lắng, hỏi các phụ thần kế sách ra sao, Ngạn Bác xin tự đi đánh giặc, nên sai Ngạn Bác làm Tuyên phủ, đổi Cảo làm phó. Trước đó, Khu mật sứ Hạ Tông ghét Cảo, sợ ông lập công, phàm những điều Cảo tâu xin đều ngầm phá. Ngạn Bác sau khi nhận mệnh, bèn nói việc quân không kịp tâu hỏi, xin được chuyên quyền hành sự. Ngày Mậu Dần, chiếu cho phép Ngạn Bác được tùy nghi làm việc. Ngạn Bác xin dùng 3 người là bọn Chủ bạ Tướng tác giám Cúc Chân Khanh (鞠真卿) nắm việc cơ nghi văn thư, cho phép. Bọn Cảo tâu xin bổ bọn Điện trung thừa Vương Khởi (王起) 4 người, cũng cho theo quân. Giặc Bối châu mưu lén ra ngoài chặn cướp sứ nước Liêu, Minh Cảo dò biết, sai Điện thị An Tố (安素) phục binh ở cửa tây. Ngày Nhâm Ngọ, giặc quả đem 300 người ra nhân ban đêm mà ra, phục binh phát hiện và bắt hết.

Cùng ngày, phủ Giang Ninh bị cháy. Ban đầu, nước Nam Đường xây dựng cung thất, phủ, chùa rất lớn, quy chế đều phỏng theo Kinh sư. Lúc ấy, doanh binh mưu loạn, việc bị phát giác, bị giết. Sau đó phát hỏa, Tri phủ sự, Tập Hiền điện học sĩ Lý Hựu (李宥) sợ có biến, đóng cửa không cứu, lửa lan cháy gần hết, chỉ còn một tòa biện thính, tức là điện Ngọc Chúc cũ. Sau giáng Hựu làm Bí thư giám trực, cho trí sĩ. Hựu tâu việc cháy rằng: "Không ngờ họa khởi trong vách, biến sinh từ thần Hỏa." Gặp lúc mới có biến loạn của vệ sĩ, triều đình ghét lời ấy, nên trách phạt đặc biệt nặng.

Ngày Ất Dậu, ban 300 đạo không ghi tên người trong cáo sắc, tuyên đầu trát tử, giao cho Hà Bắc Tuyên phủ sứ, để sẵn dùng thưởng chiến công. Cùng ngày, Văn Ngạn Bác đến dưới thành Bối châu.

Ngày Đinh Hợi, Liêu chúa đến Xuân Thủy.

Ngày Ất Mùi, mặt trời đỏ mà không sáng.

Quân triều đình đánh thành bắc Bối châu rất gấp, giặc dốc hết sức chống giữ. Còn địa đạo đào từ thành nam đã ngầm thông vào trong thành, giặc lúc đầu không biết. Tháng nhuận, ngày Canh Tý mồng 1, Văn Ngạn Bác đêm chọn 200 tráng sĩ, ngậm thẻ, theo địa đạo vào, bọn Hữu ban Điện trực Tào Kiệt (曹竭) dẫn đường. Ra khỏi địa đạo, lên thành, giết bọn giữ lũy, thả dây kéo quân triều đình lên. Giặc thả trâu lửa, quân triều đình hơi lui. Quân hiệu Dương Toại (楊遂) dùng giáo đâm vào mũi trâu, trâu quay lại chạy, quân giặc kinh hoảng tan vỡ. Vương Tắc mở cửa đông chạy trốn, Hợp môn chỉ hậu Trương Ngân (張絪) vượt hào giao chiến, chết trận. Vương Tín bắt được Tắc, dư đảng giữ các thôn xóm, đều bị đốt chết. Từ khi Tắc làm phản đến lúc thua, tổng cộng 65 ngày.

Ngày Tân Sửu, Văn Ngạn Bác sai Lý Kế Hòa (李繼和) về báo tin Bối châu đã bình xong, ban cho Kế Hòa áo gấm, đai vàng. Ngạn Bác xin chém Vương Tắc ở Đại Danh phủ, Hạ Tông nói sợ rằng kẻ bị bắt được không phải là giặc thật, nên phải xét lại, chiếu lệnh giải Tắc bằng cũi đưa về Kinh sư.

Khi Vương Tắc làm phản ở Bối châu, tốt binh Thâm châu là Bàng Đán (龐旦) cùng đồng đảng mưu nhân ngày Nguyên đán giết quân hiệu, cướp kho binh để hưởng ứng. Trước đó một ngày, có người tố cáo, Tri châu Vương Đỉnh (王鼎) ban đêm ra ngoài, sai quân hiệu tạm coi việc ở các ấp ngoài, mà ngầm phòng bị. Hôm sau, họp liêu lại, bày tiệc như thường, bọn phản đảng kinh sợ không dám động. Đỉnh tra xét được thực, từ tốn bắt 18 tên đầu sỏ giải vào ngục, án đã lập, đợi Chuyển vận sứ đến xét xử. Chưa đến, trong quân xôn xao, mưu cướp tù, Đỉnh nói với liêu lại: "Ta không để liên lụy các ông." Một mình sai đem mấy tên tù cứng đầu ra chém ở chợ, mọi người đều sợ, cả quận yên. Đến khi Chuyển vận sứ đến, số tù chưa xử còn một nửa, tra hỏi, đều bị xử tử.

Ngày Nhâm Dần, thăng Dực châu làm An Vũ quân.

Ngày Giáp Thìn, đặc xá Hà Bắc, ban tiền cho tướng sĩ bình định Bối châu, những người tử trận thì triều đình lo việc táng tế; ruộng dân bị quân giày xéo thì miễn thuế mùa hạ, mùa thu. Đổi Bối châu làm Ân châu.

Ngày Đinh Mùi, lấy Bí các giáo lý Trương Hoàn (張環) làm Lưỡng Chiết chuyển vận sứ. Hoàn 10 năm không mài khám thăng chức, triều đình khen ngợi sự lui về tĩnh tại, nên dùng.

Ngày Mậu Thân, lấy Văn Ngạn Bác làm Lễ bộ Thị lang, Bình chương sự, Minh Cảo làm Đoan Minh điện học sĩ, Cấp sự trung, Mã quân Đô ngự hầu Vương Tín làm Lưu hậu Vị Đức quân. Các võ quan khác đều theo thứ bậc công lao mà thăng chuyển, ban tiền có khác nhau.

Tặng ngựa cho Mã Toại, bổ làm Cung uyển sứ. Toại là người Khai Phong, vốn từ chức Tam ban phụng chức được bổ làm Bắc Kinh chỉ sử. Khi nghe tin Vương Tắc làm phản, ông đến chỗ Lưu thủ Giả Xương Triều xin đi đánh giặc. Xương Triều sai ông cầm bảng vào thành chiêu hàng. Tắc ăn mặc chỉnh tề ra gặp, cùng uống trà. Toại lấy lẽ họa phúc khuyên dụ, Tắc liền không đáp. Toại định giết Tắc, nhưng không mang binh khí theo. Lúc ấy Trương Đắc Nhất ở bên cạnh, Toại muốn ông ta giúp mình, bèn đưa mắt ra hiệu, nhưng Đắc Nhất không động. Toại bèn vùng dậy, ném chén vào Tắc, bóp cổ hắn, đánh đến chảy máu, mà bọn tả hữu không ai giúp sức. Đảng giặc bèn túm đao, la hét xông lại, chém đứt 1 cánh tay của Toại, ông vẫn mắng Tắc rằng: "Loài giặc yêu quái, chỉ hận không chém được mày ra muôn mảnh!" Giặc bắt Toại, trói lại rồi phanh thây. Tắc vì bị đánh bất ngờ nên bị thương, nằm bệnh mấy ngày mới dậy được. Việc tâu lên, Hoàng đế than thở hồi lâu. Đến khi Tắc đã bị giết, mới truy tặng Toại, phong vợ ông làm Kỳ Trung huyện quân, ban mũ áo, cho 5 người con đều được làm quan. Về sau bắt được kẻ giết Toại, sai con ông mổ tim nó để tế.

Ngày Quý Sửu, Liêu chúa bắn hổ ở Hầu Lý Cát.

Ngày Ất Mão, Phán Đại Danh phủ kiêm Bắc Kinh Lưu thủ ty Giả Xương Triều được gia phong Kiểm giáo Thái sư, tiến phong An Quốc công, vì đã bình định được Ân châu. Hàn lâm thị độc học sĩ Dương Giai tâu rằng: "Giặc phát sinh trong địa hạt của Xương Triều, đến nỗi phải sai đại thần đi đánh dẹp mới yên. Xương Triều là có tội, không nên thưởng." Hoàng đế không nghe.

Ngày Tân Dậu, 4 người thân cận theo hầu ở điện Sùng Chính là Nhan Tú, Quách Khuê, Vương Thắng, Tôn Lợi mưu làm biến, giết quân hiệu, cướp binh khí, trèo lên nóc điện Diên Hòa, vào cấm cung, đến tận tẩm điện. Lúc ấy Hoàng hậu đang hầu Hoàng đế. Nửa đêm nghe có biến, Hoàng đế vội muốn ra ngoài, Hoàng hậu đóng cửa ôm giữ lại, sai cung nhân phi ngựa đi triệu Đô tri Vương Thủ Trung cùng những người khác đem quân vào hộ vệ. Giặc đến dưới điện Phúc Ninh, chém cung nhân, làm bị thương cánh tay, tiếng kêu vang đến chỗ Hoàng đế. Hoạn quan Hà Thừa Dụng lo Hoàng đế kinh sợ, bèn dối tâu là cung nhân đánh nhau với con gái nhỏ. Hoàng hậu quát: "Giặc đang ở dưới điện giết người, Quan gia còn muốn ra ngoài, ngươi dám nói càn ư!" Hoàng hậu biết giặc ắt sẽ phóng hỏa, bèn sai hoạn quan cầm nước bám theo sau giặc. Quả nhiên giặc dùng nến đốt rèm, nước liền dập tắt. Đêm ấy, những hoạn quan được sai đi, Hoàng hậu tự tay cắt tóc họ làm dấu, bảo rằng: "Giặc bình xong sẽ gia thưởng, sẽ lấy tóc các ngươi làm bằng chứng." Vì thế hoạn quan tranh nhau liều chết. Trong lúc cấp bách xử trí, mọi việc đều do Hoàng hậu quyết đoán. Ba người Nhan Tú và những kẻ khác liền bị quân túc vệ giết chết. Vương Thắng chạy trốn, ẩn ở lầu phía bắc cung thành, qua mấy ngày mới bị phát hiện, bắt được liền đem phanh thây, rốt cuộc không biết ban đầu chúng mưu tính ra sao.

Khu mật sứ Hạ Tố tâu với Hoàng đế, xin cho Ngự sử cùng hoạn quan vào ngay trong cấm cung thẩm tra việc này, lại nói không thể để lan rộng, khiến kẻ hai lòng bất an. Tham tri chính sự Đinh Độ nói: "Túc vệ làm biến, việc liên quan đến xã tắc, việc như thế mà còn có thể nhẫn nhịn, thì còn việc gì không thể nhẫn nhịn!" Ông cố xin giao cho Ngoại đài tra xét đến cùng bè đảng. Từ sáng đến giờ ăn vẫn tranh luận, cuối cùng Hoàng đế theo lời Hạ Tố. Ngày Giáp Tý, giáng Nội thị Dương Cảnh Tông, Đặng Bảo Cát, Dương Hoài Mẫn, Lưu Vĩnh Niên, Triệu Tòng Ước, Vương Tòng Thiện và những người khác, tổng cộng 5 người, đều bị biếm ra ngoài; chỉ riêng Hoài Mẫn vẫn giữ chức như cũ, là do Tố che chở cho.

Trước đó có chiếu tha tội cho Cảnh Tông và những người khác, Ngự sử trung thừa Ngư Chu Tuần, Thị ngự sử tri tạp sự Trương Biện, Ngự sử Hà Đàm và những người khác tâu rằng: "Túc vệ đặt trong điện đình, vốn là để cho bậc Thiên tử phòng bị việc bất thường. Nay bọn vệ sĩ làm điều hung bạo trái ngược, ý đồ không thể lường. Lại thêm về sau bắt được dư đảng của giặc, nhiều lần truyền thánh chỉ lệnh chưa được giết chết, thế mà hoàn toàn không theo mệnh, chính là vì các thần lại bản ty sợ rằng sau khi bị bắt sẽ bị tra xét ra sự thật, nên dung túng cho mọi người đánh chết, để mưu diệt khẩu, mong làm nhẹ tội thất chức. Tình trạng như thế, lý không thể tha. Thời Thái Tổ, lửa phát ở Tửu phường, binh sĩ tại chỗ nhân đó làm càn, Thái Tổ vì bọn Bản phường sứ phó Điền Xử Nham không thể quản thúc, đều xử cực hình. Nay xa giá ở ngay gần, giặc loạn bất ngờ nổi lên, tình trạng hung ác không gì lớn hơn thế. Vậy mà người giữ chức vụ thì đã không thể xét cử, kẻ trực đêm lại không lập tức bắt giặc, nếu không chính đốn phép nước, thì lấy gì để chặn miệng công luận! Cúi xin giáng chức nặng hơn nữa, để chấn chỉnh uy phạt." Cảnh Tông và những người khác đã bị biếm ra ngoài, Đàm và những người khác lại dâng sớ lần nữa, xin giáng chức Hoài Mẫn. Hoàng đế lệnh Trung thư triệu Đàm và những người khác, giải thích lý do chỉ riêng khoan tha cho Hoài Mẫn. Đàm và những người khác lại nói: "Vệ sĩ cầm đao xông thẳng vào cấm đình, muốn xâm phạm xa giá. Làm bậc đại thần thì nên trách sâu tội thất sát của hữu ty. Như Dương Cảnh Tông và những người khác, đều nên xử chém để tạ tội với thiên hạ; nếu cho rằng lỗi ấy không phải tự họ cầu lấy, thì chỉ có thể tha tội chính phạm, nhưng cũng nên đày đi xa để răn trăm chức. Cảnh Tông và những người khác bị phạt đã rất nhẹ, Hoài Mẫn lại riêng khác với mọi người, ấy là vì đại thần hai phủ sợ oán giận từ những người bên cạnh bệ hạ, không thể kiên trì pháp độ của Tổ tông. Cúi xin đồng loạt giáng chức ra ngoài, để hợp với công luận."

Hoàng đế nói với các phụ thần về biến cố trong cung đình, rằng Mỹ nhân Trương thị có công hộ giá. Hạ Tố liền khởi xướng nói nên bàn định lễ nghi để tôn sùng, biệt đãi nàng. Tể tướng Trần Chấp Trung không biết xử trí thế nào. Hàn lâm học sĩ Trương Phương Bình đến gặp Chấp Trung, nói: "Thời Hán, Phùng Tiệp dư thân mình đương đầu mãnh thú, mà không nghe có việc tôn sùng, biệt đãi. Huống chi bỏ Hoàng hậu mà tôn mỹ nhân, xưa nay chưa từng có lễ ấy. Nếu quả thực làm như vậy, thiên hạ lời chê trách ắt sẽ dồn cả vào ngài, suốt đời không thể rửa sạch." Chấp Trung kinh sợ, bèn thôi.

Trước đó, quan Ngự sử tâu: "Giang Ninh là nơi Hoàng thượng ban đầu được phong, Thủ thần coi việc phòng hỏa không cẩn thận, phủ nha, miếu đường đều bị thiêu rụi, nên chọn người tài giỏi đến tu sửa." Bèn lệnh Tư nông khanh Lâm Duy thay Lý Hựu, Duy cố từ không đi, liền giáng Duy làm Tri Viên châu, đổi lệnh Long đồ các trực học sĩ Trương Khuê làm Tri Giang Ninh phủ. Khuê đến nơi, chọn lựa vật liệu, thợ thuyền, mọi việc đều theo quy chế cũ, chẳng bao lâu đã hoàn thành.

Ngày Bính Dần, đem Vương Tắc phanh thây ở chợ.

Lấy Tri Hồng châu, Trực Tập hiền viện Lý Huyền làm Kinh Hồ Nam lộ Chuyển vận sứ. Lúc ấy Man Ngũ Khê quấy nhiễu Hồ Nam, khi chọn Chuyển vận sứ, Hoàng đế nói: "Trong số những người có chức ở quán các, ai là người giỏi uống rượu? Nay đang ở đâu?" Các phụ thần chưa hiểu, Hoàng đế nói: "Đó là người năm trước giữ thành Bân châu, tài năng có thể dùng được." Các phụ thần lấy Huyền đáp, bèn bổ nhiệm ông. Huyền cưỡi trạm mã đến Thiệu châu, răn các bộ phải án binh bất động, sai người khuyên dụ Man, lấy lẽ họa phúc mà nói. Man vui lòng, bèn bãi binh, chịu ràng buộc.

Trước đây, khi Nguyên Hạo xâm phạm Diên châu, các châu nơi biên giới đều sợ. Huyền làm Thông phán Bân châu, thành lũy trên tường chưa hoàn chỉnh. Huyền tạm quyền giữ chức Thủ, liền phát binh sửa thành. Quan liêu đều cho rằng nên tâu lên chờ chỉ, Huyền không nghe. Hoàng đế nghe tin, rất vui, nhân đó hạ chiếu cho các châu khác đều phải tu sửa phòng bị.

Ngày Đinh Mão, giết Trương Đắc Nhất, anh em ông ta đều bị liên lụy giáng chức, vợ con luận tội theo luật. Đắc Nhất làm Tri Bối châu, mới nhậm chức 8 ngày thì loạn phát. Giặc đặt Đắc Nhất ở phía tây nha châu, mỗi ngày đều dâng đồ ăn uống. Lúc đầu, giặc lấy ấn châu, nói: "Dùng xong sẽ trả lại." Mỗi lần gặp giặc, Đắc Nhất tất gọi là Đại vương, trước hết vái chào rồi mới ngồi, ngồi thì nhất định quay mặt về hướng đông, lại thay Tắc thảo ra các nghi thức tiếm xưng. Giặc bị bình định, Đắc Nhất bị giao cho Ngự sử đài luận tội. Án đã xong, triều đình bàn muốn tha chết, Ngự sử trung thừa Cao Nhược Nặc nói: "Thủ thần không chết thì vốn phải bị giết, huống chi lại chịu khuất phục trước Tắc ư?" Thế là xử tội chém giữa chợ. Đắc Nhất là con của Kỳ.

Tháng ấy, thần lại tâu rằng: "Hoàng thành ty ở trong nội đình là nơi bận rộn nhất, Tổ tông giao cho làm tai mắt của triều đình, số quan Câu đương là 4 người, phần nhiều chọn những người thân tín, có tâm lực. Gần đây số người lại tăng gấp đôi, mà đều không được chọn lựa, đề bạt. Xin từ nay chỉ đặt 4 người, chọn những người có tâm lực, trầm hậu, lại không cho phép ai tiến cử, xin xỏ; nếu trái, đều luận tội là trái chế." Hoàng đế chuẩn theo.

Tháng 2, ngày Quý Dậu, giáng chức Dương Hoài Mẫn làm Nhập nội Phó đô tri, lại cho làm Tả tàng khố sứ, Hoạt châu Tiền triệt, bắt đầu là do nghe theo lời Ngự sử. Hà Đàm công kích Hoài Mẫn rất mạnh, Hoàng đế bảo Đàm: "Xưa các quan can gián từng có người bị vỡ đầu, khanh có thể làm như thế không?" Đàm đáp: "Xưa kia Hoàng đế không nghe lời can, nên bề tôi mới có người vỡ đầu. Nay bệ hạ nghe lời can như nước chảy, cần gì phải như thế! Nếu nhất định phải vỡ đầu, thì tiếng tốt thuộc về bề tôi, mà lỗi lại ở Hoàng đế vậy." Hoàng đế vui vẻ nhận lời.

Ban hành sách "Khánh Lịch thiện cứu phương". Hoàng đế trước xem tấu án ở Phúc Kiến, phần nhiều là những vụ dùng tà độc hại người, có y công ở Phúc châu là Lâm Sĩ Nguyên có thể dùng thuốc trục ra, bèn hạ chiếu ghi chép phương thuốc của ông. Lại lệnh Thái y tập hợp các phương thuốc trị tà độc hay nhất làm thành 1 quyển, sai Đinh Độ viết tựa rồi ban hành.

Ngày Bính Tý, Hàn lâm thị độc học sĩ, Tả gián nghị đại phu Dương Giai được bổ làm Công bộ Thị lang, cho về trí sĩ. Triệu vào yết kiến, yến ẩm ban ơn, miễn lễ quỳ lạy. Đến khi ông mất, để lại dâng lên 1 thiên "Binh luận". Hoàng đế thương xót, đặc biệt truy tặng ông làm Binh bộ Thị lang. Giai tính tình cương trực mà trung hậu chất phác, dám nói lời lớn, nhiều lần dâng thư bàn việc thiên hạ, người đương thời cho là quanh co, khó dùng. Ông ít hòa hợp với người, nhưng cũng có thể bao dung. Trước đây, Thái Tương và những người khác hặc tấu Giai, đày ông làm Tri Hàng châu. Gặp lúc Tương xin nghỉ, đi qua Hàng châu, lại buông thả dạo chơi chợ búa, có người nói với Giai, sao không tâu lên triều đình, ông đáp: "Tương từng vì công việc mà công kích ta, ta há có thể vì việc riêng mà báo thù sao!"

Ngày Đinh Sửu, nước Hạ sai Dương Thủ Tố đến báo tang việc chúa mình là Nãng Tiêu qua đời. Lệnh Khai Phong phủ phán quan Tào Dĩnh Thúc làm Tế điển sứ, Lục trạch sứ Đặng Bảo Tín làm Điếu úy sứ, ban lụa, vải, dê, gạo, bột, rượu như lệ. Nước Hạ cũng sai sứ báo với nước Liêu, nước Liêu sai sứ sang nước Hạ phúng viếng, an ủi như lệ.

Ngày Mậu Dần, đổi Tri Kinh Nam Phạm Trọng Yêm lại làm Tri Đặng châu. Trọng Yêm ở Đặng châu 2 năm, người Đặng châu yêu mến ông. Đến khi dời sang Kinh Nam, dân chúng chặn đường sứ giả xin giữ Trọng Yêm lại, Trọng Yêm cũng muốn ở lại, chiếu bèn cho theo lời xin.

Ngày Kỷ Mão, ban cho các châu Doanh, Mạc, Ân, Ký 2 vạn quan tiền, để chuộc lại những đứa con mà dân đói khổ đã bán đi.

Ngày Nhâm Ngọ, giáng Tam ty Hộ bộ phán quan Hàn Tông làm Tri Hoạt châu. Trước đây Tông đi sứ nước Liêu, Liêu chúa hỏi về gia thế, Tông nói cha là Ức thời tiên triều từng cầm lễ sang sứ, Liêu chúa vui nói: "Giao hảo với Trung Quốc đã lâu, cha con nối nhau phụng sứ, nên rót rượu của ta." Tông dẫn 5 người đồng sứ đứng dậy chúc thọ, Liêu chúa cũng rời chỗ ngồi đáp lễ, rất vui vẻ. Khi về, Tể tướng Trần Chấp Trung cho là gây chuyện, nên trách phạt ông. Chẳng bao lâu đổi làm Tri Hứa châu.

Ngày Ất Mùi, lấy Thị ngự sử Tống Hỉ làm Binh bộ Viên ngoại lang, Đồng tri Gián viện. Trước đó, Hỉ thẩm tra vụ án vệ sĩ trong Nội thị tỉnh, không thể truy đến kẻ chủ mưu ban đầu. Án đã xong, Nội thị lại sai Hỉ tự viết tờ thiếp, nói là không dám tiết lộ. Sau đó, ông lại xin lập bảng khắp các cung viện để phòng hỏa, và chặt những cây gỗ lớn vươn mái trong cấm cung, nuôi chó La Giang để phòng trộm. Triều đình chê cười, nên gọi ông là "Tống La Giang". Khai Phong phủ phán quan Tào Dĩnh Thúc tâu rằng Hỉ làm Chế sứ làm nhục mệnh, xin xử theo pháp, Hoàng đế không nghe, đến đây lại thăng làm quan Gián.

Tháng ấy, nước Liêu hạ lệnh cho sĩ thứ được nói về những điều tiện lợi của quốc gia, không được nói đến việc riêng của mình; nô tỳ nếu có điều mắt thấy, cho phép nói với chủ, không được tự mình dâng tâu.

Tháng 3, ngày Giáp Thìn, chiếu cho Lễ bộ cử hành khoa cống cử.

Lấy Kinh Tây Chuyển vận sứ Nhậm Chuyên quyền làm Tam ty Đô lý Khiếm bằng do ty.

Trước đây, nước Hạ sai Lữ Nhĩ Như đến nạp khoản, đòi hỏi tổng cộng 11 việc, trong đó quan trọng nhất là muốn bỏ chữ "thần", đổi xưng là "nam". Chọn Chuyên làm Áp bạn, ông một mực lấy đại nghĩa trách cứ, sứ Hạ đuối lý mà về. Đến khi Tôn Diên Thọ sang sứ lần thứ hai, tuy trong biểu đã xưng "thần", nhưng vẫn muốn dùng muối xanh thông thương với Trung Quốc và tự do mua bán, lại xin tăng hàng năm tiền ban cho lên đến 30 vạn. Chiếu chỉ chỉ cho phép mở chợ muối và tăng thêm 5 vạn, phần nhiều những điều nghị luận là do Chuyên trình bày. Nãng Tiêu đã bị thuộc hạ giết, sai Dương Thủ Tố đến báo tang, mà Thủ Tố chính là người thời Khang Định đã bày mưu cho Nãng Tiêu không xưng "thần", trả lại tiết việt được ban. Chuyên vừa lúc dâng sớ tính toán ở Kinh sư, Hoàng đế giữ Chuyên lại làm Quán bạn. Chuyên hỏi Thủ Tố về nguyên do Nãng Tiêu chết, Thủ Tố không thể đáp, cho đến khi đi, cũng không dám kiêu ngạo. Trung thư dự định bổ Chuyên làm Tri Phụng Tường phủ, Hoàng đế nói: "Nhậm Chuyên ứng tiếp việc với Dương Thủ Tố đã xong, nên để dành cho triều đình ủy thác khi hữu sự, Phụng Tường không khó tìm người." Có người trong đám chấp chính không ưa Chuyên, nhân đó bèn bổ ông chức này.

Ngày Giáp Dần, ngự giá đến Long Đồ, Thiên Chương các, triệu cận thần, tông thất đến xem "Du nghệ tập" của Thái Tông, "Hạnh Chiết châu thi bi" của Chân Tông và các điềm lành của ba triều. Lại đưa thủ chiếu ban cho các phụ thần rằng: "Gần đây biên giới phía tây phòng bị, thiên hạ lao xao, vội vã tuyển mộ binh sĩ, gấp rút điều động quân lương, tuy thuế khóa thường lệ có tăng mà chi dùng vẫn không đủ. Lại thêm thời bình kéo dài, đường tiến thân nhiều, người thừa, chính sự rối, quan thì nhiều mà chỗ trống cũng nhiều. Lại nữa, Mục tá hiếm khi nghe tâu lên công trạng, tướng soái khó có người xứng chức. Há chẳng phải là chế độ chưa lập, không thể biến thông theo thời sao? Hay là việc chọn lựa, đề bạt không đến nơi, không thể khuyến khích kẻ dưới sao? Tây Bắc nhiều việc, tình hình địch không thường, kẻ dâng lời kỳ quặc, hư huyễn thì nhiều, người trình bày kế sách lâu dài, hiệu quả thực tế thì ít. Trẫm muốn cứu vãn việc này, mà không biết nên theo đường nào, tất cả đều giao cho các khanh sắp đặt." Lại chiếu cho Hàn lâm học sĩ, Tam ty sứ, Tri Khai Phong phủ, Ngự sử trung thừa rằng: "Muốn nghe những thiếu sót của bản thân trẫm, bọn bè đảng bên cạnh, kẻ hiểm trá trong ngoài, châu quận bạo ngược, pháp lệnh không tiện cho dân, cùng những việc cơ mật của triều đình, đều phải trình bày hết." Đều ban cho bút trát, lệnh ngay tại chỗ mà đối đáp. Lúc ấy Khu mật sứ Hạ Tố biết Chấp Trung không học, ít văn, nên bày mưu này cho Hoàng đế, ý muốn làm khó Chấp Trung. Chấp Trung cố sức từ chối, nhưng chưa được cho. Tham tri chính sự Tống Tường tiến lên nói: "Thời Lưỡng Hán, đối sách vốn là để mời những sĩ nhân ẩn dật nơi hang núi; nay đã giữ chức trong phủ chính mà lại tự ví mình như thư sinh, ấy là không phải cách để tôn trọng triều đình. Xin cho đến Trung thư cùng bàn rồi dâng đối sách." Hoàng đế cho phép. Người đương thời cho là biết giữ thể thống.

Hôm ấy, Hàn lâm học sĩ Trương Phương Bình sau khi lui chầu, gặp lúc phải ở Sở khóa viện thảo chế, ông liền ghi rõ những điều đối đáp với câu hỏi, đến nửa đêm, cùng với bản chế thư dâng lên, nói :Trước đây vì người Hạ ngăn mệnh, các lộ tăng thêm cấm quân khoảng hơn 42 vạn người, cộng với binh cũ của ba triều thì đến 8, 9 trăm nghìn người, còn như hương quân, nghĩa dũng, châu quận xưởng quân, các quân tiểu phần, thặng viên thì không tính trong số này. Tất cả những quân lính thừa ấy, không những làm khốn kiệt tài dụng thiên hạ, mà còn sắp trở thành bậc thềm tai họa cho thiên hạ. Nếu không sớm tính, sau này sẽ không kịp. Mong hạ lệnh nghiêm cho thiên hạ cấm việc chiêu mộ, lệnh cho Chuyển vận sứ, Đề điểm hình ngục các lộ chia nhau xét trong địa hạt, chọn những kẻ già yếu, lập tức cho giải ngũ. Nếu tuy thuộc cấm quân mà gầy yếu, muốn lui về làm xưởng quân, cũng cho phép tùy tiện.

Nay con đường nhập quan, cầu may, dựa dẫm, mỗi ngày sinh ra lệ mới. Xin lệnh Trung thư, Khu mật viện đều kê rõ từng năm các loại danh mục nhập sĩ và số người, lấy những loại cầu may, tệ nạn quá đáng nhất, chia từng loại mà lập điều lệ, giảm bớt dần. Những điều lệ thưởng phạt của Tam ty, Điện tiền ty, Quần mục ty và các nơi khác, cũng xin xét định lại cho kỹ.
Thần nghe thời tiên triều, tuy là con cháu tướng quốc, đại thần, vẫn còn nhiều người áo vải chưa làm quan. Nay từ Thiếu khanh, Giám trở lên, mỗi năm đều bổ nhiệm 1 người, chẳng phải là quá lắm sao? Thời Tổ tông, văn võ quan không lập năm tháng mài giũa, không lấy thâm niên làm thứ tự thăng tiến. Người có tài dụng, danh thực, hoặc từ chức thấp mà được cất nhắc vượt bậc. Người không có tài dụng, danh thực, có người giữ 1 chức hơn 10 năm không đổi. Những người giữ chức Giám đương, hoặc Tri huyện, Thông phán, Tri châu, có người đến mấy nhiệm kỳ mà không được thăng. Vì thế đương thời ai cũng tự khuyến khích, nếu không có công lao, biết là không thể tiến. Từ sau niên hiệu Tường Phù, triều nghị càng theo hướng khoan hậu, nên lệnh cho người giữ chức 3 năm thì theo lệ được mài giũa, kẻ hiền, kẻ bất hiền không biết lấy gì mà khuyến khích. Mong bệ hạ sửa đổi dần chế độ này, những người được mài giũa để thăng chức, ắt phải có công lao đáng khen, hoặc do triều đình đặc biệt sắc chỉ chọn quan bảo nhiệm, thì cho thăng chuyển, đủ để tỏ rõ thánh ân quý trọng người tài, yêu dân.
Đến như việc dùng tướng soái, nên để họ ở lâu tại chức. Tổ tông dùng Lý Hán Siêu, Quách Tiến và những người khác, xa thì 20 năm, gần cũng 8, 9 năm, bỏ qua những lỗi nhỏ, không dễ dàng thay đổi. Nay thì không như thế. Võ thần chỉ vào biên quận, gọi là biên nhiệm, mượn đó làm nơi phát thân. Những người trải qua biên nhiệm, chưa từng có chút công lao, mà không mấy năm đã thẳng lên Hoành hành, Thái thú, Phòng, Đoàn, Liêm sát. Ai khéo lo việc bếp núc, quen thuộc nhân sự thì liền cho là có tài. Lại còn đổi dời, thay thế, địa hình sơn xuyên chưa kịp biết, quân sĩ, hàng ngũ chưa kịp quen, sĩ dân phong tục chưa kịp hiểu, đã lại đi rồi. Mong bệ hạ soi xét việc cũ của Tổ tông, trọng thưởng tước lộc để chờ công lao, buộc phải ở lâu tại chức để xem năng hiệu, ấy cũng là một điều trong phép dùng tướng soái vậy!

Hoàng đế xem tấu, kinh ngạc. Sáng sớm hôm sau, lại ban thủ trát, hỏi những điều chiếu chỉ chưa nói đến. Phương Bình lập tức dâng đối đáp rằng: "Thần xem sự biến trị loạn xưa nay, không ở chỗ khác, chỉ ở chỗ thế lực trên dưới hòa hợp thì việc lớn không gì không thành; thế lực trên dưới chia lìa thì việc nhỏ không gì không bại. Mấy năm gần đây, triều đình khá nhiều lần dùng những người khinh bạc, hiểm trá, bố trí vào ngôn lộ, trái đạo để cầu danh, lấy miệng lưỡi sắc bén làm hiền, làm hỏng phong tục nhã hậu, đến nỗi thành ra hiểm bạc. Trong thì quan ngôn sự, ngoài thì quan án sát, phần nhiều khơi lại chuyện mờ ám trong khuê môn của người ta, những việc đã lâu năm, nhiều lần được ân xá. Lại thêm các loại tiểu nhân, dưới đến lại dịch, đồng bộc, nhìn thời thế mà được tung hoành, dám phạm thượng, bịa đặt lời lẽ, triều đình liền thi hành, lại thêm yêu ghét, không gì không đến! Vì thế từ tướng tướng trở xuống, đến khanh đại phu, đều run sợ, lo lắng, mỗi một động tác, mỗi một việc làm, liền nói là sợ gây ra lời người, bèn cầu an phận, lần lữa, chỉ mong tránh khỏi chê trách, tội lỗi, đâu còn rảnh để bày tỏ tấm lòng, vì nước lập việc! Mong bệ hạ để tâm, cốt ở chỗ thông suốt tình trên dưới; muốn cho tình trên dưới hòa hợp, thì cốt ở chỗ thận trọng trong việc nghe nhận mà thôi." Hoàng đế xem tấu, càng lấy làm lạ, viết hai chữ "Văn Nho" ban cho.

Ngày Nhâm Tuất, vì mưa dầm nên xét giảm tội cho tù giam.

Ngày Quý Hợi, ngự ở cửa Nghênh Dương, triệu Tri chế cáo, Đãi chế, Gián quan, Ngự sử và những người khác, chiếu bảo rằng: "Trẫm muốn nghe việc được mất trong triều chính, những việc trọng yếu về binh nông, phòng bị biên phòng, tướng soái có năng lực hay không, lợi hại về tài phú, đúng sai của tiền pháp, cùng bọn gièm pha hại chính, gian đạo loạn tục, và những sách lược để phòng vi, ngăn dần, đều phải đối đáp thành thiên." Hôm ấy, Tri chế cáo Tăng Công Lượng vì mẹ bệnh xin nghỉ, cũng sai Nội thị đem chiếu đến, lệnh ông dâng đối sách.

Điện trung Thị ngự sử Hà Đàm sau khi đối đáp những điều chiếu hỏi, lại nói: "Lợi hại trong thiên hạ, không thể trong 1 ngày mà trình bày hết. Xin đặc biệt ban chiếu, cáo dụ quan lại hai chế, hai tỉnh, từ nay nếu nghe thấy triều chính có thiếu sót, chính lệnh có sai lầm, cơ mật quân sự có lợi hại, tuy không thuộc bổn chức, đều cho phép dâng chương bàn luận, lại giao cho Trung thư lập sổ ghi chép những chương sớ đã dâng. Khi muốn tiến dụng thần lại, lệnh lấy những người có nhiều điều bổ ích làm lựa chọn hàng đầu. Mong rằng những người hầu cận đều biết trách nhiệm, cố gắng hết sức, để giúp cho chính hóa."

Hàn lâm thị độc học sĩ Diệp Thanh Thần đang ở Vĩnh Hưng, ghi rõ đối đáp với chiếu Giáp Dần hỏi, lời lẽ phần nhiều đụng chạm, mài sắc vào quyền quý, lại nói: "Bệ hạ muốn ngăn chặn thói bon chen, việc này thuộc về Trung thư. Nếu Tể tướng cắt giảm, ngăn chặn bọn bon chen, thì phong tục đôn hậu, người ta biết dừng, biết đủ; nếu Tể tướng dùng kẻ hiểm nịnh, thì người ta tham vinh, mạo tiến, dần dần thành sóng trào. Trước đây có người giữ chức ở kho tàng, mỗi ngày chạy đến cửa nhà Tể tướng đương thời, vào thì lấy chuyện phố phường, ngõ hẻm để làm tai mắt, ra thì trộm mưu bàn trong miếu đường, triều nghị để làm kinh động bọn đồng liêu, một sớm đều được cất nhắc làm chức Tư, để báo đáp sự nhờ cậy. Gần đây sĩ nhân tranh nhau theo gót thói ấy, ra vào nhà quyền quý, đến nỗi có những kẻ được gọi là ‘ba thi’, ‘năm quỷ’, mà lại được đặt ở quán các, hoặc ở các ty trong tỉnh. Vả lại, Đài gián là tai mắt của thiên hạ, nay thì đều trở thành cánh tay, nách của Tể tướng. Tể tướng ghét ai, thì bới móc lỗi nhỏ, công khai đánh đập; Tể tướng thích ai, thì hùa theo ca tụng, làm người tiến cử. Chính lệnh của Trung thư không công bằng, thưởng phạt không thích đáng, thì câm miệng, buộc lưỡi, chưa từng dám nói; còn những lỗi nhỏ nhặt của Hoàng đế, hoặc chuyện nhỏ trong cung đình, thì lại nói quá mức, lấy đó làm sự thẳng thắn. Giữ chức chưa đầy 1 năm, mà thăng tiến đã vượt bậc. Tống Hỉ làm Ngự sử, khuyên bệ hạ trong cung nuôi chó, dựng chông để phòng vệ, làm suy yếu triều lễ, khiến ngoại quốc chê cười, mà không bị quở trách, lại được thăng làm quan Gián. Vương Khuê hai lần làm Hồ Nam, Giang Tây Chuyển vận sứ, nơi nào đến cũng hà khắc, bóc lột dân, đày ải người vô tội, chỉ vì là cố cựu của Tể tướng mà được cất nhắc vượt bậc, nên mới có chuyến đi Hà Đông. Như thế là nuôi dưỡng thói bon chen vậy!" Những điều lợi hại khác mà ông liệt kê còn rất nhiều.