Bước tới nội dung

Tục tư trị thông giám/Quyển 5

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tục Tư trị thông giám, quyển 5 của Tất Nguyên, do Cơ Như Tuyết dịch
Tống kỷ 5

Bắt đầu từ tháng Giêng năm Đinh Mão (967) đến tháng 6 năm Kỷ Tị (969), Thái Tổ Càn Đức năm thứ 5 đến Khai Bảo năm thứ 2, cộng 2 năm có dư

Năm Càn Đức thứ 5 (Liêu, Ứng Lịch năm thứ 17), Công nguyên năm 967

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày mồng 1 Canh Dần, Hoàng đế ngự điện Càn Nguyên nhận triều hạ, cho hàng Tiết độ sứ tiến lên đứng trong sân Rồng, trên cả Kim Ngô tướng quân. Lệ cũ, Tiết độ sứ không kiêm Bình chương sự đều đứng dưới hàng khanh, giám; bấy giờ đặc biệt đổi lại.

Lâm Nha nhà Liêu là Tiêu Can, Lang quân là Da Luật Hiền Thích đi đánh bộ tộc Ô Khố trở về, Liêu chúa nắm tay, ban cho chén rượu; còn 3 người Nhã Lý Tư, Sở Tư, Hà Lý vì không có công, chỉ ban rượu nhạt để sỉ nhục; cho Hiền Thích làm Hữu Bì thất Tường Cổn. Hiền Thích ham học, có chí lớn, khi ấy triều thần phần nhiều vì lời nói mà bị trách phạt, Hiền Thích vui ở chỗ tĩnh lặng, ẩn lui, lấy săn bắn làm vui, khi nói chuyện với thân hữu, không đụng đến thời sự, đến nay mới được cất nhắc dùng.

Ngày Tân Sửu, ban cho dân các châu ở Tây Xuyên nửa số tô thuế mùa hạ năm nay.

Chiếu rằng: thời thế yên ổn, năm được mùa, tăng số đêm treo đèn Thượng Nguyên lên 5 đêm.

Thần dân đất Thục đến cửa khuyết kiện cáo Vương Toàn Bân (王全斌), Vương Nhân Thiệm (王仁贍), Thôi Diễn Tiến (崔彥進) cùng những việc phi pháp khi phá Thục; bèn triệu các tướng ấy cùng lúc về kinh. Nhân Thiệm vào chầu trước, Hoàng đế hỏi vặn, Nhân Thiệm lần lượt bới móc lỗi lầm của các tướng, mong tự giải thoát. Hoàng đế nói: “Nạp kỹ nữ của Lý Đình Khuê, mở kho Phong Đức lấy vàng, vỏ sò, đó há phải việc các tướng làm sao?” Nhân Thiệm hoảng sợ, không đáp được. Hoàng đế vì Toàn Bân và những người khác mới lập công, không nỡ giao cho quan lại xử, lệnh Trung thư Môn hạ truy xét Nhân Thiệm cùng Toàn Bân, Diễn Tiến đối chất với người kiện; những tiền của đã lấy, nhận, giấu giếm, cộng 646.800 quan tiền, còn châu báu trong cung Thục và các kho ngoài phủ không ghi sổ thì không tính. Lại xét tội tự tiện khấu trừ tiền trang bị của binh sĩ, giết hàng binh khiến giặc kéo đến, Toàn Bân, Nhân Thiệm, Diễn Tiến đều cúi đầu nhận tội. Ngày Nhâm Tý, lệnh Ngự sử đài tập hợp bá quan ở triều đường, bàn tội của Toàn Bân và những người khác. Ngày Quý Sửu, bá quan tâu rằng 3 người theo luật đáng chết, Hoàng đế đặc xá cho. Ngày Giáp Dần, đặt quân Trùng Nghĩa ở Tùy châu, quân Chiêu Hóa ở Kim châu, lấy Toàn Bân làm Lưu hậu quân Trùng Nghĩa, Diễn Tiến làm Lưu hậu quân Chiêu Hóa. Nhân Thiệm bị bãi chức Khu mật phó sứ, làm Hữu vệ Đại tướng quân. Các tướng sĩ có nhận của đút thì đều bỏ qua, không truy cứu.

Ngày Đinh Tị, lấy Tào Bân (曹彬) làm Tuyên huy Nam viện sứ, kiêm Nghĩa Thành Tiết độ sứ; Lưu Quang Nghĩa đổi lãnh Trấn An Tiết độ sứ; Trương Đình Hàn làm Đô ngự hậu kỵ quân Thị vệ, kiêm Chương Quốc Tiết độ sứ; Lý Tiến Khanh làm Đô ngự hậu bộ quân, kiêm Bảo Thuận Tiết độ sứ. Đình Hàn và Tiến Khanh theo Quang Nghĩa bình định Thục, quân chính không quấy nhiễu, nên được thưởng.

Lúc đầu, Vương Nhân Thiệm bới móc các tướng, chỉ nói: “Người thanh liêm, khiêm tốn, kính sợ, không phụ sự ủy nhiệm của bệ hạ, chỉ có một mình Tào Bân mà thôi.” Hoàng đế vì thế ban thưởng Tào Bân đặc biệt hậu. Bân dâng lời từ chối: “Các tướng đều mắc tội, thần một mình nhận thưởng, biết lấy gì tự an!” Hoàng đế nói: “Khanh có công không có lỗi, lại không tự khoe khoang. Nếu có chút vết nhơ nhỏ nhoi, Nhân Thiệm há chịu che giấu cho khanh sao? Trừng phạt và khuyến khích là phép thường của quốc gia, khanh chớ từ chối nữa.”

Hoàng đế thấy đê sông Hoàng Hà nhiều lần vỡ, bèn chia phái sứ đi xem xét, điều động dân đinh vùng Kinh, Điện sửa chữa. Từ đó hằng năm lấy đó làm lệ, đều khởi công từ tháng Giêng, đến cuối tháng 3 thì xong. Lại chiếu cho các Trưởng lại ở Khai Phong, Đại Danh phủ, Vận, Chiết, Hoạt, Mạnh, Bộc, Tề, Tư, Thương, Địch, Tân, Đức, Bác, Hoài, Vệ, Trịnh các châu kiêm chức Hà đê sứ của bản châu.

Tháng 2, ngày Giáp Tý, Lưu thủ Nam Kinh nhà Liêu là Cao Huân xin đem một cánh quân quấy nhiễu ải Ích Tân, được chuẩn cho.

Ngày Ất Sửu, lấy Tây Xuyên Chuyển vận sứ Thẩm Nghĩ Luân (沈義倫) làm Hộ bộ Thị lang, kiêm Khu mật phó sứ. Lúc đầu, Nghĩ Luân theo quân vào Thành Đô, một mình ở chùa Phật ăn rau; bầy tôi đất Thục có người dâng đồ trân dị, kỳ xảo, ông đều từ chối; khi về đông, trong hòm chỉ có mấy quyển sách vở. Hoàng đế từng thong thả hỏi Tào Bân quan lại tốt xấu thế nào, Bân nói: “Thần chỉ giám quân lữ, còn việc xem xét quan lại, không phải điều thần biết.” Hoàng đế cố hỏi, Bân nói: “Nghĩ Luân có thể giao phó.” Hoàng đế cũng nghe Nghĩ Luân thanh tiết hơn người, bèn cất nhắc dùng.

Ngày Nhâm Thân, Quyền tri Cống cử Lư Đa Tốn (盧多遜) tâu rằng tiến sĩ Lý Túc (李肅) và những người trúng cách là 10 người. Lại chiếu cho Tham tri chính sự Tiết Cư Chính (薛居正) ở Trung thư khảo lại, đều trúng cách, bèn ban cho đỗ.

Tả Giám môn vệ Đại tướng quân, Quyền phán Tam ty Triệu Bân (趙玭), tính tình cuồng táo, hay vạch thẳng, nhiều lần trái ý Hoàng đế, Hoàng đế mỗi lần đều khoan dung. Lại không hòa với Tể tướng Triệu Phổ, nhân lấy cớ đau chân, xin giải chức. Ngày Giáp Tuất, Bân giữ nguyên bản chức, bãi việc phán Tam ty.

Khi ấy có người gièm rằng Điện tiền Đô chỉ huy sứ Hàn Trọng Vân (韓重贇) tự tiện chọn thân binh làm tâm phúc, Hoàng đế giận, muốn giết. Triệu Phổ can rằng: “Nếu Trọng Vân vì lời gièm mà bị giết, thì ai nấy đều sợ tội, còn ai dám làm tướng chỉ huy thân binh cho bệ hạ nữa?” Hoàng đế bèn thôi, cho Trọng Vân ra làm Trương Đức Tiết độ sứ. Trọng Vân nghe Phổ cứu mình, hôm khác đến tạ, Phổ từ chối không gặp.

Tháng 3, ngày Mậu Tuất, lấy Tiền An Quốc Tiết độ sứ Trương Mỹ (張美) làm Hoành Hải Tiết độ sứ. Mỹ đến Thương châu, lâu sau, có người cáo rằng ông ta cưỡng ép dân nữ làm thiếp, lại chiếm đoạt hơn 4.000 quan tiền của dân, Hoàng đế triệu người cáo đến, hỏi rằng: “Khi Trương Mỹ chưa đến, Thương châu yên ổn chăng?” Đáp: “Không yên.” “Khi ông ta đến rồi, thế nào?” Đáp: “Không còn giặc cướp nữa.” Hoàng đế nói: “Vậy thì công lao của Mỹ đối với Thương châu rất lớn. Trẫm không khó gì cách chức Mỹ, chỉ nghĩ đến dân Thương châu các ngươi mà thôi.” Bèn lệnh quan cấp tiền công, trả lại cô gái. Lại ban cho mẹ Mỹ 10.000 quan tiền, sai bảo Mỹ rằng: “Thiếu tiền thì nên đến trẫm mà xin, chớ lấy của dân!” Mỹ hoảng sợ, sửa mình thành liêm khiết, chẳng bao lâu, vì chính tích mà được khen.

Ngày Giáp Thìn, chiếu: “Hàn lâm học sĩ, Thường tham quan, trong số幕職, châu huyện và quan ở Kinh, mỗi người tiến cử 1 người có thể đảm nhiệm chức Thường tham quan, nếu không xứng thì liên đới chịu tội.”

Ngày Ất Tị, chiếu các đạo tiến cử quan lại trong bộ có tài đức ưu tú.

Ngày Bính Ngọ, Môn hạ Thị lang, Bình chương sự Triệu Phổ được gia chức Tả Bộc xạ, kiêm Chiêu Văn quán Đại học sĩ.

Ngày Bính Thìn, Bắc Hán Thạch Bồn trại Chiêu thu Tuần kiểm sứ Nghiêm Chương (閻章) đem trại đến hàng.

Tháng này, ngũ tinh như chuỗi ngọc liền nhau, tụ ở thứ sao Lâu. Lúc đầu, Đậu Nghiễm (竇儼) giỏi suy tính tinh lịch, đời Chu Hiển Đức làm Gián quan, nói với đồng liêu là Lư Đa Tốn, Dương Huy Chi rằng: “Năm Đinh Mão, ngũ tinh tụ ở sao Khuê, từ đó thiên hạ thái bình, hai vị Thập di thấy được, còn Nghiễm thì không.” Sau quả đúng như lời.

Nam Đường lệnh Thị lang hai tỉnh, Gián nghị, Cấp sự trung, Trung thư Xá nhân, Tập Hiền, Cần Chính điện học sĩ thay phiên trực ở Quang Chính điện, được triệu vào hỏi han, thường đến nửa đêm. Nam Đường chúa việc thờ Phật rất cẩn trọng, Trung thư Xá nhân Toàn Tiêu Trương Kị (全椒張洎) mỗi lần vào chầu đều nói chuyện Phật pháp, vì thế được sủng ái rất nhanh. Khi ấy đại thần phần nhiều ăn chay giữ giới để phụng Phật, chỉ có Trung thư Xá nhân người Hội Kê là Từ Huyễn (會稽徐鉉) là không, nhưng lại tuyệt không tin chuyện quỷ thần.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Bính Tý, Liêu chúa bắn liễu cầu mưa, lại lấy nước dội lên quần thần.

Cấp sự trung Khai Phong Mã Sĩ Nguyên (馬士元) đến yết Khu mật phó sứ Thẩm Nghĩ Luân, gặp lúc có lại nhân bẩm việc, Nghĩ Luân nói chuyện với hắn, quên ngoảnh lại với Sĩ Nguyên. Sĩ Nguyên vội cáo lui ra, về nhà nói với người nhà: “Ta là cận thần Đài, Tỉnh mà không được người cầm quyền kính trọng, có thể lui về rồi.” Ngày Kỷ Mão, bèn xin trí sĩ.

Lăng châu có giếng Lăng, Thục đặt quan Giám, mỗi năm luyện 800.000 cân muối. Năm Quảng Chính thứ 23, miệng giếng sụp đổ, khí độc bốc lên như khói mù, thợ luyện vào đều chết. Sau giếng càng lấp, dân khó kiếm ăn. Thông phán Chân Định là Giả Liễn (賈璉) mới đề nghị khai đào, Thứ sử Vương Kỳ cho rằng đào sẽ phạm vào rồng của giếng, phu dịch không dám tiến, Liễn tự tay cầm xẻng khởi công, hơn 1 năm thì đến mạch nước, lúc đầu luyện muối mỗi ngày 300 cân, dần tăng lên mỗi ngày 3.600 cân. Liễn tâu việc ấy, lập tức chiếu cho Liễn Tri châu sự. Sau Liễn chết tại chức, dân trong châu vẽ tượng lập miếu thờ.

Tháng 5, ngày Nhâm Thìn, Bắc phủ Thừa tướng nhà Liêu Tiêu Ha Lý (蕭哈哩) chết. Ha Lý tướng mạo vạm vỡ, sức lực hơn người, Liêu chúa khen ông cần cù trung hậu, lệnh ông tổng tri quân quốc sự. Lúc đầu, chư vương phần nhiều bị tội phản nghịch, Ha Lý liêm khiết, hiểu rõ thể chế chính trị, được giao xét án, phần nhiều tìm ra sự thật, không ai bị oan. Bắc Hán chúa Quân (鈞) mỗi lần sai sứ vào cống Liêu, riêng dâng tặng tiền vật, chiếu cho phép Ha Lý nhận. Mất, thọ 50 tuổi. Liêu chúa thương xót, ngừng chầu 3 ngày, bãi yến lễ Đoan Ngọ.

Ngày Ất Tị, Bắc Hán Cưu Đường trại Chiêu thu Chỉ huy sứ Phàn Huy (樊暉) đem trại đến quy thuận.

Tháng 6, ngày mồng 1 Mậu Ngọ, nhật thực.

Liêu chúa đóng quân ở Niễu Đàm, ưa uống rượu suốt đêm, nhân đó nổi giận mà xử phạt bừa bãi, khi tỉnh cũng hối hận, dặn đại thần phải hết lời can gián. Tiêu Tư Ôn (蕭思溫) và những người khác nhút nhát, ít ai dám can ngăn, thỉnh thoảng có người can cũng ít được nghe theo. Ngày Kỷ Mùi, xẻo thịt người nuôi hươu là Thọ Cách Niệm Cổ, lệnh hữu ty bắt hết 65 người nuôi hươu đang bị giam, chém 44 người phạm tội nặng, số còn lại đều đánh đòn nặng. Trong số đó có người suýt bị xử tử, nhờ Vương tử Tất Nhiếp (必攝) và những người khác can gián mà được miễn.

Các đạo đúc tượng Phật bằng đồng, trước đây đều phải chuyển hết về kinh phá hủy. Mùa thu, tháng 7, ngày Đinh Dậu, chiếu không phá nữa, vẫn cho thờ phụng tại chỗ, chỉ cấm không được đúc thêm.

Tháng 8, ngày Tân Dậu, sinh nhật Liêu chúa, vì đại thần có người bệnh nặng, không nhận lễ mừng.

Tháng này, sông Hoàng Hà tràn vào thành Vệ châu, dân chết đuối mấy trăm người.

Tháng 9, ngày mồng 1 Bính Tuất, Liêu chúa đi săn ở Hắc Sơn, Xích Sơn, từ đó liên tiếp săn bắn 2 tháng.

Ngày Canh Tý, Định Nan Tiết độ sứ Tây Bình vương Lý Di Hưng (李彝興) chết, truy phong làm Hạ vương, lấy con là Hành quân Tư mã Quang Duệ (光叡) Quyền tri châu sự.

Ngày Ất Tị, Thái tử Thiếu phó trí sĩ Sài Thủ Lễ (柴守禮) chết, là cha đẻ của Chu Thế Tông, lệnh Trung sứ hộ lý tang sự.

Mùa đông, tháng 10, ngày Quý Dậu, Độ chi Phán quan Hầu Trĩ (侯陟) tâu: “Tam ty có 24 án, Diêm thiết chủ 6, Hộ bộ chủ 4, còn lại đều do Độ chi chủ. Từ khi bình định Kinh, Hồ, Tây Thục, công việc càng nhiều, muốn cho Tam ty cùng chia người chủ trì.” Chiếu cho Tam ty Thôi quan Trương Thuần (張純) phân xử án vụ của Độ chi.

Tháng 11, ngày mồng 1 Ất Dậu, Công bộ Thị lang Vô Thủ Tố (毋守素) vì đang để tang mà cưới thiếp nên bị miễn chức.

Ngày Canh Tý, Ty Tư thiên nhà Liêu tâu rằng tháng này lẽ ra nguyệt thực nhưng không khuyết, Liêu chúa cho là điềm lành, vui uống rượu suốt đêm.

Tháng 12, ngày Bính Thìn, cấm các châu dùng tiền xấu, nhỏ nhẹ và tiền sắt, tiền hàn thiếc. Lại lệnh vải vóc thô xấu không được bán ở chợ, cùng những thứ trộn bột phấn làm thuốc, bắt được thì xử tội.

Ngày Mậu Thìn, lấy Quyền tri Hạ châu Lý Quang Duệ (李光叡) làm Định Nan Tiết độ sứ.

Ngày Kỷ Tị, đặt Kiến Ninh quân ở Lân châu; ngày Canh Ngọ, lấy Phòng ngự sứ Dương Trọng Huân (楊重勳) làm Lưu hậu.

Tể tướng Triệu Phổ gặp tang mẹ, ngày Bính Tý được triệu phục chức.

Ban cho Tây Xuyên nửa số tô thuế mùa hạ năm tới.

Mùa đông năm ấy, Liêu chúa đóng quân ở Bình Điện sông Hắc Hà.

Năm Khai Bảo thứ 1 (Liêu, Ứng Lịch năm thứ 18), Công nguyên năm 968

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày mồng 1 Ất Dậu, Liêu chúa yến tiệc trong cung, không nhận lễ mừng.

Ngày Giáp Ngọ, xây thành kinh sư.

Ngày Đinh Dậu, vì các châu Thiểm, Giáng, Hoài đói kém, ban chẩn cấp.

Ngày Kỷ Hợi, Liêu chúa xem đèn ở chợ, dùng 100 lạng bạc mua rượu, lệnh quần thần cũng mua rượu, tha hồ uống suốt 3 đêm.

Ngày Ất Tị, Bắc Hán Biên Thành trại Chiêu thu Chỉ huy sứ Nhâm Thủ Ân (任守恩) và những người khác đến hàng.

Tháng 2, sách phong họ Tống làm Hoàng hậu, là trưởng nữ của Trung Vũ Tiết độ sứ Diên Ác (延渥). Diên Ác sau đổi tên là Vác (偓).

Tháng 3, ngày mồng 1 Giáp Thân, Liêu chúa đến Hoàng Hà; ngày Ất Dậu, bắt được ngỗng trời, tế Trời Đất. Liêu chúa lệnh làm một đồ đựng rượu lớn, khắc văn hình hươu, gọi là Lộc phủ, chứa rượu để tế Trời.

Ngày Canh Dần, tăng sửa điều lệ về công tội bắt giặc của Huyện lệnh, Huyện úy, ban hành.

Quyền tri Cống cử Vương Hựu (王祐) chọn 10 người tiến sĩ trúng cách. Con của Đào Cốc (陶穀) là Bỉnh (邴) đứng thứ 6, hôm sau, Cốc vào tạ ơn. Hoàng đế nói với tả hữu: “Nghe Cốc không biết dạy con, Bỉnh sao có thể đỗ?” Liền lệnh Trung thư khảo lại, mà Bỉnh lại đỗ. Nhân đó hạ chiếu: “Việc chọn sĩ tử, không phải để trồng tư ân; nhà ăn lộc đời đời, nên chăm lo nghề cũ. Nghe nói bè đảng, phần nhiều dung túng thổi phồng, cân văn là công khí, há nên tư lạm! Từ nay người dự thi, phàm có liên quan đến nhà ăn lộc, giao cho Trung thư khảo lại.”

Nam Hán Tây Bắc diện Chiêu thảo sứ Phan Sùng Triệt (潘崇徹) vì lời đồn mà bị nghi, Nam Hán chúa sai Nội thị Phan Dương Quách Sùng Nhạc (番禺郭崇嶽) đến dò xét quân của ông, dặn rằng: “Nếu Sùng Triệt quả có ý khác, thì giết đi.” Sùng Nhạc đến Quế châu, Sùng Triệt chỉnh đốn binh giáp ra nghênh, Sùng Nhạc không dám ra tay, về tâu rằng: “Sùng Triệt ngày ngày chỉ lo uống vui, không chăm quân chính, không có mưu phản.” Gặp lúc Sùng Triệt một mình cưỡi ngựa về hàng, Nam Hán chúa tha không hỏi, chỉ đoạt binh quyền mà thôi.

Ngày Mậu Thân, Nam Đường lấy Khu mật sứ, Hữu Bộc xạ Thang Duyệt (湯悅) làm Tả Bộc xạ kiêm Môn hạ Thị lang, Bình chương sự. Duyệt vốn khen tài của Thanh Huy học sĩ Trương Kị. Kị khéo dò sắc mặt người chủ, giỏi bịa chuyện dài ngắn của đồng liêu, mật tấu rằng Duyệt không phải tài kinh luân, Nam Đường chúa vì Duyệt là văn học cựu thần, bãi chức học sĩ của Kị, chẳng bao lâu lại phục chức cũ.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Mậu Ngọ, Thành Đức Tiết độ sứ kiêm Thị trung Hàn Lệnh Khôn (韓令坤) chết. Lệnh Khôn có tài lược, hiểu đạo trị nước, trấn Thường Sơn 7 năm, biên giới phía bắc nhờ đó yên ổn. Hoàng đế nghe tin ông mất, thương tiếc, truy phong Nam Khang quận vương.

Ngày Kỷ Tị, Liêu chúa chiếu: “Những người theo hầu tả hữu có tài năng, khí độ, đảm đương được việc mà chưa được cất nhắc, thì lập tức đề bạt dùng; người già yếu thì tăng bổng lộc để nghỉ ngơi ở nhà.”

Ngày Bính Tý, Hộ bộ Viên ngoại lang, Tri chế cáo Lư Đa Tốn được kiêm chức Sử quán Tu soạn, phán việc trong quán. Đa Tốn thích dùng số, giỏi bày lời khéo léo, trúng ý. Hoàng đế thích đọc sách, mỗi lần sai người đến Sử quán lấy sách, Đa Tốn dặn trước lại nhân, bảo phải lập tức tâu rõ sách vua đang đọc. Hoàng đế quả nhiên hỏi đến việc trong sách, Đa Tốn ứng đáp không vướng, đồng liêu đều phục, Hoàng đế càng sủng ái khác thường.

Quân hiệu Bắc Hán Trịch Hồng Quý (翟洪貴) và những người khác đến hàng.

Tháng 5, ngày Đinh Hợi, tiết Đoan Ngọ, Liêu chúa vì uống rượu, không nhận lễ mừng.

Vì trời nóng gắt, chiếu cho các châu giảm nhẹ hình ngục. Hoàng đế bảo Thị ngự sử Phùng Bính (馮柄): “Trẫm mỗi lần đọc Hán thư, thấy Trương Thích Chi, Vu Định Quốc xử án, thiên hạ không có dân oan, đó là điều trẫm mong ở khanh vậy.”

Ngày Ất Mùi, chiếu: “Các đạo khi vận chuyển tiền lụa nộp cống lên, thuyền xe đều do quan cấp, chớ làm phiền dân.”

Ngày Đinh Dậu, Liêu chúa cùng Chính sự lệnh Tiêu Ba Nhã Nhĩ (蕭巴雅爾), Nam Kinh Lưu thủ Cao Huân uống rượu say sưa liền ngày đêm, rồi lệnh Huân làm Nam viện Khu mật sứ.

Ngày Bính Ngọ, Kiến Hùng quân Tiết độ sứ Triệu Diên Huy (趙彥徽) chết. Khi Hoàng đế còn hàn vi, từng coi Diên Huy như anh, đến khi lên ngôi, cất nhắc ông cầm cờ tiết, sủng ái rất hậu, khi chết, truy tặng Thị trung. Sau lại nghe ông chỉ lo vơ vét, mới chê mỏng con người ông.

Ngày Đinh Mùi, ban cho Nam Đường 100.000 hộc gạo, vì đói kém. Nam Đường lấy Cần Chính điện học sĩ Thừa chỉ Hàn Hí Tải (韓熙載) làm Trung thư Thị lang, Bách Thắng Tiết độ sứ kiêm Trung thư lệnh. Hí Tải dâng sớ luận yếu chỉ hình chính, thế cuộc xưa nay, biến hóa tai dị, lại dâng những lời cách ngôn do mình soạn, Nam Đường chúa thân viết chiếu khen ngợi rồi ban chức ấy.

Tháng 6, ngày mồng 1 Quý Sửu, chiếu: “Ruộng dân bị mưa dầm, nước sông làm hư hại, miễn thuế mùa hạ và các vật thu khác trong năm nay.”

Ngày Kỷ Mùi, Liêu chúa lệnh Điện tiền Đô điểm kiểm Da Luật Y Lại Ha (耶律伊賴哈) lập Thần trướng, đặc xá tội nhân vùng Kinh Kỳ.

Ngày Quý Hợi, chiếu: “Dân Kinh, Hồ, ai còn ông bà, cha mẹ, thì con cháu không được chia tài sản ra ở riêng.”

Ngày Tân Tị, lấy Hữu Bổ khuyết Tân Trọng Phủ (辛仲甫) Quyền tri Bành châu. Hoàng đế bảo rằng: “Đất Thục mới bình, thói quen xa xỉ, nhẹ phù chưa đổi, khanh có tài văn võ, nên giao phó cho khanh.” Trọng Phủ đến nơi, quân tốt trong châu là Yến Hoàn dụ dỗ quân đồn trú, mưu nhân ngày yến hội tiết Trường Xuân làm loạn, Trọng Phủ bắt chém.

Mùa thu, tháng 7, ngày Ất Mùi, treo đèn Trung Nguyên, Hoàng đế ngự Đông Hoa môn, ban rượu cho quan theo hầu.

Lấy Điện tiền Đô ngự hậu Trác nhân Đổng Tuân Hối (董遵誨) làm Thông Viễn quân sứ. Cha Tuân Hối là Tông Bản, làm quan nhà Hán giữ chức Tùy châu Thứ sử, khi Hoàng đế còn hàn vi từng đến nương nhờ. Tuân Hối ỷ thế cha, nhiều lần khinh lờn, từng bàn việc binh chiến, lý lẽ Tuân Hối kém, liền phủ áo đứng dậy, Hoàng đế bèn từ biệt Tông Bản mà đi. Đến khi Hoàng đế lên ngôi, Tuân Hối nhiều lần thăng chức đến Hiệu Vũ Chỉ huy sứ. Một ngày, Hoàng đế triệu vào điện, Tuân Hối phủ phục xin chết, Hoàng đế lệnh tả hữu đỡ dậy, an ủi. Chẳng bao lâu, quân sĩ dưới quyền có người đánh trống Đăng văn cáo tội ông hơn 10 việc bất pháp, Tuân Hối hoảng sợ chờ tội, Hoàng đế nói: “Trẫm đang tha lỗi cũ, thưởng công mới, há còn nhớ chuyện xưa sao! Ngươi chớ lo nữa, trẫm sẽ dùng ngươi.” Tuân Hối lạy hai lạy, cảm động rơi lệ. Hoàng đế hỏi mẹ Tuân Hối ở đâu, Tuân Hối nói: “Mẹ ở U châu, gặp nạn mà xa cách.” Hoàng đế bèn sai người hậu tặng biên dân, lén đón mẹ ông về, giao cho Tuân Hối, lại ban thưởng hậu. Đến đây, vua thấy Tây Phiên gần biên giới, lệnh Tuân Hối giữ Thông Viễn quân. Tuân Hối đến nơi, triệu các tù trưởng bộ tộc, nói rõ uy đức triều đình, mổ dê rót rượu, yến đãi hậu hĩ, mọi người đều vui lòng quy phục. Vài tháng sau, giặc lại vào cướp, Tuân Hối dẫn quân đánh sâu, đánh tan, bắt chém rất nhiều, được mấy vạn trâu ngựa, các bộ lạc nhờ đó yên. Hoàng đế khen công, phong ngay làm La châu Thứ sử, chức vụ như cũ. Tuân Hối từng sai ngoại đệ là Lưu Tông (劉綜) vào cống ngựa, khi về, Hoàng đế cởi áo Trân châu bàn long đang mặc, giao cho mang về ban cho, Tông nói: “Tuân Hối là bề tôi, há dám nhận ân ban ấy!” Hoàng đế nói: “Trẫm giao phó một phương cho Tuân Hối, không lấy đó làm điều kiêng kỵ.”

Ngày Bính Ngọ, Bắc Hán Ô vương trại sứ Hồ Ngộ (胡遇) và những người khác đến hàng.

Từ khi Hoàng đế lên ngôi, nhiều lần vi hành, có khi đến nhà công thần. Triệu Phổ sau khi lui chầu, không dám cởi mũ áo. Một đêm, tuyết lớn, gần tối, Phổ nghe tiếng gõ cửa rất gấp, ra xem thì thấy Hoàng đế đứng trong tuyết, Phổ kinh hãi ra đón lạy. Hoàng đế nói: “Đã hẹn với em trẫm rồi.” Chốc lát, Khai Phong doãn Quang Nghĩa đến, liền ở trong đường nhà Phổ, trải thảm dày ngồi đất, đốt than nướng thịt, vợ Phổ rót rượu, Hoàng đế gọi là “chị dâu”. Phổ thong thả hỏi: “Đêm đã khuya, rét buốt, sao bệ hạ lại ra ngoài?” Hoàng đế nói: “Trẫm ngủ không yên, ngoài một chiếc giường này, đều là nhà người khác, nên đến gặp khanh.” Phổ nói: “Bệ hạ có thiên hạ nhỏ chăng? Nam chinh bắc phạt, nay là lúc rồi. Xin nghe kế hoạch của bệ hạ định hướng về đâu.” Hoàng đế nói: “Trẫm muốn lấy Thái Nguyên.” Phổ lặng im hồi lâu, nói: “Đó không phải điều thần có thể biết.” Hoàng đế hỏi vì sao, Phổ nói: “Thái Nguyên giữ hai biên tây bắc, nếu một trận mà hạ được, thì họa biên giới một mình ta gánh, sao không tạm để đó? Đợi bình xong các nước, thì cái chấm đen bằng hạt đạn ấy còn trốn đi đâu được!” Hoàng đế cười nói: “Ý trẫm chính thế, nên thử khanh thôi.” Nhân đó bảo Phổ: “Vương Toàn Bân bình Thục giết nhiều người, trẫm nay nghĩ đến còn canh cánh, không thể dùng nữa.” Phổ tiến cử Tào Bân, Phan Mỹ (潘美) có thể dùng, sau Hoàng đế đều theo lời.

Hoàng đế từng sai gián điệp ở biên giới Bắc Hán nói với Bắc Hán chúa rằng: “Nhà ngươi với họ Chu là thù đời đời, nên không chịu khuất phục. Nay ta với ngươi không có điều gì ngăn cách, sao lại làm khổ một phương dân này? Nếu có chí với Trung Quốc, nên xuống Thái Hành để quyết thắng bại.” Bắc Hán chúa sai gián điệp đáp rằng: “Đất đai, binh giáp Hà Đông không bằng 1/10 Trung Quốc, ta giữ chỗ nhỏ bé này, là vì sợ nhà Hán không còn hương khói mà thôi.” Hoàng đế thương lời ấy, cười bảo gián điệp: “Thay ta nói với Lưu Quân, mở cho ngươi một con đường sống.” Vì thế suốt đời Hoàng đế, không đem đại quân bắc phạt.

Lúc đầu, con gái Bắc Hán Thế Tổ gả cho quân tốt doanh Hộ Thánh nhà Tấn là Tiết Sao (薛釗), sinh con là Kế Ân (繼恩). Sao chết, vợ lấy chồng họ Hà, sinh con là Kế Nguyên (繼元), rồi cả Hà và vợ đều chết. Thế Tổ vì Bắc Hán chúa Quân không có con, bèn cho nuôi Kế Ân và Kế Nguyên, đều mang họ Lưu. Kế Ân thờ chủ hết lòng cung kính, sáng tối hầu hạ, lễ không sai. Đến khi làm Thái Nguyên doãn, chọn dùng người mềm yếu, không biết trị, Bắc Hán chúa lo, từng bảo Tể tướng Quách Vô Vi (郭無爲): “Kế Ân thuần hiếu, nhưng không phải tài cứu đời, e không xong việc nhà ta, biết làm sao?” Vô Vi không đáp. Tháng này, Bắc Hán chúa lâm bệnh nằm, triệu Vô Vi, nắm tay, giao phó hậu sự.

Kế Ân mới giám quốc, Vô Vi không hòa với Thị vệ Thân quân sứ Úy Tiến (蔚進), bèn cho Tiến ra giữ Đại châu, lại đề nghị dần dần gạt bỏ tông thất, lệnh em Kế Ân là Kế Trung (繼忠) giữ Tân châu. Kế Trung cũng là con nuôi của Hiếu Hòa, tự xưng từng sứ sang Khiết Đan, mắc bệnh lạnh lâu ngày, đất Định Tương lạnh, xin ở lại dưỡng bệnh ở Tấn Dương; Kế Ân trách là do dự, giục đi đường. Kế Trung có nói lời oán hận, có người nói lại với Kế Ân, chẳng bao lâu bị thắt cổ giết.

Ngày Mậu Thân, Bắc Hán chúa băng, Kế Ân sai sứ báo tang, xưng là người kế vị với Liêu, Liêu chúa cho phép, rồi mới lên ngôi, thụy là Hiếu Hòa Hoàng đế, miếu hiệu Duệ Tông. Liêu sai sứ điếu tế.

Ngày Mậu Thân, Bắc Hán chúa băng, Kế Ân sai sứ báo tang, xưng là người kế vị với Liêu, Liêu chúa cho phép, rồi mới lên ngôi, thụy là Hiếu Hòa Hoàng đế, miếu hiệu Duệ Tông. Liêu sai sứ điếu tế.

Tháng này, lệnh các châu xét xem dân có người đói, thì lập tức mở kho phát thóc cho vay.

Tả Giám môn vệ Đại tướng quân Triệu Bân, sau khi bị bãi Tam ty, nhiều lần dâng mật sớ, đều lưu lại trong cung không chuyển ra, ông thường nghi Triệu Phổ hãm hại mình, bèn đến cửa các điện nộp lại chiếu thư bổ nhiệm đã nhận. Tháng 8, ngày Canh Thân, chiếu buộc về ở nhà riêng. Bân xin lui về ở Vận châu, không cho.

Ngày Bính Dần, lệnh Khách tỉnh sứ Lư Hoài Trung (盧懷忠) và 22 người lĩnh binh đóng ở Minh châu, sắp có việc với Bắc Hán.

Ngày Mậu Thìn, lệnh Chiêu Nghĩa Tiết độ sứ, Đồng Bình chương sự Lý Kế Huân (李繼勳) làm Hà Đông Hành doanh Tiền quân Đô bộ thự, Thị vệ Bộ quân Đô chỉ huy sứ Đảng Tiến (党進) làm phó, Tuyên huy Nam viện sứ Tào Bân làm Đô giám; Địch châu Phòng ngự sứ Hà Kế Quân (何繼筠) làm Tiên phong bộ thự, Hoài châu Phòng ngự sứ Khang Diên Triệu (康延沼) làm Đô giám; Kiến Hùng Tiết độ sứ Triệu Tán (趙贊) làm Phần châu lộ bộ thự, Giáng châu Phòng ngự sứ Tư Siêu (司超) làm phó, Tập châu Thứ sử Lý Khiêm Phổ (李謙溥) làm Đô giám.

Tháng 9, ngày mồng 1 Quý Mùi, Giám sát Ngự sử Dương Sĩ Đạt (楊士達) vì tra án giết người bừa bãi nên bị xử chém ngoài chợ.

Ngày Kỷ Sửu, Liêu chúa lên núi nhỏ, tế Trời Đất.

Ngày Mậu Tuất, Liêu chúa biết Tống muốn đánh úp Hà Đông, bảo Tây Nam diện Đô thống, Nam viện Đại vương Tháp Nhĩ (塔爾) sớm chuẩn bị.

Bắc Hán chúa Kế Ân ghét Quách Vô Vi chuyên quyền, muốn đuổi mà chưa được, tháng này gia cho Vô Vi chức Thủ Tư không, ngoài thì tỏ vẻ ưu đãi, trong thực ra xa lánh. Kế Ân mặc áo tang xử việc, ăn ở đều ở Lặc Chính các, những người thân tín bên cạnh đều ở lại trong nha phủ Thái thú, có người xin triệu vào để hầu vệ, Kế Ân không nghe. Bấy giờ văn võ bá quan đều được thăng chức, Kế Ân bày tiệc yến các đại thần và tông tử, uống xong, nằm nghỉ trong các, Cung phụng quan Hầu Bá Vinh (侯霸榮) dùng dao đâm ngực, giết chết. Vô Vi sai quân dùng thang leo lên mái vào, giết Bá Vinh cùng bè đảng, rước em Kế Ân là Thái Nguyên doãn Kế Nguyên lên ngôi. Kế Ân ở ngôi chỉ hơn 60 ngày. Bá Vinh là người Hình châu, sức khỏe, giỏi bắn, chạy nhanh như ngựa, từng làm Tán Chỉ huy sứ, đồn trú Nhạc Bình, rồi hàng Vương Toàn Bân, được bổ Nội điện trực, chẳng bao lâu lại chạy sang Bắc Hán, làm Cung phụng quan. Bấy giờ giết Kế Ân, mưu trở về phương nam, rốt cuộc bị Vô Vi giết. Có người nói Vô Vi thực sai Bá Vinh làm loạn, vội giết Bá Vinh để diệt khẩu, nên không ai biết.

Kế Nguyên mới lên ngôi, quân Tống đã vào cõi, bèn vội sai sứ dâng biểu lên Liêu, lại xin binh cứu viện. Lại sai Thị vệ Đô ngự hậu Lưu Kế Nghiệp (劉繼業), Mã Tiến Kha (馬進珂) lĩnh quân chặn ở Đoàn Bách cốc, lấy Tướng tác giám Mã Phong (馬峯) làm Khu mật sứ, giám quân ấy. Phong đến Động Qua Hà, gặp Lý Kế Huân và những người khác, Hà Kế Quân làm tiên phong đánh tan, chém hơn 2.000 thủ cấp, bắt tướng của chúng là Trương Hoàn (張環), Thạch Bân (石斌), bèn chiếm cầu Phần Hà, đến dưới thành Thái Nguyên, đốt cửa Diên Hạ. Kế Nguyên sai Điện trực Đô tri Quách Thủ Bân (郭守斌) lĩnh Nội trực binh ra đánh, lại thua, Thủ Bân trúng tên, lui vào thành.

Ngày Đinh Mùi, Bắc Hán Tá thắng quân sứ Lý Quỳnh (李瓊) đến hàng.

Ban đầu, khi Phan Mỹ (潘美) bình định Khâm châu, bắt được hơn 10 người thuộc nội phẩm Nam Hán. Có người tên là Dư Diên Nghiệp (餘延業), tự xưng là quan Cung quan hộ giá, được trao cho cây cung thì không giương nổi, Hoàng đế cười. Hỏi về chính sự nước Nam Hán, Diên Nghiệp kể rõ tình trạng xa xỉ tàn bạo, Hoàng đế kinh hãi nói: “Ta phải cứu dân một phương này.” Bấy giờ Thứ sử Đạo châu là Vương Kế Huân (王繼勳) tâu: “Lưu Xưởng (劉鋹) hôn bạo, dân chịu độc hại của ông ta, lại nhiều lần đem quân cướp phá biên giới, xin vương sư nam phạt.” Hoàng đế vẫn chưa muốn dùng binh, bèn sai Nam Đường chúa truyền đạt ý chỉ, lệnh Nam Hán chúa trước hết đem đất cũ Hồ Nam dâng nộp. Nam Đường chúa sai sứ mang thư sang, Nam Hán chúa không nghe theo.

Đời Kiến Long, theo chế độ cũ, tế Đông Nhạc Thái Sơn ở Củn châu, Tây Nhạc Hoa Sơn ở Hoa châu, Bắc Nhạc Thường Sơn ở Định châu, Trung Nhạc Tung Sơn ở phủ Hà Nam. Bấy giờ hữu ty tâu: “Quan Tư tự hiện chỉ phụng thờ bốn Nhạc. Nay tra theo lễ điển, xin tế Nam Nhạc Hành Sơn ở Hành châu; Đông Trấn Nghi Sơn ở Nghi châu, Nam Trấn Kê Sơn ở Việt châu, Tây Trấn Ngô Sơn ở Lũng châu, Trung Trấn Hoắc Sơn ở Tấn châu; Đông Hải ở Lai châu, Nam Hải ở Quảng châu, Tây Hải và Hà Độc đều ở phủ Hà Trung, Bắc Hải và Tế Độc đều ở Mạnh châu, Hoài Độc ở Đường châu; còn Giang Độc thì chiếu theo chiếu năm Hiển Đức thứ 5, tế ở cửa sông Dương Tử thuộc Dương châu, nay xin tế ở Thành Đô; Bắc Trấn Y Vu Lư Sơn ở trong cõi Doanh châu, chưa từng cử hành tế hưởng.” Hoàng đế chuẩn theo. Về sau vọng tế Bắc Trấn ở miếu Nhạc tại Định châu, rồi việc tế năm Trấn lại bị bỏ dở.

Nước Liêu lấy Y Lại Ha (伊賴哈) kiêm chức Chính sự lệnh, lại ban cho ông ta vùng đất Hắc Sơn Đông Mặc Trân dài mấy chục dặm.

Mùa thu năm ấy, Liêu chúa đi săn ở các núi thuộc Tây Kinh.

Mùa đông, tháng 10, ngày Giáp Tuất, viên ngoại lang Ty Đồn điền Lôi Đức Tường (雷德驤) ở Đồng châu bị giáng làm Tư hộ tham quân Thương châu. Đức Tường từng làm phán quan Đại Lý tự, bọn thuộc quan và đường lại kết đảng với Thừa tướng, tự tiện tăng giảm hình danh, Đức Tường phẫn uất, xin vào chầu, muốn bày tỏ trực tiếp việc ấy, chưa kịp được triệu kiến, liền đi thẳng đến điện Giảng Vũ dâng tấu, lời lẽ đều cương liệt; lại nói Triệu Phổ (趙普) ép mua nhà cửa của dân, vơ vét tài lộc hối lộ. Hoàng đế nổi giận, quát: “Đỉnh vạc còn có tai, ngươi chẳng nghe Triệu Phổ là bề tôi xã tắc của ta sao?” Rồi cầm rìu cột đánh gãy 2 răng ở hàm trên của ông ta, sai tả hữu lôi ra, xuống chiếu lệnh Thừa tướng xử ông ta tội cực hình. Sau đó nguôi giận, chỉ lấy tội tự tiện xông vào mà giáng chức.

Ngày Bính Tý, Ngô Việt vương Thục (俶) sai con là Kiến Vũ tiết độ sứ Duy Tuấn (惟濬) vào triều cống, Hoàng đế sai Tri chế cáo Lư Đa Tốn (盧多遜) ra nghênh tiếp, an ủi.

Tháng ấy, Hoàng đế sai sứ mang chiếu đến Thái Nguyên, dụ Bắc Hán chúa Kế Nguyên (繼元) hàng, ước sẽ phong cho chức Bình Lư tiết độ sứ. Lại riêng ban cho Quách Vô Vi (郭無爲), Mã Phong (馬峯) và những người khác hơn 40 đạo chiếu, hứa phong Vô Vi làm An Quốc tiết độ sứ, từ Phong trở xuống đều cho làm phiên trấn. Vô Vi nhận chiếu, sắc mặt biến đổi, chỉ đem chiếu dụ Kế Nguyên ra, còn lại đều giấu đi, từ đó bắt đầu có ý hai lòng, khuyên Kế Nguyên dâng biểu xin hàng, Kế Nguyên không nghe.

Ban đầu, Hoàng đế sai mật thám Huệ Lân (惠璘) giả xưng là Điện tiền chỉ huy sứ, mang tội chạy sang Bắc Hán, Vô Vi biết mưu ấy, cho làm Cung phụng quan. Khi quân Tống vào cõi Bắc Hán, Lân liền bỏ trốn đến Lam Cốc, bị quan lại tuần tra bắt được, giải về Thái Nguyên, Bắc Hán chúa sai Vô Vi thẩm tra, Vô Vi thả cho, không hỏi. Có người tên Lý Siêu (李超) biết rõ tình trạng của Lân, dâng cáo trạng; Vô Vi nổi giận, giết cả Siêu để diệt khẩu.

Tháng 11, ngày Tân Tị, chiếu rằng: “Đạo tặc dần yên, giảm bớt cung thủ ở các huyện theo thứ bậc, lệnh lệnh, úy nào tự tiện giữ lại, sẽ gia trọng tội.”

Trước đó, Hoàng đế vào Thái miếu, thấy bày biện bồn, đậu, phủ, quỹ, hỏi: “Đây là vật gì?” Tả hữu đáp là lễ khí. Hoàng đế nói: “Tổ tông ta nào có biết thứ này!” Liền sai dẹp bỏ, dâng thường thiện như lúc sinh thời. Sau lại nói: “Cổ lễ cũng không thể bỏ.” Bèn lệnh bày lại. Bấy giờ phán quan Thái thường tự là Hòa Hiến (和峴) tâu: “Theo đời Đường Thiên Bảo, khi hưởng tế Thái miếu, ngoài lễ vật, mỗi thất thêm một mâm thường thực, từ Ngũ Đại trở về sau, lễ ấy bị bỏ, nay xin theo cố sự nhà Đường.” Chiếu: “Từ nay thân hưởng Thái miếu, riêng bày mâm thường thực, lễ Đế, Hiệp, thời hưởng đều như thế.” Hiến lại tâu: “Đầu niên hiệu Càn Đức, khi tế Giao thờ Thượng Đế, đến chỗ vọng liêu, mà đàn liêu hơi xa, hữu ty không nghe được tiếng báo đốt củi liêu. Thần khi ấy làm Lễ quan, chức phải xướng đạo, thân nghe đức âm, lệnh giơ đuốc ứng hòa. Theo ‘Phong Thiện thư’ trong Sử ký, nhà Tần thường lấy tháng 10 tế Giao, thông lửa đuốc, hình như cái kiệt cao, muốn cho ánh sáng chiếu xa, thông đến nơi tế. Xin sắc hữu ty noi theo chế cũ.” Hoàng đế chuẩn theo.

Ngày Nhâm Dần, thân hưởng Thái miếu.

Ngày Quý Mão, ngày Nam chí, hợp tế Trời Đất ở Nam Giao, đổi niên hiệu là Khai Bảo, đại xá, miễn tô thuế còn thiếu trước năm Càn Đức thứ 5, ngự điện Càn Nguyên, Thừa tướng Triệu Phổ cùng các quan phụng ngọc sách, ngọc bảo, tôn thụy hiệu là Ứng Thiên Quảng Vận Thánh Văn Thần Vũ Minh Đạo Chí Đức Nhân Hiếu Hoàng đế.

Ngày ấy, Liêu chúa vì uống rượu, không nhận lễ chúc mừng.

Tháng ấy, Liêu Nam viện Đại vương Tháp Nhĩ (塔爾) làm Binh mã tổng quản, thống lĩnh chư đạo binh cấp cho Bắc Hán, Lý Kế Huân (李繼勳) và những người khác đều rút quân về, Bắc Hán nhân đó tiến đánh cướp phá cõi 2 châu Tấn, Giáng.

Bắc Hán chúa Lưu Kế Nguyên giết mẹ là Quách thị.

Nam Đường chúa nạp hậu Chu thị (周氏), là em gái Chiêu Huệ hậu, dung mạo xinh đẹp, trước đã được Nam Đường chúa sủng ái. Chiêu Huệ bệnh nặng, bỗng thấy em gái vào, ngoảnh hỏi: “Em vào cung từ bao giờ?” Hậu còn nhỏ, chưa hiểu chuyện, đáp thực: “Đã mấy ngày rồi.” Chiêu Huệ nổi giận, liền quay mặt vào trong nằm, không ngoảnh lại nữa. Sau khi băng, Chu thị thường ra vào cấm trung, đến nay được nạp làm Hoàng hậu. Đêm ấy, yến tiệc quần thần, Hàn Hy Tái (韓熙載) và những người khác đều làm thơ để bóng gió, Nam Đường chúa cũng không trách tội.

Nam Đường chúa khá lưu tâm vào nhạc phủ, Giám sát ngự sử Trương Hiến (張憲) dâng sớ rằng: “Đường sá đều truyền rằng lấy nhà của Hộ bộ Thị lang Mạnh Củng Thần (孟拱宸) ban cho Giáo phường sứ Viên Thừa Tiến (袁承進). Xưa Cao Tổ muốn phong vũ nhân An Sất Nô làm Tán kỵ Thị lang, cả triều đều cười. Nay tuy không phong Thừa Tiến làm Thị lang, nhưng ban cho nhà ở của Thị lang, việc cũng tương tự vậy.” Nam Đường chúa ban lụa khen ngợi sự dám nói, nhưng rốt cuộc không sửa đổi được.

Mùa đông năm ấy, Liêu chúa đóng quân ở Hắc Sơn Đông Xuyên.

Liêu Thái Bình vương Am Tát Nga (諳薩噶) lâu nay dự chính sự, bèn mưu phản. Khi ấy Tư thiên là Ngụy Lân (魏璘) giỏi bói, Am Tát Nga đến bói ngày xưng đế. Việc bị phát giác, Liêu chúa giáng Am Tát Nga đi đồn thú biên giới tây bắc, đày Lân đến bộ Ô Khố.

Năm Khai Bảo thứ 2 (Liêu, Ứng Lịch năm thứ 19), Công nguyên năm 969

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Kỷ Mão là mồng 1, vì xuất quân nên không ngự điện.

Liêu chúa yến tiệc trong cung, không nhận lễ chúc mừng.

Ngày Kỷ Hợi, lấy Tiền Duy Tuấn (錢惟濬) làm Trấn Hải, Trấn Đông tiết độ sứ. Duy Tuấn phụng mệnh cha đến giúp tế, sắp trở về, đặc chiếu gia tăng phẩm trật.

Ngày Nhâm Dần, sai Điện trung thị ngự sử Lý Oánh (李瑩) người Lạc Dương và những người khác chia đi các châu, điều phát quân lương đưa đến Thái Nguyên. Ngày Bính Ngọ, lại sai sứ phát binh các đạo, đóng ở các châu Lộ, Tấn, Từ.

Nam Đường Khu mật sứ, Tả Bộc xạ, Bình chương sự Thang Duyệt (湯悅) bị bãi, làm Trấn Hải tiết độ sứ. Duyệt không vui khi ở phiên trấn, dâng chương xin giải chức. Bèn đổi phong làm Thái tử Thái phó, Giám tu Quốc sử, vẫn kiêm Trấn Hải tiết độ sứ.

Tháng 2, ngày Ất Mão, lệnh Tào Bân (曹彬), Đảng Tiến (党進) và những người khác mỗi người lĩnh quân đi trước đến Thái Nguyên.

Ngày Mậu Ngọ, chiếu thân chinh. Ngày Kỷ Mùi, lấy Khai Phong doãn Quang Nghĩa (光義) làm Đông Kinh lưu thủ, Khu mật phó sứ Thẩm Nghĩa Luân (沈義倫) làm Đại nội bộ thự; Chiêu Nghĩa tiết độ sứ Lý Kế Huân làm Hà Đông hành doanh Tiền quân đô bộ thự, Kiến Hùng tiết độ sứ Triệu Tán (趙贊) làm Mã bộ quân Đô ngự hậu, đi trước đến Thái Nguyên. Ngày Giáp Tý, xa giá rời kinh sư; ngày Đinh Mão, đến đóng ở Vương Kiều. Chương Đức tiết độ sứ Hàn Trọng Vân (韓重贇) vào chầu, Hoàng đế bảo: “Khiết Đan biết ta thân hành, tất sẽ đem quân đến cứu viện, chúng cho rằng Trấn, Định không phòng bị, sẽ theo đường ấy mà vào, khanh có thể thay ta lĩnh quân đi gấp đường, bất ngờ đánh phá chúng.” Bèn lấy Trọng Vân làm Bắc diện đô bộ thự, Nghĩa Vũ tiết độ sứ Quách Diên Nghĩa (郭延義) làm phó.

Ban đầu, Liêu chúa mê lời nữ vu Tiêu Cổn (肖袞), lấy mật người hợp thuốc kéo dài tuổi thọ, giết người khá nhiều. Sau tỉnh ngộ sự lừa dối, dùng tên nổ bắn dồn, cho kỵ binh giẫm đạp mà giết. Từ đó ham rượu, ưa giết chóc, bọn Ngũ phường chưởng thú và cận thị cấp sự các người, hoặc vì lỗi nhỏ, hoặc vì tâu đối hơi trái ý, hoặc vì giận lây, liền gia hình phao lạc, lược sắt, nặng thì không kể xiết, hoặc tự tay dùng dao đâm, chém, bắn, đốt, chặt tay chân, bẻ gãy lưng ống chân, rạch miệng, đánh vỡ răng, vứt xác ngoài đồng, lại lệnh đắp mộ ngay tại chỗ, người chết đến hơn 100, ở kinh sư dựng ngục cao trăm thước để giam tù. Cuối đời, bạo ngược càng dữ, từng bảo Thái úy Hoa Ha (華哈): “Ta khi say có xử quyết không đúng, lúc tỉnh phải tâu lại.” Chỉ nói được thế, rốt cuộc không có ý hối cải. Tháng ấy, ngày Kỷ Tị, đi săn mùa xuân ở Hoài châu. Liêu chúa bắn gấu trúng đích, Thị trung Tiêu Tư Ôn (蕭思溫) cùng Y Lặc Hy Ba Nha Lý Tư (伊勒希巴牙哩斯) và những người khác dâng rượu chúc thọ, Liêu chúa say, trở về hành cung, đêm, bị cận thị Tiêu Cách (霄格), người rửa tay Hoa Cách (華格), người bếp Tích Cổn (錫袞) giết chết. Thọ 39 tuổi, miếu hiệu Mục Tông. Ngày Canh Ngọ, Tư Ôn cùng Nam viện Khu mật sứ Cao Huân (高勳), Phi long sứ Ni Lý (尼哩) và những người khác phụng con thứ 2 của Thế Tông là Hiền, dẫn 1.000 giáp kỵ chạy gấp đến hành tại. Hiền khóc lớn, quần thần khuyên lên ngôi, bèn tức Hoàng đế vị trước linh cữu, bá quan tôn hiệu là Thiên Tán Hoàng đế, đại xá, đổi niên hiệu Bảo Ninh. Lấy Điện tiền Đô điểm kiểm Da Luật Y Lại Ha (耶律伊賴哈), Hữu Bì thất Tường Cổn Tiêu Ô Lý Tế (蕭烏哩濟) vì canh phòng cung vệ không nghiêm, chém. Lấy Ni Lý làm Hành cung đô bộ thự, gia Chính sự lệnh.

Quyền tri Cống cử Triệu Phùng (趙逢) tâu rằng tiến sĩ An Đức Dụ (安德裕) và những người khác hợp cách được 7 người.

Ngày Ất Hợi, xa giá đến Lộ châu, vì mưa dầm nên dừng lại. Khi ấy các châu dâng lương thực đều tập trung trong thành, xe cộ chật đường. Hoàng đế nghe, cho là không hợp lẽ chậm trễ, định tội Chuyển vận sứ. Triệu Phổ nói: “Lục sư vừa đến mà Chuyển vận sứ bị tội, địch nghe được, tất cho rằng lương trữ không đủ, đó không phải là đạo để uy hiếp xa gần, chỉ nên chọn người giỏi trị việc nặng đến trông coi châu này mà thôi.” Ngày Bính Tý, lệnh Hộ bộ viên ngoại lang, Tri chế cáo Vương Hựu (王祐) quyền tri Lộ châu. Hựu liền phát cho xe cộ đi, đường sá không bị ngăn trở. Lấy Khu mật trực học sĩ Triệu Phùng làm Tùy giá Chuyển vận sứ, lại đúc ấn ban cho.

Bắc Hán Lưu Kế Nghiệp (劉繼業), Phùng Tiến Kha (馮進珂) đóng quân ở Đoàn Bách Cốc, sai Vệ đội chỉ huy sứ Trần Đình Sơn (陳廷山) lĩnh mấy trăm kỵ binh đến do thám. Gặp lúc tiền quân Lý Kế Huân và những người khác đến, Đình Sơn liền đem quân dưới quyền đầu hàng. Kế Nghiệp, Tiến Kha biết quân ít không địch nổi, cũng chạy về Tấn Dương, Bắc Hán chúa nổi giận, bãi binh quyền của họ. Kế Huân và những người khác bèn vây thành.

Khi ấy Liêu sai Nội thị Hàn Tri Phạm (韓知範) đến sách mệnh Bắc Hán chúa làm Hoàng đế, Bắc Hán chúa đêm mở cửa đón vào. Hôm sau, bày yến, quần thần đều dự, Thừa tướng Quách Vô Vi khóc ở sân, rút kiếm bên hông tự đâm, Bắc Hán chúa vội xuống thềm, nắm tay kéo ông ta lên ngồi, Vô Vi nói: “Sao có thể lấy một thành cô lập chống lại trăm vạn quân sư được!” Thực ra Vô Vi muốn dùng đó để lay động lòng người.

Tháng 3, ngày Bính Tuất, Liêu chúa đến Thượng Kinh. Vì công định sách, thăng Tiêu Tư Ôn làm Bắc viện Khu mật sứ, rồi kiêm Bắc phủ Tể tướng; phong Cao Huân làm Tần vương, Ni Lý gia phong Thủ Thái úy.

Khi ấy sau sự thất đức của Mục Tông, trong ngoài đều mong được trị bình. Liêu chúa nhiều lần triệu Hàn lâm học sĩ Nam Kinh là Thất Phưởng (室昉), hỏi về được mất trị loạn xưa nay, tâu đối hợp ý. Tư Ôn tiến cử Da Luật Sắc Trân (耶律色珍) có tài kinh quốc, Liêu chúa nói: “Ta biết; chỉ là đứa phóng đãng, sao có thể dùng được?” Tư Ôn nói: “Bề ngoài tuy phóng đãng, bên trong có thứ chưa thể lường.” Bèn triệu đến hỏi về thời chính, ông ta chỉ trích thẳng thắn, Liêu chúa rất coi trọng, rồi lệnh tiết chế chư quân mặt tây nam, cứu viện Hà Đông. Khi ấy Nam viện Đại vương Da Luật Tháp Nhĩ Gia (耶律塔爾加) kiêm Chính sự lệnh, cáo lão, lấy Sắc Trân thay.

Liêu Am Tát Nga nghe Liêu chúa lên ngôi, rất sợ, trốn vào Sa Đà. Liêu chúa cho rằng Y Lặc Hy Ba Nặc Mục Cổn (伊勒希巴訥穆袞) ngầm theo Am Tát Nga, bèn giết ông ta. Rồi triệu Am Tát Nga về, tha tội.

Hoàng đế đóng quân ở Lộ châu cả thảy 18 ngày, bắt được mật thám Bắc Hán, hỏi, đáp rằng: “Dân trong thành chịu độc hại đã lâu, ngày đêm trông mong xa giá, chỉ hận là chậm mà thôi.” Hoàng đế cười, ban áo quần rồi thả. Ngày Nhâm Thìn, rời Lộ châu; ngày Mậu Tuất, đến Thái Nguyên; ngày Canh Tý, duyệt binh ở phía nam thành, bắt đầu lệnh xây Trường liên thành. Ngày Tân Sửu, đến sông Phần, làm cầu mới. Lấy Binh bộ viên ngoại lang, Tri chế cáo Lư Đa Tốn làm Tri Thái Nguyên hành phủ sự.

Ngày Nhâm Dần, sai sứ phát mấy vạn dân các huyện Thái Nguyên đến dưới thành.

Ngày Quý Mão, Bắc Hán Hiến châu phán quan Sử Chiêu Văn (史昭文) đem thành châu đến hàng, liền lệnh Chiêu Văn làm Thứ sử.

Ngày Ất Tị, Hoàng đế đến phía đông nam thành, lệnh đắp Trường đê chặn nước sông Phần. Trước đó có người muốn tăng binh công thành, Tả Thần Vũ thống quân Trần Thừa Chiêu (陳承昭) tiến lên nói: “Bệ hạ tự có mấy nghìn vạn quân ở bên cạnh, sao không dùng?” Hoàng đế chưa hiểu, Thừa Chiêu dùng roi ngựa chỉ sông Phần, Hoàng đế cười lớn, bèn sai Thừa Chiêu đốc suất việc ấy. Ngày Bính Ngọ, tháo nước suối Tấn Từ cho chảy vào thành.

Ngày Đinh Mùi, lệnh Lý Kế Huân đóng quân ở phía nam thành, Triệu Tán đóng ở phía tây, Tào Bân đóng ở phía bắc, Đảng Tiến đóng ở phía đông, lập bốn trại để ép sát. Người Bắc Hán nhân lúc tối tăm bất ngờ xông ra cửa, lén đánh trại phía tây, Triệu Tán dẫn quân giao chiến, tên nỏ xuyên chân Tán, ông ta không lui. Khi ấy Đảng Tiến sai Đô giám Đông trại là Lý Khiêm Phổ (李謙溥) đốn gỗ ở Tây Sơn để cung cấp cho quân, Khiêm Phổ nghe tiếng trống, liền dẫn quân dưới quyền đến cứu, người Bắc Hán mới lui. Hoàng đế vội đến nơi giao chiến, lấy làm lạ vì người đến cứu không phải tinh binh, hỏi ra thì là Khiêm Phổ, rất vui. Lưu Kế Nghiệp lại đem mấy trăm kỵ binh đột kích Đông trại, Đảng Tiến tự mình đuổi theo Kế Nghiệp, có mấy người dưới trướng đi theo, Kế Nghiệp chạy trốn, nấp trong hào, quân Bắc Hán ra cứu, Kế Nghiệp theo dây leo vào thành, thoát nạn.

Nam Đường Hữu Bộc xạ, Phán tỉnh sự Du Giản Ngôn (遊簡言) thân tự ghi chép, đốc trách việc chậm trễ, quan liêu đều sợ ông ta; nhưng mờ tối về đại thể, không được sĩ đại phu coi trọng. Nhiều lần lấy cớ bệnh xin từ chức, Nam Đường chúa không cho. Tháng ấy, lệnh Giản Ngôn kiêm Môn hạ Thị lang, Bình chương sự.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Mậu Thân mồng 1, Hoàng đế đến phía đông thành xem đắp đê.

Ngày Tân Hợi, sai Thái châu Thứ sử Tôn Vạn Tiến (孫萬進) lĩnh mấy nghìn quân vây Phần châu.

Ngày Nhâm Tý, Hoàng đế lại đến phía đông thành, ban áo theo mùa cho quần thần và chư quân, yến tiệc các quan theo hầu.

Ban đầu, Địch châu Phòng ngự sứ Hà Kế Quân (何繼筠) làm Thạch Lĩnh quan bộ thự, đóng quân ở Dương Khúc. Hoàng đế nghe tin quân Liêu chia đường đến cứu Bắc Hán, một đạo trong đó vào từ Thạch Lĩnh quan, bèn trạm cấp triệu Kế Quân đến hành tại, trao cho phương lược, lại cấp mấy nghìn tinh binh, sai đi chặn đánh, lại bảo Kế Quân: “Ngày mai giờ Ngọ, đợi khanh báo thắng trận đến!” Khi ấy đã giữa mùa nóng, Hoàng đế lệnh Thái quan bày nước vừng, bột cho Kế Quân, ăn xong, từ biệt mà đi, giao chiến ở phía bắc huyện Dương Khúc, đại phá quân Liêu, bắt Thứ sử Vũ châu là Vương Nghiêm Phù (王彥符), chém hơn 1.000 thủ cấp. Ngày Kỷ Mùi, Kế Quân sai con là Thừa Duệ (承睿) đến dâng báo thắng. Thừa Duệ chưa đến, Hoàng đế lên Bắc đài chờ, thấy một kỵ binh từ phía bắc đến, sai người ra hỏi, thì là Thừa Duệ. Bắc Hán ngầm trông cậy vào viện binh Liêu, thành lâu ngày không hạ được, Hoàng đế đem thủ cấp dâng nộp ra cho họ xem, người trong thành mất hết nhuệ khí.

Liêu chúa xét Mục Tông bạo ngược, chăm lo thi hành khoan chính. Triệu vương Hỷ Cổn (喜袞) bị giam lâu trong ngục, nghe tin, tự tháo xiềng xích mà vào chầu. Liêu chúa giận nói: “Ngươi là tội nhân, sao được rời khỏi nơi giam!” Lại bắt giam. Sau đó thân xét tù nhân, đều triệu đến mà tha.

Tháng ấy, tiến phong Thái Bình vương Am Tát Nga làm Tề vương, đổi phong Hỷ Cổn làm Tống vương, phong Long Tiên (隆先) làm Bình vương, Thiểu làm Ngô vương, Đạo Ẩn làm Thục vương, Tất Nhiếp làm Việt vương, Dị Lý làm Ký vương, Uyển làm Vệ vương. Ban đầu, em Liêu chúa là Chất Mục (質睦) tính nhanh nhẹn, thông cả chữ Khiết Đan, chữ Hán, biết làm thơ, cuối đời Mục Tông, Chất Mục tư thông với cung nhân, Mục Tông giận, đánh roi mấy trăm, đâm mù một mắt rồi thiến, giam ngục, sắp đem ra chợ xử tử. Liêu chúa lên ngôi, liền tha, ban cho cung nhân mà ông ta tư thông, phong làm Ninh vương. Chẳng bao lâu, lấy Long Tiên kiêm Chính sự lệnh, lưu thủ Đông Kinh, Đạo Ẩn lưu thủ Thượng Kinh. Long Tiên, Đạo Ẩn, Thiểu đều là em Thế Tông.

Tháng 5, ngày Mậu Dần, Liêu chia quân từ Định châu đến xâm lấn, Hàn Trọng Vân bày trận ở Gia Sơn chờ địch. Người Liêu thấy cờ xí, rất kinh hãi, muốn chạy, Trọng Vân vội đánh, đại phá quân chúng. Ngày Quý Mùi, sai sứ đến báo thắng, Hoàng đế rất vui, thân viết chiếu khen ngợi.

Ngày Giáp Thân, Hoàng đế đến phía bắc thành, dẫn nước sông Phần vào Trường đê mới, cho chảy vào thành. Ngày Mậu Tý, đến phía đông nam thành, lệnh thủy quân cưỡi thuyền nhỏ, chở nỏ mạnh tiến công thành, Nội ngoại Mã bộ quân Đô quân đầu Vương Đình Nghĩa (王廷義) tự tay đánh trống, cởi mũ giáp chọn người lên trước, bị tên bay trúng đầu mà ngã. Ngày Canh Dần, Đình Nghĩa chết. Ngày Tân Mão, Điện tiền Đô chỉ huy sứ, Đô ngự hậu Thạch Hán Khanh (石漢卿) cũng bị tên bay trúng, chết đuối. Ngày Quý Tị, truy phong Đình Nghĩa làm Kiến Vũ tiết độ sứ, Hán Khanh làm Viên châu Phòng ngự sứ.

Ngày Đinh Dậu, Hoàng đế đến phía tây thành, lệnh chư quân công kích cửa tây.

Sai một cánh quân vây Lam châu, Triệu Hoằng Nguy (趙宏危) bị bức bách, xin hàng. Ngày Mậu Tuất, Hoằng đến yết kiến, vì tránh húy Tuyên Tổ, ban tên là Văn Độ (文度).

Ngày Kỷ Hợi, lấy Hữu Thiên Ngưu vệ Tướng quân Chu Thừa Cẩn (周承瑨) làm Lam châu Đoàn luyện sứ.

Ngày Canh Tý, yến Triệu Văn Độ ở hành cung, sau phong làm Trùng Quốc tiết độ sứ.

Thái Nguyên bị vây gấp, Quách Vô Vi mưu tính trốn chạy, bèn xin tự mình đem quân xuất kích. Bắc Hán chúa tin, chọn 1.000 tinh binh, lệnh Lưu Kế Nghiệp, Quách Thủ Bân (郭守斌) làm phó, Bắc Hán chúa lên cửa Diên Hạ tiễn, lại chờ ông ta trở về. Gặp đêm mưa tối, Vô Vi đi đến Bắc Kiều, dừng ngựa gọi các tướng, Kế Nghiệp vì ngựa đau chân, trước thu quân dưới quyền vào thành, Thủ Bân lạc đường, gọi không được; Vô Vi không thể một mình tiến lên, bèn cùng mấy nghìn quân dưới trướng cũng quay về.

Hoàng đế thấy khí nóng đang thịnh, rất nghĩ đến nỗi khổ xiềng xích, bèn chiếu: “Các lệnh trưởng ở chư châu Tây Kinh phải đốc thúc lại thuộc 5 ngày một lần đến cửa ngục, kiểm tra quét dọn, rửa sạch cùm gông, kẻ bị giam lâu thì cho ăn uống, kẻ bệnh thì cho thuốc, tội nhẹ, giam nhỏ thì lập tức xử quyết, tha đi.” Từ đó mỗi năm giữa mùa hạ, tất phải nhắc lại chiếu này để răn quan lại.

Liêu lập Quý phi Tiêu thị (蕭氏) làm Hoàng hậu. Hậu là con gái Bắc phủ Tể tướng Tư Ôn, sớm thông minh. Tư Ôn từng xem các con gái quét dọn, chỉ có Hậu là sạch sẽ, vui nói: “Con gái này tất sẽ thành gia.” Đến khi lập làm Hậu, có thể tham dự quyết đoán triều chính, Liêu chúa kính trọng.

Tháng nhuận, ngày Mậu Thân, thành nam Thái Nguyên bị sông Phần xói lở, nước khoét vỡ ngoại thành, chảy vào trong thành, người trong thành rất kinh hoảng. Hoàng đế đến Trường đê xem. Cửa nước dần rộng, người Bắc Hán men theo thành dựng rào chắn, bị quân Tống bắn, rào không dựng được. Chốc lát có đống cỏ khô từ trong thành trôi ra, thẳng đến cửa nước mà dừng, quân Tống bắn nỏ không xuyên, người Bắc Hán nhân đó thi công, cửa nước liền bị lấp.

Quách Vô Vi lại khuyên Bắc Hán chúa ra hàng, Bắc Hán chúa không nghe. Hoạn quan Vệ Đức Quý (衛德貴) hết lời nói rõ tội phản của Vô Vi đã rõ ràng, không thể tha, Bắc Hán chúa giết ông ta để răn, trong thành dần yên.

Người Bắc Hán bỗng từ Trường liên thành phía tây lén ra, định đốt các dụng cụ công chiến, quân Tống đánh đuổi, chém hơn 10.000 thủ cấp. Nửa đêm, bỗng có tiếng hô ngoài tường: “Bắc Hán chúa hàng.” Hoàng đế lệnh vệ sĩ mặc giáp vây quanh, định mở cửa tường, Bát tác sứ Triệu Toại (趙璲) nói: “Nhận hàng cũng như nhận địch, sao có thể nửa đêm khinh suất nhận lời!” Hoàng đế sai hỏi, quả là mật thám giả mạo.

Ngày Kỷ Dậu, Hoàng đế đến phía nam thành, lệnh thủy quân cưỡi thuyền nhẹ đốt cửa thành.

Hữu Bộc xạ Ngụy Nhân Phổ (魏仁浦) mất. Trước đó Nhân Phổ hầu yến xuân, nhân tiến lên chúc thọ, Hoàng đế kín bảo: “Trẫm muốn thân chinh Thái Nguyên, thế nào?” Nhân Phổ nói: “Muốn nhanh thì không đạt, chỉ mong bệ hạ suy xét kỹ.” Hoàng đế khen lời đối. Yến xong, đến nhà riêng, ban rượu thượng tôn 10 thạch, cừu yến 100 con. Sau đó theo giá xuất chinh, giữa đường mắc bệnh, quay về, mất ở dịch Lương Hầu. Truy tặng Thị trung, thụy Tuyên Ý.

Thái Nguyên thành lâu ngày không hạ được, Đông, Tây ban Đô chỉ huy sứ Lý Hoài Trung (李懷忠) dẫn quân công thành, giao chiến bất lợi, trúng tên bay, suýt chết. Điện tiền chỉ huy sứ, Đô ngự hậu Triệu Đình Hàn (趙廷翰) dẫn chư ban vệ sĩ dập đầu, xin xung phong lên trước, gấp đánh, tận hết sức. Hoàng đế nói: “Các ngươi đều là người ta huấn luyện, không ai không một địch trăm, là để phòng bị nơi khuỷu tay, cùng ta đồng vinh nhục. Ta thà không được Thái Nguyên, sao nỡ xua các ngươi xông vào mũi nhọn, bước vào chỗ chết chắc!” Mọi người đều cảm động rơi lệ.

Khi ấy đại quân đóng ở giữa cánh đồng Cảm Thảo, gặp mưa nóng, nhiều người mắc bệnh bụng. Lại gặp Liêu sai Bắc viện Đại vương Ô Trân (烏珍) từ Bạch Mã đem tinh binh đêm ra, theo đường tắt chạy gấp, đóng ở phía tây Thái Nguyên, đánh trống, đốt lửa, Bắc Hán nhờ đó tự cố thủ. Thái thường bác sĩ Lý Quang Tán (李光贊) tâu với Hoàng đế: “Bệ hạ đánh đâu thắng đó, mưu không gì không hay, các nước dựa hiểm, tiếm xưng đế vương, xưa là láng giềng Trung Quốc, nay là thần tử của bệ hạ. Một Tấn Dương nhỏ bé, há cần thân chinh! Nhọc nhằn quân dân, chuốc oán bách tính, được nó chưa đủ là nhiều, mất nó chưa đủ là nhục. Quốc gia quý ở yên tĩnh, thiên đạo ghét đầy tràn, chỉ lo các nước dựa hiểm trước đây, nghe việc này, sẽ vét hết tài khố, tận sức sinh dân, lòng trung sôi nổi, mỗi nước đều có ý dòm ngó. Sách nói: ‘Láng giềng mạnh là vua yếu.’ Sao bằng quay xa giá về kinh, đóng quân ở Thượng Đảng? Để mùa hạ lấy lúa mạch của chúng, mùa thu lấy lúa thóc của chúng, vừa giảm nhẹ sưu dịch, lại là kế quét sạch. Xin bệ hạ xét.” Hoàng đế xem tấu, rất vui, lại hỏi Triệu Phổ, Phổ cũng cho là phải, bèn sai Phổ triệu Quang Tán đến an ủi.

Ngày Quý Sửu, dời đóng ở phía nam núi Hãn Sơn phía đông thành, bắt đầu bàn việc rút quân.

Ngày Kỷ Mùi, dời hơn 10.000 hộ dân Thái Nguyên đến Sơn Đông, Hà Nam, cấp thóc; ngày Canh Thân, chia sai 17 sứ giả phát cấm quân hộ tống họ, nhân đó đóng ở các châu Trấn, Lộ và những nơi khác, dùng kế của người Giáng là Tiết Hóa Quang (薛化光). Hóa Quang nói: “Đốn cây thì trước chặt cành lá, sau mới lấy gốc rễ. Nay Hà Đông ngoài có viện binh Khiết Đan, trong có hộ dân nộp thuế, e rằng trong vài năm chưa thể hạ. Nên ở phía bắc Thái Nguyên là núi Thạch Lĩnh, và phía tây núi ở cõi Hà Bắc, phía đông làng Tĩnh Dương, trấn Lạc Bình, ải Hoàng Trạch, xã Bách Tỉnh, mỗi nơi xây thành hào, chặn viện binh Khiết Đan, dời hộ dân trong cõi ấy, cho họ ruộng rỗi ở Tây Kinh, Tương, Đặng, Đường, Nhữ châu, để họ tự cày cấy, cắt đứt nguồn cung cấp, như thế, không mấy năm, tự có thể bình định.” Hoàng đế khen và nghe theo.

Ngày Nhâm Tuất, xa giá rời Thái Nguyên. Khi ấy có 100 quân sĩ bị rơi vào tay địch, Hoàng đế sai Phó chỉ huy sứ Tiêu hùng là Khổng Thủ Chính (孔守正) lĩnh kỵ quân đi cứu, Thủ Chính liều đánh, cứu được hết đem về.

Bắc Hán chúa kê biên quân lương bị bỏ lại, được 300.000 thạch thóc, mấy vạn cân trà, lụa, nhờ đó mới tạm cứu được cảnh bại hoại kiệt quệ.

Ngày Mậu Thìn, đến Trấn châu, triệu đạo sĩ Tô Trừng (蘇澄) vào yết kiến, bảo: “Trẫm dựng Kiến Long quán, muốn tìm người có đạo ở, tiên sinh có ý chăng?” Đáp: “Kinh sư ồn ào, không phải nơi an.” Ngày Nhâm Thân, đến chỗ ông ta ở, bảo: “Tiên sinh tuổi hơn 80 mà dung mạo rất trẻ, sao không lấy thuật dưỡng sinh dạy trẫm!” Đáp: “Thần dưỡng sinh, không ngoài tinh tư luyện khí; Hoàng đế dưỡng sinh thì khác. ‘Lão Tử’ nói: ‘Ta vô vi mà dân tự hóa, ta vô dục mà dân tự chính.’ Vô vi vô dục, ngưng thần ở Thái hòa, xưa Hoàng Đế, Đường Nghiêu hưởng nước lâu dài, dùng đạo ấy.” Hoàng đế vui, ban thưởng hậu.

Hữu ty nước Liêu xin lấy ngày sinh của Liêu chúa làm Thiên Thanh tiết, được chuẩn.

Tháng ấy, Nam Đường Hữu Bộc xạ kiêm Môn hạ Thị lang, Bình chương sự Du Giản Ngôn mất.

Tháng 6, ngày Kỷ Mão, lấy Nghi loan sứ, Tri Dịch châu Hạ Duy Trung (賀惟忠) làm Thứ sử Dịch châu, kiêm Dịch, Kỳ, Định và các châu Tuần kiểm sứ. Duy Trung giữ biên giới nhiều lần có công, nên thăng chức mà không đổi nhiệm vụ.

Ngày Canh Thìn, chiếu: “Nơi xa giá đi qua, dân không phải nộp thuế vụ mùa năm nay.”

Ngày Quý Mùi, lấy Hữu Bổ khuyết Vương Minh (王明) người Đại Danh làm Kinh Hồ Chuyển vận sứ, để dùng binh ở Lĩnh Nam.

Ngày Kỷ Sửu, đến Hoạt châu.

Nam Đường chúa sai em là Tòng Khiêm (從謙) sang triều cống. Ngày Tân Mão, Hoàng đế tiếp kiến ông ta tại huyện Tạc Thành. Viên ngoại lang bộ Thủy nhà Đường là Tra Nguyên Phương (查元方) phụ trách các bản tấu, bản sớ của Tòng Khiêm. Hoàng đế lệnh cho Tri chế cáo Lư Đa Tốn (盧多遜) mở tiệc yến đãi Tòng Khiêm tại quán dịch. Trong lúc đánh cờ, Đa Tốn nói với Nguyên Phương: “Giang Nam rốt cuộc thế nào?” Nguyên Phương thu tay áo, đáp: “Giang Nam thờ việc Đại triều đã hơn 10 năm, hết sức giữ lễ vua tôi. Ngoài ra tôi không biết gì khác.” Đa Tốn hổ thẹn, tạ lỗi, nói: “Ai bảo Giang Nam không có người!” Nguyên Phương là con của Văn Huy (文徽).

Ngày Quý Tị, xa giá từ Thái Nguyên trở về, đặc xá giảm tội cho tù nhân bị giam ở Kinh thành.

Tháng ấy, Bắc Hán chúa phá đê nước dưới chân thành, dẫn nước đổ vào đầm Đài Đài (臺駘澤). Nước đã rút, mà tường thành phần nhiều sụp đổ. Sứ giả nước Liêu là Hàn Tri Phạm (韓知範) vẫn còn ở Thái Nguyên, than rằng: “Quân Tống dẫn nước ngập thành, chỉ biết một mà không biết hai. Nếu biết trước cho ngập rồi sau mới tháo cạn, thì người ở trong thành chẳng còn ai sống sót nữa.”

Lúc bấy giờ, Nam viện đại vương nước Liêu là Gia Luật Sắc Trân (耶律色珍) đem quân cứu viện đóng trại dưới chân thành Thái Nguyên. Lưu Kế Nghiệp (劉繼業) nói với Bắc Hán chúa: “Khiết Đan tham lợi bỏ tín nghĩa, ngày sau ắt phá nước ta. Nay quân cứu viện kiêu căng, không phòng bị, xin được tập kích bắt lấy chúng, thu được mấy vạn con ngựa, nhân đó dựa vào đất Hà Đông mà trở về Trung Quốc, khiến người đất Tấn khỏi cảnh lầm than, bệ hạ được hưởng phú quý lâu dài, chẳng phải là tốt sao!” Bắc Hán chúa không nghe. Vài ngày sau, Sắc Trân rút về phương Bắc, [Bắc Hán chúa] tặng biếu rất hậu.

Về sau, Bắc Hán chúa lại dâng tơ lụa, tiền của cho Bắc viện đại vương Ô Trân (烏珍). Ô Trân tâu lên, Liêu chúa ra lệnh nhận lấy.