Bước tới nội dung

Tục tư trị thông giám/Quyển 50

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tục Tư trị thông giám, quyển 50  (2025)  của Tất Nguyên, do Cơ Như Tuyết dịch
Tống kỷ 50

Từ tháng 4 năm Mậu Tí (1048) đến tháng Chạp năm Kỉ Sửu (1049), Nhân Tông Khánh Lịch năm thứ 8 đến Hoàng Hựu năm thứ 1, gồm 1 năm có dư

Năm Khánh Lịch thứ 8 (Liêu, Trọng Hy năm thứ 17), Công nguyên năm 1048

[sửa]

Mùa hạ, tháng 4, ngày Kỷ Tị là mồng 1, phong con của Thác Bạt Nãng Tiêu là Lượng Tộ làm Chúa nước Hạ, lấy Viên ngoại lang bộ Lễ Nhậm Chuyên (任顓) cùng những người khác làm Sách lễ sứ. Lượng Tộ mới chào đời được 3 tháng, các tướng chưa hòa thuận. Người bàn luận cho rằng có thể nhân lúc này, dùng chức Tiết độ sứ mà sai khiến các tướng, khiến mỗi người thống lĩnh bộ chúng của họ, chia nhỏ thế lực của họ, mới mong dứt được hậu hoạn. Phán Diên châu Trình Lâm (程琳) nói: "Vui mừng trước cái tang của người ta, không phải là cách để tỏ đức, chi bằng nhân đó mà vỗ về họ." Tri Khánh châu Tôn Miện (孫沔) cũng nói thay người có tang không phải là thể thống của Trung Quốc. Hoàng đế nghe theo lời họ, bèn giục hữu ty thi hành lễ sách phong. Tuy vậy, người bàn luận phần nhiều tiếc là bỏ lỡ cơ hội.

Tham tri chính sự Đinh Độ (丁度) nhiều lần xin bãi chức, Ngự sử Hà Đàm (何郯) lại nói: "Độ ở hàng Tam sự, đến nay đã nhiều năm, trên thì không có gì làm ích cho quốc thể, dưới thì không thể làm cho lòng người phục, cúi xin quyết đoán dứt khoát, dùng lễ cho ông ta lui về." Ngày Tân Mùi, Độ bị bãi, làm Tử Thần điện học sĩ kiêm Thâu lâm thị độc học sĩ. Lấy Đoan Minh điện học sĩ, Quyền Tam ty sứ Minh Hạo (明鎬) làm Tham tri chính sự. Văn Nhan Bác (文顏博) từ Bối châu vào làm Tể tướng, nhiều lần tiến cử công lao của Hạo, nên Độ bị bãi mà Hạo thay ông ta.

Ngày Giáp Tuất, lấy Tri Vĩnh Hưng quân Diệp Thanh Thần (葉清臣) làm Hàn lâm học sĩ, Quyền Tam ty sứ.

Ngày Bính Tý, chiếu: "Các điều lệ cũ của khoa trường đều do tiên triều định ra, nên nhất loạt không được thay đổi." Lúc ấy, Cống viện bộ Lễ tâu rằng: "Năm thứ 4, Tống Kỳ (宋祁) cùng những người khác định ra phép mới cho việc cống cử, gặp năm sau chiếu ban xuống, tạm cho đợi sau khoa sau mới thi hành. Nay kỳ thi mùa thu đã có ngày, theo phép mới, các châu quân phát giải, chỉ lệnh quan thuộc bản xứ bảo đảm rõ hạnh thực, còn việc phong mị, dự lục, thì nhất loạt bãi bỏ. Thầm thấy các châu ngoài giải tống cử nhân, từ trước khi phong mị, dự lục, phần nhiều dựa vào hư danh, dù quan khảo thí không có việc xin xỏ, cũng chỉ lấy những người bản châu từng được tiến cử cũ, còn người mới thì trăm người không lấy được một. Sau khi phong mị, khảo quan không thấy tên họ, tất phải thực sự khảo xét văn nghệ, mới hơi hợp với công bằng. Lại nữa, phép mới, Tiến sĩ trước hết thi sách 3 đạo, kế đến thi luận, rồi thi thơ phú; trước xét sách luận để định ở lại hay loại bỏ, sau đó mới cùng với thơ phú định cao thấp. Nhưng cử nhân mỗi lần đến Thượng thư tỉnh, không dưới 5–7 nghìn người, đến khi lâm hiên phúc khảo, chỉ đến vài trăm người, là vì thơ phú do lỗi thanh vận xen tạp, dễ lấy đó mà quyết định đi ở; nếu chuyên lấy sách luận, ắt khó phân định thăng giáng. Bởi thơ phú tuy mang tiếng là khéo nhỏ, nhưng phải chỉ rõ đề mục, nêu việc, nếu ghi nhớ, dẫn chứng đầy đủ, thì lời lẽ tự nhiên tinh tế. Sách luận tuy có câu hỏi, nhưng trong phần trình bày đối đáp, phần nhiều xen tạp thuyết khác; nếu đối đáp không đủ 5 thông mà đều đánh trượt, thì số người trúng không đủ với số giải định sẵn; nếu thu cả tinh lẫn thô, thì kẻ tiến cử bừa bãi quá nhiều. Vì vậy từ tổ tông đến nay, chưa thể vội vàng đổi phép ấy. Lại nghe cử nhân nêu những điều nghi ngờ trong Kinh sử để ra đề sách luận, có đến vài nghìn điều, gọi là ‘Kinh sử chất nghi’. Còn như thời vụ, cũng sao chép lấy điều cốt yếu, sự phù phiếm giả dối càng nhiều, khó mà khảo xét. Lại, phép cũ lấy lỗi thanh vận, đối ngẫu trong từ phú mà lập làm phép khảo thí, nay đặc biệt cho phép phỏng theo thể phú đời Đường, và phú không hạn số liên, không hạn số chữ. Văn chương xưa nay, cốt phải nắm lấy cương yếu, xưa chưa chắc đều đúng, nay chưa chắc đều sai. Từng xem thơ phú thi cử đời Đường, so với văn từ nghệ thuật của những danh sĩ được chọn đời bản triều, thực cũng khéo vụng ngang nhau. Nho sĩ tầm thường thì chuộng xưa chê nay, không phải là bàn luận thông suốt. Từ năm thứ 2 đến nay, sinh viên Quốc tử giám, thơ phú thì lấy phóng túng không theo thể thức làm cao, sách luận thì lấy lời lẽ công kích, phóng túng làm hay. Không những dần dần làm hỏng hậu học, thực sợ rằng sau này khoa thi ở tỉnh, số người hợp cách được bao nhiêu! Cúi mong từ tổ tông đến nay, người hiền tài không ít, việc khảo xét văn nghệ vốn đã có quy trình, không cần thay đổi, để nuôi dưỡng thói phù bạc, xin đều theo phép cũ." Vì thế mới ban chiếu này. Trước đó, chiếu lệnh các châu ngoài phát giải đến tỉnh, sai quan phúc khảo. Sau bèn bãi bỏ, là vì lo do đó mà có thể dẫn đến việc chèn ép, gạt bỏ hàn sĩ.

Nước Liêu lại lấy Vũ Định quân Tiết độ sứ Đỗ Phòng (杜防) làm Nam phủ Tể tướng.

Ngày Bính Tý, nước Cao Ly dâng cống nước Liêu.

Ngày Tân Mão, đặt chức An phủ sứ 4 lộ Hà Bắc. Trước đó, Giả Xương Triều (賈昌朝) làm Phán Đại Danh, đã kiêm chức Hà Bắc An phủ sứ. Đến đây, lấy Tư chính điện học sĩ, Cấp sự trung Hàn Kỳ (韓琦) làm Tri Định châu, Thị lang bộ Lễ Vương Củng Thần (王拱辰) làm Tri Doanh châu, Hữu gián nghị đại phu Ngư Chu Tuần (魚周詢) làm Tri Thành Đức quân, đều kiêm chức An phủ sứ bản lộ.

Ngự sử Hà Đàm nói tên "Tử Thần" không thể dùng làm tên quan chức. Tháng 5, ngày Ất Tị, chiếu đổi điện Cấp Ân cũ làm điện Quán Văn, lại đổi Tử Thần điện học sĩ làm Quán Văn điện học sĩ, thứ bậc trong ban vẫn như phép cũ.

Ngày Ất Mão, Tri Gián viện Tống Hỉ (宋禧) ra làm Chuyển vận sứ Giang Nam Đông lộ; ngày Kỷ Mùi, đổi sang Kinh Hồ Bắc lộ. Hỉ tuy bị bãi chức Gián quan, nhưng vẫn được làm Giám tư, người bàn luận chê là không phải.

Ngự sử Hà Đàm tâu: "Khu mật sứ, Bình chương sự Hạ Tố (夏竦), học thì sai mà rộng, hạnh thì giả dối mà cứng; có cái chất mềm yếu của kẻ tiểu nhân khéo chiều chuộng, không có cái mong đợi cương trực của bậc đại thần; góp nhặt của cải, buôn bán để thỏa lòng tham lam, kết bè với quyền thần được sủng ái để mưu cầu tiến thân. Gần đây vệ binh làm loạn, xông vào cung khuyết, phàm những người giữ chức trách đều sơ suất trong việc phòng bị, đáng phải xử đại hình, mà Tố chỉ vì nội thần Dương Hoài Mẫn (楊懷敏) quản Hoàng thành ty vốn có giao du với mình, nên che đậy cho nhau, chỉ muốn tư tình mà ban ơn cho nhau, chưa từng công luận tội của ông ta. Hàng nghìn hàng trăm đồng liêu, đều cho rằng Hoài Mẫn sơ suất trong việc xét biết giặc loạn, chỉ vì trách nhiệm chức quan nên tội nhỏ; còn Hạ Tố nhiều bề lưu luyến, không gắng giữ tiết thần tử, tội ấy lớn. Nay Hoài Mẫn bị giáng mà Tố một mình được lưu lại, lòng trong ngoài không ai là không phẫn uất. Cúi mong bệ hạ cùng mọi người vĩnh viễn bỏ ông ta, để tỏ cho người thấy rằng không tư riêng." Ngày Tân Dậu, Tố bị bãi chức Khu mật sứ, làm Phán Hà Nam phủ.

Người bàn luận đã nhiều lần luận tội Tố gian tà, gặp lúc ở kinh sư trong cùng một ngày, trời không mây mà sấm động 5 lần, Hoàng đế đang ngồi ở tiện điện, vội triệu Hàn lâm học sĩ. Chốc lát, Trương Phương Bình (張方平) đến, Hoàng đế bảo rằng: "Hạ Tố gian tà, khiến đến nỗi thiên biến như thế này, hãy mau thảo chiếu đuổi ông ta đi!" Phương Bình xin soạn lời bác bỏ, ý Hoàng đế liền dịu lại, nói: "Tạm lấy cớ san đều nhọc nhàn mà bổ nhiệm ông ta."

Hà Đàm lại nói: "Nghe Tố xin một chức danh điện học sĩ, không biết liêm sỉ, liều lĩnh dâng sớ xin, bệ hạ há nên cho phép ông ta tự tiện, lưu lại trong triều đình! Xin đừng đổi mệnh lệnh trước, lại truyền lệnh thúc giục ông ta đi nhậm chức." Hoàng đế nghe theo.

Ngày hôm ấy, Tham tri chính sự Tống Tường (宋庠) được gia Kiểm hiệu Thái phó, sung Khu mật sứ. Ngày Nhâm Tuất, lấy Khu mật phó sứ Bàng Tịch (龐籍) làm Tham tri chính sự.

Tháng 6, ngày Mậu Thìn mồng 1, chiếu lệnh các cận thần tiến cử những người văn võ có tài, có thể làm tướng soái.

Ngày Quý Dậu, sông vỡ ở đê Thương Hồ thuộc Chiết châu.

Ngày Canh Thìn, người Chuẩn Bố dâng 2 vạn con ngựa và lạc đà cho nước Liêu.

Ngày Nhâm Ngọ, Thái tử Thái sư trí sĩ Từ quốc công Trương Kỳ (張耆) mất, truy tặng Thái sư kiêm Thị trung, thụy Vinh Hi. Kỳ là người trầm trọng kín đáo, có mưu lược, Thái hậu dự chính, ông được sủng ái rất hậu, an nhàn giàu sang hơn 40 năm; những nơi ông từng trấn nhậm, dân đều bị ông làm cho rối loạn.

Ngày Quý Tị, Tham tri chính sự Minh Hạo (明鎬) bị nhọt độc phát ở lưng, Hoàng đế thân đến thăm. Ngày Giáp Ngọ, ông mất, truy tặng Thượng thư bộ Lễ, thụy Văn Liệt. Hạo đoan chính, cao gầy, ít nói, đến đâu cũng yên tĩnh, có phong độ, mà gặp việc thì quyết đoán, được đời tôn trọng.

Ngày Ất Mùi, chiếu: "Quan ở quán các phải thân làm một nhiệm vụ coi dân, rồi sau mới cho vào Tỉnh, Phủ và các chức Chuyển vận, Đề điểm hình ngục."

Ngày Bính Thân, Tư không trí sĩ Chương Đắc Tượng (章得象) mất. Theo lệ cũ, Hoàng đế không thân đến viếng quan trí sĩ, nhưng Hoàng đế đặc biệt đến viếng. Truy tặng Thái úy kiêm Thị trung, thụy Văn Hiến.

Trong dân gian, kẻ đúc trộm rất nhiều, chữ trên tiền tệ bị rối loạn, vật giá tăng vọt, công tư đều khổ vì thế. Bấy giờ, Đô chuyển vận sứ Hà Đông Trương Khuê (張奎) tâu: "Ở 3 châu Tấn, Trạch, Thạch và Vệ Thắng quân, mỗi ngày đúc tiền sắt nhỏ, chỉ lưu hành ở Hà Đông." Tiền sắt đã lưu hành, mà kẻ đúc trộm được lợi 6 phần trong 10, tiền nhẹ mà hàng hóa nặng, người bàn luận đều cho là không tiện. Tri Tinh châu Trịnh Tiển (鄭戩) xin tiền sắt Hà Đông tạm lấy 2 đồng đổi 1 đồng tiền đồng, lưu hành 1 năm, rồi lấy 3 đổi 1 hoặc 5 đổi 1; bãi lò quan đúc mỗi ngày, chỉ lưu hành tiền cũ. Tri Trạch châu Lý Chiêu Cấu (李昭遘) cũng nói: "Dân Hà Đông đốt than đá, nhà nào cũng có lò bễ, kẻ đúc trộm không thể hỏi hết được. Mà người Khiết Đan cũng có thể đúc tiền sắt, dùng để đổi lấy tiền đồng dọc biên giới rồi mang đi, cái hại càng lớn."

Tháng này, Hàn lâm học sĩ Trương Phương Bình, Tống Kỳ, Ngự sử trung thừa Dương Sát (楊察) cùng Tam ty sứ Diệp Thanh Thần trước dâng bản nghị về tiền ở Thiểm Tây, xin lấy tiền sắt nhỏ 3 đồng đổi 1 đồng tiền đồng, rồi lại xin tiền sắt nhỏ Hà Đông cũng như thế, và bãi các lò do quan đặt, triều đình đều thi hành theo lời họ. Từ đó kẻ gian hơi bớt lợi, nhưng vẫn chưa thể dứt hẳn tiền xấu. Sau đó chiếu lệnh Thương châu bãi đúc tiền đồng thanh hoàng, lại lệnh tiền đồng lớn, tiền sắt lớn ở Thiểm Tây đều 1 đồng đổi 2, kẻ đúc trộm mới dừng. Nhưng lệnh thay đổi nhiều lần, binh dân hao tổn về chi dùng, phần nhiều oán thán, lâu ngày mới ổn định.

Mùa thu, tháng 7, ngày Mậu Tuất, vì Hà Bắc bị lụt, lệnh châu huyện mộ dân đói làm quân.

Ngày Giáp Dần, nước Liêu xét tù, giảm tội chết trong các tội tạp.

Tháng 8, ngày Đinh Sửu, Hữu gián nghị đại phu, Quyền Ngự sử trung thừa Dương Sát, Viên ngoại lang bộ Binh kiêm Thị ngự sử tri tạp sự Trương Biện (張昪) đều bị bãi chức, Sát làm Tri Tín châu, Biện làm Tri Doanh châu. Sát làm Ngự sử trung thừa, luận việc không né tránh. Gặp lúc có chiếu cử Ngự sử, ông dâng lời rằng: "Thuộc quan của Đài phải hầu cận trong điện, tuần tra xét hỏi điều bất pháp, tất phải được những bề tôi lương trực, thông hiểu trị loạn xưa nay. Nay phép cử quá chặt, vì lỗi nhỏ mà gạt bỏ không dùng, e rằng những người anh vĩ có thể bị bỏ sót." Hà Đàm cho là lời luận việc không đúng sự thực, Trung thư hỏi rõ tình trạng, Sát lại nói: "Ngự sử, theo lệ cũ được phép nghe phong thanh, nay vì điều nghi ngờ mà vội bị tra hỏi, thần e rằng quan Đài, Gián sợ tội mà im lặng, không phải là cách để mở rộng đường ngôn luận." Sát nhiều lần vì lời luận việc mà trái ý Tể tướng Trần Chấp Trung (陳執中), nên bị tội, cùng với Biện đều bị giáng.

Về sau, Giám sát Ngự sử Kiến Dương Trần Húc (陳旭) nhiều lần nói Biện nên ở trong triều, Hoàng đế nói: "Trẫm không phải không biết Biện là người hiền, nhưng lời lẽ không chọn nặng nhẹ." Húc xin biết việc ấy, Hoàng đế nói: "Trước đây luận việc của Trương Nghiêu Tộ (張堯佐), nói rằng: ‘Bệ hạ cần thân khắc kỷ, muốn đạt đến thái bình, sao lại vì một người đàn bà mà làm hỏng việc ấy!’" Húc nói: "Đó là lời trung trực, là điều bề tôi khó làm được." Hoàng đế nói: "Biện lại luận về Dương Hoài Mẫn rằng: ‘Nếu Hoài Mẫn được toại chí, những việc làm sẽ không kém Lưu Kỷ Thuật.’ Sao lại đến nỗi như thế?" Húc nói: "Biện chí ở chỗ trừ bỏ kẻ ác, nếu lời nói không gắt, thì thánh ý không chuyển, cũng không thể trách tội sâu được."

Tri Thiểm châu Ngô Dục (吳育) dâng tấu rằng: "Gần đây truyền rằng Tam ty phán quan Dương Nghi (楊儀) bị hạ ngục, từ Ngự sử đài chuyển tấu đến Đô đình dịch, trói giải qua chợ, muôn mắt kinh hãi. Đến khi nghe án đã xong, thì chỉ bị tội xin xỏ việc thường, không có việc làm trái pháp luật, nhận hối lộ. Lại truyền tội danh đã định, pháp luật không đến mức ấy, mà do đặc chỉ của triều đình, e rằng không hợp với ý ân huệ quy về Hoàng thượng, pháp ở hữu ty. Vả lại, Nghi thân dự triều hành, chức ở quán các, đảm nhiệm việc ở Tỉnh, Phủ, nếu có đại tội, dù gia hình chém giết, cũng đã có hiến chương. Nếu không phải thế, mà một sớm đến nỗi như vậy, khiến sĩ đại phu không chịu nổi sự nhục, dân dưới khinh thường người trên, không phải là cách để nuôi dưỡng liêm sỉ, tỏ ra đôn hậu. Khi Nghi chưa định tội, thần không dám nói. Nay việc đã qua, cũng không có hiềm cứu giải, chỉ xin thánh thần từ nay về sau xét kỹ mọi việc, chớ nhẹ đặt vào ngục do chiếu chỉ. Những án đã trình lên, nếu không phải tình trạng dính líu đến đại gian, thì cứ theo hữu ty luận nghị, không cần ngoài pháp mà gia trọng. Như thế, đủ để yên lòng người, lắng phong tục, nuôi liêm sỉ, chiêu hòa bình, là phúc của thiên hạ vậy."

Ngày Bính Tuất, nước Liêu lại thu thuế tô của hộ nghèo ở Nam Kinh. Ngày Mậu Tý, nước Liêu lấy Điện tiền đô điểm kiểm Da Luật Nghĩ Tiên (耶律義先) làm Hành quân đô bộ thự, lấy Trung Thuận quân Tiết độ sứ Hạ Hành Mỹ (夏行美) làm phó, đi đánh Phú Nỗ Lý (富努裡).

Ngày Kỷ Sửu, vì Hà Bắc, Kinh Đông, Kinh Tây bị thủy tai, bãi yến mùa thu.

Ngày Giáp Ngọ, ngự ở Nhĩ Anh các, đọc sách "Chính yếu".

Tháng này, Điện trung Thị ngự sử Hà Đàm tâu: "Thần trước vào tháng 6 đã dâng tấu luận rằng năm nay tai dị, gây hại rất lớn, Trần Chấp Trung đứng đầu ở tướng vị, thực gánh trách nhiệm ấy, nhân đó nêu chuyện đời Hán lấy sách về tai dị mà bãi miễn Tam công, xin nhân việc Chấp Trung xin lui mà bãi miễn ông ta, để đáp lại ý trời, nhưng chưa được thi hành. Nay mưa dầm liền ngày đêm không dứt, bách tính lo sầu, há chẳng phải do đại thần chuyên quyền, chăm lo bưng bít, âm thịnh lấn dương mà nên ư? Huống chi những việc Chấp Trung làm, phần nhiều không hợp lòng người trong thiên hạ, oán thán đầy tai. Như Hướng Truyền Thức (向傳式) bất tài, nhiều lần bị người chê, không thể giao cho việc trọng yếu, mà Chấp Trung vì tư ân dùng Truyền Thức đến chức Tam ty phó sứ. Lữ Xương Linh (呂昌齡) khúm núm hầu hạ Chấp Trung, Chấp Trung sủng ái, anh em đều làm Tam ty phán quan. Đó đều là những điều thánh ý đã rõ biết, nên Truyền Thức, Xương Linh đều bị bãi chức trọng yếu; còn Chấp Trung thì bỏ qua không hỏi, thần lấy làm chưa yên. Lại nghe Chấp Trung vì quen biết cũ mà khoan giảm tội của nguyên Kinh Đông Chuyển vận sứ Trương Chú (張鑄), không xét tội trạng người cáo Khổng Nghi Ôn (孔宜溫) mưu phản, và vì tư oán mà giáng chức Tiết điểm Khai Phong phủ giới Lý Túc (李肅), lấy tình riêng mà định nặng nhẹ, há phải là chí công? Những việc chuyên quyền phóng túng khác, không thể kể hết. Cúi mong bãi miễn Chấp Trung, để an lòng mong đợi của thiên hạ."

Tháng 9, ngày Mậu Ngọ, chiếu lệnh Tam ty lấy 2 triệu hộc gạo năm nay vận từ Giang, Hoài chuyển cấp cho các châu quân Hà Bắc.

Ngày Kỷ Mùi, Điện trung Thị ngự sử Hà Đàm tâu: "Những năm gần đây, đại thần bị bãi chức ở Lưỡng phủ, liền dâng sớ xin con em được triệu vào thi, cho làm quan ở quán các hoặc cho xuất thân, dùng làm ân lệ. Mong từ nay về sau, quán các không cho thần liêu dâng sớ xin cho con em, ngoài ra nếu có dâng sớ xin và tấu cử triệu vào thi để được xuất thân, thì đợi có khoa trường, hoặc được miễn lấy giải, và thi ở Nam tỉnh, lệnh đến trước Hoàng đế cùng thi với cử nhân, để chặn đường tư ân." Chiếu: "Từ nay về sau, thần liêu tấu xin cho con cháu, anh em được xuất thân và vào quán các, nếu có thuộc loại được hưởng ân lệ, thì gom lại một chỗ, đợi đến 3–5 người, đưa đến Học sĩ viện thi thơ, phú, luận 3 đề, vẫn phong mị, dự lục mà khảo thí. Quan khảo thí, lệnh Trung thư ghi tên học sĩ dâng lên để điểm định, lại phải khảo xét kỹ, đợi điểm đến thứ bậc, rồi tùy thời xin chỉ."

Ngày Quý Hợi, Tam ty tâu rằng mỏ đồng Thiên Hưng ở Thiều châu mỗi năm khai được 250.000 cân, xin đặt Giám để đúc tiền, chiếu lập làm Vĩnh Thông giám.

Mùa đông, tháng 10, ngày Nhâm Ngọ, tiến Mỹ nhân Trương thị làm Quý phi, lại lệnh hữu ty chọn ngày, chuẩn bị lễ sách phong. Trước đó, Hạ Tố khởi xướng ý muốn tôn sùng khác thường đối với Mỹ nhân, Khởi cư xá nhân, Đồng tri Gián viện Vương Chế (王贄) nhân đó nói rang gốc rễ giặc khởi từ trước cửa cung Hoàng hậu, xin xét đến cùng việc ấy, mong làm lay động Trung cung mà ngầm tạo chỗ đứng cho Mỹ nhân. Ngự sử Hà Đàm vào chầu, Hoàng đế đem lời Chế nói bảo với Đàm, Đàm nói: "Đó là mưu của kẻ gian, không thể không xét." Hoàng đế tỉnh ngộ, bèn thôi. Nhưng rốt cuộc Mỹ nhân vẫn nhờ công hộ giá mà tiến lên ngôi phi.

Ngày Giáp Thân, Nam viện đại vương nước Liêu là Da Luật Hãn Ban (耶律罕班) mất, thọ 55 tuổi. Hãn Ban bình thường không để ý việc nhỏ, vui giận không lộ ra ngoài. Từng mất con ngựa cưỡi, gia đồng lấy con cùng màu thay thế, mấy tháng không biết. Đến ngày chết, trong giỏ không có của cũ, trên mắc áo không có áo mới. Liêu chúa nghe tin thương tiếc, sai sứ tế điếu, cấp đồ chôn cất.

Ngày Đinh Hợi, lấy Viên ngoại lang bộ Đồn điền Phần châu Phạm Tường (范祥) làm Đề điểm hình ngục Thiểm Tây lộ kiêm Chế trí giải diêm. Trước đó, Tường xin thay đổi phép muối ở hai ao, chiếu lệnh Tường cưỡi trạm đến Thiểm Tây, cùng Đô chuyển vận sứ Trình Tiển (程戩) bàn bạc. Nhưng Tiển và Tường bất đồng ý kiến, Tường chẳng bao lâu lại gặp tang mà đi. Đến đây, Tường lại trình bày nghị trước, nên có mệnh này, sai ông ta thi hành.

Phép ấy là: trước kia cấm đất muối, nhất loạt cho thông thương, muối vào đất Thục cũng mặc kệ không hỏi. Bãi việc 9 châu quân nộp cỏ lúa, lệnh nộp tiền thực, lấy muối trả lại, tùy theo châu quân nộp tiền xa gần và loại muối chỉ định ở Đông, Tây, Nam mà ưu đãi giá. Muối Đông Nam lại cho phép nộp tiền vào Vĩnh Hưng, Phụng Tường, Hà Trung, số tiền thu mỗi năm tổng cộng đổi ra muối là 375.000 đại tịch. Cấp cho phiếu ước, đến ao đối chiếu phiếu, theo số mà xuất, bãi hết việc binh dân gánh vác vận chuyển. Lại vì đất Diên, Khánh, Hoàn, Vị, Nguyên, Bảo An, Trấn Nhung, Đức Thuận gần ao Ô Bạch, kẻ gian lén đem muối Thanh Bạch vào ải, xâm lợi, làm loạn phép, bèn mộ người nộp muối ao, cấp phiếu, ưu đãi giá, rồi lấy muối ao trả lại, còn muối đã nộp, quan tự đem bán, cấm người tư bán. Nghiêm cấm muối Thanh Bạch, và những lệ cũ dọc biên giới nộp sắt, than, ngói, gỗ, đều đặt pháp nặng để dứt. Những người trước đây nhận phiếu theo giá ước hão, và những người đã nhận muối mà chưa bán, đều tính giá trị, bắt nộp tiền thiếu cho quan. Lại lệnh Tam Kinh và Hà Trung, Hà Dương, Thiểm, Hoạt, Giải, Tấn, Giáng, Bộc, Khánh Thành, Quảng Tế, quan vẫn bán muối. Đợi thương gia lưu thông rồi mới thôi, lấy số tiền thu được mua cỏ lúa cho 9 châu quân dọc biên giới, đều lưu lại tiền tệ ở Ty Tiêu dịch để làm thực cho Trung đô. Thi hành mấy năm, thương nhân gian xảo, con buôn tham lam không còn chỗ cầu may, dân Quan nội được yên nghiệp, công tư đều cho là tiện.

Ngày Canh Dần, Hàn lâm học sĩ, Tri chế cáo Tống Kỳ (宋祁) bị bãi chức, làm Tri Hứa châu.

Theo lệ cũ, phong mệnh cho phi đều phải phát sách, phi từ chối thì bãi lễ sách; nhưng cáo mệnh đã giao cho hữu ty, tất phải đợi chỉ rồi mới tiến. Lại nữa, phàm chế từ đã giao cho Hợp môn tuyên đọc, Học sĩ viện nhận và chép lại, gửi sang Trung thư, kết đủ 3 tỉnh ký tên, quan ở Ty cáo mệnh dùng ấn, rồi mới tiến nội. Trương Mỹ nhân được tiến hiệu Quý phi, Kỳ đúng lúc phải soạn chế, không đợi chỉ, viết cáo mệnh không gửi sang Trung thư, liền lấy ấn của Ty cáo mệnh mà dùng, vội phong kín dâng lên. Phi đang được sủng ái, mong hành lễ sách phong, được cáo mệnh, nổi giận, ném xuống đất không chịu nhận, Kỳ vì thế bị giáng. Trước đó, Kỳ nghi việc tiến cáo là không đúng, cho rằng Lý Thục (李淑) hiểu rõ điển cố, nên hỏi ông ta, Thục trong lòng biết là sai, bảo Kỳ rằng: "Cứ tiến đi, còn nghi gì nữa!" Kỳ quả nhiên mắc tội mà đi. Người bàn luận càng ghét Thục là kẻ nghiêng ngửa hiểm độc.

Ngày Giáp Ngọ, Liêu chúa đóng quân ở Độc Lô Kim.

Tháng 11, ngày Ất Mùi là mồng 1, nước Liêu sai sứ đi kiểm kê ngựa, là vì sắp đánh nước Hạ.

Liêu chúa định xây thành ở biên giới phía tây, lệnh Đông lộ thống quân sứ Da Luật Đa Trân (耶律多珍) chọn đất và đóng chiến hạm. Đa Trân nhân đó đóng được 130 chiếc lâu thuyền, trên đặt binh, dưới cho ngựa đứng, quy chế kiên cố, Liêu chúa khen ngợi.

Ngày Mậu Tuất, Cảnh Phúc điện sứ, Nhập nội đô tri Vương Thủ Trung (王守忠) lĩnh Vũ Tín lưu hậu. Sau đó chiếu lệnh Thủ Trung được xếp ban như chính nhiệm, còn lại không được viện lệ. Thủ Trung bèn dời sang Hợp môn, muốn theo phẩm trật bản chức mà ngồi yến ở Hợp môn, triều đình nghe theo.

Thị ngự sử Hà Đàm tâu: "Điển pháp của tổ tông, chưa từng có việc nội thần dự yến trên điện. Cái tệ ấy một khi mở ra, tổn hại không nhỏ. Cúi mong truyền lệnh xuống Hợp môn, mau sửa đổi, nhất loạt theo phép cũ." Trước đó, Tây thượng Hợp môn sứ Tiền Hối (錢晦) cũng nói: "Thiên tử đại triều hội, lệnh hoạn quan xếp hàng với sĩ đại phu ngồi trên điện, tất bị tứ di chê cười." Nhưng rốt cuộc vẫn định ra sơ đồ chỗ ngồi. Đến khi Đàm lại tâu, Thủ Trung tự biết chưa được cho phép, đến ngày yến, từ chối không đến.

Ngày Kỷ Hợi, làm bảo "Hoàng đế khâm sùng quốc tự chi bảo". Thời Chân Tông từng làm "Chiêu thụ Càn phù chi bảo", phàm dùng trong các biểu chương trai giới, cầu đảo. Đến khi hỏa hoạn trong Đại nội, bảo bị cháy, chỉ dùng "Ngự tiền chi bảo". Bấy giờ, hạ lệnh Học sĩ viện định văn, lệnh Tể tướng Trần Chấp Trung chép giao cho hữu ty khắc riêng.

Ngày Ất Mão, lấy Khởi cư xá nhân, Trực Sử quán, Tri Gián viện Vương Chế làm Thiên Chương các đãi chế.

Trương Quý phi sau khi được lập, rất cảm ơn Chế, bí mật ban cho Chế vàng lụa tính ra đến hàng vạn. Từng nói với người rằng: "Ta có Gián quan nhà ta đấy." Đến khi sắp nhận lễ sách phong, muốn được Chế nâng sách, Trung thư nói rằng người quyền giữ chức Thị trung, theo lệ cũ tất phải dùng quan từ Đãi chế trở lên, nên vội thăng chức cho Chế.

Lấy Điện trung Thị ngự sử Hà Đàm làm Viên ngoại lang bộ Lễ kiêm Thị ngự sử tri tạp sự. Trước đó, chức Tri tạp ở Đài khuyết, người chấp chính muốn tiến cử bè đảng của mình, Hoàng đế đặc biệt dùng Đàm, lại bảo Đàm rằng: "Khanh không a dua quyền thế, nên trẫm vượt cấp dùng khanh."

Chiếu: "Hà Bắc bị thủy tai, dân lưu ly trên đường, nam nữ không thể tự sống, cho phép người thu nhận nuôi dưỡng, sau không được đòi lại; những người thuê mướn, thì theo tư khế."

Ngày Đinh Tị, Lý Dụng Hòa (李用和) kiêm Thị trung.

Nước Liêu phong Hoàng tử Hòa La Cát (和囉噶) làm Việt vương, A Luân (阿倫) làm Hứa vương. Ban cho Thái đệ Trọng Nguyên (重元) kim khoán. Con Trọng Nguyên là Ni Lỗ Cổ (尼嚕古), từ An Định quận vương tiến phong làm Sở vương. Liêu chúa từng cùng Trọng Nguyên yến ẩm, hứa sau khi nghìn thu vạn tuế sẽ truyền ngôi cho ông ta, Trọng Nguyên rất mừng, từ đó càng kiêu căng phóng túng, làm việc trái pháp. Lại vì đánh cờ song lục mà đánh cuộc dân cư, thành ấp, Liêu chúa nhiều lần không thắng, trước sau đã bồi thường mấy thành. Trọng Nguyên cậy sủng mà làm quá, triều thần không ai dám nói. Một hôm, lại đánh bạc, kép hát La Y (羅衣) khẽ chỉ vào bàn cờ mà nói: "Song lục thôi đừng ngu nữa, cùng với ngài đều thua hết rồi." Liêu chúa mới tỉnh ngộ, không chơi nữa.

Ngày Nhâm Tuất, vì vật giá trong Kinh nội tăng vọt, đặt 12 chợ ngoài Tân Thành, quan xuất hàng hóa, định giá để cứu giúp dân nghèo.

Ngày Quý Hợi, ban cho Vương Di Thủy (王貽水), Lý Dụng Hòa đai vàng đầu ngọc khuê. Theo lệ cũ, không phải đại thần ở Nhị phủ thì không được ban, chỉ có Trương Kỳ khi ở Khu mật viện kiêm Thị trung từng được ban.

Bấy giờ mưa lũ hại lúa, phá hoại đê điều, giữa hai sông bị nặng nhất. Tháng 12, ngày mồng 1 ngày Ất Sửu, ban đức âm, đổi niên hiệu năm sau là Hoàng Hựu, giảm tội cho thiên hạ tù nhân 1 bậc, từ tội đồ trở xuống đều tha.

Xuất tiền lụa trong Nội tàng ban cho Tam ty mua thóc, để cứu tế dân lưu tán ở Hà Bắc, nơi họ đi qua, quan cấp nhà cho ở, những vật mang theo không thu thuế.

Ngày Đinh Mão, làm lễ sách phong Quý phi Trương thị, quần thần dâng biểu chúc mừng.

Ngày Bính Tý, chiếu lệnh Tam ty: "Khách nhân ở các châu quân dọc biên Hà Bắc nộp lương thảo, đổi làm phép ‘tứ thuyết’, mỗi 100 quan làm chuẩn, ở Kinh sư cấp tiền 30 quan, hương dược, ngà voi 15 quan, ở ngoài cấp muối 10 quan, trà 40 quan." Dùng theo lời của Quyền phát khiển Diêm thiết phán quan Đổng Miện (董沔) xin phục hành phép "tam thuyết", mà thêm muối vụn làm "tứ thuyết".

Ngày Canh Thìn, Phán Đại Danh phủ Giả Xương Triều tâu: "Từ khi Cửu Hà đều mất, chỉ còn lại Lạc Xuyên, mà việc dời, vỡ của sông qua các đời không cố định, nhưng không vượt quá phía bắc Vận, Bộc, phía đông Ngụy, Bác, tức là nay sông lớn ở Chiết, Hoạt, Thiền, qua Bắc Kinh Triều Thành, từ Phù Đài ra biển. Từ đời bản triều đến nay, trong cõi Khai Phong, Đại Danh, Hoài, Hoạt, Thiền, Vận, Bộc, Đái, Tề, sông nhiều lần vỡ, từ năm Thiên Hi thứ 3 đến mùa hạ năm thứ 4, liên tiếp vỡ, bên núi Thiên Thai là nặng nhất, trải 9 năm mới lấp được. Năm Thiên Thánh thứ 6, lại phá đê Vương Sở. Đầu niên hiệu Cảnh Hựu, vỡ ở Hoành Lũng, chảy ra đến Bình Nguyên, chia thành 3 sông Kim, Xích, Du, qua phía bắc Đái, Tân mà vào biển. Những năm gần đây, cửa biển bị bồi lấp, bùn lầy không thể khơi, nên năm ngoái sông vỡ ở giữa Đức, Bác đến 21 chỗ. Mùa hạ năm nay vỡ ở Thương Hồ, qua phía đông Bắc Đô, đến Vũ Thành, rồi xuyên qua Ngự Hà, qua thành Nhĩ, Doanh 2 châu, đến phía nam Càn Ninh quân, ra biển. Nay nước cũ ở Hoành Lũng vẫn còn 3 phần, sông Kim, Xích, Du đều đã lấp, chỉ từ cửa Ung Kinh trở về phía đông, vỡ lớn ruộng dân, rồi mới ra biển. Từ xưa sông vỡ gây hại, chưa từng nặng như thế. Triều đình lấy đất Sóc Phương làm nơi căn bản, để phòng bị Khiết Đan, lấy tài vật nơi ấy để cung cấp cho quân sư, thì Thương, Đái, Tân, Tề là dày nhất. Từ khi vỡ ở Hoành Lũng, tài lợi hao tổn một nửa, vỡ ở Thương Hồ, mất 8–9 phần trong 10. Huống chi quốc gia dựa vào sông lớn này, trong thì giữ vững Kinh sư, ngoài thì ngăn chặn giặc ngựa, từ tổ tông đến nay, chú ý đến việc phòng sông, điều cấm nghiêm ngặt là vì thế. Nay dòng chính tản ra, đến nỗi có chỗ có thể lội qua. Muốn cứu cái tệ ấy, thảo luận nên cho nước chảy về phía đông trở lại đường cũ, lấp hết các cửa. Xét từ Hoành Lũng về phía đông đến giữa Vận, Bộc, đê, đập đều còn, nên gia công tu bổ. Những chỗ bồi lấp nông, có thể tùy thời phát phu gần đó, mở đường đến phía đông cõi Vận châu. Thần kính vẽ Lạc Xuyên, Hoành Lũng, Thương Hồ 3 sông thành một bản đồ dâng lên, mong bệ hạ lưu tâm xem xét." Chiếu lệnh Hàn lâm học sĩ Quách Khuyến (郭勸), Nhập nội nội thị tỉnh đô tri Lam Nguyên Dụng (藍元用) cùng Chuyển vận sứ Hà Bắc, Kinh Đông lại đi xem xét lợi hại việc tu sửa đường cũ của Hoàng Hà rồi tâu.

Chị của Liêu chúa là Tần Tấn quốc Trưởng công chúa, ban đầu gả cho Tiêu Đặc Bố (蕭特布), sau đổi gả cho Tiêu Ha Lý (蕭哈裡), lại gả cho Tiêu Hô Đôn (蕭呼敦), đều vì không hòa hợp mà ly hôn; năm ấy lại đem gả cho Hàn quốc vương Tiêu Huệ (蕭惠).

Năm Hoàng Hựu thứ 1 (Liêu, Trọng Hy năm thứ 18), Công nguyên năm 1049

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Giáp Ngọ mồng 1, có nhật thực.

Nước Liêu sắp đánh nước Hạ, giữ lại sứ sang mừng Tết Nguyên đán, không cho về. Ngày Kỷ Hợi, sai sứ đến báo việc đánh nước Hạ.

Ngày Tân Sửu, lệnh Hàn lâm học sĩ, người Ngụy Thành là Triệu Khái (趙概) quyền Tri cống cử.

Ngày Bính Ngọ, Liêu chúa đi đến Uyên Ương Lạc.

Ngày Mậu Thân, vì Hà Bắc bị lụt, bãi việc treo đèn đêm Thượng Nguyên, đình chỉ ca nhạc.

Ngày Canh Tuất, Thái phó trí sĩ, Đặng quốc công Trương Sĩ Tốn (張士遜) qua đời. Xa giá đến tận nơi tế rượu. Hôm sau, Hoàng đế bảo các phụ thần rằng: "Hôm qua có người nói ngày Canh Tuất là ngày trùng với bản mệnh, không nên đến dự tang; trẫm vì tình nghĩa thầy trò xưa, nên không kiêng tránh." Văn Ngạn Bác (文彥博) nói: "Đường Thái Tông từng trong ngày Thìn khóc Trương Công Cẩn, bệ hạ đã vượt xa việc ấy rồi." Truy tặng Sĩ Tốn làm Thái sư, Trung thư lệnh, thụy là Văn Ý, ngự bút đề trên bia mộ ông là "Cựu đức chi bi" (Bia bậc cựu đức).

Ngày Bính Thìn, Liêu chúa đi săn ở núi Bá Đặc. Hành quân đô bố trí Da Luật Nghĩ Tiên (耶律義先) sai người tâu thắng trận ở Phú Nỗ Lý.

Ngày Kỷ Mùi, chiếu dùng 20 vạn quan tiền để mua giống lúa, chia phát cho dân nghèo Hà Bắc.

Ngày Tân Dậu, chiếu rằng: "Từ xưa trị nước, tất phải răn việc hà khắc xét nét. Gần đây phong tục, tranh nhau tố cáo, làm người ta nghiêng ngửa nguy vong, ngục tụng càng nhiều, trên dưới hằm hằm, tổn hại hòa khí, trẫm rất đau xót! Từ nay người tâu việc, nếu không phải là chuyện được mất của triều đình, lợi hại trong dân gian, thì không được vin theo lời đồn mà đàn hặc tâu trình, kẻ trái lệnh sẽ bị luận tội." Điện trung thị ngự sử, người Dư Hàng là Trương Đào (張祹) tâu rằng không nên cấm Ngự sử, Gián quan dùng lời đồn mà tâu việc, nhưng không được trả lời.

Ngày Quý Hợi, đúc tiền "Hoàng Hựu nguyên bảo".

Tháng 2, ngày Đinh Mão, sao chổi xuất hiện ở chòm Hư, buổi sớm thấy ở phương Đông, chĩa về Tây Nam, đi qua Tử Vi đến Lâu, tổng cộng 114 ngày rồi mất. Chiếu: "Từ ngày mồng 5 tháng này, trẫm không ngự chính điện, các món thường thiện do Thượng thực sở cung cấp cũng nên giảm bớt, trong ngoài thần liêu hãy hết sức nói rõ những việc cấp thiết của thời thế."

Lấy Viên ngoại lang bộ Hình là Trương Hữu Trực (張友直) làm Sử quán tu soạn, là do dùng di tấu của cha ông là Sĩ Tốn. Ngự sử Hà Đàm (何郯) tâu: "Chức Sử quán tu soạn, theo lệ cũ đều phải qua thi Tri chế cáo; Hữu Trực vốn ít học thuật, không nên được chức ấy." Bèn đổi làm Tập Anh điện tu soạn.

Ngày Mậu Tuất, vì Hà Bắc có dịch bệnh, sai sứ ban thuốc.

Ngày Kỷ Tị, lấy Long đồ các trực học sĩ, người Sùng An là Lưu Quy (劉夔) làm Khu mật trực học sĩ, Tri Vận châu, kiêm Kinh Đông Tây lộ An phủ sứ.

Bấy giờ dân lưu tán đến Kinh Đông, trộm cướp nổi lên nhiều, Hoàng đế định tăng binh để phòng bị, hỏi ai có thể giữ Vận châu, Tể tướng tiến cử Qui, bèn cất nhắc dùng. Qui đến Vận châu, mở kho phát thóc cứu dân đói, nhờ đó được sống còn rất nhiều, trộm cướp suy giảm, được ban chiếu thư khen ngợi.

Ngày Tân Mùi, lấy Tri Thanh châu, Tư chính điện học sĩ Phú Bật (富弼) làm Lễ bộ Thị lang.

Trước đó, Hà Bắc đại lụt, dân lưu tán tràn vào Kinh Đông không thể kể xiết. Bật chọn 5 châu trong địa hạt mình cai quản được mùa tốt, khuyên dân xuất thóc, được 15 vạn hộc, lại thêm thóc kho nhà nước, tùy nơi mà chứa. Chọn hơn 10 vạn gian nhà cửa công tư, phân tán dân lưu tán vào ở, để tiện việc củi nước. Quan lại từ trước vốn chờ bổ mà tạm trú, đều cấp bổng lộc, khiến đến ngay nơi dân tụ tập, chọn người già yếu, gầy bệnh mà phát thóc kho cho. Lợi ích núi rừng, ao đầm, nếu có thể khai thác để sinh sống, thì cho phép dân lưu tán lấy dùng, chủ đất không được cấm. Quan lại đều ghi chép công lao, hẹn sẽ tâu xin, để sau này lần lượt được thưởng ở triều đình; cứ 5 ngày sai người mang rượu thịt, cơm khô đến uỷ lạo, ai nấy đều hết sức. Dân lưu tán chết, thì thay họ lo việc mai táng lớn, gọi là "tùng trủng", tự mình soạn văn tế. Đến khi dân lưu tán sắp trở về nghề nghiệp cũ, lại tùy xa gần mà cấp lương cho về. Tổng cộng cứu sống hơn 50 vạn người, chiêu mộ làm binh lính lại hơn 1 vạn người. Hoàng đế nghe tin, sai sứ đến uỷ lạo, nhân đó thăng chức. Bật nói: "Cứu nạn là chức phận của thủ thần." Từ chối không nhận. Trước đây những người cứu nạn đều gom dân vào trong thành quách, nấu cháo cho ăn, dân đói tụ tập thì sinh dịch bệnh, lại giẫm đạp lên nhau mà chết, hoặc chờ ăn vài ngày, không được cháo mà gục ngã, tiếng là cứu mà thực là giết. Phép mà Bật đặt ra, giản tiện mà chu đáo, thiên hạ truyền nhau lấy làm khuôn mẫu.

Chiếu phát 10 doanh cấm quân ở Kinh sư đến đóng ở Kinh Đông Tây lộ để phòng trộm cướp, Kinh Đông Tây lộ Kiềm hạt đều kiêm chức Bản lộ An phủ đô giám. Kinh Đông An phủ sứ Phú Bật tâu rằng bản lộ vội tăng quân cấm đóng trại, e làm dao động lòng người, muốn chừng mực tăng thêm 1, 2 doanh. Chiếu: "Quân đã lên đường, đợi sang năm được mùa, sẽ cho về Kinh sư."

Tuyên huy Bắc viện sứ, Vũ Xương Tiết độ sứ, Phán Diên châu là Trình Lâm (程琳) xin được thay chức, ngày Kỷ Mão, gia phong Đồng bình chương sự, lại cho tái nhiệm Phán Diên châu.

Lâm từng bắt được người Nhung đến tế rượu, không giết, răn bảo rồi thả về, người Hạ cũng bảo nhau không bắt người Hán. Lâu sau, có kẻ giả xưng đem 500 hộ, lùa trâu dê đến sát biên xin hàng, nói rằng quân nước Liêu đã đến nha môn giao chiến, trong nước loạn, muốn tự quy phụ. Lâm nói: "Nếu quân Liêu đến dưới trướng hắn, ắt cả nước bị bắt, sao lại có kẻ đến hàng? Ta nghe người Hạ đang bắt kẻ phản bội, đây chính là việc ấy chăng? Không thì là dụ ta." Bèn cự tuyệt không nhận. Quả nhiên giặc đem 3 vạn kỵ binh đến sát biên giới, lấy cớ bắt kẻ hàng. Lâm sai do thám biết được, bèn đóng cửa thành, lật cờ xuống, răn các tướng không được động binh. Giặc cho là đã có phòng bị, bèn rút lui.

Khi Da Luật Nghĩ Tiên đi đánh Phú Nỗ Lý nước Liêu, chiêu hàng được rất nhiều, ngày Ất Dậu, bắt được Du trưởng là Đào Đức Lặc (陶德勒) đem về. Liêu chúa thân ban chiếu thư khen thưởng, lấy công ấy phong làm Vũ Xương quận vương, đổi làm Nam Kinh thống quân sứ. Sau đó xin lấy tiền doanh tức của Thống quân ty để cấp cho dân nghèo, chưa đến kỳ hạn mà quân khí đã chỉnh tề, dân được nghỉ ngơi.

Từ khi người nước Liêu báo tin đem quân đánh nước Hạ, biên giới hơi có báo động, Hoàng đế ngự tiện điện, hỏi các cận thần về kế sách phòng ngự. Quyền Tam ty sứ Diệp Thanh Thần (葉清臣) tâu rằng: "Bệ hạ cai trị thiên hạ 28 năm, chưa từng một ngày tự cho mình nhàn rỗi, thế mà hai biên Tây Bắc, năm nào cũng bị quấy nhiễu, chẳng phải là vì tướng, tể, đại thần không được người, không thể thay bệ hạ phô trương uy đức mà đến nỗi như thế sao? Đầu niên hiệu Khánh Lịch, Lưu Lục Phù đến, người chấp chính không thể bẻ gãy mưu kế ngay trên bàn tiệc, chỉ phiền một sứ giả mà ngồi mất 20 vạn vật tư, làm cạn kiệt mỡ máu để phụng dưỡng ngoại địch, đó là điều khiến người có hiểu biết phải than dài. Nay chiếu hỏi sứ nước Bắc đến triều, lấy danh nghĩa là vì Tây Nhung, ắt sẽ có đòi hỏi, thì lấy gì mà đáp? Thần nghe trong lời thề ước đã ghi, đôi bên không được đòi hỏi lẫn nhau, huống chi Nguyên Hạo phản bội biên giới, nhiều năm bị đánh dẹp, người nước Liêu há có giúp đỡ mảy may! Nay nước ấy xuất quân, liền đòi ta giúp, can phạm minh ước, trái hẹn, há chẳng quá lắm sao! Nếu cho người biện luận lanh lợi phân xử phải trái, ta là bên phải, họ là bên trái, há chẳng khiến họ phải e sợ khuất phục! Nếu họ buông thả xâm lăng, thì lúc Hà Sóc vừa bị tai hoạ, ngoài đồng không còn nhà cửa, ta giữ vững thành lũy tự thủ, mặc cho chúng tiến sâu, liệu có thể ở lâu? Đã không nơi cung cấp lương, ắt phải vội vã rút lui. Sau đó chọn quân dũng mãnh, chặn đường rút, đặt phục binh, dùng kỳ mưu, đánh vào đầu đuôi, nếu không bắt được, thì cũng đại bại vậy."

Ngục Tỉnh Man quấy nhiễu biên giới.

Tháng 3, ngày Canh Tý, ngự điện Diên Hòa, triệu các phụ thần đến xem mẫu gỗ Hỗn nghi mới chế, bấy giờ lệnh Nhật quan là bọn Thư Dịch Giản (舒易簡), Vu Uyên (于淵), Chu Tông (周琮) tham khảo chế độ cũ của Lương Lệnh Tán (梁令瓚), Lý Thuần Phong (李淳風) mà đúc lại Hỗn nghi.

Ngày Tân Sửu, lệnh Hộ bộ Phó sứ Bao Chửng (包拯) đi Hà Bắc đề cử, trù liệu việc đặt mua lương thảo.

Ngày Ất Tị, nước Cao Xương cống nạp cho nước Liêu.

Trước đó, Yên Triệu quốc vương Hồng Cơ (洪基) có bệnh, Liêu chúa thân đến trướng thăm. Ngày Nhâm Tý, vì bệnh Hồng Cơ đã khỏi, tha tội từ tạp phạm tử tội trở xuống.

Ngày Quý Sửu, ban cho 174 Tiến sĩ người Giang Hạ là Phùng Kinh (馮京) cùng những người khác đỗ Tiến sĩ, 160 người xuất thân, 209 người đồng xuất thân tại điện Sùng Chính. Ngày Giáp Dần, ban cho các khoa đỗ và xuất thân 550 người tại điện Quan Văn.

Chiếu dời binh sĩ thiếu lương ở Hà Bắc và quân thú đến các châu quân gần phía nam, đợi khi đặt xong kho biên trữ để phòng bị, lại cho trở về đóng, theo lời Bao Chửng. Hai mục trường ngựa Lâm Mã ở Quảng Bình chiếm ruộng dân 3 châu Hình, Vị, Triệu đến 1 vạn rưỡi khoảnh, trước đã bãi một nơi, nhưng đất màu ven sông Chương, dân vẫn không được cày, Chửng xin cho hết thảy giao lại cho dân nộp thuế, được chuẩn y.

Ngày Đinh Tị, Ô Khố sai sứ sang nước Liêu dâng biểu quy thuận, là do Ngũ quốc Tiết độ sứ Da Luật San Đồ (耶律珊圖) chiêu dụ mà đến.

Ngày Canh Thân, vì người nước Liêu báo tin đánh nước Hạ, sai Quyền Tri Khai Phong phủ Tiền Minh Dật (錢明逸) cùng những người khác sang đáp sứ, và đem lễ tặng.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Giáp Tý, ngự điện Sùng Chính, xem 8 loại nỏ như Xung trần vô địch lưu lượng nỗ do Tri Chiết châu là Tống Thủ Tín (宋守信) dâng.

Ngày Canh Ngọ, lệnh Bao Chửng cùng với 4 lộ Hà Bắc An phủ sứ, Chuyển vận ty bàn việc giảm bớt quan lại thừa và loại bỏ quân sĩ không đủ sức làm việc, rồi tâu lên.

Ngày Quý Dậu, nước Liêu lấy Nam phủ Tể tướng Cảo Tích (杲錫) làm Nam Kinh thống quân sứ.

Ngày Quý Mùi, Ty Chuyển vận Tử châu tâu rằng người Di ở Ngục Tỉnh giám đã bình định.

Ngày Đinh Hợi, Hữu tư gián Tiền Nghiễn Viễn (錢彥遠) dâng sớ khuyên nông rằng: "Từ triều ta, Chuyển vận sứ, Đề điểm hình ngục, Tri châu, Thông phán đều kiêm chức khuyên nông, nhưng chỉ có hư văn, không có thực chất khuyên dẫn. Nên đặt Khuyên nông ty, lấy Tri châu làm Trưởng quan, Thông phán làm Tá quan, chọn các quan mạc chức, châu huyện thanh liêm, cứng cỏi làm Phán quan, trước hết ghi vào sổ số khoảnh ruộng khai khẩn, số hộ khẩu, ao đầm, núi rừng, mương máng, dâu tằm, rồi giao cho quan Khuyên nông đặt phép khuyên dạy, trừ hại, mở lợi, đợi cuối năm lúc nông nhàn, Chuyển vận ty khảo xét mà thưởng phạt." Hoàng đế khen và chấp thuận.

Tháng 5, ngày Đinh Dậu, lấy Tư bộ Viên ngoại lang Nhâm Chuyên (任顓) làm Hà Đông Chuyển vận sứ. Hoàng đế vì Hà Bắc từng ban vàng lụa trong Nội khố, nay cũng lấy 50 vạn quan giúp Hà Đông thiếu thốn. Chuyên từ chối rằng: "Triều đình mới sai sứ, giao cho việc kinh chế tài dụng, mà vội xin vàng lụa đem đi, là không được." Hoàng đế khen là phải.

Ngày Giáp Thìn, Ngũ quốc Du trưởng tên là Danh đem thuộc hạ quy phụ nước Liêu.

Ngày Bính Ngọ, ngự Bảo Kỳ điện ở Hậu uyển, xem lúa mạch của thị thần trồng, ngoảnh lại bảo các phụ thần rằng: "Trẫm mới dựng điện này, không muốn trồng hoa cỏ, mà mỗi năm gieo mạch, để biết việc cày cấy không dễ."

Người chấp chính là Bàng Tịch (龐籍) tâu rằng Điện trung thừa, Quán các giáo kham Phạm Trấn (范鎮) có tài khác thường, không vội vã cầu tiến. Ngày Đinh Tị, đặc biệt thăng làm Trực Bí các.

Ngày Mậu Ngọ, nước Liêu phong Ngũ quốc Tiết độ sứ Da Luật San Đồ làm Tả giám môn vệ Thượng tướng quân.

Tháng 6, ngày Nhâm Tuất mồng 1, nước Liêu lấy Hàn quốc vương Tiêu Huệ (蕭惠) làm Hà Nam đạo Hành quân đô thống, Triệu vương Tiêu Hiếu Hữu (蕭孝友), Hán vương Đặc Bố (特布) làm Phó. Bấy giờ quân Liêu chia làm 3 đạo, quân do bọn Huệ chỉ huy là Nam đạo, Bắc đạo thì Hành quân đô thống Da Luật Đạt Hòa Khắc (耶律達和克) chỉ huy, Trung đạo thì Liêu chúa thân chinh, nhưng chưa xuất phát.

Ngày Giáp Tý, miễn tô thuế 2 năm cho dân Hà Bắc trở về nghề nghiệp cũ.

Ngày Ất Sửu, lấy Thái tử Hữu Thanh đạo suất phủ suất Thúc Thiều (叔韶) làm Hữu Lĩnh quân vệ Tướng quân, vẫn ban cho đỗ Tiến sĩ, sau đó gia phong Thứ sử Văn châu. Thúc Thiều từng dâng các bài văn mình soạn, được triệu vào thi ở Học sĩ viện, đỗ hạng ưu, được đặc biệt thăng chức. Khi vào tạ ơn, lệnh ngồi, ban trà, bảo rằng: "Tông tử hiếu học không nhiều, chỉ mình ngươi nhờ văn chương mà đỗ Tiến sĩ, trước nay chưa từng có." Lại đem "Cửu kinh" ban cho. Sau đó ban sách vở cho từ Chính Thứ sử trở lên, Thúc Thiều vốn không đáng được, nhưng riêng được ban. Thúc Thiều là cháu ba đời của Đức Cung (德恭). Việc tông thất được triệu vào thi, bắt đầu từ Thúc Thiều.

Nước Liêu xét tù.

Ngày Bính Dần, nước Liêu cử hành lễ Thập nhị thần phan.

Ngày Giáp Tuất, lấy Giả Xương Triều (賈昌朝) làm Quán Văn điện Đại học sĩ, Phán Đô tỉnh, khi triều hội thì xếp hàng ở Trung thư, Môn hạ, xem như nghi chế. Chức Quán Văn điện Đại học sĩ đặt ra từ đây, lại chiếu rằng từ nay ai chưa từng làm Tể tướng thì không được bổ nhiệm.

Ngày Mậu Dần, chiếu Trung thư, Khu mật nếu không phải hội nghị chung thì không được tiếp khách.

Ngày Canh Thìn, nước Chuẩn Bố cống ngựa, lạc đà, đồ quý lạ cho nước Liêu.

Ngày Tân Tị, nước Hạ cống nạp nước Liêu, người Liêu giữ sứ giả không cho về.

Ngày Nhâm Ngọ, đổi lệnh: Đồng san tu "Đường thư", Hàn lâm Thị độc học sĩ Tống Kỳ (宋祁) làm San tu quan.

Ngày Ất Dậu, Đồng tri Gián viện Lâm Vĩnh là Lý Đối (李兌), Thị ngự sử Tri tạp sự Hà Đàm, Giám sát ngự sử Trần Húc (陳旭) tâu rằng: "Những năm gần đây, thần liêu có việc dâng sớ vạch tội những người qua lại thư từ với thân thích, triều đình tất tra xét mà thi hành, khiến cho đời thịnh trị mà thành thói tố giác. Từ nay nếu không phải việc liên quan đến bất hiếu, bất thuận, thì không được dâng thư từ để tâu; còn các nha môn cầu xin việc phi pháp, thì tự luận tội theo luật." Được chấp thuận.

Ngày Đinh Hợi, Giám sát ngự sử Trần Húc tâu: "Chức sự Tam quán là chỗ tuyển chọn cao của văn nho; gần đây dùng người càng nhẹ, bèn trở thành đường tắt cho con em quyền quý tiến thân. Niên hiệu Khánh Lịch từng có chiếu, từ nay những quan đang giữ chức, hoặc từng giữ chức ở hai tỉnh, và từ hai Đại tỉnh trở lên, không được dâng sớ xin cho con cháu, thân thích vào giữ chức vụ ở các quán các. Nhưng vì bị ân huệ ngang ngược làm rối, nên lại bị bỏ không thi hành. Xin tuyên rõ lại chiếu trước, nghiêm làm điều cấm, gạn lọc kẻ tiến cử bừa bãi, tất làm trong sạch việc tuyển chọn, khiến người tại chức đều là kẻ văn hạnh đầy đủ. Sau đó theo lệ cũ mà cất nhắc, nhân lúc yến nhàn, mời vào để hỏi han, đối với thể chế trị nước không phải là vô ích." Chiếu: "Từ nay các thần liêu gần gũi bệ hạ, nếu vin theo lệ mà dâng sớ xin cho con cháu được dự thi, nếu thi đỗ, chỉ cho thăng quan hoặc xuất thân, không được bổ nhiệm vào các quán các."

Liêu chúa cử hành lễ Tái sinh.

Ngày Mậu Tý, Thái tử Thiếu phó trí sĩ Lý Nhược Cốc (李若穀) qua đời. Chiếu vì con ông là Thục đang ở gần bên hầu hạ, nên ưu đãi truy tặng làm Thái tử Thái phó, sau này không được lấy đó làm lệ.

Chiếu: "Quan lại do Chuyển vận sứ, Đề điểm hình ngục bổ nhiệm mà nhận hối lộ, nếu không phát giác được thì người phụ trách sẽ bị giáng chức."

Mùa thu, tháng 7, ngày Bính Thân, Định châu có mưa. Trước đó, Tri Định châu Hàn Kỳ (韓琦) tâu: "Hà Sóc lâu ngày không mưa, xin cầu đảo mà không ứng. Nếu xuất phát từ lòng thành của bệ hạ, cầu đảo với trời đất, sông núi, ắt được mưa lành." Sau đó sai Bí các Hiệu lý Trương Tử Tư (張子思) mang mật từ đến cầu đảo ở Bắc Nhạc. Đến đây báo tin mưa đủ.

Ngày Đinh Dậu, chiếu thần liêu không được bảo cử, tiến cử nội thần thân cận.

Hàn lâm Thị độc học sĩ, Hữu gián nghị đại phu Trương Tích (張錫) giảng sách trong cung, Hoàng đế than ông học rộng, viết hai chữ "Bác học" bằng lối Phi bạch ban cho, nhân đó hỏi về đạo trị nước, Tích tâu: "Tiết chế ham muốn là gốc trị thân; xét kỹ hình phạt là gốc trị nước." Bấy giờ Quý phi đang được sủng ái, nên Tích dùng lời ấy để khuyên can. Hoàng đế đổi sắc mặt nói: "Lời khanh rất hay, tiếc là dùng khanh quá muộn."

Ngày Mậu Tuất, Liêu chúa thân đốc quân đánh nước Hạ, lấy Thái đệ Trọng Nguyên (重元), Bắc viện Đại vương Da Luật Nhân Tiên (耶律仁先) làm tiên phong.

Ngày Tân Sửu, Hàn lâm Thị độc học sĩ, Hữu gián nghị đại phu Trương Tích qua đời, ban 300 lạng bạch kim phúng viếng gia đình, truy tặng Công bộ Thị lang.

Ngày Mậu Thân, lấy Tập hiền Hiệu lý Lý Trung Sư (李中師) làm Đề điểm công việc các huyện, trấn thuộc Khai Phong phủ. Trung Sư là người Khai Phong, do Tể tướng Trần Chấp Trung (陳執中) tiến cử.

Tháng 8, ngày Tân Dậu mồng 1, quân Liêu vượt sông, không thấy địch mà quay về.

Chiến thuyền mà Liêu chúa ngự, chính là lâu thuyền do Da Luật Đa Trân (耶律多珍) chế tạo, Liêu chúa rất vui. Sau đó từng thân ban chén rượu, hỏi ông muốn gì, Đa Trân nói: "Thần may được thánh ân, được dốc sức hèn, muôn chết cũng không báo được nước, lại còn cầu gì nữa!" Liêu chúa càng vui, thân viết trên vạt áo Đa Trân rằng: "Cần quốc trung quân, trong thiên hạ không ai sánh bằng."

Ngày Nhâm Tuất, Công bộ Thị lang, Bình chương sự Trần Chấp Trung bị bãi, làm Binh bộ Thượng thư, Tri Trần châu. Trước đó, sông vỡ, dân lưu tán, tai dị liên tiếp, Chấp Trung không có điều gì tâu bày, chỉ mời bọn thầy bói, thầy tướng. Người ta nhiều lần công kích ông, nhân đó luận việc Chấp Trung vượt cấp dùng Lý Trung Sư làm Phủ giới Đề điểm, và Lữ Xương Linh (呂昌齡) v.v. ra vào cửa nhà mình, không hợp lòng người, mà Chấp Trung cũng lấy cớ đau chân xin từ chức, chiếu theo lời mà cho. Hàn lâm học sĩ Tôn Biện (孫抃) phụng chế, bèn bổ nhiệm làm Thượng thư Tả thừa. Văn Ngạn Bác, Tống Tường (宋庠) tâu rằng ân lễ quá bạc, bèn hạ lệnh Học sĩ viện dán tờ ma, đổi bổ nhiệm.

Lấy Khu mật sứ Tống Tường làm Binh bộ Thị lang, Bình chương sự; Tham tri chính sự Bàng Tịch làm Công bộ Thị lang, sung Khu mật sứ; Khu mật Phó sứ Cao Nhược Nặc (高若訥) làm Công bộ Thị lang, Tham tri chính sự; Hàn lâm Thị độc học sĩ Lương Thích (梁適) làm Tả gián nghị đại phu, Khu mật Phó sứ.

Ngày Giáp Thân, ngự điện Sùng Chính, sách vấn khoa Hiền lương phương chính, năng trực ngôn cực gián, bài đối của Điện trung thừa Ngô Khuê (吳奎) xếp vào hạng 4, lấy Khuê làm Thái thường Bác sĩ, Thông phán Trần châu. Khuê là người Bắc Hải, từng làm Phán quan Quảng Tín quân, ban ngày xử việc, đêm thường đọc sách không ngủ. Dương Hoài Mẫn (楊懷敏) mở rộng ruộng đồn điền ở Bắc biên, đến mức chiếm ruộng lúa của dân, không ai dám chống. Khuê dâng thư luận việc ấy là không tiện, Tri Bảo châu là Vương Quả (王果) cũng nhiều lần tranh luận; Hoài Mẫn sai người tố cáo Quả việc khác, chiếu lập án tra xét, Khuê hết sức biện hộ cho Quả, nên được miễn. Niên hiệu Khánh Lịch, khi xảy ra biến cố ở quân túc vệ, Hoài Mẫn đến phiên trực mà tội nhẹ, Khuê lúc ấy coi việc ở Kinh Đông Bài ngạn ty, dâng sớ rằng: "Thần nghe Câu đương Hoàng thành ty có 6 người, 5 người đã bị giáng, chỉ Hoài Mẫn còn ở lại, mọi người đều nói bệ hạ vì tư riêng với người được sủng ái mà làm khuất phép công, thần lấy làm đau xót thay bệ hạ! Huống chi trong ngoài truyền rằng, lúc bắt được giặc, bệ hạ truyền lệnh không giết, mà tả hữu lại giết sạch, ắt là có kẻ đồng mưu, sợ việc lộ nên giết để diệt khẩu. Không thế, sao lại dám không tuân chiếu?" Hoàng đế rất coi trọng ông.

Vệ sĩ Vương An, vì oán ghét bè đảng của mình, ngầm đặt dao trong hòm áo, theo Câu đương Dẫn kiến ty là Dương Cảnh Tông (楊景宗) vào cửa cấm. Đến khi bị người giữ cửa phát hiện, Cảnh Tông liền giấu giếm không tâu. Ngự sử Trung thừa Quách Khuyến (郭勸) xin trước hết trị tội Cảnh Tông, dâng sớ hai lần, không được nghe, lại tranh luận ở triều nhiều ngày. Ngày Ất Dậu, giáng Cảnh Tông đi an trí ở Quân châu. Cảnh Tông xin dâng hết quan tước, được ở lại Kinh sư, Ngự sử Hà Đàm cực lực nói là không thể. Hơn một tháng sau, mới từ Quân châu dời đến Đặng châu.

Thái tử Thiếu sư trí sĩ Thạch Trung Lập (石中立) qua đời, truy tặng Thái tử Thái phó, thụy Văn Định.

Trung Lập ưa đùa cợt, nhưng quen thuộc điển cố Đài các, không vội vã cầu danh. Lúc đầu, sản nghiệp trong nhà mỗi năm thu vào 1 triệu tiền, cuối đời tiêu gần hết. Hoàng đế nghe ông bệnh, ban 300 lạng bạc. Đến khi mất, nhà đến nỗi không đủ lo tang.

Tháng 9, ngày Ất Mùi, lấy Quyền Tam ty sứ Trương Nghiêu Tá (張堯佐) làm Lễ bộ Thị lang, Tam ty sứ. Giám sát ngự sử Trần Húc tâu rằng Nghiêu Tả là thân thích của Hậu cung, không nên cho nắm việc tài chính quốc gia, nhưng vua không nghe.

Chiếu Hà Đông, Hà Bắc Kinh lược An phủ sứ ty: "Nước Liêu khởi binh đánh người Hạ, những nơi trọng yếu biên giới, phải chọn tướng tá giao phó, nghiêm túc phòng bị." Bấy giờ Ty Tư thiên nói Thái âm phạm sao Bích, chủ về binh ở biên, nên Triệu phận có lo.

Ngày Ất Tị, Quảng Nam Tây lộ Chuyển vận ty tâu rằng Man ở Quảng Nguyên châu quấy nhiễu Ung châu, chiếu lệnh Giang Nam, Phúc Kiến phát binh phòng bị. Quảng Nguyên châu ở phía tây nam Ung châu, là nguồn sông Úc, núi non hiểm trở, u tối, sản vàng, chu sa, có khá nhiều ấp, xóm. Tục búi tóc, vạt áo bên trái, giỏi chiến đấu, coi thường cái chết, ưa loạn. Trước kia họ Vi, họ Hoàng, họ Chu, họ Nùng làm thủ lĩnh, cướp bóc lẫn nhau. Đời Đường, Ung quản Kinh lược sứ Từ Thân Hậu (徐申厚) vỗ về họ, họ Hoàng dâng cống, rồi 13 bộ, 29 châu Man đều yên. Từ khi Giao Chỉ Man chiếm giữ An Nam, Quảng Nguyên tuy gọi là châu ki mi phía tây Ung quản, nhưng thực ra phục dịch Giao Chỉ.

Ban đầu, có Nùng Toàn Phúc (儂全福) làm Tri Thảng Do châu, em là Tồn Lộc (存祿) làm Tri Vạn Nha châu, em vợ Toàn Phúc là Nùng Đương Đạo (儂當道) làm Tri Vũ Lặc châu. Một ngày, Toàn Phúc giết Tồn Lộc, Đương Đạo, chiếm luôn đất ấy. Giao Chỉ nổi giận, đem quân bắt Toàn Phúc và con là Trí Thông (智聰) đem về. Vợ ông là A Nùng (阿儂), vốn người tộc Vũ Lặc ở Tả Giang, dần dần đến Thảng Do châu, Toàn Phúc nạp làm vợ. Toàn Phúc bị bắt, A Nùng bèn lấy một người buôn, sinh con trai, đặt tên là Trí Cao (智高), 13 tuổi giết cha là người buôn, nói: "Trong thiên hạ há có người hai cha sao!" Bèn mạo xưng họ Nùng, cùng mẹ chạy đến động Lôi Hỏa. Mẹ lại lấy Nùng Hạ Khanh ở Đặc Ma Đạo. Lâu sau, Trí Cao lại cùng mẹ ra chiếm cứ Thảng Do châu, lập nước gọi là Đại Lịch. Giao Chỉ lại đánh chiếm Thảng Do châu, bắt Trí Cao rồi tha tội, cho làm Tri Quảng Nguyên châu, lại lấy 4 động Lôi Hỏa, Tần Bà và Tư Lãng châu cho phụ thuộc thêm. Nhưng trong lòng oán Giao Chỉ, ở được 4 năm, bèn đánh chiếm An Đức châu, xưng bậy là nước Nam Thiên, đổi niên hiệu Cảnh Thụy, từ đó bắt đầu vào cướp.

Khi Tiêu Huệ nước Liêu đi đánh nước Hạ, chiến thuyền, thuyền chở lương nối dài mấy trăm dặm. Đến khi vào đất địch, do thám không đi xa, giáp trụ để trên xe, quân sĩ không được cưỡi ngựa. Các tướng xin phòng bị bất trắc, Huệ nói: "Lượng Tộ (vua Tây Hạ) ắt tự ra nghênh xa giá, đâu rảnh mà lo đến ta! Vô cớ phòng bị, chỉ tự làm mệt mà thôi." Liêu chúa đã quay về, Huệ vẫn tiến quân. Ngày Đinh Mùi, lũy trại chưa dựng xong, người Hạ bỗng ập đến, Huệ cùng thuộc hạ không kịp mặc giáp mà chạy, quân đuổi bắn, Huệ suýt không thoát, sĩ tốt chết bị thương không kể xiết.

Ngày Mậu Ngọ, sao Thái Bạch phạm sao Nam Đẩu.

Ngày Kỷ Mùi, bãi Võ cử.

Lúc đầu, Phạm Tường (范祥) bàn sửa đổi muối pháp, người ta tranh nhau nói là không tiện, triều đình một mình cho là dùng được, giao Tường thi hành. Bấy giờ Thị ngự sử Tri tạp sự Hà Đàm tâu: "Nghe nói từ khi đổi pháp, thương nhân vì muối quan giá cao, lợi nhuận mỏng, ít người xin mua. Một lộ Thiểm Tây đã hao hụt thuế lợi hơn 1 triệu quan, các lộ khác so với trước cũng đều giảm mạnh số tiền bán muối thu được, rất trở ngại chi dùng. Lại dân Thiểm Tây vì muối quan giá cao, phần nhiều bán muối lậu mà bị tội, hình cấm khá phiền, quan tư, tư nhân đều không có lợi, lâu dài làm sao thi hành! Thần cho rằng việc phải có trăm điều lợi mới nên bàn đổi, nếu đổi không bằng trước, thì nên theo cũ." Mùa đông, tháng 10, ngày Nhâm Tuất, sai Hộ bộ Phó sứ Bao Chửng cùng Thiểm Tây Chuyển vận sứ bàn về muối pháp.

Ngày Đinh Sửu, chiếu: "Mũ mà phụ nữ đội, cao không được quá 4 tấc, rộng không được quá 1 thước, lược chải tóc dài không được quá 4 tấc, lại không được dùng sừng làm, kẻ phạm sẽ bị xử nặng theo luật."

Trước đó trong cung chuộng mũ, lược bằng sừng trắng, người ta tranh nhau bắt chước, gọi là "nội dạng". Mũ gọi là "Thùy kiên", có cái dài đến 3 thước, lược dài cũng hơn 1 thước. Ngự sử Lưu Nguyên Du (劉元瑜) cho là "phục yêu", xin cấm, nên mới có chiếu này. Đàn bà phần nhiều bị xử phạt, bị người hiểu biết chê cười, bọn ca kỹ trong đô thành đều làm ca từ để giễu.

Ngày Nhâm Ngọ, chiếu: "Trạm ngựa phải đi ngày đêm 400 dặm, cấp tốc đệ 500 dặm."

Thị ngự sử Tri tạp sự Hà Đàm tâu: "Quân Bảo tiệp mới đặt ở Thiểm Tây, những người trên 50 tuổi và kẻ thấp bé, yếu đuối không đủ tiêu chuẩn, nếu không muốn ở trong quân, cho phép tự trình, giảm cho về làm ruộng. Hạng người này đã quen tập võ nghệ, nay nếu cho giải ngũ, cũng phải lập sổ sách quản thúc. Lại xin lấy nơi ở gần hương xã, như nghĩa dũng Hà Bắc, hợp thành chỉ huy, đặt nhân viên, tiết cấp để quản hạt. Các quận biên giới mỗi năm cho quân này phiên nhau, nơi phòng thủ cũng cho giảm số so với năm trước, khi biên giới không có báo động, những người giải ngũ ấy vẫn có thể triệu tập giữ thành, thay cho tinh binh xuất chiến, đối với việc binh không có thiếu sót. Nay tài lực rất kiệt, đây cũng là một cách giảm chi phí." Khu mật sứ Bàng Tịch một mình coi lời ấy là việc lớn. Việc bàn giảm binh, thực là do Đàm khởi xướng.

Tháng này, Bắc đạo Hành quân đô thống nước Liêu là Da Luật Đạt Hòa Khắc suất các quân Chuẩn Bố đánh Lương châu nước Hạ, đến núi Hạ Lan, bắt được mẹ đích của quốc chủ nước Hạ và gia thuộc quan lại đem về. Nước Hạ dùng 3.000 người chặn nơi hiểm yếu, liều chết chiến đấu, bị phá, Đô giám Tiêu Từ Thị Nỗ (蕭慈氏弩) chết trận.

Tháng 11, ngày Bính Thân, gia truy tặng Ngạc châu Thứ sử Chủng Thế Hành (種世衡) làm Thành châu Đoàn luyện sứ. Trước đó, con trưởng Thế Hành là Cổ đến triều tự tâu: "Cha là Thế Hành ở thành Thanh Giản, từng sai Vương Tung (王嵩) vào nước Hạ ly gián, bọn thần tử được dùng là Nhã Nhĩ (雅爾), Vượng Vinh (旺榮) anh em đều bị giết, Nguyên Hạo vì thế thế lực suy, chịu khuất, xưng thần. Kinh lược sứ Bàng Tịch che công của cha, tự nhận chức ở hai phủ." Tịch lúc ấy ở Khu mật viện, tâu rõ: "Tung vào đất giặc liền bị giam, Nguyên Hạo vẫn tin dùng Vượng Vinh như cũ. Nguyên Hạo muốn hòa, trước sai Vượng Vinh viết thư gửi biên tướng. Vợ Nguyên Hạo chính là em gái Vượng Vinh, Nguyên Hạo phế vợ, anh em Vượng Vinh oán hận. Sau khi Nguyên Hạo xưng thần 2 năm, Vượng Vinh mưu giết Nguyên Hạo, việc lộ bị giết, không phải do Tung ly gián. Thần cùng Phạm Trọng Yêm (范仲淹), Hàn Kỳ đều từng nhận trát Trung thư, đợi việc Tây phương yên sẽ bổ nhiệm vào hai phủ, sau đó Trọng Yêm, Kỳ được bổ trước, thần kế tiếp, không phải chỉ vì công chiêu dụ, văn thư còn đó có thể xét." Triều đình tuy biết Cổ nói bậy, nhưng vẫn nhớ công lao cũ của Thế Hành, từ Đông Nhiễm viện sứ truy tặng Thứ sử, cất nhắc những con chưa làm quan. Cổ lại dâng thư kêu thưởng mỏng, bèn gia truy tặng Đoàn luyện sứ, đặc biệt bổ Cổ làm Thiên Hưng úy, lệnh Ngự sử đài áp giải ra khỏi thành, giục đi nhậm chức. Đến khi Tịch bị bãi, Cổ lại biện bạch, giao cho Ngự sử khảo thực, lấy tấu chương của Tịch về việc Vương Tung làm bằng. Chiếu giao việc ấy cho Sử quan, cho phép Cổ đổi chức đến châu quận tiện lợi.

Chiếu: "Dân vùng Hà Bắc bị tai họa, người nào 80 tuổi trở lên, cùng những người bệnh nặng, nghèo khổ không thể tự nuôi sống, thì mỗi người ban cho 1 thạch gạo, 1 đấu rượu."

Ngày Tân Sửu, chiếu: "Dân nào có oan khuất, vì nghèo không thể đến cửa khuyết kêu kiện, thì cho phép trình bày với quan Giám ty để tâu lên."

Ngày Mậu Ngọ, Dương Hoài Mẫn (楊懷敏) bị bãi chức Nội thị phó đô tri, đổi làm Tam lăng phó sứ. Trước đó, Hoài Mẫn từ chức Kiềm hạt ở ải Cao Dương vào triều tâu việc, được bổ làm Phó đô tri. Khi ấy, Tri chế (soạn thảo chiếu chế) là Hồ Túc (胡宿) đương đương phụ trách thảo chế thư, nhân đó tâu rằng: "Hoài Mẫn vì giữ gìn túc vệ không cẩn thận, khiến nghịch đồ lén vào cung khuyết, lại không thể bắt sống chúng. Người bàn luận cho rằng (nay thăng chức) là mưu toan bịt miệng kẻ gian. Tội ở 2 người Hoài Mẫn và Dương Cảnh Tông (楊景宗); được khỏi bị tra xét đến cùng và xử tử, đã là may mắn lắm rồi, há lại nên để ở bên tả hữu bệ hạ nữa sao! Thần không dám thảo chế, bèn phong kín bản thảo trả lại để tâu trình." Hoàng đế nghi ngờ chức phận của Túc không nên nói như vậy, hôm sau bảo với Tể tướng: "Đời trước có chuyện như thế hay không?" Văn Ngạn Bác (文彥博) tâu: "Đời Đường, Cấp sự trung Viên Cao (袁高) không chịu thảo chế thư cho Lư Khí (盧杞); gần đây Phú Bật (富弼) cũng từng phong hoàn chiếu thư." Hoàng đế nghe vậy mới nguôi ý. Quan Gián quan Tiền Nghiễm Viễn (錢彥遠) nói với Túc: "Người nhân thì tất có dũng, ở nơi công khanh như ngài, thần đã thấy điều đó rồi." Sau đó, có Xá nhân khác thảo chế thư cho Hoài Mẫn, nhưng Nghiễm Viễn cùng các quan Đài quan liên tiếp dâng sớ bàn luận không thôi, hơn nửa tháng, rốt cuộc bãi chức của Hoài Mẫn. Hồ Túc nghe tin Hoài Mẫn được bổ làm Tam lăng phó sứ, nói với người khác rằng: "Hoài Mẫn ắt sẽ chết. Nơi ấy là chỗ thần linh của Tổ tông ngự trị, đại gian thần há có thể trốn thoát được sao!" Chẳng bao lâu, Hoài Mẫn quả nhiên chết.

Tháng 12, ngày Nhâm Tuất, chiếu: "Quân Bảo tiệp ở Thiểm Tây, người nào 50 tuổi trở lên, cùng những kẻ thấp bé yếu đuối không đảm đương nổi việc dịch, thì cho phép về quê làm ruộng; nếu không có ruộng vườn để trở về, thì giảm xuống làm Tiểu phần (suất lính nhỏ)." Tất cả số người được cho về hơn 3 vạn rưỡi, đều hoan hô trở lại nhà mình. Số còn ở trong sổ quân tịch vẫn hơn 5 vạn người, khóc than, hận không được cùng đi. Vùng biên giới Thiểm Tây, tính ra mỗi năm tốn 7 vạn quan tiền để nuôi 1 quân Bảo tiệp; từ đó mỗi năm giảm bớt được 245 vạn quan tiền, sức dân Thiểm Tây nhờ đó hơi được hồi phục.

Trước đó, Khu mật sứ Bàng Tịch (龐籍) cùng Tể tướng Văn Ngạn Bác, vì quốc dụng không đủ, dâng nghị bàn giảm bớt binh lính, mọi người tranh nhau bày tỏ là không thể, các tướng vùng biên giới lại càng cố sức tranh luận, lại nói rằng binh lính đều quen cung đao, không vui về làm ruộng, một khi mất áo cơm, ắt sẽ tụ tập làm giặc cướp, Hoàng đế cũng sinh nghi. Ngạn Bác cùng Tịch đồng tấu: "Nay công tư đều cùng kiệt, trên dưới hoảng hốt, nguyên do không gì khác, chính là vì nuôi binh quá nhiều. Nếu không giảm bớt cho về, thì không có cách nào nghỉ ngơi hồi sức. Vạn nhất quả thật tụ tập làm giặc cướp, thần xin lấy cái chết để gánh lấy." Hoàng đế lúc ấy mới quyết ý. Sau đó, Phán Diên châu Lý Chiêu Lượng (李昭亮) lại tâu rằng ở Thiểm Tây số quân Bảo tiệp được miễn dịch quá nhiều, thường có kẻ rụt cổ co gối, giả làm thấp bé để lừa dối quan lại. Bàng Tịch nói: "Binh lính nếu quả thật không vui về làm ruộng, sao lại phải dối trá như thế!" Hoàng đế rất cho là phải.

Ngày Giáp Tý, sai Nội cung phụng Cao Hoài Chính (高懷政) đi đốc suất bắt bọn giặc cướp ở Ung châu.

Ngày Nhâm Thân, Quan Văn điện đại học sĩ, Hữu Bộc xạ, Phán Đô tỉnh Giả Xương Triều (賈昌朝), lại được làm Tiết độ sứ Sơn Nam Đông đạo, Đồng bình chương sự, kiêm Phán Trịnh châu.

Ngày Mậu Dần, lâm mộc ở Kính lăng của nước Liêu bị hỏa hoạn.

Ngày Kỷ Mão, nước Liêu xét tù, có người em theo anh họ làm giặc cướp, anh em đều không có con, đặc biệt tha tội cho người em.

Năm ấy, nước Hạ đổi niên hiệu là Diên Tự Ninh Quốc.