Bước tới nội dung

Tục tư trị thông giám/Quyển 51

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tục Tư trị thông giám, quyển 50  (2025)  của Tất Nguyên, do Cơ Như Tuyết dịch
Tống kỷ 51

Từ tháng Giêng năm Canh Dần (1050) đến tháng 5 năm Tân Mão (1051), Nhân Tông Hoàng Hựu năm thứ 2 đến năm thứ 3, gồm 1 năm có dư

Năm Hoàng Hựu thứ 2 (Liêu, năm Trọng Hy thứ 19), Công nguyên năm 1050

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Canh Dần, nhà sư nước Liêu là Huệ Giám được gia phong Kiểm giáo Thái úy.

Ngày Canh Tý, nước Liêu bàn công tội các tướng sĩ trong việc đánh nước Hạ, phong Da Luật Đạt Hòa Khắc (耶律達和克) làm Quất Thủy quận vương, các tướng tá thuộc quyền ông ta và các bộ trưởng là bọn Chuẩn Bột (准布) đều được thăng tước có chia bậc khác nhau. Vì Tiêu Huệ Tử Từ Thị Nỗ (蕭惠子慈氏努) tử trận nơi chiến địa, nên tha tội “làm mất quân” cho Huệ, lại truy tặng chức Bình chương sự.

Ngày Tân Sửu, nước Liêu sai sứ sang hỏi tội nước Hạ.

Ngày Nhâm Dần, Liêu chúa đi đến Ngư Nhi Lạc (鱼儿泺).

Ngày Quý Mão, vì mất mùa đói kém, bãi bỏ việc xem đèn Thượng Nguyên.

Ngày Nhâm Tý, lệnh Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Vương Nghiêu Thần (王尧臣), Nhập nội đô tri Vương Thủ Trung (王守忠), Hữu tư gián Trần Húc (陳旭) cùng Tam ty đối chiếu số thu chi tài phú hàng năm trong thiên hạ, tâu lên.

Từ năm Khang Định thứ 1, ở Thiểm Tây chiêu mộ người đem cỏ khô, thóc gạo cho vùng biên, bắt đầu tăng số lượng cấp muối vùng Đông Nam, còn ở Hà Bắc thì thi hành “tam thuyết pháp”, cũng dùng muối Đông Nam thay cho số tiền quan cấp cho Kinh sư, đủ số thì thôi. Đến năm Khánh Lịch thứ 2, Tam ty lại xin theo phép năm Khang Định thứ 1 chiêu mộ người nhập trung, bèn chiếu cho những người nhập trung ở Thiểm Tây, Hà Đông, cầm khế ước đến Kinh sư, trả lại bằng tiền và vàng lụa, mỗi thứ một nửa. Ai không muốn nhận vàng lụa thì cho hương dược, trà, muối, tùy ý muốn. Mà lợi nhuận từ muối ở vùng Đông Nam đặc biệt dày, thương nhân không còn nhận vàng lụa nữa, đều muốn lấy muối. Đến năm thứ 8, ở Hà Bắc thi hành “tứ thuyết pháp”, muối là một trong bốn, mà số cỏ khô, thóc gạo nhập trung cho vùng biên đều là con số hư, thổi phồng lên đến mấy lần, khế đến Kinh sư lại bị bọn lái buôn ép giá. 800 cân muối trước đây bán được 10 vạn tiền, đến nay chỉ còn 6 vạn; thương nhân vì giá rẻ nên dùng khế lấy muối, không còn nộp tiền vào Kinh sư, kho tàng càng thêm thiếu. Bèn chiếu cho Tam ty xét định kỹ, Nghiêu Thần và những người khác xin khôi phục phép nộp tiền vào Kinh sư, so với số tiền nộp cũ thì hơi tăng mà cấp thêm muối; còn những người nhập trung cỏ khô, thóc gạo cho vùng biên vốn được cầm khế nhận muối, thì ở Hà Đông, Thiểm Tây, giá cỏ khô, thóc gạo là 10 vạn tiền, chỉ cấp muối trị giá 7 vạn; ở Hà Bắc lại giảm xuống còn 6 vạn rưỡi, và lại lệnh ai nộp 10 vạn tiền vào Kinh sư thì mới cho kiêm cấp (tiền và muối), gọi là “đối thiếp”. Từ đó, việc nộp tiền vào Kinh sư dần dần trở lại như cũ.

Tháng 2, ngày Giáp Thân, xuất 50 vạn tấm lụa trong Nội tàng khố, phát xuống các lộ Hà Bắc, Thiểm Tây, Hà Đông để làm sẵn tiền thưởng quân.

Ngày Đinh Hợi, tướng nước Hạ đánh thành Kim Túc của nước Liêu, Nam diện Lâm Nha của Liêu là Cảo Gia Nỗ (杲嘉努) đánh tan, chém hơn vạn thủ cấp.

Tháng 3, ngày Mậu Tý mồng 1, chiếu bãi bỏ lễ Hoàng đế thân tế Nam giao vào ngày Đông chí năm nay, chọn ngày trong tháng 9 làm lễ ở Minh đường. Trước đó, Tống Tường (宋庠) bàn rằng năm nay phải tế Giao mà ngày Đông chí lại rơi vào ngày Hối (cuối tháng), nên theo điển tích năm Kiến Long, cần phải tránh, nhân đó xin mùa thu đại hưởng ở Minh đường. Hoàng đế bảo các phụ thần: "Minh đường là cung bố chính, là vị trí triều kiến chư hầu, là đường thất của Thiên tử, chính là Đại Khánh điện ngày nay, huống chi đầu niên hiệu Minh Đạo đã hợp tế trời đất ở đó. Nay việc thân tế không nên theo lệ cũ, vẫn nên ở Giao mà dời sang tế ký thác." Ngày Kỷ Sửu, chiếu lấy Đại Khánh điện làm Minh đường, lại lệnh các ty hữu quan xét định nghi chế tâu lên.

Ngày Giáp Ngọ, sai quan cầu mưa.

Ngày Mậu Tuất, chiếu: "Lễ Minh đường hoàn thành, quần thần không được dâng tôn hiệu."

Đô điểm kiểm Điện tiền nước Liêu là Tiêu Địch Lý Đặc (蕭迪里特) đánh nhau với quân Hạ ở Tam Giác Xuyên, đánh bại chúng.

Ngày Kỷ Hợi, chiếu rằng trong việc tế Minh đường, từ xe ngự, y phục, đồ dùng các thứ, phải khiến các ty hữu quan cắt giảm cho giản lược.

Ngày Canh Tý, nước Liêu sai Điện tiền phó điểm kiểm Da Luật Ích (耶律益) sang báo việc đánh nước Hạ trở về.

Ngày Quý Mão, nước Liêu sai Tây Nam chiêu thảo sứ Tiêu Bồ Nỗ (蕭蒲努) đem quân thay nước Hạ (giữ biên). Ngày Giáp Thìn, sai Đồng tri Bắc viện Khu mật sứ Tiêu Cách (蕭革) đi xét quân và thành biên giới, để làm thanh viện.

Chiếu: "Con cháu tông thất đến 4 tuổi thì triều đình cấp ăn." Ban đầu chiếu 5 tuổi mới cấp ăn, Tri Đại tông chính sự Doãn Nhượng (允让) xin vẫn theo lệ cũ là 3 tuổi, nên nay định lại như thế.

Ngày Kỷ Dậu, lấy Triều Lâm học sĩ Triệu Khái (赵概) làm sứ sang nước Liêu. Liêu chúa đóng ở Tức Kê Điện (息鸡淀), từng nhân dịp hội săn, lệnh Khái làm bài thơ “Tín thệ như sơn hà”, thơ làm xong, ban cho chén ngọc để khuyến ẩm.

Chiếu: "Dân lưu tán nam nữ ở hai Chiết (Lưỡng Chiết) không thể tự sống được, cho phép người khác thu dưỡng, sau này không được đòi lại."

Ngày Quý Sửu, chiếu lấy ngày Tân Hợi cuối mùa thu (tháng 9) đại hưởng ở Minh đường. Trước đó, Lễ quan bàn rằng vương giả tế Giao dùng ngày Tân, là lấy nghĩa trai giới, sửa binh, tự mới; lại trong “Thông lễ” việc tế Minh đường cũng dùng ngày Tân; bèn giao cho Ty Thiên chọn ngày, được ngày Tân Hợi tốt lành, ấy tức ngày 27 tháng 9.

Ngày Bính Thìn, Tống Kỳ (宋祁) dâng 2 thiên “Minh đường thông nghị”.

Tri Phủ châu là Chiết Kế Mẫn (折继闵) mất, lấy em là Kế Tổ (继祖) lĩnh quân sự Phủ châu.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Giáp Tý, ở Sa châu, đám người Phù Cốt Đốc Mạt (符骨笃末), Tự Bà Ôn (似婆温) sang dâng ngọc.

Ngày Ất Sửu, trong cung ban ra thủ chiếu nói: "Lễ Minh đường, các đời trước đều dùng nghĩa thuyết của hai nhà Trịnh Khang Thành, Vương Túc, kiêm tế Hạo Thiên Thượng Đế, đã là biến lễ. Từ tổ tông trở lại đây, 3 năm một lần thân tế Giao, hợp tế trời đất, tổ tông đều phối, bách thần theo thờ. Nay tế Minh đường, đúng vào kỳ thân tế Giao, mà lễ quan định ra chỉ tế Hạo Thiên Ngũ Đế, không có Địa kỳ, chỗ phối ngồi không có tổ tông, chưa hợp chế độ ba triều. Nên hợp tế Địa kỳ, phụng Thái Tổ, Thái Tông, Chân Tông cùng phối, còn Ngũ Đế, Thần Châu cũng do Hoàng đế thân hiến, các thần Nhật, Nguyệt, sông, biển đều theo lệ Viên Khâu mà theo thờ." Nhân đó bảo Văn Ngạn Bác (文彦博): "Lễ không phải từ trời rơi xuống đất mọc lên, mà do lòng người mà ra. Lễ quan quen câu nệ truyền thuyết cũ của Nho gia, bỏ thành pháp ba triều, đó không phải là điều trẫm dùng để tỏ rõ hiếu, làm yên dân vậy." Hôm sau, Ngạn Bác tâu: "Trong chiếu đã định lễ thân hiến, chu đáo đến Ngũ Thiên Đế, Thần Châu, so với vị trí ở Viên Khâu, lên xuống đều là lao nhọc, xin lệnh quan chia nhau hiến tế." Hoàng đế nói: "Trẫm đối với đại tự, há dám sợ nhọc!" Lễ quan bàn về vị trí các thần theo thờ chưa quyết, lại dụ rằng: "Gian thứ nhất của đàn Giao đặt trong điện, gian thứ hai, thứ ba đặt ở hai dãy hành lang tả hữu và trên Long trì, những vị ở trong ngoài khu tế thì bày ở hai dãy đông tây trong điện và hậu vũ, để tượng trưng chế độ đàn và khu tế, lại phải vẽ đồ trước, tâu lên."

Liêu chúa đi Ngư Nhi Lạc.

Ngày Mậu Thìn, giáng Hàn lâm học sĩ, Quyền tri Khai Phong phủ Tiền Minh Dật (钱明逸) làm Long Đồ các học sĩ, Tri Thái châu.

Trước đó, con nhà thầy thuốc là Lãnh Thanh (冷青) tự xưng là Hoàng tử, nói mẹ mình từng được sủng hạnh trong cung, có thai rồi bị cho ra ngoài, sinh ra Thanh, dân đô thị tụ tập đến xem. Minh Dật bắt được Thanh, giải vào phủ, Thanh quát Minh Dật: "Minh Dật sao không đứng dậy!" Minh Dật liền đứng lên rồi mới ngồi. Sau cho là điên, đày đến Nhữ châu quản thúc. Thôi quan Hàn Cương (韩绛) nói Thanh để ở ngoài sẽ mê hoặc lòng dân; Hàn lâm học sĩ Triệu Khái nói lời Thanh không phải nói bừa, không nên lưu đày, nếu là giả thì phải giết; bèn chiếu cho Khái cùng Tri Gián viện Bao Chửng (包拯) truy bắt Thanh, tra xét đến cùng. Hóa ra mẹ hắn là Vương thị từng làm tạp dịch trong cấm cung, sau gả cho người dân là Lãnh Tự (冷绪), trước sinh con gái, sau mới sinh Thanh. Thanh phiêu bạt ở Lư Sơn, nhiều lần nói với người rằng mình là con vua, sư Phật là Toàn Đại Đạo (全大道) dắt hắn vào Kinh sư, muốn tự tâu dưới cửa khuyết. Án thành, đều khép tội bất đạo, xử tử. Minh Dật bị tội vì làm Doãn Kinh sư mà không có uy vọng, nên bị trách phạt. Cương là con của Ức (亿).

Ngày Giáp Thân, Cao Ly sang cống nước Liêu.

Tháng 5, ngày Kỷ Sửu, Liêu chúa đi Lương Hình (凉陉).

Ngày Quý Tị, đám người Tiêu Bồ Nỗ của nước Liêu vào cõi nước Hạ, không gặp địch, bèn thả sức cướp bóc rồi về.

Ngày Giáp Ngọ, Lễ viện dâng “Minh đường ngũ thất chế độ đồ”.

Phong thần núi Ni Khâu ở Yên châu là Dục Thánh hầu.

Ngày Bính Thân, chiếu Quốc tín ty bãi việc sai “Tam phiên sứ thần”. Từ khi thông hiếu với nước Liêu, việc tiếp đón sứ giả đều do Kinh sư cử “Tam phiên sứ thần”, các châu, quân dọc đường khốn khổ vì việc đòi hỏi cung ứng, Gián quan Bao Chửng, Ngô Khuê (吴奎) hết sức nói rõ sự quấy nhiễu. Sau khi bãi việc sai Tam phiên, thì đồ dùng trạm dịch đều lệnh quan các châu, quân dọc đường tự lo liệu.

Ngày Mậu Thân, Chuyển vận ty Quảng Nam Tây lộ tâu rằng Giao Chỉ phát binh bắt giặc Nùng Trí Cao (侬智高) ở Quảng Nguyên châu, bọn chúng đều trốn vào núi rừng; chiếu lệnh bản lộ nghiêm phòng bị.

Tháng 6, ngày Bính Dần, Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Vương Nghiêu Thần tâu: "Phụng chiếu cùng Thái thường tham nghị phép phổ thanh bốn âm trong biên chung của Nguyễn Dật (阮逸) dâng, xin dùng vào lễ Minh đường. Thần xét phép ‘luật lữ chuyển cung’ đã định bằng ống tiêu, lại chế 12 chuông làm 12 chính thanh, tính theo luật, từ gấp đôi đến rưỡi. Người giải thích nói: ‘Rưỡi’ là lấy nửa chính thanh làm chuông 12 tử thanh, nên có 12 chính thanh, 12 tử thanh. Tử thanh tức là thanh trong. Ống chính dài làm ‘quân’, thì tự dùng chính thanh; ống chính ngắn làm ‘quân’, thì thông dùng tử thanh mà thành ngũ âm. Nhưng phép cầu thanh vốn dựa vào chuông, nên “Quốc ngữ” mới nói ‘độ luật quân chung’. Phép biên kim thạch thì các đời không giống nhau, hoặc lấy 19 làm một ‘thuyên’, hoặc lấy 31 làm một ‘thuyên’, hoặc lấy 16 làm một ‘thuyên’, hoặc lấy 24 làm một ‘thuyên’. Vì thế chế độ nhà Đường lấy số 16 làm tiểu giá, 24 làm đại giá, dùng riêng cho tế trời đất, tông miếu, triều hội. Nay Thái thường treo 16 chuông, truyền cũ nói ngoài chính thanh còn có 4 thanh từ Hoàng chung đến Giáp chung, tức là khi từ 4 luật Di Trắc đến Ứng chung làm ‘quân’, nếu dùng hết chính thanh thì cung nhẹ mà thương nặng. Từ cung thanh trở xuống không thể lại có trọc thanh. Trong một ‘quân’, cung yếu thương mạnh, gọi là lăng tiệm, nên phải dùng tử thanh thì mới được dài ngắn nối tiếp nhau. Từ Giốc trở xuống cũng theo phép ấy. Đến khi luật khác làm cung, thì dài ngắn, tôn ti tự sắp xếp, không nên lại xen thanh trong. Từ cuối đời Đường nhiều loạn, nhạc văn thất lạc, phép gõ chuông đã lâu không truyền. Nay các khí cụ như tơ trúc, vốn có thanh trong thì nay theo chuông, đá mà dạy tập; vốn không có thanh trong thì chưa thể tự ý cầu phép, tạm nên theo cũ. Phổ thanh của Nguyễn Dật dâng, dùng thanh trọc ứng nhau, đánh xen trước sau, cốt lấy lời uyển chuyển, gần với Trịnh thanh, không thể dùng." Chiếu cho theo.

Liêu chúa tế mộ Khánh lăng.

Ngày Đinh Mão, đem 5 khúc, tổng cộng 57 thanh của Hoàng chung ngũ âm do Hoàng đế tự soạn, giao cho Thái thường luyện tập.

Ngày Canh Ngọ, Liêu chúa tế Đại An điện.

Ngày Nhâm Thân, nước Liêu trong khoa sách tiến sĩ, lệnh thầy thuốc, thầy bói, đồ tể, con buôn, nô lệ và những kẻ bỏ cha mẹ hoặc phạm tội trốn tránh không được dự thi.

Ngày Bính Tý, Gián quan là bọn Bao Chửng, Trần Húc, Ngô Khuê tâu: "Tam ty sứ Trương Nghiêu Tá (张尧佐) là người phàm tục, chỉ nhờ sủng ái riêng mà đột nhiên bước lên hàng hiển quý, từ khi được dùng đến nay, vạn miệng cùng chê. Bệ hạ sao lại che chở một mình Nghiêu Tá, trên trái ý trời, dưới nghịch lòng người, mà nuôi thành nguy cơ như thế? Thần thật vì Bệ hạ mà đau xót!" Bao Chửng lại nói: "Từ xưa đến nay, họ hàng hậu phi, dù có người tài cũng chưa từng trao cho quyền sự, huống chi là kẻ bất tài! Thần thấy từ tổ tông trở lại đây, khi kho tàng phong phú, chi dùng đầy đủ, còn phải tuyển chọn kỹ lưỡng các quan tính toán như Trần Thứ (陈恕), Ngụy Vũ (魏羽) mà dùng, những người khác cũng đều là bậc tuyển chọn một thời. Huống nay trên dưới túng bấn, há có thể chuyên dùng một người này! Cúi xin đặc biệt ra thánh đoán, ban cho chức khác, lại tìm người tài kiệt mà ủy thác cho."

Ngày Tân Tị, lấy Thôn điền viên ngoại lang Lữ Công Trứ (吕公著) làm Đồng phán Lại bộ Nam tào. Công Trứ là con của Di Giản (夷简), từng được triệu vào thi chức ở Hàn lâm, nhưng không nhận. Bấy giờ Hoàng đế dụ rằng: "Trẫm biết khanh có tiết tháo điềm đạm, lui về." Nhân đó ban cho phẩm phục ngũ phẩm.

Liêu chúa ra đề sách vấn tiến sĩ ở Kim Loan điện.

Tháng này, Hoàng đế giảng sách ở Nhĩ Anh các, nhân đó bảo thị thần: "Xưa có việc dời dân đến nơi đất rộng người thưa, nay đất Mân, Thục chật hẹp, dân có thể dời đi chăng?" Đinh Độ (丁度) đối: "Luật lệnh vẫn còn, chỉ là các ty không thi hành mà thôi. Thái Tổ từng dời hơn 1.000 hộ dân Thái Nguyên đến Sơn Đông, Thái Tông lại dời dân Vân, Ứng, Hoàn, Sóc đến các châu Kinh Tây. Người vùng Tây Bắc siêng năng, cẩn thận, tiết kiệm, nay những người giàu ở quê phần nhiều là dân bị dời khi ấy. Dân vốn an thổ, nặng chuyện dời đi, nhưng nếu lợi đất đã hết thì rốt cuộc không có lý do để luyến tiếc. Nay dân Thục mỗi năm tăng, đất hoang đã khai hết, hộ nghèo chỉ có 35 mẫu ruộng, hoặc 5, 7 mẫu, mà phải nuôi một nhà mười mấy miệng, chỉ một năm mất mùa là chết đói nơi mương rãnh, thật đáng thương xót. Thần cho rằng không chỉ dân Thục,凡 những vùng chật hẹp như thế đều nên dời đi, tính theo khẩu mà cấp ruộng, miễn sưu dịch cho nhà họ theo luật lệnh, thật là gốc lợi cho nông và tích lúa." Hoàng đế nghe theo, bèn chiếu cho Chuyển vận sứ Kinh Tây cáo dụ các lộ Ích, Tư, Lợi, Quỳ, Phúc Kiến, dân nào muốn dời thì cho phép.

Mùa thu, tháng 7, ngày Đinh Hợi, truy tặng Mỹ nhân Thượng thị (尚氏) làm Uyển nghi.

Ngày Nhâm Thìn, Liêu chúa đóng ở Khoát Lý Bồ Oản (括里蒲碗).

Ngày Quý Tị, nước Liêu lấy Hoàng tử Yên Triệu quốc vương Hồng Cơ (洪基) kiêm lĩnh Bắc Nam Khu mật viện.

Ngày Bính Thân, Hoàng đế ngự đến nhà Trương Tín tiết độ sứ kiêm Thị trung Lý Dụng Hòa (李用和) thăm bệnh, cho được vào chầu trong buồng bệnh, thăng con trai thứ là Tuấn (珣) làm Hợp môn sứ, ban tặng ngôi nhà đang ở cho, lại mỗi ngày cấp 5.000 tiền thuê nhà công. Dụng Hòa nhờ là cậu của Hoàng đế, từ dân gian mà lên đến Thứ tướng, nhưng có thể đóng cửa từ chối khách, đẩy xa quyền thế. Hoàng đế vì Chương Ý Thái hậu không được nuôi dưỡng mình, nên sủng ái ngoại thích quá mức. Đến khi Dụng Hòa mất, Hoàng đế thân đến tế, khóc rất thảm, truy tặng Thái sư, Trung thư lệnh, Lũng Tây quận vương, đặc biệt đình triều 5 ngày, mặc tang phục trong vườn, thụy là Cung Hi, Hoàng đế tự soạn minh trên thần đạo bi, lại đề triện rằng “Thân hiền chi bi”. Đến khi vợ ông ta mất, cũng đình triều, mặc tang phục.

Ngày Mậu Tuất, nước Liêu xét tù.

Ngày Mậu Thân, nước Liêu lấy Tả Y Lặc Hy Ba Tiêu Đường Quát (萧唐括) làm Bắc viện Khu mật phó sứ.

Ngày Nhâm Tý, Liêu chúa săn ở Hầu Lý Cát (侯里吉).

Tháng 8, ngày Kỷ Mùi, lấy Thị ngự sử tri tạp sự Hà Đàm (何郯) làm Trực Long Đồ các, Tri Hán châu; Đàm vì mẹ già nên xin ra ngoài nhậm chức. Sắp đi, dâng sớ nói: "Tam ty sứ Trương Nghiêu Tá tuy do thi Tiến sĩ mà đỗ, trải chức không có lỗi gì khác, nhưng đột nhiên được sủng dụng, lòng người đều cho rằng chỉ vì thân thích hậu cung, không còn ai cho là vì tài năng nữa. Hơn một năm nữa, sau khi đại hưởng xong, dư luận cho rằng Bệ hạ lấy danh nghĩa báo công, ắt sẽ tiến dùng vào hai phủ. Nếu quả như dư luận, đến ngày ban mệnh, các thần dâng lời ắt sẽ lấy chết mà tranh. Dùng Nghiêu Tá mà bãi người dâng lời thì tổn đức, dùng người dâng lời mà bãi Nghiêu Tá thì thương ân; tổn đức thì hại đến thánh thân, thương ân thì oán khởi ở thân thích gần. Chi bằng làm cho Nghiêu Tá giàu sang mà không trao quyền, như Lý Dụng Hòa là được."

Ngày Ất Sửu, Tri Hàng châu, Tư chính điện học sĩ Phạm Trọng Yêm (范仲淹) tâu tiến “Minh đường đồ nghĩa” do người thảo dã ở Kiến Xương quân là Lý Cấu (李觏) soạn, chiếu giao cho hai ban xem xét kỹ, khen học nghiệp ông ta uyên bác, cho làm Thử Thái học trợ giáo. Cấu từng dự cử Mậu tài dị đẳng, không đỗ, vì cha mẹ già nên lấy việc dạy học làm kế sinh nhai, học trò thường đến vài chục, vài trăm người.

Ngày Bính Dần, người thảo dã ở Phúc châu là Trịnh Thúc Báo (郑叔豹) dâng 3 quyển “Tông tự thư”, thuật lại chế độ Minh đường và nghĩa phối hưởng, mũ miện.

Ngày Đinh Sửu, chiếu bãi việc tế Thần Châu Địa kỳ vào ngày Lập đông. Ban đầu, Lễ viện cho rằng Hắc Đế và Thần Châu Địa kỳ đều nên hợp tế ở Minh đường, xin bãi lễ tế ngày Lập đông. Hoàng đế cho rằng bốn mùa nghênh khí không thể bỏ, nên bãi việc tế Thần Châu Địa kỳ.

Tháng 9, ngày Tân Mão, chiếu sau khi lễ Minh đường xong, ban áo tập, vàng lụa, đồ khí, ngựa yên cương cho Hạ Tông (夏竦), Vương Đức Dụng (王德用), Trình Lâm (程琳), Lý Chiêu Lượng (李昭亮). Từ đây, tướng tướng ở ngoài gặp đại lễ đều được ban thưởng.

Ngày Bính Thân, chiếu Thái tử Thái bảo trí sĩ Đỗ Duyên (杜衍), Thái tử Thiếu phó trí sĩ Nhậm Bố (任布) cùng dự phối tế Minh đường, lệnh Ứng Thiên phủ dùng lễ đốc thúc mời, lại ở Đô đình dịch, Tích Khánh viện chuẩn bị chu đáo đồ ăn, giường ghế, gậy chống, đợi các ông đến. Duyên tự tay dâng sớ lấy cớ bệnh mà từ, Bố sắp lên đường mới lấy cớ bệnh từ; đều sai Trung sứ mang thuốc men ban cho.

Ngày Canh Tý, treo hai chữ “Minh đường” do Hoàng đế ngự bút, bốn chữ “Minh đường chi môn” viết lối Phi bạch, chiếu sau khi tế xong thì cất vào Tông chính tự.

Ngày Nhâm Dần, nước Hạ xâm phạm biên giới nước Liêu, Quất Thủy quận vương Da Luật Đạt Hòa Khắc sai tướng Lục viện quân là Hài Lý (谐里) đánh bại chúng. Nước Hạ nhiều lần không được như ý với nước Liêu, bèn bắt đầu bàn việc thông sứ.

Bấy giờ mưa dầm kéo dài hơn mười ngày, Hoàng đế trải chiếu trong cấm cung, ngày Giáp Thìn trai giới ở Văn Đức điện, trời quang. Ngày Kỷ Dậu, triều hưởng Cảnh Linh cung. Ngày Canh Tuất, hưởng Thái miếu. Ngày Tân Hợi, đại hưởng trời đất ở Minh đường, lấy Thái Tổ, Thái Tông, Chân Tông phối. Đại xá. Văn võ chức quan và những người ở các công ty, trí sĩ đều đặc biệt được thăng một cấp; nội thần vào chức đã 10 năm cũng được thăng đổi, nhưng không làm lệ vĩnh viễn.

Chiếu: "Những chỉ huy từ trong cung ban ra, trăm ty khi tiếp nhận không được tự tiện thi hành; ai dám nhân đó mà cầu cạnh xin xỏ, thì Gián quan, Ngự sử phải xét tâu."

Ban đầu, khi bàn việc ban đại xá, Hoàng đế bảo các phụ thần: "Gần đây có thân thích, người gần gũi, lén lút cầu cạnh để mong có chỉ ban từ trong cung, tuy trẫm đã khá đè nén, nhưng vẫn không tránh khỏi đôi khi bị xâm nhiễu. Nên trong văn xá phải nghiêm cấm, để tỏ lòng tin với thiên hạ." Các phụ thần đối: "Bệ hạ thân hành đại tự, mở đường chí công, chặn lối tư cầu, thiên hạ rất may. Nhưng nếu chỉ ghi trong điều khoản xá, e chưa hết được thánh ý." Bèn riêng làm một thủ chiếu, ban cùng với chiếu đại xá.

Trước đó, Thôn điền viên ngoại lang, Tri Thường châu Lư Lăng là Bành Tư Vĩnh (彭思永) vào triều làm Thị ngự sử, hết sức luận tệ hại của việc “nội giáng”, cho rằng “tà phong” không phải là điều nên có trong thịnh thế. Đến ngày trước lễ tế Minh đường, có tin truyền chiếu xá nói trăm quan đều được thăng chức, Tư Vĩnh theo giá nghỉ đêm ở Cảnh Linh cung, vội dâng lời nói không nên ban ân tràn lan. Bấy giờ Trương Nghiêu Tá vì thân liên hệ với cung nội mà đột tiến, Vương Thủ Trung vì出入 cấm cung mà được sủng, chức Tham tri chính sự còn khuyết, Nghiêu Tá sáng tối chờ lệnh, còn Thủ Trung cũng cầu làm Tiết độ sứ. Tư Vĩnh muốn dẫn đồng liêu dâng lời, có người nói: "Nên đợi khi mệnh đã ban." Tư Vĩnh nói: "Thà vì nói trước mà mắc tội, chứ đợi mệnh ban rồi không thể cứu, thì là lỗi của triều đình vậy." Bèn một mình dâng sớ: "Bệ hạ ban ân lầm lẫn này, há vì kẻ cô hàn, mà chỉ vì Nghiêu Tá, Thủ Trung để làm vui lòng mọi người. Ngoại thích nắm quyền, hoạn quan cầm việc, đều không phải phúc của tông xã." Sớ dâng lên, Hoàng đế nổi giận, chiếu hỏi Tư Vĩnh: "Từ đâu mà có lời ấy?" Gián quan Ngô Khuê nói: "Ngự sử được phép nghe phong thanh, việc có khi không thật, triều đình nên dung nạp, nếu không thể dung thì phạt cũng được, hà tất phải truy cứu nguồn gốc?" Trung thừa Quách Khuyến (郭劝) cũng nói Tư Vĩnh không nên bị tội nặng, Hoàng đế tỉnh ngộ, không truy hỏi nữa. Tư Vĩnh chẳng bao lâu bị bãi chức Thị ngự sử, làm Tư phong viên ngoại lang, Tri Tuyên châu, còn việc bàn dùng Nghiêu Tá, Thủ Trung thì bị gác lại.

Trước đó, Nhập nội đô tri Mạch Doãn Ngôn (麦允言) mất, truy tặng Tư đồ, An Vũ tiết độ sứ. Lại chiếu: "Doãn Ngôn có quân công, đặc biệt cấp lộ bộ, từ nay về sau không được làm lệ." Đồng tri Lễ viện Tư Mã Quang (司马光) nói: "Khổng Tử nói chỉ có khí và danh là không thể giả cho người. Bậc tước vị tôn ti gọi là danh, xe cộ, y phục phân bậc gọi là khí. Nay Doãn Ngôn là thần cận thần, không có nguyên huân đại lao vượt trội người khác, mà truy tặng chức Tam công, cấp lộ bộ phẩm nhất, dây tua rườm rà, chẳng phải là quá lắm sao! Triều đình muốn sủng tước cho người ấy, lại chỉ làm tăng thêm tội lỗi cho ông ta mà thôi." Quang là con của Trì (池).

Mùa đông, tháng 10, ngày Bính Thìn, Tể tướng Văn Ngạn Bác trở xuống đều được thăng chức có thứ bậc. Khu mật sứ Vương Di Vĩnh (王贻永) được gia phong Trấn Hải tiết độ sứ, tiến phong Đặng quốc công. Ban đầu, khi bàn việc ban ân rộng, Cao Nhược Nặc (高若讷) bảo Văn Ngạn Bác: "Quan tước đã bị lạm lâu rồi, chưa có gì để ngăn lại, nay lại mở thêm, sao vậy?" Ngạn Bác không nghe.

Ngày Bính Dần, đại yến ở Tập Anh điện, nhân lễ Minh đường hoàn thành mà uống rượu mừng.

Ngày Canh Ngọ, Liêu chúa trở về Thượng Kinh.

Ngày Tân Mùi, chiếu Văn Ngạn Bác, Tống Tường, Cao Nhược Nặc, Vương Thù (王洙) biên tu “Đại hưởng Minh đường ký”.

Mẹ của Hạ quốc chúa Lượng Tộ (谅祚) là Mạt Tàng thị (没藏氏) sai sứ sang nước Liêu, xin theo lệ cũ xưng phiên. Nước Liêu nhân khi sứ trở về, chiếu riêng sai tín thần sang, định sẽ từ từ tính kế.

Ngày Nhâm Thân, nước Liêu tha cho tù dịch ở Lâm Hoàng phủ.

Ngày Giáp Tuất, Liêu chúa đi Trung Hội Xuyên (中会川).

Ngày Ất Hợi, đãi yến 150 người phụ lão vùng Kinh Kỳ ở Tích Khánh viện.

Tháng này, Mỹ nhân Dương thị được phong làm Tiệp dư. Đầu niên hiệu Cảnh Hựu, bà được cho vào tu đạo ở Dao Hoa cung, đến nay lại được tiến tước hiệu.

Chiếu: "Từ nay các nơi không được tâu xin hay gửi phát niệm thư đồng tử vào kinh."

Tháng 11, ngày Ất Dậu, triệu Thái tử Trung xá trí sĩ Hồ Nguyên (胡瑗) vào Đại nhạc sở, cùng định chế độ chuông khánh. Trước đó, Hoàng đế thân xem Đại nhạc, có người nói chuông tròn, khánh đặc, lớn nhỏ không hợp với chế độ cổ; chiếu lệnh làm lại, mà Thái thường nói Nguyên vốn hiểu âm luật, nên triệu vào.

Ngày Mậu Tý, lệnh Quyền Ngự sử trung thừa Quách Khuyến, Tri Gián viện Bao Chửng tha nợ nần trong thiên hạ.

Ngày Nhâm Thìn, ban cho Hoài Nam, Giang, Chiết, Kinh Hồ chế trí phát vận sứ, Kim bộ viên ngoại lang Hứa Nguyên (许元) xuất thân Tiến sĩ.

Hoàng đế từng bảo các quan chấp chính: "Phát vận sứ tổng lĩnh 6 lộ, 88 châu, quân rộng lớn, tài vật điều dụng, tiền lụa, thóc gạo mỗi năm đến hàng triệu, nên được người thích hợp mà giữ lâu. Nay Hứa Nguyên nhiều lần dâng chương xin từ chức, trẫm nghĩ không bằng khuyến khích để ông ta tận tài." Nên đặc biệt ban ân ấy.

Ngày Mậu Tuất, Quyền Ngự sử trung thừa Quách Khuyến bị bãi, làm Hàn lâm Thị độc học sĩ. Khuyến ban đầu ở trai thất Minh đường, dẫn các Ngự sử xin được vào chầu, luận rằng quần thần không nên thăng chức, không được. Lại dâng sớ hết sức nói, rốt cuộc không được nghe theo. Bèn lấy cớ già xin giải chức ở Đài, được cho.

Triệu Tri Ích châu là Điền Huống (田况) làm Quyền Ngự sử trung thừa.

Các Thủ thần Ích châu được phép tùy tiện làm việc, phần nhiều tự tiện giết người để làm oai, dù tội nhỏ cũng liền đày cả vợ con ra khỏi Thục, đến nỗi có người lưu lạc chết dọc đường. Huống ở Thục hơn 2 năm, vỗ về dạy bảo, ai không có tội ác lớn thì không bắt dời sang đông. Người Thục yêu mến ông, so sánh với Trương Dũng (张咏).

Ngày Canh Tuất, nước Liêu xét tù.

Ngày Nhâm Tý, nước Liêu vì Nam phủ Tể tướng Hàn Tri Bạch (韩知白), Khu mật phó sứ Dương Tích (杨绩) tự tiện cấp “đường thiếp” cho tiến sĩ, nên giáng Tri Bạch làm Vũ Định quân tiết độ sứ, Tích làm Trường Ninh quân tiết độ sứ.

Tháng này, chiếu: "Từ chức Quan sát sứ trở lên, từ nay theo lệ hai Đại tỉnh, Đãi chế, sau khi trải qua hai lần lễ Giao, cho phép một lần tâu xin ân trạch cho anh em, cháu chắt dị tính của mình được bổ dụng."

Tháng nhuận, ngày Ất Mão, nước Liêu lấy Hán vương Đặc Bố (特布) làm Trung Kinh lưu thủ.

Ngày Bính Thìn, xuất 40 vạn quan tiền, 60 vạn tấm lụa trong Nội tàng khố, phát xuống Hà Bắc để mua thóc cỏ. Trước đó, Hà Bắc nhiều năm lụt lội, triều đình miễn thuế dân gần hết. Đến mùa thu, lúa má sắp chín, mà Trấn, Định lại bị đại lụt, vùng ven biên càng bị hại nặng. Hoàng đế lo quân lương không đủ, nên đặc biệt xuất tiền lụa trong Nội phủ để giúp.

Ngày Mậu Ngọ, Hà Nam phủ tâu rằng Tiền Quán Văn điện học sĩ, Thượng thư Tả thừa Trương Quán (张观) mất. Truy tặng Thượng thư bộ Lại, thụy Văn Hiếu. Quán ban đầu làm Bí thư lang, cha là Cư Nghiệp (居业) làm việc ở Phường châu, nhân dâng lời xin nhường chức cho cha, Chân Tông khen, cho Cư Nghiệp làm quan ở Kinh. Đến khi Quán hiển quý, Cư Nghiệp nhờ ân đến chức Thái phủ khanh. Từng qua Lạc Dương, khen núi sông phong vật, nói: "Ta được già ở đây là đủ rồi." Quán bèn mua ruộng đất, dựng lâm tạ, để hợp ý cha. Quán sáng sớm dậy dâng thuốc cơm rồi mới ra coi việc, chưa từng một ngày thay đổi. Khi để tang, đau buồn hơn người, đến khi mãn tiểu phục thì mất.

Ngày Kỷ Mùi, lấy Tam ty sứ, Hộ bộ Thị lang Trương Nghiêu Tá làm Tuyên huy Nam viện sứ, Hoài Khang tiết độ sứ, Cảnh Linh cung sứ, lấy Tư chính điện học sĩ, Thượng thư Tả thừa Vương Cửu Chính (王举正) kiêm Ngự sử trung thừa, đổi lệnh Điền Huống làm Quyền Tam ty sứ. Ngày ấy, chiếu: "Nhà hậu phi không được bổ nhiệm vào chức vị hai phủ." Ngày Canh Thân, lại gia cho Nghiêu Tá chức Đồng quần mục chế trí sứ.

Ngày Tân Dậu, ban cho em con chú của Quý phi Trương thị là Vệ úy tự thừa Hy Phủ (希脯), Thái đường tự Thái chúc Cập Phủ (及甫) đều xuất thân Tiến sĩ, đều là con của Nghiêu Tá.

Đêm ấy, ở Tú châu động đất, có tiếng như sấm.

Ngày Quý Hợi, Tri Gián viện Bao Chửng (包拯) và những người khác tâu rằng: "Bệ hạ lên ngôi mới 30 năm, chưa từng có điều thất đức. Thế mà trong vòng 5, 6 năm gần đây, lại đặc cách cất nhắc Trương Nghiêu Tá (张尧佐), quần thần đều ngấm ngầm bàn tán ở dưới; nhưng lỗi ấy không ở nơi bệ hạ, mà ở bọn cung nữ, hoạn quan thân cận và các đại thần chấp chính. Bởi vì bọn cung nữ, hoạn quan thân cận, luôn rình xem bệ hạ làm gì, biết bệ hạ chưa lập người kế tự mà trong lòng có chỗ riêng tư, thì không ai là không ngấm ngầm hướng theo, kết đảng với người ấy. Các đại thần chấp chính không nghĩ phải lấy đại nghĩa mà can gián bệ hạ, lại thuận theo nịnh hót, chiều theo ý chỉ, ban cho chức vị cao trọng, chỉ sợ Nghiêu Tá không vừa lòng, khiến bệ hạ mang tiếng có lỗi tư ái hậu cung. Như thế há phải là lòng yêu vua sao! Cúi mong bệ hạ lấy đại nghĩa mà quyết đoán, thu hồi ân huệ vượt bậc đã ban cho Nghiêu Tá; nếu bất đắc dĩ, thì trong 2 chức Tuyên huy sứ và Tiết độ sứ, xin chỉ chọn 1 mà cho, lại bãi bỏ mệnh lệnh cho làm Quần mục chế trí sứ, giao cho một châu ngoài để bảo toàn ông ta."

Trước đó, các quan chấp chính đoán ý vua, một ngày phong cho Nghiêu Tộ liền 4 chức “sứ”; lại vì Vương Cửu Chính (王举正) là người trầm hậu, ít nói, nên cùng ngày bổ làm Ngự sử trung thừa. Triều đình đều cho rằng Cửu Chính có lẽ sẽ khéo léo thoái thác, kéo dài dăm ba tuần, thì mệnh phong Nghiêu Tá ắt đã thi hành xong, lời bàn luận can gián cũng không kịp nữa. Ngày Giáp Tý, Cửu Chính bèn vào chầu tạ ơn trên điện, hết sức nói rằng việc cất nhắc Nghiêu Tá là không thỏa đáng. Trong bản tấu của ông ta nói: "Gần đây các quan Ngự sử, Gián quan đã nhiều lần bàn luận, bệ hạ tuy bãi chức Tam ty sứ của y, nhưng lại càng thêm sủng ái, ân vinh còn vượt hơn trước, một lúc ban cho 4 chức ‘sứ’, lại ban cho 2 con trai y đều đỗ khoa danh. Người hiền kẻ ngu, không ai là không than thở kinh sợ. Xưa thời Hán Nguyên Đế, Phùng Dã Vương là anh của Chiêu nghi, ở trong triều nhiều lần tiến cử hạnh năng của người khác, Hoàng đế nói: ‘Ta dùng Dã Vương, đời sau ắt cho rằng ta tư vị thân thích hậu cung.’ Thái Tông Hoàng đế triều ta, cha của Tôn phi chỉ được phong tản chức ở Nam ban. Ấy là để bảo toàn thân thuộc hậu cung, không cho họ lấn quá mà chuốc lấy họa diệt vong. Cúi mong bệ hạ soi xa việc tốt đời trước, gần thì giữ theo khuôn phép thánh minh của Thái Tông, thu hồi các sắc mệnh mới ban cho Nghiêu Tộ, chỉ cho một châu để dẹp yên lời bàn tán trong ngoài." Không được trả lời.

Ngày Mậu Thìn, sau buổi chầu, Cửu Chính lưu trăm quan lại ở sân triều để cùng tranh luận, rồi lại dẫn Điện trung thị ngự sử Ích Đô là Trương Trạch Hành (益都张择行), Giang Lăng là Đường Giới (江陵唐介) và các Gián quan Bao Chửng, Trần Húc (陈旭), Ngô Khuê (吴奎) vào trước mặt Hoàng đế hết lời can gián, lại còn ở dưới hành lang điện trách mắng gay gắt bọn Tể tướng. Hoàng đế nghe tin, sai nội thị truyền dụ, trăm quan bấy giờ mới lui.

Ngày Kỷ Tị, hạ chiếu: "Gần đây các quan Ngự sử, Gián quan nhiều lần xin bãi chức Tam ty sứ của Trương Nghiêu Tộ; lại nói y là thân thích liên hệ với cung cấm, không thể dùng làm quan chấp chính, nếu ưu đãi cho quan tước, thì chỉ nên chọn chức nào hợp thể thống một chút, nên đã bổ làm Tuyên huy sứ; lại đã truyền lệnh: ‘Từ nay về sau, thân thuộc của các phi tần không được bổ nhiệm chức vụ ở hai phủ (Trung thư, Môn hạ).’ Nay các quan Ngự sử, Gián quan lại dâng chương tấu, lời lẽ quanh đi quẩn lại, đến khi vào chầu đối đáp, thì ồn ào thất lễ, theo luật phải giáng chức, triều đình đặc biệt tỏ ý dung thứ. Lệnh Trung thư lấy đó mà răn rấp, từ nay các quan Ngự sử, Gián quan nếu cùng nhau xin vào điện, đều phải báo trước với Trung thư để xin chỉ." Lúc ấy Hoàng đế cơn giận chưa nguôi, các đại thần không ai dám nói, chỉ có Khu mật phó sứ Lương Thích (梁适) một mình tiến lên nói: "Các quan Ngự sử, Gián quan vốn có trách nhiệm phải nói, lời họ tuy có quá, nhưng chỉ mong bệ hạ thương xét. Tuy nhiên, sủng ái Nghiêu Tộ quá hậu, e rằng không phải là cách để bảo toàn y." Ngày hôm ấy, Nghiêu Tộ cũng dâng sớ xin từ chức Tuyên huy sứ, Cảnh Linh cung sứ. Lại hạ chiếu lệnh Học sĩ viện soạn chiếu thư trách phạt, nhưng việc lấy đó làm răn cuối cùng không thi hành.

Ngày Tân Mùi, nước Liêu lấy Đồng tri Bắc viện Khu mật sứ Tiêu Cách (萧革) làm Nam viện Khu mật sứ; lấy Nam viện Đại vương Da Luật Nhân Tiên (耶律仁先) biết việc Bắc viện Khu mật sứ, phong làm Tống vương.

Tháng 12, ngày Giáp Thân mồng 1, hạ chiếu quy định chế độ gia miếu cho quan từ tam phẩm trở lên.

Trước đó, Tể thần Tống Tường (宋庠) xin lệnh cho các đại thần lập gia miếu, giao cho hai ban văn võ và Lễ quan bàn định kỹ lưỡng. Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Vương Nghiêu Thần (王尧臣) và những người khác định nghị rằng: "Quan chính nhất phẩm, Bình chương sự trở lên, được lập 4 miếu; Khu mật sứ, Tri Khu mật viện sự, Tham tri chính sự, Khu mật phó sứ, Đồng tri Khu mật viện sự, Thiêm thư viện sự, đương chức hay tiền nhiệm đều như nhau. Tuyên huy sứ, Thượng thư, Tiết độ sứ, Đông cung Thiếu bảo trở lên, đều lập 3 miếu. Các quan còn lại thì tế ở nhà thờ (tẩm thất). Phàm ai được lập miếu, cho phép con trưởng chính thất được tập tước, đời sau mỗi đời giảm 1 bậc. Sau khi chết thì không được lập bài vị nhập miếu, mà riêng tế ở nhà thờ; từ người vốn được lập miếu trở đi, thì mới được nhập bài vị vào miếu. Con cháu kế thừa, bất kể tế ở miếu hay ở nhà thờ, việc tế tự đều theo số đời mà dời dần việc thờ. Người đầu tiên được lập miếu thì không dời bỏ, coi như người đầu tiên được phong; ai thuộc diện không dời bỏ, thì được tế thông cả 4 miếu, 5 miếu. Miếu do nhiều con cùng lập mà con trưởng chính thất còn sống, thì việc tế do con trưởng chính thất chủ trì; con trưởng chính thất chết, thì không truyền cho con của y, mà truyền cho con của người đầu tiên lập miếu. Phàm lập miếu, cho phép lập ở Kinh sư hoặc châu huyện nơi cư trú; nếu lập ở Kinh sư, thì không được lập ở trong thành làng và bên đường ngự đạo phía nam ngoại ô. Lại bàn riêng về chế độ tập tước." Về sau, rốt cuộc vì con cháu người có miếu có khi làm quan nhỏ, không đủ tư cách để kế thừa việc tế tự, mà triều đình cũng khó lòng ban hết ân huệ tập tước, nên cuối cùng không thi hành.

Trước đó, người Nhung châu là Hướng Cát (向吉) và những người khác cầm binh buôn bán, ỷ đông người, đi đến đâu cũng không nộp thuế hàng hóa, châu huyện truy bắt, thì đều tản chạy. Ty Kiềm hạt Thành Đô tâu xin không đem tội của họ xóa theo lệnh đại xá Nam giao, được chuẩn cho. Bắt thân thuộc của họ giam ngục, trải qua hai lần đại xá. Có người đến cửa khuyết tố giác, quan Hình bộ xét lại, cho rằng những người được đặc chỉ ghi là “gặp đại xá cũng không được tha”, thì dù nhiều lần đại xá vẫn phải luận tội theo luật. Đồng phán Hình bộ Tôn Tích (孙锡) một mình tâu xin tha, bèn tha tổng cộng 123 người. Từ trước, những người làm Đồng phán Hình bộ phần nhiều đem việc đến Trung thư hỏi rồi mới quyết, chỉ có Tích là không đến. Tích là người Chân châu.

Ngày Đinh Hợi, nước Liêu lấy Bắc phủ Tể tướng Triệu vương Tiêu Hiếu Hữu (赵王萧孝友) ra làm Đông Kinh lưu thủ.

Ngày Canh Tuất, Hàn quốc vương nước Liêu là Tiêu Huệ (萧惠) xin cáo lão, hạ chiếu ban cho kiệu có tay vịn để vào chầu, chống gậy lên điện, sau khi hai lần xin, mới cho, đổi phong làm Ngụy vương. Lệnh mùa đông, mùa hè đến hành tại để cùng bàn quyết các việc nghi ngờ. Huệ tính tình khoan hậu, tự mình ăn ở rất thanh đạm. Liêu chúa từng sai ông ta tùy ý lấy châu báu, Huệ nói: "Thần vì là thân thích mà ở địa vị trọng yếu, bổng lộc đủ để giữ mình thanh liêm, nô tỳ hơn 1.000 người, cũng không thiếu thốn, bệ hạ vẫn còn ban cho; thế thì những người nghèo hơn thần, bệ hạ sẽ đãi họ thế nào?" Liêu chúa cho là phải. Vì vậy, tuy làm tướng nhiều lần bại trận, cũng không bị tội.

Ngày Nhâm Tý, Hạ chúa Lượng Tộ (谅祚) sai sứ dâng biểu lên nước Liêu, nói rằng tuân theo lời dạy của mẹ, xin theo lệ cũ làm thần thuộc.

Năm ấy, nước Chuẩn Bố nhiều lần cống nạp nước Liêu.

Nước Hạ đổi niên hiệu là Thiên Hựu Thùy Thánh.

Năm Hoàng Hựu thứ 3 (Liêu, năm Trọng Hy thứ 20), Công nguyên năm 1051

[sửa]

Ngày Mậu Tuất, Liêu chúa đi đến sông Hỗn Đồng.

Tháng 2, ngày Nhâm Ngọ mồng 1, lấy Thái tử trung xá trí sĩ Hồ Nguyện (胡瑗) làm Đại lý bình sự, kiêm Thái thường tự chủ bộ, ông ta cố xin từ chối.

Ngày Giáp Thân, nước Liêu sai Tiền Bắc viện Đô giám Tiêu Hữu Quát (萧友括) và những người khác sứ sang Tây Hạ, đòi lại hộ người Đảng Hạng phản trốn.

Ngày Bính Tuất, Văn Ngạn Bác (文彦博) và những người khác dâng “Minh đường đại hưởng ký” 20 quyển, “Kỷ yếu” 2 quyển; Hoàng đế làm bài tựa, khắc bản gỗ ban cho các cận thần.

Ngày Kỷ Sửu, hạ chiếu cho 7 châu quân Từ, Túc, Tứ, Diệu, Giang, Trịnh, Hoài Dương khai thác đá khánh, lại lệnh các Lộ chuyển vận sứ tìm trong dân gian ai có cất giữ thước, luật cổ thì dâng lên.

Liêu chúa đi đến ao Thương Nhĩ.

Ngày Kỷ Hợi, hạ chiếu cho Tam ty, ở Hà Bắc việc nộp thóc lương thay tiền lại thi hành phép dùng tiền hiện.

Ngày Giáp Thìn, người Thổ Phồn cống nạp nước Liêu.

Ngày Bính Ngọ, Kinh lược sứ Kinh Nguyên là Hạ An Kỳ (夏安期) dâng bản đồ trận pháp của quân cung nỏ. Trước đó, An Kỳ tuyển 13.000 quân cung nỏ, chia thuộc dưới quyền hai Đô tuần kiểm Đông, Tây lộ. Gặp năm được mùa, triệu họ về châu, duyệt binh lớn, kỹ nghệ tinh giỏi, lại nói có thể địch được 5, 7 vạn quân chính quy. Sau khi dâng bản đồ trận pháp, bèn hạ chiếu khen thưởng, dụ bảo.

Ngày Mậu Thân, Hàn lâm Thị độc học sĩ, Sử quán tu soạn Tống Kỳ (宋祁), vì con trai giao du với Trương Nghiễm Phương (张彦方), bị giáng ra làm Tri Bạc châu.

Trương Nghiễm Phương là khách của Việt quốc phu nhân Tào thị (越国夫人曹氏), mẹ của Quý phi. Y nhận vàng của nhà giàu, làm giả chiếu chỉ, việc bại lộ, bị giam ở ngục Khai Phong phủ, lời khai liên lụy đến Việt quốc phu nhân. Tri Khai Phong phủ Lưu Hãng (刘沆) luận tội tử hình Nghiễm Phương, nhưng không dám đụng đến Tào thị; các quan chấp chính vì nể Quý phi, cũng không truy cứu nữa. Án đã xong, Trung thư sai Bỉ bộ viên ngoại lang Đỗ Khu (杜枢) đến xét hỏi lại, Khu tuyên bố sẽ bác bỏ, sửa lại, nên vội đổi dùng Gián quan Trần Húc. Bọn quyền quý thân cận nghiến răng căm giận Khu. Trước đó, Ngự sử trung thừa Vương Cửu Chính lưu trăm quan ở sân triều, bàn việc Trương Nghiêu Tộ được bổ làm Tuyên huy sứ là không thỏa đáng, chỉ có Khu bước ra khỏi hàng hỏi rằng: "Khu muốn hỏi trước Trung thừa nói việc gì rồi sau mới dám lưu ban." Cửu Chính nói rõ duyên cớ, Khu nói: "Dùng việc này để lưu Khu thì được." Đến đây đã mấy tháng, các quan chấp chính tâu rằng đó là tội, giáng ông ta làm quan thu thuế ở Lâm Hành châu. Khu là em của Kỷ (杞).

Trước đó, một quả phụ họ Hồ ở Khai Phong phủ kiện người họ Giả vay vốn lấy lãi, bèn ôm hết văn khế đến công đường; chồng bà ta giao du, thư từ往来 với nhiều danh sĩ, Hãng chỉ xử lý số nợ phải trả, còn những thư từ ấy thì bỏ qua không xét. Đến khi xử án Nghiễm Phương, Hãng cũng không truy cứu Việt quốc phu nhân và những người giao du với y, các Gián quan, Ngự sử đem việc ấy tâu lên. Hoàng đế hỏi, Hãng tâu: "Chồng họ Hồ là quan chính thất phẩm; Nghiễm Phương thi Tiến sĩ, từng dự đình thí; tuy giao du với quan quý, nhưng chỉ là chơi bời với con cháu nhà quyền quý, không hại gì. Chỉ vì thần lâu ở ngoài, tình cờ không biết đó thôi." Hoàng đế cho là phải.

Tả chính ngôn Giả Ảm (贾黯), tự cho mình tuổi trẻ mà được trọng dụng, quả quyết trong việc bàn luận, trước hết tiến cử Hàn Kỳ (韩琦), Phú Bật (富弼), Phạm Trọng Yêm (范仲淹) là có thể trọng dụng. Đến khi Đỗ Khu bị giáng, Ảm tâu rằng Khu không có tội, lại nói ý chỉ từ trong cung đưa ra, e rằng từ nay bọn quyền quý thân cận sẽ ngấm ngầm buông thả lời gièm pha, hại đến người hiền, không thể không xét. Lúc ấy, có người tâu việc mà lời lẽ không thỏa đáng, liền bị răn đe, tra hỏi đến cùng. Ảm tâu: "Gián quan, Ngự sử, vốn đường lối xa xôi, chưa từng được dự nghe việc chính sự, không tránh khỏi phải nghe qua truyền ngôn. Hễ có điều không đúng sự thực, thì tra hỏi, nhục mạ liền theo sau, đó không phải là cách để mở rộng đường ngôn luận. Xin theo phép đời Đường Thái Tông, mỗi lần Tể tướng vào tâu việc, cho một viên Gián quan theo vào." Lúc ấy các quan chấp chính lấy làm phiền vì quan ngôn luận lần lượt tiến lên, bàn luận trước mặt Hoàng đế không chịu dừng, nên hạ chiếu: "Phàm ai muốn hợp ban vào điện, đều phải xin phép Trung thư, chờ chỉ." Ảm tâu rằng: "Nay người được vào chầu tâu việc chỉ có Gián quan, Ngự sử, nếu như thế, đường ngôn luận sẽ bị bít, bệ hạ sẽ không nghe được việc ngoài. Xin cho như cũ thì tiện hơn." Đều không được chấp thuận.

Tháng 3, ngày Nhâm Tý mồng 1, Liêu chúa đi đến Mặc Thủy.

Ngày Ất Mão, lệnh Tri Bạc châu Tống Kỳ ở tại châu tu sửa “Đường thư”, đổi chức Sử quán tu soạn thành Tập Anh điện tu soạn.

Ngày Kỷ Mùi, các Gián quan Bao Chửng, Ngô Khuê, Trần Húc tâu rằng Thượng thư bộ Công, Bình chương sự Tống Tường không kiềm chế con cháu, ở trong phủ Tể tướng không có việc tâu bày gần đây; Tường cũng xin từ chức. Lại tâu rằng Tường hễ nghe có bản đàn hặc, liền xin lui chức; biểu đã dâng hai lần, mà không đợi trả lời, lại vào làm việc như cũ. Ngày Canh Thân, bãi ông ta làm Thượng thư bộ Hình, Quan Văn điện Đại học sĩ, Tri Hà Nam phủ. Lấy Long Đồ các học sĩ, Quyền Tri Khai Phong phủ Lưu Hãng làm Tham tri chính sự. Người bàn luận cho rằng Hãng không dám tra xét đến cùng án Trương Nghiễm Phương, được Quý phi cảm kích, nên nhân đó mà được thăng tiến. Các Gián quan, Ngự sử lần lượt tâu bàn, Hoàng đế không nghe.

Ngày Quý Dậu, Ty Chuyển vận Quảng Nam Tây lộ tâu rằng Nùng Trí Cao (侬智高) dâng biểu hiến voi thuần dưỡng và vàng bạc sống, chín, hạ chiếu trả lại.

Ngày Bính Tý, Ngụy quốc Đại Trưởng công chúa băng. Công chúa là con gái thứ 8 của Thái Tông. Thái Tông từng mở kho báu, lệnh các công chúa tùy ý chọn lấy, riêng công chúa không lấy gì, nên càng được Thái Tông yêu quý. Gả cho Lý Tuân Húc (李遵勖), khi ấy cha Tuân Húc là Kế Xương (继昌) đang bệnh nặng, nhân ngày sinh của Kế Xương, công chúa lấy lễ làm cậu mà đến bái yết. Hoàng đế nghe tin, bí mật ban cho áo kép, đai báu, đồ khí, tiền của để giúp mừng thọ.

Theo lệ cũ, mệnh phụ đều búi tóc khi vào chầu, Chương Hiến Minh Túc Thái hậu lệnh dùng khăn la có đính châu mà quấn, lại ban cho mũ nhỏ hình rồng vàng, công chúa từ chối không dám đội. Hôm khác, Thái hậu cố lệnh phải đội, nhưng đến ngày sinh mừng thọ, công chúa vẫn búi tóc mà vào chầu. Thái hậu có khi hỏi đến việc chính sự, công chúa thường kể nhiều chuyện cũ thời Tổ tông để khuyên răn. Khi để tang Tuân Húc, áo gai thô không rời thân, sau khi mãn tang, cũng không mặc đồ hoa lệ nữa. Có lần yến tiệc trong cung cấm, Hoàng đế tự tay cài hoa cho công chúa, công chúa từ chối nói: "Tự thề đã lâu là không làm việc này nữa rồi." Thường dặn các con phải giữ mình trung nghĩa, không được ỷ vào ta mà chuốc lấy hối hận, trách móc. Đối với con riêng, con đẻ, đều coi như nhau. Đến khi mắt bệnh, Hoàng đế sai nội thị dẫn Thái y đến chẩn mạch xem xét, cúng tế trừ tai, không việc gì là không làm. Xa giá đến thăm, thị giả dìu công chúa ra nghênh tiếp. Hoàng đế lệnh công chúa ngồi trước, đặt ngự tọa ở phía tây, công chúa cố từ chối. Bèn dời giường sang phía đông nam, quay mặt về hướng nam, rồi thân mình liếm mắt công chúa, tả hữu đều cảm động rơi lệ. Hoàng đế cũng bi thương nói: "Trong sổ anh em của Tiên đế có 14 người, nay chỉ còn một mình Đại công chúa, sao lại mắc phải bệnh này?" Lại quay hỏi con cháu công chúa muốn gì, công chúa nói: "Há có thể nhân mẹ bệnh mà cầu thưởng sao!" Ban cho bạc trắng 3.000 lạng, công chúa từ chối không nhận. Hoàng đế nhân đó bảo các quan theo hầu rằng: "Nếu bệnh của Đại công chúa có thể chuyển sang ta, ta cũng không tránh." Công chúa tuy mù, thường ngày tựa án, thanh đạm như cũ. Thường dặn các con rằng: "Di chúc của cha các con là trong quan tài không được cất vàng ngọc, áo quần chỉ vài bộ thường mặc mà thôi. Sau khi ta mất, cũng nên như thế." Ban đầu nghe tin bệnh đột ngột, Hoàng đế vội thúc xa giá đến, giữa đường nghe tin đã không qua khỏi, bèn đổi áo, dâng rượu tế, khóc. Truy phong làm Tề quốc Đại Trưởng công chúa, thụy là Hiến Mục. Hạ chiếu ngày Tiết Càn Nguyên bãi nhạc, Tể thần cố xin, bấy giờ mới thôi. Hoàng đế tự làm bài văn ai, lại đề bút triện trên đầu bia rằng “Bia biểu dương thân thích, nêu đức hạnh”.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Quý Mùi, hạ chiếu: "Dân Hà Bắc lưu tán nối nhau, quan lại không hề thương xót, lại còn chăm lo bếp núc, trạm dịch, qua lại đút lót sứ khách, để cầu hư danh. Từ nay, trừ việc khao đãi tướng sĩ, còn thì hết thảy cấm."

Ngày Giáp Thân, Tri Gián viện Ngô Khuê tâu: "Bảy mươi tuổi mà cáo lão, đã chép trong Kinh Lễ. Bề tôi tự mình đến tuổi mà xin thôi chức, là lẽ thường; vua trên mở rộng ân mà cố lưu, là quyền biến tột bậc. Gần đây Quang lộc khanh Câu Hy Trọng (句希仲), Lại bộ lang trung, Trực Chiêu Văn quán Lục Chấn (陆轸) đều vì tuổi cao, đặc biệt cho làm quan phân ty, ban đầu là muốn làm gương cảm hóa mọi người, nhưng những người đang tại chức lại chưa ai xin lui. Xin sớm thi hành điều thần đã tâu trước đây." Trước đó, Khuê và Bao Chửng đều tâu: "Những người đang làm quan mà đến 70 tuổi không cáo lão, đều lệnh Ngự sử đài theo kỳ hạn tra sổ mà thi hành." Tri chế cáo Hồ Túc (胡宿) một mình cho rằng: "Văn quan nên giữ lòng liêm sỉ, Võ quan nên nhớ công lao cũ, nay muốn nhất loạt theo phép quan lại mà làm, e không phải là ý ưu đãi người già, khuyến khích công lao. Nên hơi nới luật, với Võ quan thì xét xem còn đảm nhiệm được việc hay không, chớ chỉ căn cứ vào tuổi; với Văn quan thì để họ tự tâu xin, để giữ trọn tiết tháo." Triều đình rốt cuộc thi hành theo lời Túc.

Ngày Tân Sửu, lấy Hà Bắc chuyển vận sứ Lữ Công Bật (吕公弼) làm Thiên Chương các đãi chế, Hà Bắc Đô chuyển vận sứ. Công Bật là con của Di Giản (夷简), ở chức hơn 1 năm, khai thông sông Ngự Hà, vận chuyển thóc lúa làm đầy ải phía bắc. Lại đặt lò sắt để giúp chi dùng, giảm bớt quân đồn trú gần biên, cho họ sang ăn ở Kinh Đông để bớt việc vận chuyển. Các châu tăng thêm quân tráng thành, chuyên cấp gỗ, đất để giảm bớt dịch dịch của dân. Miễn bỏ các thứ thuế vụn vặt và những khoản dân vay nợ không trả nổi đến hàng mấy triệu, mà công dụng của nhà nước vẫn dư dật. Hoàng đế cho là có tài, nên gia thêm chức tước mà vẫn giao cho việc ấy. Gián quan Trần Húc tâu rằng Công Bật dựa vào ơn ấm của cha, cầu cạnh tiến cử, không nên vội có sự bổ nhiệm này, Công Bật nhân đó xin bãi chức. Hoàng đế bảo các phụ thần rằng: "Người quân tử đời xưa quý ở chỗ can gián khi việc mới manh nha, nay thì chỉ chăm tính toán chuyện riêng tư của người khác để cầu tiếng ngay thẳng, trẫm không chấp nhận."

Lấy Hình bộ lang trung, Tri chế cáo Tăng Công Lượng (曾公亮) làm Hàn lâm học sĩ. Công Lượng từ khi làm Tập Hiền hiệu lý, đã được dự giảng ở Kinh diên, hơn 10 năm, Hoàng đế mỗi lần đều hậu đãi. Đến khi thăng làm Học sĩ, kiêm quản Tam ban, bọn lại Tam ban đông đúc, bọn lại già ôm văn thư lên đường xin phê, đều tùy miệng mà định cao thấp, trước kia các trưởng quan phần nhiều không xét kỹ, chỉ cẩn thận ký tên là xong. Công Lượng đem hết các điều lệ trước sau đặt bên cạnh chỗ ngồi, chiếu theo đó mà làm việc, bọn lại bó tay không làm gì được. Những người đến sau đều lấy đó làm phép.

Tháng 5, ngày Canh Tuất mồng 1, vì các châu Ân, Ký và những châu khác bị hạn, hạ chiếu lệnh các Trưởng quan xét xử tù nhân trong ngục.

Ngày Quý Sửu, Tiêu Hữu Quát nước Liêu từ nước Hạ trở về. Mẹ của Hạ chúa Lượng Tộ dâng biểu, xin theo lệ người Đảng Hạng trước đây mà tiến cống ngựa, lạc đà, trâu, dê và các vật khác.

Ngày Đinh Tị, hạ chiếu: "Các quan ở sau đường Trung thư đường, từ nay không được đeo ngư phù; nếu là sĩ nhân được tuyển bổ đến chức Đề điểm Ngũ phòng, thì cho phép."

Ngày Kỷ Tị, nước Hạ sai sứ sang nước Liêu xin trấn Đường Long và xin bãi bỏ các thành ấp đã xây, Liêu chúa dùng chiếu thư trả lời.

Ngày Canh Ngọ, Tể thần Văn Ngạn Bác và những người khác tâu: "Thần mỗi khi nhân dịp vào chầu, thường nghe đức âm, nói rằng trong giới sĩ đại phu, phần nhiều lo chạy chọt cầu cạnh, nếu không kìm bớt thì không thể làm phong tục thêm hậu. Nếu người nào an tĩnh, giữ đạo, thì nên hơi gia ơn cất nhắc, kẻ nóng nảy cầu cạnh mới biết hổ thẹn. Cúi xét Công bộ lang trung, Trực Sử quán Trương Khuê (张瑰), hơn 10 năm không xin khảo công, triều đình khen ngợi sự an tĩnh, đặc biệt thăng làm Lưỡng Chiết chuyển vận sứ; khi về, đổi làm Tri Ứng châu, cũng chưa từng tự nói đến thứ bậc công trạng của mình. Điện trung thừa Vương An Thạch (王安石), đỗ Tiến sĩ, đứng thứ 4, theo lệ cũ, sau một nhiệm kỳ, được dâng tác phẩm, xin thử vào chức ở các quán các. An Thạch trải qua mấy nhiệm kỳ, đều không dâng gì; triều đình đặc lệnh triệu vào thử, ông ta cũng lấy cớ nhà nghèo, cha mẹ già mà từ chối. Chức vụ ở quán các là điều sĩ nhân mong muốn, mà An Thạch thản nhiên giữ mình, thật hiếm có. Đại lý bình sự Hàn Duy (韩维), từng được đề cử cao ở Nam tỉnh, ham học cổ, ưa học, an phận ở chỗ an tĩnh. Xin đều đặc biệt ban ơn cất nhắc." Hạ chiếu ban cho Khuê được mặc phẩm phục tam phẩm; triệu An Thạch vào kinh, đợi thi xong sẽ xin chỉ riêng; Duy lệnh Học sĩ viện cùng thi. An Thạch, Duy đều từ chối không nhận. An Thạch là người Lâm Xuyên. Duy là con của Ức (亿).

Ngày Nhâm Thân, lần đầu đặt Hà Khâu ty, thuộc Tam ty, lệnh Diêm thiết phó sứ Lưu Thực (刘湜), Phán quan Thiệu Sức (邵饰) trông coi.

Ngày Bính Tuất, nước Liêu đem mẹ đẻ của Hạ chúa và những người Hạ trước sau bị bắt, an trí ở Tô châu.