Tục tư trị thông giám/Quyển 58
Năm Gia Hựu thứ 4 (Liêu, năm Thanh Ninh thứ 5), Công nguyên năm 1059)
[sửa]Mùa hạ, tháng 4, ngày Mậu Thìn, hạ chiếu: "Các quan Tri các lộ đề điểm hình ngục, triều thần và sứ thần, đều kiêm nhiệm việc Đề cử công việc hà đê, kênh mương." Là theo lời thỉnh cầu của Phán Đô thủy giám Ngô Trung Phục (吳中復).
Ngày Nhâm Thân, Đoan Minh điện học sĩ, Hộ bộ Thị lang Lý Thục (李淑) mất, truy tặng Thượng thư Hữu thừa. Thục am tường, tinh luyện điển cố triều đình, phàm có việc thay đổi, Hoàng đế tất hỏi đến. Nhưng ông ta ưa xu nịnh, tà khuất, nên nhiều lần bị người ta dâng lời công kích, rốt cuộc không được toại chí, uất ức mà chết.
Trước đó, Trứ tác tá lang Hà Cách (何鬲), vì Hoàng tự chưa lập, dâng sớ xin tìm hỏi con cháu nhà Đường, nhà Chu, để dự bị làm hai vị Vương hậu. Lễ viện bàn rằng: "Nhà Đường đời đã xa; con cháu nhà Chu nên ban cho quan tước, chuyên lo việc phụng thờ trong miếu." Ngày Quý Dậu, chiếu lệnh cho hữu ty lấy gia phả họ Sài, chọn người lớn tuổi nhất 1 người để phụng thờ nhà Chu. Bèn phong cho Sài Vịnh (柴詠), hậu duệ Chu Thế Tông, làm Sùng Nghĩa công, cùng với Hà Nam phủ, Trịnh châu hợp vào ngạch sai phái, cấp công điền 10 khoảnh, chuyên trách quản câu Lăng miếu.
Ngày Bính Tý, lấy Thiên Chương các đãi chế Hà Đàm (何郯) làm Đồng tri Thông tiến Ngân đài ty, kiêm Môn hạ phong bác sự. Lúc bấy giờ, chức phong bác đã bỏ phế đã lâu, Đàm dâng sớ nói: "Bản triều đặt ra ty này, thực là để thay chức Cấp sự trung; xin theo lệ cũ của Vương Tăng (王曾), Vương Tự Tông (王嗣宗), phàm có chiếu sắc, đều do Ngân đài ty chuyển." Bèn theo đó.
Ngày Quý Mùi, Tư đồ trí sĩ Trần Chấp Trung (陳執中) mất. Hoàng đế ngự đến nhà ông, đích thân phúng viếng, truy tặng Thái sư kiêm Thị trung. Lễ quan Hàn Duy (韓維) bàn việc đặt thụy rằng: "Cuối niên hiệu Hoàng Hựu, Thiên tử vì tang sự trong hậu cung, hỏi về lễ tống táng, tế tự, Chấp Trung làm Thượng tướng mà không thể khảo cứu, chỉnh đốn nghi điển cho đúng, như việc trị tang dùng Hoàng nghi, không phải là lễ dành cho tần ngự; việc truy sách tôn vị hiệu, có điều hiềm với cung đình; dựng miếu dùng nhạc, vượt quá chế độ của Tổ tông. Trong chốn khuê môn, phân biệt lễ nghi không rõ ràng. Cẩn tra ‘Thụy pháp’: ‘Được sủng lộc rực rỡ lớn lao gọi là Vinh. Không siêng năng để thành danh gọi là Linh.’ Xin đặt thụy là Vinh Linh." Phán Thái thường tự Tôn Biện (孫抃) cùng các quan xin đặt thụy là Cung, Phán Thượng thư Khảo công Dương Nam Trọng (楊南仲) bàn lại, xin gia thêm thành Cung Tương. Chiếu cho đặt thụy là Cung. Duy nhiều lần dâng sớ bàn luận, cho rằng: "Nói là ‘trách khó với vua gọi là Cung’, thần bàn về Chấp Trung, chính là vì ông ta không ‘cung’." Nhân đó xin bãi chức Lễ quan, nhưng không được trả lời. Sau đó Hoàng đế lại vì Chấp Trung mà viết chữ triện trên bia mộ ông là "Bảo Trung".
Ngày Kỷ Sửu, hậu cung Đổng thị (董氏) sinh Hoàng nữ thứ 9, liền thăng Đổng thị làm Quý nhân.
Ngày Nhâm Thìn, ngự điện Sùng Chính, xét giảm tội cho tù nhân bị giam, các tội tạp từ tử tội trở xuống đều giáng 1 bậc, từ tội đồ trở xuống thì tha. Tri chế cáo Lưu Sảng (劉敞) tâu rằng: "Xét giảm tội cho tù nhân bị giam ở Kinh sư, tuy là ân huệ phát ra trong một lúc, nhưng ở ngoài, lòng người đều nói rằng Thánh ý vì Hoàng nữ sinh ra nên ban ân trạch, e rằng không phải là phép tắc tốt. Năm ngoái tháng nhuận, đã từng giảm tội một lần, chưa được nửa năm, lại thi hành ân này. Sách chép rằng dân mà được nhiều may mắn, thì đối với nước là điều không may, một năm hai lần đại xá, người tốt phải câm nín, đời trước đã luận rất rõ. Tuy việc đã làm không nói lại, nhưng thần mong triều đình lấy đó làm răn. Lại nghe nói nhiều lần đúc tiền bằng vàng bạc, tê giác, ngà voi, ngọc thạch, hổ phách, đồi mồi, trầm hương, và đúc vàng bạc thành hoa quả, ban cho bề tôi, từ Tể tướng, quan Đài gián trở xuống, đều nhận ân ban ấy. Sự tiêu phí vô ích, ân thưởng không danh nghĩa, không gì hơn thế, chẳng phải là phép để làm khuôn mẫu cho thiên hạ, dạy người tiết kiệm. Mong bệ hạ giữ vững đức cung kiệm để đáp lại ơn Trời, không nên thi hành ân huệ dung túng, xuất ra những khoản chi tiêu phù phiếm, để làm tổn hại đức tiết kiệm."
Tháng 5, ngày Mậu Tuất, chiếu rằng: "Vua tôi cùng một đức, mà lại đặt ra quá nhiều điều cấm ngăn, chẳng phải ý trẫm. Chế độ cũ, thần liêu không được đến thăm các quan Chấp chính, người từng được tiến cử thì không được làm Ngự sử, nay đều bãi bỏ." Bắt đầu dùng theo kiến nghị của Bao Chửng (包拯).
Ngày Canh Tý, chiếu: "Trong Nội thị tỉnh, số Nội thần quá nhiều, tạm bãi việc cho con nuôi tiến nhập vào Nội." Dùng theo kiến nghị của Ngô Cập (吳及).
Độ chi phán quan, Tư bộ Viên ngoại lang Vương An Thạch (王安石) nhiều lần được bổ nhiệm chức vụ ở các quán, đều từ chối không nhận, Trung thư Môn hạ tâu rõ. Ngày Nhâm Tý, chiếu lệnh ông làm Trực Tập hiền viện. An Thạch dâng chương từ chối, đến 8, 9 lần, vẫn nhiều lần từ chối, rồi mới nhận chức.
Sai quan đi đo đạc ranh giới đất chăn nuôi ở Hà Bắc, phần đất còn lại thì chiêu mộ dân đến cày cấy.
Khu mật sứ, Lễ bộ Thị lang Điền Huống (田況) đột nhiên trúng phong, câm không nói được, dâng 10 tờ chương xin từ chức, ngày Bính Thìn, bãi làm Thượng thư Hữu thừa, Quán Văn điện học sĩ, Hàn lâm Thị độc học sĩ, Đề cử Cảnh Linh cung.
Ngày Mậu Ngọ, hậu cung Chu thị (周氏) sinh Hoàng nữ thứ 10. Trước đó, Đổng thị và Chu thị đều có thai, trong ngoài đều mong sinh Hoàng tử, Nội thị tỉnh chuẩn bị rất nhiều vàng lụa, đồ khí dụng tạp vật để sẵn ban thưởng, lại tu sửa Tiềm Long cung. Tiềm Long cung là dinh sở khi Chân Tông còn làm Phủ doãn. Nay đều sinh Hoàng nữ, mà số lượng ban thưởng vẫn gấp mấy lần khi Yến quốc công chúa xuất giá.
Tháng 6, ngày Giáp Tý, Liêu chúa đi đến Na Cát Lạc.
Từ khi Ôn Thành mất, những người trong hậu cung được sủng ái cộng là 10 người, gọi là "Thập các", Chu thị, Đổng thị, em gái Ôn Thành đều ở trong số đó. Chu, Đổng vì sinh Hoàng nữ mà được thăng cấp bậc, các "các" khác đều xin được thăng chuyển, chiếu lệnh Trung thư xuất chiếu cáo; Trung thư cho rằng không có danh nghĩa, tâu xin bãi. Những người cầu xin vẫn không thôi, bèn đều ban cho chiếu viết tay để phong. Riêng em gái Ôn Thành kiên quyết từ chối không nhận. Đồng tri Gián viện Phạm Sư Đạo (范師道) dâng sớ rằng: "Lễ để chế ngự tình, nghĩa để dứt bớt niềm yêu, đó là điều người thường khó làm, chỉ có bậc minh triết làm Chúa mới có thể. Nghe nói các nữ ngự trong các, vì Chu, Đổng sinh dưỡng Công chúa, nên dùng ngự bảo bạch trát phong làm Tài nhân, mà không do Trung thư xuất cáo, còn trong cung thì rất nhiều người mong được thăng bổ. Chu, Đổng được thăng là có thể, còn nữ ngự thì lấy danh nghĩa gì mà thăng? Phàm sủng ái quá mức thì lòng khinh nhờn sinh ra, ân trạch không tiết chế thì oán không biết chán sẽ nổi lên, việc chế ngự họ không thể không theo đúng đạo. Hơn nữa, chi tiêu quá phiền, đòi hỏi quá rộng, bổng lộc 1 Tài nhân, mỗi tháng tương đương thuế của 100 hộ trung đinh, mà bổng lộc, ban thưởng theo năm tháng lại không kể đến. Huống chi chiếu mệnh ban ra không do hữu ty, há phải là việc của thời thịnh trị sao? E rằng việc ‘tà phong mặc sắc chiếu’ lại thấy ở ngày nay vậy!"
Ngày Mậu Thìn, Quang Lộc khanh, Trực Bí các, Đồng phán Tông chính tự Triệu Lương Quy (趙良規) tâu rằng: "Nhà nước thừa vận hội trăm năm, tôn sùng linh vị 7 đời, truy hiếu không phải là không nghiêm, phụng thờ tiên tổ không phải là không đến nơi, nhưng khi cử hành lễ tế tự, đôi khi dùng công khanh làm người nhiếp hành, tuy thần chủ có danh nghĩa hợp tế, mà Thái Tổ lại trống chỗ ngồi hướng đông. Cúi xin khảo cứu, định ra nghi lễ, làm phép tắc không sửa đổi của một đời." Giao cho Thái thường Lễ viện bàn, lại chiếu cho các quan từ Đãi chế trở lên và quan Đài gián cùng bàn. Lễ bộ Thượng thư Vương Cửu Chính (王舉正) cùng các quan bàn rằng: "Đại hiệp chi tế là để hợp hàng Chiêu Mục, phân biệt tôn ti, tất phải để Tổ nhận mệnh ngồi ở vị trí hướng đông. Bản triều Thái Tổ thực là vua nhận mệnh, nhưng từ Hy Tổ trở xuống, 4 miếu ở trên, nên mỗi khi gặp Đại hiệp, chỉ bày hàng Chiêu Mục mà để trống chỗ hướng đông. Từ đời Ngụy, Tấn trở về sau cũng dùng lễ này. Nay việc thân hành tế lễ rất trọng, nên theo như cũ là tiện." Bèn theo đó.
Ngày Kỷ Tị, Tể thần Phú Bật (富弼) cùng các quan xin gia tôn hiệu là "Đại Nhân Chí Trị", chiếu không cho.
Theo lệ cũ, cứ 3 năm, sau khi thân hành làm xong Đại lễ, liền nhận tôn hiệu, từ niên hiệu Khang Định trở đi bãi bỏ, đến đây các quan Chấp chính lại nêu lệ cũ xin. Tri Gián viện Phạm Sư Đạo tâu: "Gần đây tai dị liên tiếp xuất hiện mà lại tôn sùng hư văn, chẳng phải là cách để đáp lại lời răn của Trời." Tri chế cáo Lưu Sảng tâu: "Tôn hiệu không phải là phép xưa, bệ hạ không nhận huy hiệu đã 20 năm, sao lại một sớm tăng thêm hư danh mà tổn thực đức!" Hoàng đế nói: "Ý trẫm cũng cho là nên như thế." Bật cùng các quan dâng biểu đến 5 lần, rốt cuộc không được cho.
Lấy Thái tử Trung doãn Vương Đào (王陶), Đại lý Bình sự Triệu Nghiên Nhược (趙彥若), Quốc tử Bác sĩ Phó Biện (傅卞), Ứ Tiềm huyện lệnh Tôn Thù (孫洙) đều làm quan Biên hiệu, hiệu đính sách vở ở quán các. Chức Biên hiệu sách vở ở quán các bắt đầu từ đây.
Ngày Đinh Sửu, chiếu: "Các Lộ Chuyển vận sứ ty, phàm Lộ, châu láng giềng bị tai hại mà tự tiện đóng cửa không cho bán thóc, thì lấy tội trái chế mà luận." Theo lời Gián quan Ngô Cập.
Ngày Mậu Dần, nguyệt thực gần như hết. Ngày Kỷ Mão, thả 214 cung nhân.
Ngày Kỷ Sửu, nước Liêu lấy Nam viện Khu mật sứ Tiêu A Tô (蕭阿蘇) làm Bắc phủ Tể tướng, lấy Khu mật Phó sứ Gia Luật Y Tốn (耶律伊遜) làm Nam viện Khu mật sứ, lấy Đặc lý côn Trát Lạp (特裡袞劄拉) làm Liêu Hưng quân Tiết độ sứ, lấy Lỗ vương Sắc Gia Nỗ (色嘉努) làm Vũ Định quân Tiết độ sứ, lấy Đông Kinh Lưu thủ Ngô Chủ Trì Bố (吳主持布) làm Tây Kinh Lưu thủ.
Mùa thu, tháng 7, ngày Bính Thân, lấy Thái tử Trung doãn Vương Đào làm Giám sát Ngự sử Lý hành. Trước đó, chiếu lệnh Trung thừa Hàn Cán (韓絳) tiến cử Ngự sử, nhưng hạn chế về tư cách, nên nhiều lần tiến cử mà không hợp cách. Bèn Cán xin được tiến cử Lý hành, lấy Đào làm chức ấy, chiếu cho phép. Đào từ chối không nhận, chiếu ép buộc, rồi mới nhận chức.
Ngày Đinh Dậu, nước Liêu lấy Ô Khố Đức Liệt Lặc Tường côn Mã Lỗ (烏庫德埒勒詳袞瑪嚕) làm Tả Y Lặc Hy Ba.
Ngày Giáp Thìn, giáng Quán Văn điện học sĩ, Lễ bộ Thị lang, Tri Thọ châu Tôn Miện (孫沔) làm Kiểm hiệu Công bộ Thượng thư, Ninh Quốc Tiết độ Phó sứ. Trước đó, quan Đài gián thay nhau luận tội Miện dâm dật, phóng túng, làm việc trái pháp, sai sứ đến tra xét, quả có thật, nên bị giáng.
Ngày Bính Ngọ, đưa Hậu cung Bành Thành huyện quân Lưu thị (劉氏) ra ở Động Chân cung, phong làm Pháp chính Hư Diệu đại sư, ban tên là Đạo Nhất. Sau lại vì tội, cạo tóc làm ni ở Miệu Pháp viện. Trước đó, Lưu thị ở trong dịch đình, thông qua việc cầu cạnh, xin xỏ mà làm điều gian tà, Ngự sử Trung thừa Hàn Cán mật tâu, Hoàng đế nói: "Nếu không phải khanh nói, trẫm không biết việc này." Vài ngày sau, có chiếu ấy. Lưu thị và Hoàng thị, trong Thập các là những người kiêu căng, phóng túng nhất, bèn đều bị đưa ra khỏi cung.
Ngày Đinh Mùi, thả 236 cung nữ.
Ngày Giáp Dần, lấy Giáo thư lang trí sĩ Khổng Nhật Phốc (孔日攵) làm Quốc tử giám Trực giảng, Dương châu Tiến sĩ Tôn Mâu (孫侔) làm Thí Giáo thư lang, Giáo thụ châu học bản châu, đều do cận thần tiến cử hạnh kiểm, nghĩa hạnh của họ. Hai người đều dứt khoát từ chối không nhận.
Có quân ở Ngự doanh là Tang Đạt (桑達) cùng mấy chục người, say rượu đánh nhau, la hét, chỉ trỏ xe ngự, hữu ty không phát giác. Hoàng thành sứ theo ý chỉ bắt họ giao cho Khai Phong phủ tra xét, án thành, xử Đạt tội chém ngoài chợ.
Cửu sát hình ngục Lưu Sảng chuyển văn thư hỏi phủ vì sao không qua thẩm tra, phủ trả lời: "Theo lệ gần đây, phàm là thánh chỉ, các vụ án do Trung thư Môn hạ, Khu mật viện tra xét, đều không phải lo hỏi." Sảng nói: "Việc này sao có thể thi hành được!" Bèn tâu xin từ nay trở đi, nhất loạt định thành điều lệ. Khu mật sứ cho rằng Khai Phong phủ có lệ, không bàn luận phải trái, cứ trình lên. Sảng tranh luận rằng: "Tiên đế nhân thánh, thương xót, vì hình ngục ở Kinh sư là nhiều nhất, nên lập ra một ty Cửu sát, để xét rõ thật giả. Nay lại trái ý thánh chỉ, các công vụ do Trung thư Môn hạ, Khu mật viện tra xét, lại không thẩm tra nữa, chưa thấy chỗ nào là tôn trọng triều đình, xét kỹ hình phạt, mà chỉ đủ để mở đường cho phủ, huyện lơi lỏng, lại khiến lại dịch trong ngục khinh nhờn, tội nhân mang oan không được kêu. Lại, phép cũ không cho dùng lệ phá điều, nay đối với hình ngục là việc cực trọng, mà bỏ điều dùng lệ, đó là điều thần không hiểu được." Hoàng đế bèn đem chương của Sảng giao cho Khai Phong, lệnh ghi thành điều lệ.
Hoàng đế lúc đầu muốn dựng Ảnh điện của Hoàng hậu Quách thị (郭皇后) ở Cảnh Linh cung, Lễ quan nói là không thể, bèn thôi. Sau đó, Hàn lâm Thị giảng học sĩ Dương An Quốc (楊安國) xin dựng Ảnh điện ở Hồng Phúc viện, Lễ quan tâu: "Ảnh điện không phải phép xưa, nếu nói rằng Hoàng hậu Quách vốn không có đại tội, nay đã kéo lại phục vị hiệu, thì nên ban thụy, sách phong, phối thờ vào Hậu miếu, để chính lễ điển."
Tháng 8, ngày Giáp Tuất, Tri chế cáo Lưu Sảng tâu: "Cúi nghe Lễ quan khởi xướng, muốn phối thờ Quách thị vào miếu, thần lấy làm nghi hoặc. Xưa nghĩa của ‘Xuân Thu’: ‘Phu nhân không mất ở tẩm, không phát tang ở đường, không khóc trở lại ở miếu, thì không gọi là Phu nhân, không xưng là Tiểu quân.’ Chỉ vì lễ không đủ, nên danh hiệu bị khuyết. Như vậy thì danh và lễ không phải là một. Danh hiệu còn mà lễ không đủ, nên không dám chính danh xưng, huống chi dám chính nghi lễ sao! Hoàng hậu Quách bị phế, tuy nói là không có đại tội, nhưng cũng đã bị phế rồi, đến khi truy phục, chỉ cho phục hiệu mà không cho phục lễ, đã hơn 20 năm, nay bỗng muốn dùng nghi lễ của Đích hậu để đưa vào miếu, vậy thì khi Hoàng hậu Quách mất, có phải là mất ở tẩm, phát tang ở đường, khóc trở lại ở miếu chăng, quần thần bách tính có từng vì nghĩa mẹ mà mặc áo đại tang chăng? E rằng không hợp với ‘Xuân Thu’. ‘Xuân Thu’, phu nhân trong 3 điều ấy chỉ thiếu 1 thì không chính danh xưng, còn Quách thị thì trong 3 điều không có 1, mà lại muốn chính lễ, e rằng không hợp nghĩa. ‘Tế ở Thái miếu, dùng để đưa phu nhân’, ý nói ‘đưa’ là không nên đưa, không nên đưa là vì bà ta không mất ở tẩm, không phối thờ với bà cô. Xưa không có hai Đích, vậy thì muôn đời sau, lễ tắc tông miếu, há phải là điều bề tôi con cháu được tự tiện định nặng nhẹ sao! Cẩn tra chiếu thư niên hiệu Cảnh Hựu, vốn không cho Quách thị phối thờ vào miếu, nghĩa đã quyết rồi, không nên lại làm rối loạn đại lễ. Có người bàn rằng đã phục hiệu thì không thể không khác lễ; ví như đại thần bị giáng vì tội oan, nếu đã rõ là oan, thì lại dùng, há có thể không cho làm đại thần! Nhưng nghĩa của bề tôi và vợ tuy ngang nhau, song bề tôi bị đuổi có thể trở về, vợ bị bỏ không thể lại hợp, vì bề tôi nhiều mà vợ chỉ một. Nên ‘Xuân Thu’ chép Công tôn Anh Tề chết ở Ly Thận, vua nói: ‘Ta vốn cho phép nó trở lại làm đại phu.’ Đó là bề tôi bị đuổi có thể trở về. Kỷ bá đến rước tang Thúc Cơ đem về, đó là người chồng cũ đến rước tang vợ đã bỏ mà làm cho, ấy là vợ bị bỏ không thể lại hợp. Nay truy phối Quách thị, há chẳng gần giống như thế sao? Xin lệnh cho chư Nho rộng bàn, để tìm chỗ dung hòa với lễ." Chiếu giao cho Học sĩ viện xét kỹ.
Ngày Ất Hợi, ngự điện Sùng Chính, sách vấn khoa Ứng tài thức kiêm mậu minh ư thể dụng, lấy Minh châu Quan sát Thôi quan Trần Thuấn Du (陳舜俞), khoa Hiền lương phương chính, trực ngôn cực gián, Đình Đức huyện úy Tiền Táo (錢藻), Uông Phụ Chi (汪輔之). Bài đối sách của Thuấn Du, Táo đều vào hạng thứ 4, cho Thuấn Du làm Trứ tác tá lang, Ký thư Trung Chính quân Tiết độ phán quan sự, Táo làm Thí Giáo thư lang, Vô Vi quân phán quan. Phụ Chi cũng trúng cách, Giám sát Ngự sử Lý hành Thẩm Khởi (沈起) tâu rằng ông ta không có hạnh kiểm, bãi bỏ. Phụ Chi nóng nảy, phẫn uất, bèn viết thư trách mắng Phú Bật rằng: "Ngài làm Tể tướng, chỉ biết thi hành ý hướng của Đài gián mà thôi." Bật không trả lời được. Thuấn Du là người Ô Trình; Táo là hậu duệ đời thứ 5 của Lưu (鏐).
Ngày Canh Thìn, chiếu lệnh Học sĩ viện gấp trình lên nghị bàn việc phối thờ Quách Hoàng hậu vào miếu. Trước đó, Lễ quan Tường Phù Trương Động (祥符張洞) bác nghị của Lưu Sảng rằng: "Quách thị chính vị Trung cung, không có tội đại ác, bệ hạ thương vì bà ta lỡ mất khiêm cung, nên sớm phục vị hiệu. Vị hiệu đã phục, thì thụy sách, phối miếu sao có thể đều đình chỉ! Huống chi dẫn ví dụ ‘Tế ở Thái miếu, dùng để đưa phu nhân’, theo ‘Tả truyện’ thì tội ác của Ai Khương không nỡ nói, khảo hai truyện, lại có lời nói là không phải Đích, dùng đó để chứng việc ở Bản miếu, e rằng không thích đáng. Nếu nói ‘không mất ở tẩm, không phát tang ở đường, không phối thờ với bà cô’, thì Quách hậu mất không được nơi, trách nhiệm phải quy về triều đình, người chết có tội gì? Nếu lấy việc Kỷ bá đến rước tang Thúc Cơ để so, chê là đã bỏ rồi lại rước, thì Hoàng hậu của Thiên tử, là mẹ của muôn dân, nếu không có tội ác cực lớn, lại có thể bỏ sao? Đã truy phục gọi là Hoàng hậu, há có thể tuyệt việc tế hưởng sao? Có người muốn dùng lệ nhà Hậu Hán, Đông Tấn, hoặc tế ở lăng tẩm, hoặc dựng cung ở ngoài. Khảo hai bộ sử, đều xưng là Mẫu hậu, so với ngày nay, cũng chưa thấy hợp. Chỉ có nhà Đường sáng lập biệt miếu, gặp tế Địch, Hiệp thì rước vào hưởng, về nghĩa là đúng." Sảng lại tâu rằng: "Điều thần tâu trước đây quan trọng nhất là cho rằng người làm vua không có hai Đích, e rằng muôn đời sau, phân biệt lễ nghi không rõ. Động đã không lấy đó làm biện luận, nếu chẳng may triều đình nghe theo quá, thì tuy tự cho là có công vạch rõ việc phế lập, mà vẫn còn ngấm ngầm ép Mẫu hậu, làm nhơ lễ điển, thần cho là không phải nghĩa bề tôi con cháu. Xin cùng hạ chương của thần, lệnh Lưỡng chế xét kỹ." Động lại dâng sớ bác thuyết của Sảng. Sau đó Học sĩ viện rốt cuộc không trình nghị.
Ngày Quý Mùi, ban cho Điện trung thừa trí sĩ Long Xương Kỳ (龍昌期) phẩm phục ngũ phẩm, 100 tấm lụa. Xương Kỳ là người Lăng châu, dâng lên sách mình soạn hơn 100 quyển, chiếu giao cho Lưỡng chế xem xét, Lưỡng chế tâu: "Xương Kỳ lời lẽ quái đản, xuyên tạc, cho Chu Công là đại gian, không thể dùng để dạy người. Xin lệnh Ích châu hủy bỏ các bản khắc in." Xương Kỳ gần 90 tuổi, đến cửa khuyết tự biện. Văn Ngạn Bác (文彥博) thuở nhỏ từng học với Xương Kỳ, nên hết sức tiến cử. Vì thế mới có ân ban này. Hàn lâm học sĩ Âu Dương Tu (歐陽修), Tri chế cáo Lưu Sảng cùng các quan hặc tội Xương Kỳ là tà thuyết hại đạo, đáng chịu tội như Thiếu Chính Mão, không nên đề cao. Đồng tri Thông tiến Ngân đài ty kiêm Môn hạ phong bác sự Hà Đàm cũng phong hoàn chiếu thư, bèn truy thu những thứ đã ban cho Xương Kỳ, cho về quê.
Trước đó, Lễ quan Trương Động, Hàn Duy tâu rằng: "Bản triều mỗi khi gặp tế Địch, Hiệp, đều rước thần chủ 4 Hoàng hậu ở biệt miếu, hợp tế ở Đại miếu. Căn cứ ‘Đường thư – Giao tự chí’ chép văn tế Địch, Hiệp, từ Hiến Tổ đến Túc Tông cộng 11 Hoàng đế, người phối đều là 1 Hoàng hậu, trong đó chỉ có Duệ Tông có 2 Hoàng hậu, tức là Chiêu Thành, mẹ của Minh Hoàng. ‘Tục Khúc Đài lễ’ có văn hợp tế Hoàng hậu ở biệt miếu, tức là khi chưa có bản thất, gặp tế Hiệp thì phối thờ dưới bà cô, nên thời Đại Thuận dùng 3 Thái hậu phối liệt trong tế Địch. Bác sĩ Thương Doanh Tôn vì nhận lầm ý ‘Khúc Đài lễ’, lúc đó không thể sửa, người bàn chê là phi lễ. Thần cùng các quan nghĩ rằng mỗi thất đã có định phối, thì các Hoàng hậu còn lại theo lễ không nên được thăng phối, nên theo lễ tế ở biệt miếu, mà đến ngày tế Địch, Hiệp lại đến tham dự, trái với ‘Giao tự chí’, ‘Khúc Đài lễ’. Nay thân hành cử hành đại lễ, nghĩa nên sửa đổi, đối với Hoàng hậu miếu, cúi xin theo lệ Phụng Từ miếu, sai quan đến tế." Chiếu lệnh các quan từ Đãi chế trở lên bàn.
Hàn lâm học sĩ Thừa chỉ Tôn Biện, Học sĩ Hồ Túc (胡宿), Thị độc học sĩ Lý Chiêu Thuật (李昭述), Thị giảng học sĩ Hướng Truyền Thức (向傳式), Tri chế cáo Lưu Sảng, Vương Trù (王疇), Thiên Chương các đãi chế Hà Đàm cùng bàn rằng: "‘Xuân Thu truyện’ nói: ‘Đại hiệp là gì? Là hợp tế.’ Thần chủ các miếu chưa bị phá đều được thăng hợp tế ở Thái Tổ. Vì vậy bản triều phụng sự tông miếu hơn 100 năm, đến ngày tế Hiệp, thần chủ các Hoàng hậu ở biệt miếu đều được thăng hợp tế, theo đó làm điển chế, không phải là không có căn cứ. Năm Đại Trung Tường Phù thứ 5, đã từng định nghị, lúc đó Lễ quan đã soạn ra luận bàn dung hòa, mà Tiên đế có chiếu kính theo. Hơn nữa, thi hành đã lâu, văn tế, lời chúc, sử quan tông thất đều giữ làm thường lệ, một sớm nhẹ bàn thêm bớt, e rằng thần linh không yên, cũng chưa chắc hợp ý Tiên đế. Lễ tắc tông miếu là tôn quý, trọng yếu nhất, nếu chưa thể hoàn toàn hợp ý Tổ tông, thì không gì bằng giữ lễ cũ. Thần cùng các quan cho rằng cứ theo như cũ là tiện." Hàn lâm học sĩ Âu Dương Tu, Ngô Khuê (吳奎), Khu mật Trực học sĩ Trần Húc (陳旭), Bao Chửng, Quyền Ngự sử Trung thừa Hàn Cán, Tri chế cáo Phạm Trấn (范鎮), Thiên Chương các đãi chế Tiền Tượng Tiên (錢象先), Đường Giới (唐介), Lư Sĩ Tông (盧士宗) bàn rằng: "Xưa chế độ tông miếu, đều là một Đế một Hậu, đời sau có việc ‘dĩ tử quý’ mới bắt đầu có văn cùng phối. Người không đáng phối thì lại có lễ tế ở biệt miếu. Trong tế Địch, Hiệp ở Bản miếu, lại đem các Hoàng hậu ở biệt miếu xếp dưới Hoàng hậu phối thất, không những xưa không có văn, mà ngày nay là không thể, có 4 điều: Thục Đức Hoàng hậu là nguyên phối của Thái Tông, mà xếp dưới Nguyên Đức; Chương Hoài Hoàng hậu là nguyên phối của Chân Tông, mà xếp dưới Chương Ý, thứ tự trước sau không hợp, một là vậy. Các Hoàng hậu được thăng phối thì cùng dùng nhạc của Hoàng đế, còn các Hoàng hậu ở biệt miếu thì dùng nhạc chương của bản thất, hai là vậy. Các Hoàng hậu được thăng phối thì cùng mâm mà tế, sinh lễ, khí cụ, sách chúc đều thuộc về Hoàng đế, còn các Hoàng hậu ở biệt miếu thì hưởng riêng, ba là vậy. Các Hoàng hậu được thăng phối thì ngồi cùng chiếu, còn các Hoàng hậu ở biệt miếu thì vị trí cách biệt, bốn là vậy. Chương Hiến, Chương Ý ở Phụng Từ miếu, mỗi khi gặp tế Địch, Hiệp, Bản miếu đến tế, là hợp lễ nhất. Nếu 4 Hoàng hậu đều tế ở miếu của mình, thì tôn vị của họ tự được tôn trọng, mà không trái lễ. Có người cho rằng thi hành đã lâu, khó sửa đổi, thì là việc thất lễ không còn được sửa nữa. Thần cùng các quan xin theo nghị của Lễ quan." Lâu ngày, vẫn không quyết.
Lưu Sảng lại một mình dâng tấu nói: "Quần thần không lo truy cứu phép ‘Xuân Thu’, mà chỉ dẫn lời nghi hoặc của hậu Nho, muốn gạt bỏ 4 Hoàng hậu, khiến vĩnh viễn không được hợp tế, thần rất lấy làm hận. Lễ tắc tông miếu, vị trí thần linh, há có thể để nhiều lần hối hận sao!"
Ngày Đinh Hợi, chiếu: "Hoàng hậu Hiếu Huệ, Hiếu Chương, Thục Đức, Chương Hoài trong tế Hiệp vẫn theo như cũ, đợi sau khi Đại lễ xong sẽ bàn riêng thêm."
Từ khi phép quân thuế đồng đều của Quách Tư (郭諮) bị bãi, người bàn cho rằng triều đình chỉ thương xót cái nhọc nhằn nhất thời mà mất đi sự lo xa lâu dài. Đến niên hiệu Hoàng Hựu, trong thiên hạ, ruộng khai khẩn so với niên hiệu Cảnh Đức tăng hơn 417.000 khoảnh, mà thu nhập thóc 9 loại mỗi năm lại giảm hơn 718.000 thạch, là vì thuế ruộng không đều, tệ hại như thế. Sau đó, Điền Kinh (田京) làm Tri Thương châu, quân bình ruộng ở Vô Địch; Thái Đĩnh (蔡挺) làm Tri Bác châu, quân bình ruộng ở Liêu Thành, Cao Đường, mỗi năm tăng thêm các loại thuế thóc, lụa, mà dân Thương châu không cho là tiện, chiếu dụ cho trở lại như cũ. Ngày hôm ấy, lại sai Chức phương Viên ngoại lang Tôn Lâm (孫琳), Đô cung Viên ngoại lang Lâm Chi Thuần (林之純), Đồn điền Viên ngoại lang Tịch Như Ngôn (席汝言), Ngu bộ Viên ngoại lang Lý Phụng (李鳳), Bí thư thừa Cao Bản Phân (高本分) đi các lộ quân bình ruộng. Bản Độc (tức Lưu Sảng) cho rằng chế độ thuế ruộng đã bỏ lâu, không thể lại quân bình, chỉ quân bình ruộng ở vài châu rồi thôi.
Tháng 9, ngày Giáp Ngọ, lấy Quyền phát khiển Độ chi phán quan, Thái thường Bác sĩ Sạn Uyển Trương Điền (澶淵張田) làm Tri Kì châu. Điền lúc đầu làm Thông phán Quảng Tín quân, Hạ Lạt (夏辣) cùng Dương Hoài Mẫn (楊懷敏) đề nghị mở rộng nước đầm ở 7 châu quân như Quảng Tín, chiếu lệnh Điền hội nghị, riêng Điền nói: "Nước đầm không đủ để chống giặc biên, mà làm hỏng ruộng tốt của dân, ngập mồ mả, không tiện." Trong sớ tâu nói rất rõ, nên bị giáng làm Thông phán Quân châu, lại bị trách làm Giám thuế Ứng châu; lâu sau, lại làm Thông phán Ký châu. Trung quan Trương Tông Lễ (張宗禮) nghênh sứ nước Liêu đi qua châu, say rượu làm càn, quan châu sợ hãi không dám phát giác, Điền phát giác. Chiếu lập án, đày Tông Lễ đến Tây Kinh làm tạp dịch quét dọn. Tam ty sứ Bao Chửng tiến cử Điền tạm coi việc thuộc ty, các quan Chấp chính lấy làm khó. Điền bèn gửi thư cho Phú Bật, kể 5 điều lỗi của ông ta rằng: "Ngài mang trọng vọng của thiên hạ mấy chục năm, nay làm Nguyên tể, mà cử chỉ như thế, rất đáng tiếc." Nhờ đó Chửng được như ý. Điền nhân đó kiến nghị: "Lễ ban thưởng ở Giao (tức lễ ban ân sau tế Giao) không phải phép xưa, thưởng cho quân có lẽ chưa thể bỏ ngay, xin từ Chấp chính trở xuống giảm bớt một chút." Chương dâng 5 lần. Gián quan Đường Giới hặc tội Điền: "Trong lòng chứa gian, ngoài khoe dám nói, ngầm theo phe tông thất, hoạn quan, không dám cắt giảm, mà bóc lột phần còn lại, khiến nhà nước tổn ân, thương thể, xin giáng chức!" Nên có chiếu ấy.
Ngày Bính Ngọ, chiếu: "Các Sứ thần mang hàm Cách môn chỉ hậu, Nội điện Sùng ban trở lên, Thái tử Suất phủ Suất và Chánh Thứ sử trở lên, gặp tang cha mẹ và con cháu đích tôn thừa tự, đều cho phép giải chức để chịu tang; những người vốn thuộc quân ban xuất chức và hiện đang quản quân hoặc Lộ phần Bố trí, Kiềm hạt, Đô giám, các chức Tri châu, quân, huyện, thành, trại chủ, Đô giám, Đồng tuần kiểm ở biên giới xa, đều cho nghỉ 100 ngày, rồi gọi trở lại; Cung phụng quan trở xuống vẫn theo chế cũ; ai muốn chịu tang thì cho phép. Tông thất giải chức vẫn cấp đủ bổng lộc." Trước đó, Phán Tam ban viện Hàn Chẩn (韓縝) tâu: "Nay Võ thần gặp tang cha mẹ mà không giải chức chịu tang, không hợp thông chế." Giao cho quan Đài gián xét kỹ, rồi ghi thành điều lệ.
Ngày Mậu Thân, Đề điểm Quảng Nam Tây lộ hình ngục Lý Sư Trung (李師中) tâu: "Tri Ung châu Tiêu Chú (蕭注) muốn đánh Giao Chỉ, Tri Nghi châu Trương Sư Chính (張師正) muốn lấy An Hóa quân, e rằng người xa nghe tin sẽ không yên, xin răn Chú cùng những người khác không được sinh sự." Bèn theo đó. Chú ở Ung châu lâu ngày, ngầm dùng lợi lộc dụ các Man Quảng Nguyên, bí mật sửa sang binh giáp, bèn tâu rằng: "Giao Chỉ ngoài thì dâng cống triều, trong thì ôm lòng phản, thần nay đã nắm được tâm phúc của chúng, biết rõ nơi hiểm yếu, lúc này không lấy, sau này sẽ là họa lớn, xin cho được phi ngựa đến cửa khuyết, trình bày phương lược." Người bàn cho rằng Chú là kẻ gây chuyện cho nước, nên không chấp thuận.
Ngày Giáp Dần, lấy Hộ bộ Lang trung Trương Tương (張瓖) làm Đồng phán Thái thường tự, kiêm Lễ nghi sứ sự. Tương hai lần dâng sớ xin phá bỏ miếu Ôn Thành, đều không được trả lời.
Sử quán tu soạn Âu Dương Tu (歐陽修) tâu: "Sách sử nên giao cho cơ quan hữu trách cất giữ. Trước đây, Lý Thục (李淑) đem bản triều chính sử dâng vào cấm trung rồi đốt bản thảo, nay Sử viện chỉ còn giữ một cơ quan trống không mà thôi. Xin ban chiếu lệnh Long Đồ các chép riêng 1 bản nữa giao cho Biên tu viện, để dùng tra xét các chuyện cũ." Hoàng đế cho theo.
Ngày Bính Thìn, giáng Lễ bộ lang trung, phân ty Nam Kinh Lữ Trầm (呂溱) xuống làm Binh bộ viên ngoại lang, vì cho rằng trước đây trách phạt còn nhẹ. Lúc đầu, khi Thiểm Tây dùng binh, triều đình phần nhiều tạm mượn quyền của các biên soái; đến khi Tôn Miện (孫沔) và Lữ Trầm lần lượt bị tội, từ đó quyền của các Thủ, Soái càng thêm suy yếu.
Chiếu: "Việc tập nghi lễ tế hưởng Cảnh Linh cung, Thái miếu, từ nay đều dời sang tại Thượng thư tỉnh."
Trước đó, Tập hiền hiệu lý Thiệu Tất (邵必) tâu: "Chức Tiểu tông bá trong ‘Chu quan’, phàm việc hội đồng, điền dịch, cầu đảo, tế tự của nhà vua, đều là luyện tập nghi lễ, sắp đặt vị thứ. Chú của Trịnh thị nói: ‘Như nay là Ty Nghi lễ thuộc Tư đồ phủ.’ Nay việc tập nghi lễ ở cung miếu, mà lại mở cửa phòng, lên điện, khi bái thì khom nhẹ, khi đặt lễ thì chén rượu rỗng, nhạc thì gõ chúc ngữ, vũ thì đủ các hàng đội, khinh nhờn thần linh, không gì quá thế. Nên dời sang Thượng thư tỉnh, để sánh với Tư đồ phủ đời Hán." Hoàng đế cho theo.
Mùa đông, tháng 10, ngày Nhâm Tuất mồng 1, Liêu chúa đến Nam Kinh, tế Hưng Tông tại điện Gia Ninh.
Ngày Giáp Tý, bá quan đến Thượng thư tỉnh tập nghi lễ. Cửa sân Thượng thư tỉnh chật hẹp, xe ngựa tắc nghẽn, từ Tể tướng, Thân vương trở xuống, đến lúc mặt trời xế mà vẫn không ra được.
Ngày Nhâm Thân, triều tế Cảnh Linh cung. Ngày Quý Dậu, đại hiệp ở Thái miếu, đại xá. Đổi Ích châu làm Thành Đô phủ, Tinh châu làm Thái Nguyên phủ. Lúc đầu, Trung thư dâng bản dự thảo điều khoản chiếu xá rất nhiều, chuyên chú làm ơn huệ đến dân; đến khi tuyên đọc chiếu xá xong, mọi người đều nói trước sau chưa từng có ân xá nào như vậy.
Khi Hàn Kỳ (韓琦) còn ở Thái Nguyên, từng xin phục lại chức Tiết trấn cho Tinh châu. Hàn lâm học sĩ Hồ Túc (胡宿) cho rằng: "Sao là Tống tinh, Tham là Tấn tinh; nước nhà ta nhận mệnh bắt đầu từ Thương Khâu, lại kinh sư nằm trong phân dã của Tống, còn Tinh là đất Tấn; Tham, Sao là hai sao thù địch; nay muốn tôn sùng Tấn, không lợi cho nước. Từ khi nhà Tống hưng khởi, Tinh là nơi cuối cùng chịu phục, Thái Tông cắt giảm, không cho liệt vào các trấn, gần 80 năm nay, nên theo như chế cũ." Hoàng đế đồng ý với lời bàn của Túc. Đến khi Kỳ nắm chính quyền, nhân dịp chiếu xá trong lễ đại hiệp, rốt cuộc lại phục chức ấy, Túc lại đem việc ấy tâu, nhưng không được trả lời.
Ngày Mậu Dần, văn võ bá quan đều được gia ân theo chiếu xá trong lễ đại hiệp. Lúc đầu, bá quan trai giới ở triều đường, Hàn lâm thị độc học sĩ, Thượng thư Tả thừa Lý Chiêu Thuật (李昭述) bỗng phát bệnh, được khiêng về, Hoàng đế sai ngự y chẩn mạch, thăm hỏi rất hậu. Ngày Giáp Thân ông mất, truy tặng Lễ bộ Thượng thư, thụy là Khác. Họ Lý ở xóm Sùng Khánh phía bắc thành, suốt 7 đời không chia bếp, sĩ đại phu phần nhiều suy tôn. Đến đời Chiêu Thuật, dần dần tích lũy ruộng đất, không hợp với người em con chú, gia pháp hơi suy.
Tháng 11, ngày Ất Mùi, lệnh Thiên Chương các đãi chế kiêm Thị giảng Tiền Tượng Tiên (錢象先), Lư Sĩ Tông (盧士宗), Hữu tư gián Ngô Cập (吳及) định đoạt việc gia ân, giải oan cho người. Từ đó về sau, mỗi khi ban chiếu xá, đều lệnh quan lại định đoạt, việc bắt đầu từ đây.
Ngày Kỷ Hợi, lấy xử sĩ Hà Nam Thiệu Ủng (邵壅) làm Chủ bộ Giang tác giám; bản phủ tiến cử là người ẩn dật nên có lệnh này. Sau lại 2 lần bổ làm Đoàn luyện thôi quan ở Dĩnh châu, ông đều lấy cớ bệnh không nhận.
Ngày Canh Tý, Nhữ Nam quận vương Doãn Nhượng (允讓) mất. Vương tính chí hiếu, mẹ là Sở quốc Thái phu nhân bị cảm hàn, dù đang giữa mùa nóng vẫn ở trong phòng kín; muốn đục cửa sổ cho sáng, sợ thợ không cẩn thận, tiếng búa rìu làm kinh động Thái phu nhân, nên tự mình tháo cửa sổ rồi mới cho thợ làm. Đến khi để tang, vì quá thương xót mà thân thể tiều tụy. Hoàng đế thân đến tế, ban phúng 3.000 lạng bạch kim, vương phủ phục khóc mà nói: "Cha mẹ mất mà nhận trọng thưởng, tức là con rốt cuộc không thể dùng sức mình lo tang, phụ lòng hiếu chân thành vậy." Cố từ chối. Ngày an táng, vương chân không, bám quan tài đi hơn 10 dặm. Hoàng đế nghe tin, vội hạ chiếu cho được lên xe, vương 2, 3 lần từ chối rồi mới vâng chiếu. Khi vương mới bệnh, Hoàng đế lo lắng hiện rõ trên nét mặt, sai ngự y chẩn trị, mỗi ngày hỏi bệnh tình tăng giảm. Đến khi thân đến tế, chiếu đặc biệt bỏ việc dùng đào phù, nước tẩy uế, để tỏ lòng thân hậu, phúng viếng, cứu tế đều tăng bậc, đình triều 5 ngày, truy tặng Thái úy, Trung thư lệnh, truy phong là Bộc vương, thụy An Ý. Vương thiên tư thuần hậu, trong thì nhân từ, ngoài thì trang trọng, dù là kẻ hầu cận cũng chưa từng thấy sắc mặt vui giận; làm Đại tông chính 20 năm, tông tộc vừa cảm ân đức, vừa sợ uy nghiêm của ông.
Tháng ấy, ban cho người nơi đồng nội ở Quả châu là Hà Quần (何群) hiệu An Dật xử sĩ, người nơi đồng nội ở Ích châu là Chương Dự (章譽) hiệu Xung Thoái xử sĩ, vì Chuyển vận sứ tâu rằng họ có hạnh nghĩa. Quần là người Tây Sung, từng học ở Thái học, Thạch Giới (石介) bảo các học sinh rằng: "Quần ngày ngày chỉ nghĩ làm nhân nghĩa, mà không biết cái khổ đói rét nơi thân mình." Từng dâng thư xin khôi phục phép cử tuyển ở hương lý, bãi bỏ thơ phú; hai chế phủ bác bỏ lời bàn của ông, bèn về quê, không thi Tiến sĩ nữa. Dự là người Song Lưu, giỏi về ‘Dịch’, ‘Thái Huyền’, từng được tiến cử bổ làm Giáo thụ bản châu, ông từ chối không nhận.
Nước Liêu cấm dân riêng đi săn.
Tháng 12, ngày Nhâm Tuất mồng 1, nước Liêu lấy Bắc viện Lâm Nha Mã Lục (瑪陸) làm Hữu Y Lặc Hi Ba. Tham tri chính sự Ngô Trạm (吳湛) vì để em là Tuân (洵) mạo nhập vào sổ quan lại, bị xóa tên, giáng làm dân.
Lúc đầu, Hữu gián nghị đại phu Chu Trạm (周湛) làm Tri Tương châu. Dân Tương châu không dùng ngói gạch, phần nhiều làm nhà tre, lâu ngày lấn chiếm quan đạo, mái hiên sát nhau, nên hỏa hoạn thường gây tai hại. Trạm đến, đo chỗ lấn chiếm, phá dỡ hết, từ đó không còn nạn cháy. Nhưng các họ hào trưởng không thuận, Đề điểm hình ngục Lý Mục (李穆) tâu rằng Trạm phá dỡ nhà dân, khiến già trẻ mất nghiệp, xin đặc biệt giáng trách, hoặc cho về hưu. Chiếu lệnh Chuyển vận sứ xét thực. Ngày Giáp Tý, dời Trạm làm Tri Tương châu. Hữu tư gián Ngô Cập tâu rằng Trạm không nên bị trách, còn Mục nghe lời gièm, thay quyền hào báo oán. Năm sau, tháng 6, Trạm mất ở Tương châu.
Ngày Kỷ Mão, Quan Văn điện học sĩ kiêm Hàn lâm thị độc học sĩ Vương Cửu Chính (王舉正) làm Thái tử Thiếu phó, về hưu. Tể tướng Phú Bật (富弼), từ khi lễ đại hiệp hoàn thành, vì mẹ già nhiều lần dâng chương xin cáo lão, Hoàng đế không cho, lại còn cắt không nhận chương nữa. Bật lại dâng trát tử, 1 bản giữ lại trong cung, 1 bản trả về. Lại lấy cớ bệnh nằm nhà, Hoàng đế sai trung sứ triệu ra, ông mới lại vào triều làm việc.
Tri chế cáo Lưu Sảng (劉敞) tâu: "Thần xem phép cũ, những người từ chối chức quan, hoặc 1 lần, hoặc 2 lần, hoặc 3 lần, đều có bậc thứ. Gần đây sĩ đại phu mỗi khi có chiếu bổ nhiệm, không kể cao thấp, đều theo lệ nhiều lần từ chối; tuy có người xuất phát từ chí thành, thản nhiên với thế lợi, nhưng cũng đã vượt quá điển chế. Nếu phong tục chạy theo khéo léo, phong khí dần hư, ắt sẽ có kẻ ôm lòng giả dối cầu tiếng, muốn làm cho trên mê, dưới lầm, lại lấy đó làm đường tắt tiến thân, bí quyết tranh danh, thật đáng ghét. Lời thần nói có vẻ quanh co mà lo thì thật xa, mong được soi xét!" Lúc ấy sĩ đại phu hơi tự phụ hư danh, mỗi khi được bổ quan đều từ chối, hoặc 4, 5 lần, đến 7, 8 lần, thiên tử thường khoan dung. Dưới đến kẻ áo vải như Trần Liệt (陳烈) v.v., lần đầu được bổ quan cũng từ chối, được ban thóc lụa cũng từ chối, nên Sảng mới có bản tấu này.
Năm ấy, nước Liêu cho đỗ Tiến sĩ 115 người, đứng đầu là Lương Viện (梁援).
Năm Gia Hựu thứ 5 (Liêu, năm Thanh Ninh thứ 6), Công nguyên năm 1060)
[sửa]Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Tân Mão mồng 1, có bạch hồng xuyên qua mặt trời.
Ngày Kỷ Hợi, truy lục hậu duệ Lưu Kế Nguyên (劉繼元).
Ngày Ất Mão, bãi bỏ Ngự thư viện và số viên ngoài ngạch tăng thêm từ Hàn lâm đồ họa đãi chiếu trở xuống.
Tháng ấy, đào sông Nhị Cổ. Từ khi Lý Trọng Xương (李仲昌) bị giáng, việc sông ngòi lâu không bàn đến. Hà Bắc Đô chuyển vận sứ Hàn Chí (韓贄) tâu: "Tứ Giới Thủ là nơi xưa sông lớn chảy qua, nên đào sâu 2 con kênh dẫn, phân dòng sông chảy vào sông Kim Xích, có thể giảm bớt nạn vỡ tràn." Triều đình theo kế ấy, dùng 3.000 người, gần 1 tháng thì xong. Chẳng bao lâu, lại đào sâu cả Ngũ Cổ hà.
Có một ngôi sao lớn rơi ở phía tây nam, ánh sáng chiếu sáng mặt đất, có tiếng như sấm, người đoán gọi là Thiên Cẩu. Đồng tri gián viện Phạm Sư Đạo (范師道) tâu: "Nơi Thiên Cẩu rơi xuống là điềm phá quân giết tướng, nên chọn tướng soái, huấn luyện binh sĩ." Chiếu cho thiên hạ sớm chuẩn bị phòng bị.
Tháng 2, ngày Nhâm Tuất, xét giảm tội cho tù giam.
Ngày Bính Dần, Lễ bộ cống viện xin tăng số người được giải từ các châu, quân Giang, Chiết, Phúc Kiến, Xuyên, Quảng, tổng cộng 135 người, Hoàng đế cho.
Ngày Mậu Thìn, lấy Ất Thái thường thừa, Giám sát ngự sử lý hành Vương Đào (王陶) làm Hữu chính ngôn, vào Gián viện làm việc.
Hoàng đế từ khi uống đan dược, ít nói, quần thần tâu việc, chỉ gật đầu mà thôi. Đào tâu: "Lời của bậc vương giả, quần thần đều tiếp nhận để thi hành trong thiên hạ. Nay chính sự không việc lớn nhỏ, đều do Trung thư, Khu mật quyết định, bệ hạ không hề có chỗ khả, bất, há phải đạo làm người chủ ư!" Lại tâu: "Hoàng tự chưa lập, nên chọn tông tử có đức hạnh, thông hiểu kinh sử mà nuôi dạy." Vì chí hướng không hợp với đồng liêu, nhiều lần xin trông coi Linh Tiên quán, nhưng không được cho.
Tháng 3, ngày Nhâm Thìn, chiếu Lễ bộ tổ chức khoa cống.
Ngày Quý Tị, Quan Văn điện Đại học sĩ, Hình bộ Thượng thư Lưu Hãng (劉沆) mất, truy tặng Tả Bộc xạ kiêm Thị trung. Tri chế cáo Trương Khuê (張瑰) soạn văn cáo, có lời chê bai Hãng, con ông là Quán các hiệu khám Cẩn (瑾) kiện lên triều, Hoàng đế bèn đổi lệnh cho người khác soạn. Nhà ông không dám xin thụy. Hoàng đế lại làm văn điếu, và tự đề lên bia mộ ông 2 chữ "Tư Hiền". Hãng tính hào phóng, ít giữ khuôn phép; nhưng tin vào số mệnh, giỏi kín đáo dò xét lỗi lầm của quyền thần thân cận, ngầm nắm lấy, nên tuy đỗ cao mà ra làm quan, sự thăng tiến phần nhiều do đó.
Ngày Ất Mùi, Tuế tinh hiện ban ngày.
Ngày Mậu Tuất, chiếu cho Lưu nội thuyên: "Từ nay người quy thuận, 25 tuổi trở lên cho phép bổ quan."
Ngày Bính Ngọ, chiếu: "Các nơi đặt quyền chức ở Quảng Nam Đông, Tây lộ đều là vùng xa xôi, khí độc nóng ẩm, mà bổng lộc hàng tháng không đủ tự cấp, nay mỗi tháng tăng thêm 1.500 tiền."
Lúc đầu, Ngự sử trung thừa Hàn Cương (韓絳) tâu: "Các lộ bị tai hại, triều đình tuy có phát chẩn cứu tế, nhưng quan Giám ty và quan thân dân chưa hết lòng, khiến dân lưu tán rất nhiều." Ngày Nhâm Tý, hạ chiếu răn dạy.
Ngày Giáp Dần, chiếu dời 32 tội nhân bị phát phối đến Sa Môn trại ở Đăng châu sang các châu lao thành.
Từ khi chiếu bãi bỏ lệnh cấm trà, người bàn luận lại nói là không tiện, Tri chế cáo Lưu Sảng, Hàn lâm học sĩ Âu Dương Tu cũng bàn nhiều về việc này. Sảng trong sớ nói: "Triều đình thay đổi phép trà, thì người từ Đông Nam đến lại nói là không tiện. Đại để nói rằng trước đây dân hái trà trên núi, nhận tiền của quan, còn nay lại bắt họ nộp tiền cho quan, giữa việc thu nạp, lợi hại gấp trăm lần. Trước đây dân liều phạm pháp buôn trà thì chỉ bị phạt, nay chia đều thuế cho dân, thuế không nộp đúng kỳ thì hình phạt cũng đến, tức là lương dân thay kẻ phạm pháp chịu tội, con cháu đời đời chưa thấy dứt. Trước đây đại thương phú giả vì nước buôn chuyển, châu quận thu thuế của họ, nay đại thương phú giả không đi, thì thuế không đủ, lại thiếu dùng cho nước. Mong triều đình nhân lời thần, tìm kế lợi nước, ban ơn cho dân." Tu trong sớ nói: "Thần nghe người bàn rằng phép mới về trà đã thi hành, dân không còn tội tư bán, mỗi năm giảm được rất nhiều người bị hình, đó là 1 điều lợi. Nhưng có 5 điều hại: dân trước đây nộp thuế trà, nay đổi thành nộp tiền, đó là 1 hại. Tiểu thương buôn bán ít đi, đại thương hoàn toàn không thông hành, đó là 2 hại. Thuế trà không thu đủ, quốc dụng hụt hẳn, đó là 3 hại. Trước đây trà quan cho dân vào mua, nên trà nhiều mà rẻ; nay dân tự mua bán, phải dùng trà thật, trà thật không nhiều, giá bèn đắt, đó là 4 hại. Việc hòa cốc ở Hà Bắc, thực cần thấy tiền, không chỉ thương lữ khó được tiền để chuyển dùng, mà từ kinh sư mỗi năm lại phải chở tiền đến Hà Bắc, lý tất không thể, đó là 5 hại. Một lợi không đủ bù 5 hại, xin bỏ lệnh trước, cho phép người dâng kế, xét định cho tinh xác, để khỏi mất phép cũ của Tổ tông." Không được nghe theo.
Liêu chúa đến Uyên Ương bạc.
Mùa hạ, tháng 4, ngày Canh Thân, Quyền đồng phán Thượng thư Hình bộ Lý Diên (李綖) tâu: "Trong 1 năm, Hình bộ xử các tội giết cha mẹ, chú bác, vợ anh em, giết chồng, giết vợ, giết cha mẹ vợ, tổng cộng 140 vụ; cướp trộm 970 vụ. Phong tục bạc bẽo, không gì hơn cốt nhục tàn hại lẫn nhau; đói rét bức bách, không gì gấp hơn trộm cướp. Nay kẻ phạm pháp nhiều, há phải vì hình phạt không đủ để ngăn gian, mà là giáo hóa chưa thể dẫn họ làm điều thiện chăng? Xin lệnh Hình bộ phân loại các tội đại bi trên thiên hạ đã xử, mỗi năm dâng lên triều đình, để giúp việc xem xét." Hoàng đế cho theo.
Ngày Kỷ Mão, lệnh Độ chi phán quan, Ty bộ viên ngoại lang, Trực Tập hiền viện Vương An Thạch (王安石) cùng tu Khởi cư chú. An Thạch mới vào viện được mấy tháng, trong viện có nhiều bậc tiên tiến, không nên vượt lên trên họ, nên cố từ chối.
Trình Kham (程戡) và Tống Dưỡng (宋癢) bất hòa, nhiều lần tranh luận trước mặt Hoàng đế, Đài gián đem việc ấy tâu, Hoàng đế không vui. Điện trung thị ngự sử Lữ Hối (呂誨) lại luận Kham kết giao với quyền quý thân cận, ngày Quý Mùi, bèn bãi Kham làm Hàn lâm học sĩ thừa chỉ kiêm Thị độc học sĩ, lấy Lễ bộ Thị lang, Tri chế cáo Tôn Biện (孫抃) làm Khu mật phó sứ.
Ngày Giáp Thân, giáng Hữu tư gián, Bí các hiệu lý Ngô Cập xuống làm Công bộ viên ngoại lang, Tri Lư châu; Thái thường bác sĩ, Giám sát ngự sử lý hành Thẩm Khởi (沈起) bị bãi chức lý hành, làm Thông phán Việt châu.
Lúc đầu, Gián quan Trần Húc (陳旭) đề nghị cắt giảm phép bổ nhiệm quan theo thứ lớp ban hành, giao cho hai chế và Đài gián hội nghị. Bản thảo đã định, đến khi cùng với Khởi lại thêm câu: "Sắt lò Từ Hồ ở Hưng Quốc quân vẫn như cũ giao cho quan theo thứ lớp." Người chủ sắt lò Từ Hồ là đại tộc Trình Thục Lương (程淑良). Bọn Hàn lâm học sĩ Hồ Túc hặc rằng bọn Cập giữ chức ở Đài gián mà lại vì họ Trình lo liệu, chiếm giữ ân trạch, xin chiếu hỏi rõ tình trạng. Bọn Cập nhận tội, nên đều bị giáng.
Ngày Bính Tuất, lệnh Quyền Tam ty sứ Bao Chửng (包拯), Hữu gián nghị đại phu Lữ Cư Giản (呂居簡), Hộ bộ phó sứ Ngô Trung Phục (吳中復) cùng xét định việc quân bình thuế.
Tháng 5, ngày Mậu Tý mồng 1, dân kinh sư bị dịch bệnh, chọn thầy thuốc phát thuốc.
Nước Liêu, Giám tu Quốc sử Da Luật Bạch (耶律白) xin biên tập thơ phú do Liêu chúa sáng tác, lệnh Bạch viết lời tựa. Liêu chúa ưa ngâm vịnh, sau đó Tri chế cáo Da Luật Lương (耶律良) lại biên tập thơ văn ngự chế, gọi là ‘Thanh Ninh tập’. Liêu chúa lệnh thơ của Lương gọi là ‘Gia Hội tập’, tự mình soạn lời tựa ban cho.
Ngày Kỷ Sửu, kinh sư động đất.
Tây Thượng các môn sứ, Anh châu Thứ sử Quách Tư (郭諮) dâng loại xe cự mã do mình chế tạo. Tư từng làm Tri Lộ châu, nói rằng núi bên cạnh 2 quận Hoài, Bảo có thể trồng lúa, từ Định Vũ, Đường Hà đến giữa Doanh, Mạc có thể khai khẩn ruộng nước. Lại chế xe lộc giác, thương hãm mã, xin mở rộng việc dùng nỏ độc diên ở các đường khác. Chiếu lệnh Tư đặt nỏ.
Tư lại tâu: "Trước đây nhân đi sứ phương bắc được xem vùng U Yên, chỉ hơn 300 dặm, không đến phí tổn 10 vạn người trong 1 năm, nếu dùng mưu chế ngự, khiến họ không được lợi, ở không đủ dùng, không quá mấy năm, ắt bỏ U châu mà chạy. Thần vào đầu niên hiệu Khánh Lịch từng hoạch định việc đại thủy ở Hà Bắc, quả đã cắt đứt cương vực địch, đó chính là thuật ấy. Loại xa nỏ do thần sáng chế có thể phá giáp cứng, chế ngự quân xung phong, nếu đặt nhiều, lại trợ bằng đại thủy, thì lấy U Ký như thò tay vào túi mà lấy vật vậy!"
Gặp lúc Tam ty bàn việc quân bình thuế ruộng, triệu Tư về, Tư dâng 40 điều phép quân khoát. Lại dâng ‘Bình Yên nghị’ rằng: "Từ Oa Kiều đến Cổ Bắc khẩu, đất hẹp dân ít; từ Cổ Bắc khẩu đến Trung Kinh, thuộc đất Khiết Đan và Khiết Đan; từ Trung Kinh đến Khánh châu, dọc đường chỉ hơn 700 hộ. Vốn cương vực Khiết Đan tuy rộng, người ngựa rất ít, nếu có khi nam xâm, tất phải dẫn Cao Ly, Bột Hải, Đạt Đát, Hắc Thủy, Nữ Chân, Thất Vi các nước cùng hội chiến, đường đến đã xa, lương lại thiếu. Thần nghe dùng gần đợi xa, dùng nhàn đợi mệt, dùng no đợi đói, là kế hay dùng binh. Lại nghe ai khiến địch tự đến thì thắng, ai chiếm trước nơi tiện lợi thì nhàn. Theo điều thần thấy, xin thực hành lại kế sách thời Khánh Lịch, hợp các sông vào phía bắc Đường Bạc để ngăn ngựa Hồ, rồi theo chuyện cũ thời Cảnh Đức, đóng quân tự thủ. Bộ binh 20 vạn, kỵ binh 3 vạn, tráng sĩ 3 vạn, mỗi năm tính lương bổng 1.836.000 hộc, các châu huyện ven sông có thể dùng đường thủy vận lương cấp cho Bảo châu ứng viện. Dùng 3.000 xe cự mã, 1.500 thương hãm mã, 3 vạn nỏ độc diên, chia chọn 5 tướng, thần có thể đảm nhiệm 1 phần, địch đến thì đánh, đi thì không đuổi. Lương trữ ở U châu vốn ít, binh các nước phụ thuộc không thể lưu lại lâu, không đến nửa năm, ắt chạy về sa mạc, bấy giờ tiến binh chặn Cổ Bắc khẩu, chặn ải Tùng Đình quan, truyền hịch đến U Ký, Yên Nam tự yên định." Hoàng đế khen lời ông, chiếu đặt 2 vạn nỏ độc diên. Rồi lệnh Tư cùng đề cử các kho của chư ty tại kinh sư và chọn binh khí trong Nội quân khí khố, giao cho Nam, Bắc tác phường, để hoàn bị quân khí.
Quý nhân Đổng thị sinh Hoàng nữ thứ 11, ngày Canh Dần, tiến phong làm Mỹ nhân, bà cố từ chối, xin truy tặng cha thêm 1 cấp quan, Hoàng đế theo lời xin.
Ngày Giáp Ngọ, Quan Văn điện Đại học sĩ, Hộ bộ Thị lang Bàng Tịch (龐籍) làm Thái tử Thái bảo, về hưu. Tịch từ Định châu được triệu về, sau khi vào chầu, đến Trung thư tỉnh xin cáo lão, các quan chấp chính nói: "Công khỏe mạnh như thế, thánh ý đang rất hậu, sao lại cố xin đi?" Tịch nói: "Nếu đợi đến khi gân sức không còn, người chủ chán ghét rồi mới đi, há gọi là biết đủ ư?" Bèn về nhà. Trước sau dâng biểu 7 lần, Hoàng đế mới cho, lại chiếu cho Tịch ra vào theo nghi lễ như quan Nhị phủ.
Ngày Đinh Dậu, chiếu Tam ty đặt Ty Khoan tuất dân lực.
Ngày Kỷ Hợi, lấy Tiến sĩ Dĩnh châu Thường Trật (常秩) làm Thí Giang tác giám Chủ bộ, kiêm Giáo thụ châu học bản châu, vì Hàn lâm học sĩ Hồ Túc v.v. tâu rằng văn hạnh của ông được tiếng ở hương lý. Trật là người Lâm Nhữ, từng thi Tiến sĩ không đỗ, lui về hơn 20 năm, đặc biệt giỏi ‘Xuân Thu’, bác bỏ học thuyết của Tôn Phục (孫復) là không hợp nhân tình, soạn ‘Giảng giải’ mấy chục thiên.
Ngày Kỷ Dậu, lấy Vương An Thạch làm Tam ty Độ chi phán quan.
Liêu chúa đóng quân ở Nạp Cát bạc.
Ngày Ất Mão, xét giảm tội cho tù giam, giáng tội 1 bậc, từ tội đồ trở xuống đều tha.