Tục tư trị thông giám/Quyển 6
Năm Khai Bảo thứ 2 (Liêu, Bảo Ninh năm thứ 1), Công nguyên năm 969
[sửa]Mùa thu, tháng 7, ngày Bính Dần, lấy Tiết độ sứ Thiên Hùng quân Phù Ngạn Khanh (符彥卿) làm Tiết độ sứ Phụng Tường. Ngạn Khanh trấn thủ Đại Danh hơn 10 năm, mọi việc ủy thác cho Nha hiệu Lưu Tư Ngộ (劉思遇). Tư Ngộ tham lam mà xảo quyệt, quân phủ lâu ngày không được chỉnh trị, vì thế triều đình mới bàn chọn quan khác thay thế.
Ngày Mậu Thìn, xuống chiếu: “Từ nay tế Trời Đất dùng tam sinh trâu dê lợn đầy đủ; các lễ vốn nên dùng trâu, thì cho thay bằng dê và lợn.”
Tiết độ sứ Linh Vũ Phùng Kế Nghiệp (馮繼業) giết anh, thay cha nắm giữ trấn, khá kiêu ngạo phóng túng, người Nhung không quy phục; lại vỗ về sĩ tốt ít ân huệ, thuộc hạ nhiều kẻ hai lòng. Kế Nghiệp lo họ làm biến, xin dời cả tộc vào nội địa. Tháng 8, ngày Canh Thìn, cho Kế Nghiệp làm Tiết độ sứ Tĩnh Nan.
Lấy Phòng ngự sứ Địch châu Hà Kế Quân (何繼筠) kiêm Tiết độ sứ Kiến Vũ, kiêm phán Địch châu.
Ngày Kỷ Hợi, Viên ngoại lang bộ Hộ, Tri chế cáo Vương Hựu (王祐) quyền Tri Đại Danh phủ. Đến ngày từ biệt, Hoàng đế bảo ông ta: “Đại Danh là cố hương của khanh, chính là điều cổ nhân gọi là 'ban ngày mặc áo gấm về làng' vậy.”
Lưu thủ Tây Kinh Hướng Củng (向拱) chỉ chuyên lo uống rượu vui chơi, chính sự trong phủ không được chăm lo, bọn cướp giữa ban ngày giết người ngoài chợ. Hoàng đế nghe tin, nổi giận, ngày Canh Tý, dời Củng làm Tiết độ sứ An Viễn.
Tháng 9, ngày Đinh Mùi, lấy Tả Vũ Vệ Đại tướng quân, người Trường Xã là Tiêu Kế Huân (焦繼勳) làm Tri Tây Kinh lưu thủ, dụ bảo rằng: "Chớ lại bắt chước Hướng Củng nữa!" Kế Huân nhậm chức hơn 1 tháng, kinh thành trở nên trong sạch, nghiêm túc.
Triều đình bàn chọn người có thể thay Phùng Kế Nghiệp. Khi ấy Khảo công lang trung Đoạn Tư Cung (段思恭) đang làm Tri Tư châu, Hoàng đế cho rằng Tư Cung thường lập công ở Mi châu, bèn triệu về kinh, mệnh làm Tri Linh châu, trước sai chiếu bảo rằng: “Phùng Kế Nghiệp nói Linh châu nếu không do tướng người Phiên làm chủ thì người Nhung không phục, dù là danh tướng như Vệ Thanh, Hoắc Khứ Bệnh cũng tất bị đuổi đi. Ý hắn cho rằng không phải là hắn thì người khác không thể trị được. Ngươi có thể trị nổi chăng?” Tư Cung đáp: “Thần kính cẩn phụng chiếu.” Hoàng đế khen là tráng liệt, lại bảo: “Đời Đường, Lý Tĩnh, Quách Tử Nghi đều xuất thân nho sinh mà lập đại công, lẽ nào triều ta lại không có người ư!” Bèn hậu thưởng rồi sai đi, lại vì đường sá qua nhiều bộ tộc Nhung, cho mang riêng vàng lụa để tặng họ. Tư Cung sau khi nhậm chức, sửa chữa hết những sai lầm của Kế Nghiệp, hết lòng an ủi vỗ về, các bộ lạc Di đều yên tĩnh, ông chu đáo hỏi han lợi hại tật bệnh, nhiều việc dâng tấu trình bày, rất nắm được tình hình quan lại và dân chúng.
Ngày Canh Thân, lấy Trấn Nùng Hồi ở Hợp châu làm Quảng An quân.
Thứ sử Trác châu nước Liêu là Hứa Chu Cầm (許周瓊) đến hàng, cho làm Hữu Vũ Lâm tướng quân, vẫn kiêm Thứ sử Trác châu.
Tháng này, lần đầu ra lệnh dân khi làm điển, mua bán ruộng đất, phải nộp tiền để đóng ấn vào khế ước.
Mùa đông, tháng 10, ngày Đinh Hợi, xuống chiếu: “Xưa Tây Hán cầu tìm những người quan lại, dân chúng thông minh hiểu rõ kinh thuật, cho họ cùng dự việc tính toán, dọc đường các huyện thay nhau cấp ăn, ấy là đạo ưu đãi hiền tài. Quốc gia hằng năm mở khoa chọn cống sĩ ở bộ Lễ, rộng cầu người tuấn kiệt, sĩ tử bốn phương, không nơi nào không đến, nhưng đường sá xa xôi cách trở, lộ phí có khi thiếu thốn, trẫm rất thương xót! Từ nay người dự thi ở các đạo Tây Xuyên, Sơn Nam, Kinh Hồ… khi đi về đều cấp cho giấy thông hành.”
Ngày Tân Mão, xuống chiếu cho Quy châu, Hiệp châu đều trực lệ Kinh sư.
Ở 3 châu Tương, Triệu, Thâm có 334 đinh phu chết dưới thành Thái Nguyên, chiếu cho miễn thuế nhà họ trong 3 năm.
Ngày Mậu Tuất, tướng quân Hữu Thiên Ngưu Vệ nước Liêu là Vương Giáp (王甲) đem Phong châu đến hàng, lập tức cho con ông ta là Vương Đình Mỹ (廷美) làm Nha nội chỉ huy sứ Phong châu.
Ngày Kỷ Hợi, Hoàng đế yến tiệc các phiên thần ở Hậu uyển, rượu say, thong thả bảo họ rằng: ”Các khanh đều là bậc cựu thần của quốc gia, lâu năm trấn giữ những nơi trọng yếu, việc nước bận rộn, đó không phải là ý trẫm dùng để ưu đãi hiền tài.” Tiền Tiết độ sứ Phụng Tường kiêm Trung thư lệnh Vương Diên Siêu (王彥超) hiểu ý Hoàng đế, bèn tiến tấu trước rằng: “Thần vốn không có công lao, mà đội ơn vinh sủng. Nay đã già yếu, xương cốt được trở về nơi gò vườn, ấy là điều thần mong muốn.” Tiền Tiết độ sứ An Viễn kiêm Trung thư lệnh Vũ Hành Đức (武行德), Tiền Tiết độ sứ Hộ Quốc Quách Tòng Nghĩa (郭從義), Tiền Tiết độ sứ Định Quốc Bạch Trọng Tán (白重贊), Tiền Tiết độ sứ Bảo Đại Dương Đình Chương (楊廷璋) tranh nhau tự bày tỏ những công lao chinh chiến, trải qua gian khổ. Hoàng đế nói: “Đó là chuyện đời khác, có gì đáng nói!” Ngày Canh Tý, cho Hành Đức làm Thái tử Thái phó, Tòng Nghĩa làm Thượng tướng quân Tả Kim Ngô Vệ, Diên Siêu làm Thượng tướng quân Hữu Kim Ngô Vệ, Trọng Tán làm Thượng tướng quân Tả Thiên Ngưu Vệ, Đình Chương làm Thượng tướng quân Hữu Thiên Ngưu Vệ. Khi ấy các Tiết độ sứ được dự yến đều bị bãi trấn, đổi làm quan văn võ trong triều.
Thái tử Thái phó Vương Phổ (王溥) được thăng làm Thái tử Thái sư.
Trước đây, Đinh Đức Dụ (丁德裕), Vương Quyết (王玨), Trương Du (張璵) cùng lĩnh binh đóng ở Tây Xuyên, Đức Dụ khá tự chuyên phóng túng, vì Đô giám binh mã Trương Diên Thông (張延通) kết đảng với Du, nên Đức Dụ oán ghét. Đến khi về triều, Đức Dụ vu tấu rằng Diên Thông nói năng có lời chỉ trích, lại làm nhiều việc bất pháp, rồi chỉ Du là đồng đảng. Ngày Quý Mão, Hoàng đế ngự Hậu điện gọi vào hỏi, Diên Thông đối đáp cứng cỏi, lại không cung kính, lập tức bị xử chém ngoài chợ. Du và Quyết đều bị đánh trượng, phát phối đi xa.
Nước Liêu có 16 bộ tộc như Tích Lý (錫裡), Dụ Lỗ (裕嚕) v.v. đến quy phụ, đều được ban quan chức, có phân bậc khác nhau.
Tháng này, Liêu chúa đi Nhão Đàm.
Tháng 11, ngày Giáp Thìn mồng 1, Liêu chúa làm lễ “hành sài sách”, tế núi Mộc Diệp, đóng quân ở Hạc Cốc.
Ngày Ất Tị, Thứ sử Bắc viện Khu mật nước Liêu là Tiêu Ân Ôn (蕭恩溫) được phong làm Ngụy vương, Bắc viện Đại vương Ô Trân (烏珍) được gia phong tước Dụ Duyệt.
Ngày Canh Thân, Hồi Hột, Vu Điền đều sai sứ đến cống sản vật địa phương. Sứ Hồi Hột đi đường qua Linh châu, buôn bán ở chợ, Tri châu Đoạn Tư Cung sai quan lại mua nao sa, quan lại tranh giá với sứ giả, sinh giận dữ. Tư Cung tha cho quan lại, không hỏi tội, lại xiềng trói sứ giả, mấy ngày sau mới tha. Sứ giả về nước, tố cáo việc ấy, Hồi Hột hãn sai sứ mang thư đến Linh châu hỏi rõ nguyên do trói sứ; Tư Cung tự biết mình yếu lý, không dám trả lời. Từ đó mấy năm, Hồi Hột không vào cống nữa.
Ngày Mậu Thìn, chiếu cho Trung thư xá nhân Lý Phưởng (李昉), Viên ngoại lang bộ Binh, Tri chế cáo Lư Đa Tốn (盧多遜) thay phiên trực Học sĩ viện. Chức Trực Học sĩ viện bắt đầu từ Phưởng và Đa Tốn mà có. Trước đây, đường lại vì việc mà đến Hàn Lâm, chỉ bái ở dưới thềm, Học sĩ hơi rời chỗ ngồi, chắp tay đáp lễ, xong việc thì lui, chưa từng cùng ngồi. Phưởng trước kia ở Hàn Lâm vẫn như thế. Đến nay, có người vào bẩm việc, bèn bái ngay trên thềm, lại cùng ngồi nói chuyện trong ngoài, không còn lễ cũ. Phưởng kinh ngạc, hỏi đồng liêu, thì nói rằng như thế đã truyền nối mấy năm rồi, không ai biết nguyên do. Lễ bộ Thượng thư Dương Chiêu Khiêm (楊昭儉) ưa chê bai gièm pha, bèn tung tin rằng Phưởng đến bái đường lại, thường bị họ khắc chữ châm biếm.
Tháng này, Nam Đường chúa đi săn ở Thanh Long sơn, khi về, đến Đại Lý tự, thân đến xét tù, nhiều người được tha tội. Trung thư Thị lang Hàn Hy Tái (韓熙載) dâng sớ hặc tấu: “Việc ngục phần nhiều do hữu ty, trong ngục tù không phải là nơi xa giá nên đến. Xin phạt tiền trong Nội phủ 3.000.000 để sung vào quân trữ.”
Tháng 12, ngày Ất Dậu, lấy Phòng ngự sứ Phòng châu Vương Diên Thăng (王彥升) làm Phòng ngự sứ Nguyên châu. Diên Thăng giỏi đánh kiếm, trong quân gọi là "Vương Kiếm Nhi". Tính ông tàn nhẫn, ở Nguyên châu suốt 5 năm, người Nhung nào phạm luật của Hán, Diên Thăng không thèm gia hình, mà gọi các liêu thuộc đến uống rượu yến tiệc, dẫn người Nhung phạm tội ra trước mặt, tự tay nắm tai hắn mà nhai, rồi uống một chén rượu, người Nhung máu chảy đầy thân thể, run rẩy không dám động. Trước sau bị ông cắn tai đến hàng trăm người, người Nhung khiếp sợ, không dám phạm biên giới.
Ngày Mậu Tuất, lấy Tân Văn Duyệt (辛文悅) làm Tri Phòng châu. Lúc đầu Hoàng đế từng theo Văn Duyệt học tập, đến khi lên ngôi, triệu kiến, cho làm Thái tử Trung doãn, kiêm phán Thái phủ tự. Khi Chu Trịnh vương còn ở Phòng châu, Hoàng đế cho rằng Văn Duyệt là bậc trưởng giả, nên có mệnh ấy.
Đinh Đức Dụ tấu rằng Chuyển vận sứ Tây Xuyên, Lễ bộ Lang trung Lý Huyễn (李鉉) từng say rượu mà chỉ trích, Hoàng đế sai trạm dịch triệu Huyễn, giao cho ngục Ngự sử tra xét. Nhân đó Huyễn nói Đức Dụ ở Thục nhiều lần vì việc mà xin xỏ, ông ta thường cự tuyệt, đều có chứng cứ. Hoàng đế hiểu ra sự vu cáo của Đức Dụ, chỉ xử Huyễn tội say rượu thất lễ. Ngày Kỷ Hợi, giáng Huyễn làm Tả Tán thiện đại phu.
Hữu Tán thiện đại phu Vương Chiêu Văn (王昭文), vì giám Đại Doanh thương, con ông ta cùng kho lại làm chuyện gian, bị phát giác, bị phát làm dân đày ở Nhữ châu.
Tiết độ sứ Phụng Tường Phù Ngạn Khanh bị bệnh, ngồi xe đến Tây Kinh, tâu rằng bệnh nguy kịch, chiếu cho phép đến Lạc Dương chữa bệnh. Giả hạn 100 ngày, vẫn lĩnh bổng lộc như cũ, bị Ngự sử hặc tấu. Hoàng đế vì Ngạn Khanh là chỗ thông gia, tha cho, chỉ bãi chức Tiết độ sứ.
Nước Liêu lấy Hàn Khuông Tự (韓匡嗣) làm Lưu thủ Thượng Kinh, do ơn cũ ở phiên phủ. Chẳng bao lâu, phong làm Yên vương. Khuông Tự cho con là Đức Nhượng (德讓) hầu hạ Liêu chúa, Liêu chúa cho là cẩn thận cung kính, gia cho làm Đông đầu Cung phụng quan, bổ làm Thông sự ở Khu mật viện.
Năm Khai Bảo thứ 3 (Liêu, Bảo Ninh năm thứ 2), Công nguyên năm 970
[sửa]Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Đinh Mùi, Liêu chúa đi Hoàng Hà (潢河).
Ngày Quý Sửu, bãi Đông Hải giám ở Hải châu, phục làm huyện.
Ngày Tân Dậu, chiếu: “Các châu quan lại phải xét kỹ trong dân có người hiếu đễ nổi tiếng, đức hạnh thuần hậu tươi tốt, cứ đủ 5.000 hộ thì cho cử 1 người; hoặc có người tài năng kỳ lạ, hạnh kiểm khác thường thì không hạn số ấy. Người được cử đúng thực sẽ được gia thưởng, không đúng như chiếu thì trị tội.”
Khi Tiết độ sứ Trấn Ninh quân Trương Lệnh Đạc (張令鐸) bị bãi binh quyền, Hoàng đế lệnh cho hoàng đệ Quang Mỹ (光美) lấy con gái Lệnh Đạc làm phu nhân. Đến khi Lệnh Đạc từ trấn về triều, bị bệnh, Hoàng đế thân hỏi han, ban thưởng rất hậu. Ngày Kỷ Tị, Lệnh Đạc mất, truy tặng làm Thị trung. Lệnh Đạc tính nhân hậu khoan thứ, từng nói với người rằng: “Ta theo quân hơn 30 năm, lớn nhỏ hơn 40 trận, nhiều lần phá vỡ quân cứng mạnh, xông vào quân địch, nhưng sau khi thắng trận, chưa từng giết bừa một người nào.” Đến khi ông mất, người ta rất thương tiếc.
Hàn Tri Phạm (韓知範) nước Liêu từ Thái Nguyên trở về, nói rằng Tấn Dương nhiều rối loạn, mà Lưu Kế Nguyên (劉繼元) không có người phụ tá. Nam viện Khu mật sứ Cao Huân (高勳) cũng nói với Liêu chúa: “Ta với Tấn Dương là nước cha nước con, hằng năm họ đều sai sứ đến chầu, hoặc là đại thần, hoặc là con em, tiên đế chỉ vì một cơn giận mà giam hết sứ giả của họ, thật là vô ích.” Liêu chúa bèn tìm lại 16 sứ giả Bắc Hán, hậu lễ cho về, lại phong Lưu Kế Văn (劉繼文) làm Tiết độ sứ Bảo Nghĩa, Lý Tất (李弼) làm Khu mật sứ, cho họ phụ tá Kế Nguyên. Kế Văn và Tất ở lâu nước Liêu, lại nhận mệnh của Liêu, về nắm chính sự, bọn tả hữu đều gièm pha họ, Bắc Hán chúa bèn cho Kế Văn ra làm Thứ sử Đại châu, Tất làm Thứ sử Hiến châu. Liêu chúa nghe tin, xuống chiếu trách Bắc Hán chúa rằng: “Trẫm thấy nước ngươi liên tiếp mất 2 vua, ở nơi hẻo lánh một góc, mong cho yên ổn lại, tất phải cùng nhau trị nước. Kế Văn là em ruột ngươi, Lý Tất là cựu thần của ngươi, một người là thân cùng khí huyết, một người là bậc lão thần, nên trẫm mới cùng ban mệnh, khiến họ tận lòng trung thành, mong cho yên ổn, giữ vững hòa hiếu. Thế mà chỗ ngồi chưa kịp ấm chỗ, đã bị vứt bỏ, lòng thuận theo của ngươi đối với trẫm là thế nào!” Bắc Hán chúa nhận thư, hoảng sợ tạ tội, nhưng rốt cuộc vẫn không triệu Kế Văn về.
Tháng 2, ngày Nhâm Thân là mồng 1, lấy huyện Lương Sơn thuộc Vạn châu làm quân.
Ngày Kỷ Mão, Thứ sử Hùng châu Hầu Nhân Cự (侯仁矩) mất. Hoàng đế đặc sai Trung sứ hộ tống linh cữu, triều đình cấp lo việc tang. Con Nhân Cự là Hầu Diên Quảng (延廣) cũng có dũng lược. Khi Nhân Cự ở Hùng châu, một hôm đang yến ẩm, quân Liêu mấy nghìn kỵ binh vào thành, dân cư kinh hoảng, Diên Quảng dẫn thân tín mấy kỵ binh phi ngựa ra, bắn chết một bộ trưởng, chém được mấy thủ cấp, bắt hết bọn còn lại. Nhân Cự mừng, vỗ lưng bảo: “Người làm hưng thịnh cửa nhà ta tất là mày!” Việc tâu lên, chiếu ban cho áo gấm, đai bạc.
Bắc Hán chúa lấy Lễ bộ Thị lang Lý Uẩn (李惲) làm Tư không, Đồng bình chương sự; Hồng lư khanh Lưu Kế Oánh (劉繼顒) làm Thái sư kiêm Trung thư lệnh, kiêm Tiết độ sứ Thành Đức quân; Tam ty sứ Cao Trọng Hi (高仲曦) làm Khu mật sứ; hoạn nhân Vệ Đức Quý (衛德貴) làm Đô điểm kiểm Đại nội; sủng thần Phạm Siêu (范超) làm Đô Ngự hầu Thân quân Thị vệ. Siêu và Đức Quý nắm trọn cơ vụ, còn Uẩn và những người khác chỉ giữ hư vị. Uẩn, người Dương Vũ, ham rượu mê cờ, không lo chính sự. Bắc Hán chúa có nhiều nội sủng, Kế Oánh thường dâng trâm vòng, Bắc Hán chúa càng trọng tín nhiệm ông ta.
Tháng 3, ngày Nhâm Dần mồng 1, chiếu: “Tại cống viện bộ Lễ, xét các khoa Tiến sĩ, ai đã dự thi đủ 15 lần trở lên mà từng vào đến cuối trường, thì báo tên lên.” Ngày Giáp Thìn, chọn được 63 người như Tư Mã Phổ (司馬浦) v.v. Ngày Canh Tuất, lại chọn được 43 người đã thi 15 lần mà chưa từng vào đến cuối trường, đều ban cho xuất thân. Lại chiếu từ nay không được lấy đó làm lệ nữa.
Tiết độ sứ Trung Vũ quân Tống Ác (宋偓) mua nhà cửa, cửa hiệu trong địa phận mình, Hoàng đế nghe biết, không vui, ngày Mậu Thân, dời làm Tiết độ sứ Tĩnh Nan.
Ngày Kỷ Dậu, lấy Tiết độ sứ Trung Chính Vương Thẩm Kỳ (王審琦) làm Tiết độ sứ Trung Vũ. Thẩm Kỳ trấn Thọ Xuân suốt 8 năm, mỗi năm thu thuế khóa, liệu theo thu mà chi, chưa từng có việc truy bức, dân khá yên ổn. Có huyện lệnh trong địa phận vì tội mà đình chức Lục sự sử, mạc liêu tâu rằng lệnh không báo trước với phủ, xin tra xét, Thẩm Kỳ nói
- Từ Ngũ Đại đến nay, chư hầu cường hoành, lệnh tể không được tự chủ việc huyện. Nay thiên hạ trị bình, ta thẹn giữ phên dậu, mà quan huyện trong địa phận có thể đuổi được kẻ lại xảo quyệt, thật đáng thưởng, sao lại tra xét!
Ngày Tân Hợi, lấy xử sĩ ở Toan Táo là Vương Chiêu Tố (王昭素) làm Quốc tử bác sĩ, rồi cho về trí sĩ. Chiêu Tố thuở nhỏ chăm học, có chí hạnh, Hoàng đế nghe danh, triệu kiến ở bên điện. Khi ấy ông đã hơn 70 tuổi, Hoàng đế hỏi: “Vì sao không ra làm quan?” Chiêu Tố tạ rằng mình không thể. Hoàng đế bảo giảng quẻ Càn, đến câu “Cửu ngũ phi long tại thiên”, ông nghiêm mặt nói: “Hào này chính là việc của bệ hạ ngày nay.” Ông dẫn chứng, viện dẫn, nhân đó tỏ bày ý khuyên can kín đáo. Hoàng đế rất vui, hỏi về thuật trị đời, dưỡng thân, Chiêu Tố nói: “Trị đời không gì bằng yêu dân, dưỡng thân không gì bằng ít dục vọng.” Hoàng đế thích lời ấy, viết lên bình phong. Lưu ông lại hơn 1 tháng, ông nhiều lần xin về, nên có mệnh này. Ông mất tại nhà, thọ 89 tuổi.
Mùa hạ, tháng 4, ngày Tân Mùi là mồng 1, nhật thực.
Ngày Ất Hợi, lấy Nội khách tỉnh sứ Đinh Đức Dụ quyền Tri Lộ châu, vì Tiết độ sứ Chiêu Nghĩa quân Lý Kế Huân (李繼勳) được dời làm Tiết độ sứ Thiên Hùng quân.
Ngày Kỷ Mão, chiếu cho Tam ty: “Các lộ thu thuế hai vụ bằng hiện vật, nếu là vật không hợp với sản vật địa phương, thì không được ép buộc phân phối.”
Tháng này, Liêu chúa đi Đông Kinh, dâng lễ ở miếu Nhượng Quốc Hoàng đế và Thế Tông.
Lúc đầu, Tiêu Tư Ôn (蕭思溫) vì lấy công chúa, được làm Quần mục Lâm nha, ở trong quân thì bủn xỉn, chỉ lo sửa sang vẻ ngoài, các liêu tá đều biết ông không có tài tướng soái. Sau làm tướng, quả nhiên không có công, thờ Mục Tông không có gì để cứu giúp, dư luận không phục. Đến nay nhờ là ngoại thích mà được sủng ái, giữ chức vị hiển hách, chẳng bao lâu được gia phong Thượng thư lệnh, các công thần, ngoại thích đều bất bình. Tháng 5, theo Liêu chúa đi săn ở Lư sơn, ngày Ất Mão, bị kẻ trộm giết ở Bàn Đạo lĩnh.
Tháng 6, Liêu chúa trở về Thượng Kinh.
Sông Biện vỡ ở huyện Ninh Lăng, phát đinh phu đắp lại, lại đắp chặn cửa sông Biện để giảm thế nước.
Mùa thu, tháng 7, ngày Nhâm Dần, chiếu: “Dân kêu kiện vì thủy hạn tai hại, thì mùa hạ không được quá tháng 4, mùa thu không được quá tháng 7.”
Ngày Nhâm Tý, chiếu rằng
- Số quan lại quá nhiều, khó mà cầu trị; bổng lộc ít ỏi, chưa thể trách họ liêm khiết. So với việc đông quan lại mà tốn kém, chi bằng giảm bớt quan mà tăng bổng lộc. Quan lại châu huyện thuộc Tây Xuyên nên lấy số khẩu dân làm chuẩn, giảm bớt số viên chức, bổng cũ mỗi tháng tăng thêm 5.000. Quan lại châu huyện trong thiên hạ nên theo lệ Tây Xuyên mà giảm bớt số viên chức.
Nước Liêu lấy Gia Luật Hiền Thích (耶律賢適) làm Bắc viện Khu mật sứ. Hiền Thích từng hầu Liêu chúa khi còn ở phiên phủ, Mục Tông bạo ngược, Liêu chúa cùng Hàn Khuông Tự, Ni Lí (尼哩) du ngoạn, lời nói có ý châm biếm, Hiền Thích khuyên nên sớm xa lánh, nhờ đó mà tránh được sự nghi kỵ của Mục Tông, ấy là công của Hiền Thích. Khi Liêu chúa mới lên ngôi, rất nghi ngờ các vương có thể sinh lòng khác, ngầm dùng Hiền Thích làm tâm phúc, nên có mệnh này.
Ngày Bính Dần, Trung thư Thị lang Nam Đường Hàn Hy Tái mất. Lúc đầu, Nam Đường chúa cho rằng Hy Tái hết lòng trung, dám nói thẳng, muốn dùng làm tướng, nhưng Hy Tái buông thả theo tình, bỏ lễ, kỹ nữ, thiếp thất phóng túng, Nam Đường chúa vì thế mà khó xử. Chẳng bao lâu, ông bị hặc tấu, bị giáng làm Hữu Thị tử, phân ty ở Nam Đô. Hy Tải đuổi hết kỹ nữ, một xe đơn độc lên đường, lại dâng biểu xin tha tội. Nam Đường chúa mừng, giữ lại, chẳng bao lâu phục chức cũ. Sau đó kỹ nữ dần dần trở về, Nam Đường chúa nói: “Ta cũng không biết làm sao với ông ta nữa!” Đến khi ông mất, Nam Đường chúa than: “Ta rốt cuộc không thể được Hy Tái làm tướng!” Bèn thân viết thư truy tặng Hy Tái chức Bình chương sự. Nhà Hy Tái không có của dư, quan tài, áo liệm đều do Nam Đường chúa ban.
Tháng 8, ngày Canh Dần, lấy Thứ sử Tập châu Lý Khiêm Phổ (李謙溥) làm Đoàn luyện sứ Tế châu. Khiêm Phổ ở Tập châu 10 năm, địch không dám phạm biên cảnh. Có Chiêu thu tướng Lưu Tiến (劉進), dũng lực hơn người, Khiêm Phổ rất hậu đãi, thường cho ông ta qua lại vùng biên, dùng ít đánh nhiều. Người Bắc Hán rất khổ vì ông ta, bèn viết thư bằng sáp để ly gián Tiến, giả vờ đánh rơi thư trên đường, Tiết độ sứ Tấn châu Triệu Tán (趙贊) nhặt được, tâu lên, Hoàng đế lệnh xiềng xích Tiến rồi giải về kinh. Khiêm Phổ gọi đến hỏi việc, Tiến quỳ dưới sân xin chết, Khiêm Phổ nói: “Ta lấy cả nhà 40 miệng bảo đảm cho ngươi rồi.” Bèn dâng tấu: “Tiến bị người Bắc Hán căm ghét, đây là kế ly gián.” Tấu đến, Hoàng đế hiểu ra, vội tha cho, ban cho ông ta áo giáp, trang bị của Đô hiệu Cấm quân; Tiến cảm kích, xin đánh giặc để tự lập công.
Hoàng đế từng lệnh hữu ty xây nhà cho Phòng ngự sứ Minh châu là Quách Tiến (郭進), tất cả sân, sảnh đều lợp ngói lưu ly. Hữu ty tâu: “Chỉ thân vương, công chúa mới được dùng thứ này.” Hoàng đế giận nói: “Quách Tiến khống chế Tây Sơn hơn 10 năm, khiến ta không lo phía bắc, ta xem Tiến há kém con trai, con gái ta sao! Mau đi đốc thúc việc xây, chớ nói tầm bậy!” Hoàng đế sủng ái tướng soái khác thường như thế, nên mới được họ tận lực chết vì nước.
Nam Đường chúa lại viết thư dụ Nam Hán chúa Sưởng (鋹) quy thuận Trung Quốc, sai Cấp sự trung Cung Thận Nghi (龔慎儀) đi sứ. Sưởng nhận thư, rất giận, bèn giam Thận Nghi, gửi thư trạm đáp Nam Đường chúa, lời rất vô lễ. Nam Đường chúa đem thư ấy dâng lên, Hoàng đế mới quyết ý đánh Nam Hán.
Tháng 9, ngày Kỷ Hợi là mồng 1, lấy Phòng ngự sứ Đàm châu Phan Mỹ (潘美) làm Đô bộ thự binh mã Hành doanh đạo Hợp châu, Đoàn luyện sứ Lãng châu, người Nghiệp là Doãn Sùng Khoa (尹崇珂) làm phó, Thứ sử Đạo châu Vương Kế Huân (王繼勳) làm Đô giám Mã quân Hành doanh, lại sai sứ phát binh các châu đến dưới thành Hợp châu.
Sau khi Tiêu Tư Ôn chết, Liêu chúa vì tình thân với hoàng hậu, truy tìm hung thủ rất gấp. Ngày Tân Sửu, bắt được Quốc cữu Tiêu Ha Tế (蕭哈濟) và Ha Lý (哈裡) mưu giết Tư Ôn, đều bị xử tử, đày em là Thần Đổ (神睹) đến Hoàng Long châu, chẳng bao lâu cũng bị giết.
Ngày Giáp Thìn, chiếu
- Ở Tây Kinh, Phụng Tường, Hùng, Diệu các châu, các lăng của Chu Văn vương, Thành vương, Khang vương; Tần Thủy Hoàng; Hán Cao, Văn, Cảnh, Vũ, Nguyên, Thành, Ai 7 đời Hoàng đế; Hậu Ngụy Hiếu Văn; Tây Ngụy Văn Đế; Hậu Chu Thái Tổ; Đường Cao Tổ, Thái Tông, Trung Tông, Túc Tông, Đại Tông, Đức, Thuận, Văn, Vũ, Tuyên, Ý, Hi, Chiêu các Hoàng đế, cộng 27 lăng, từng bị đào phá, thì lệnh hữu ty chuẩn bị pháp phục, thường phục, mỗi thứ 1 bộ, đủ quan tài, cải táng, quan trưởng sở tại phải đến tế lễ.
Phan Mỹ và các tướng chiếm được Phú châu.
Trước đó, các tướng cũ Nam Hán phần nhiều bị giết vì lời gièm, tông thất bị diệt gần hết, nắm binh quyền chỉ còn mấy hoạn quan, thành quách, hào lũy đều sửa thành cung quán, ao hồ, lâu thuyền, khí giới đều mục nát không sửa. Đến khi quân ta đến Bạch Hà, Thứ sử Hợp châu Trần Thủ Trung (陳守忠) sai sứ cáo cấp, trong ngoài chấn động, Nam Hán chúa sai Cung Thăng Khu (龔澄樞) cưỡi trạm đến Hợp châu tuyên úy. Khi ấy sĩ tốt lâu ngày ở biên, phần nhiều nghèo khổ, nghe Thăng Khu đến, cho rằng tất được ban thưởng, mà Thăng Khu chỉ đưa chiếu rỗng để vỗ về, quân sĩ đều rã rời. Quân Tống tiền phong đến Phương Lâm, Thăng Khu hoảng sợ, cưỡi thuyền nhẹ trốn về. Ngày Quý Sửu, vây Hợp châu.
Nam Hán chúa triệu đại thần bàn, đều xin cho Phan Sùng Triệt (潘崇徹) đem quân chống giữ. Sùng Triệt từ khi bị bãi binh quyền, thường bất bình, bèn lấy cớ đau mắt từ chối. Nam Hán chúa giận nói: “Cần gì Sùng Triệt, há Vũ Nghiễn Nhu (伍彥柔) lại không có phương lược sao!” Bèn sai Nghiễn Nhu đem quân đến cứu. Ngày Mậu Ngọ, quân Tống nghe Nghiễn Nhu đến, lui 20 dặm, bí mật cho quân kỳ phục ở bờ Nam Hương. Nghiễn Nhu đêm đậu thuyền ở Nam Hương, đến sáng, cầm ná lên bờ, ngồi trên ghế chỉ huy, thì quân phục bất ngờ nổi dậy, quân Nghiễn Nhu đại loạn, chết 7–8 phần 10. Bắt được Nghiễn Nhu, chém, treo đầu cho người trong thành xem, người trong thành vẫn cố thủ không hàng. Tùy quân Chuyển vận sứ Vương Minh (王明) nói với Phan Mỹ: “Quân cứu viện sắp đến, nên gấp đánh.” Các tướng còn do dự, Minh bèn dẫn hơn 100 quân hộ tống lương thảo, cùng mấy nghìn đinh phu, tất cả đều cầm cuốc xẻng, lấp hào, tiến thẳng đến cửa thành. Người trong thành rất sợ, mở cửa đầu hàng, bèn chiếm được Hợp châu.
Phan Mỹ và các tướng truyền tin rằng sẽ thuận dòng tiến thẳng đến Quảng châu, Nam Hán chúa lo sợ bức bách, không biết tính sao, bèn gia phong Phan Sùng Triệt làm Nội Thái sư, Đô thống Mã bộ quân, lĩnh 30.000 quân đóng ở Hợp Giang. Gặp lúc quân Tống đi thẳng đến Chiêu châu, Sùng Triệt chỉ ôm quân tự giữ mà thôi.
Mùa đông, tháng 10, ngày Tân Mão, Phan Mỹ và các tướng phá trại Khai Kiến của Nam Hán, giết mấy nghìn người, bắt tướng của họ là Cận Huy (靳暉). Thứ sử Chiêu châu Điền Hành Sầu (田行稠) bỏ thành trốn, Thứ sử Quế châu Lý Thừa Khuê (李承珪) cũng chạy về, quân ta bèn chiếm Chiêu châu, Quế châu.
Hoàng đế xem số bạc trắng thu hằng năm ở Quế Dương giám, bảo Tể tướng: “Lợi núi rừng, sông hồ tuy nhiều, nhưng nghe nói việc khai thác không dễ.” Tháng 11, ngày Ất Tị, chiếu giảm 1/3 số ngạch cũ, để giảm sức dân.
Lúc đầu, nước Liêu tập trung 60.000 kỵ binh đánh Định châu, sai người coi việc Tứ phương quán là Điền Khâm Tộ (田欽祚) lĩnh 3.000 quân chống giữ. Hoàng đế bảo Khâm Tộ: “Quân địch đông, ta ít, chỉ nên dựa lưng vào thành mà bày trận chờ chúng, địch đến thì đánh, chớ đuổi theo.”
Khâm Tộ đánh với quân Liêu ở Mãn Thành, kỵ binh Liêu hơi lui, ông thừa thắng đuổi đến Tùy thành. Ngựa Khâm Tộ trúng tên ngã xuống, kỵ sĩ Vương Siêu (王超) đưa ngựa cho Khâm Tộ, quân lại chấn chỉnh, từ sáng đến chiều, giết bị thương rất nhiều, đêm thì vào giữ Tùy thành, quân Liêu vây thành. Mấy ngày sau, Khâm Tộ tính lương trong thành ít, bèn chỉnh quân, mở cửa nam, đột phá một góc vòng vây mà ra; đêm ấy đến Bảo trại, trong quân không mất một mũi tên nào. Biên giới phía bắc truyền rằng “3 ngàn đánh 6 vạn”.
Ngày Quý Hợi, tin thắng trận tâu về, Hoàng đế vui, bảo tả hữu: “Khi Khiết Đan nhiều lần vào cướp biên, ta lấy 20 tấm lụa mua một thủ cấp Khiết Đan, quân tinh nhuệ của chúng không quá 10 vạn, chỉ tốn 200 vạn tấm lụa thì địch hết.” Từ đó càng sửa sang phòng bị biên giới.
Tháng này, quân ta chiếm được Liên châu, Chiêu thảo sứ Nam Hán Lư Thu (盧收) dẫn quân lui giữ Thanh Viễn. Nam Hán chúa nghe tin, bảo tả hữu: “Chiêu, Quế, Liên, Hợp vốn thuộc Hồ Nam, nay quân bắc lấy được là đủ rồi, họ sẽ không vào sâu phương nam nữa.”
Tháng 12, ngày Canh Ngọ, Hàn Lâm học sĩ Thừa chỉ, Hộ bộ Thượng thư Đào Cốc (陶穀) mất, sai Trung sứ giám hộ việc tang, truy tặng Hữu Bộc xạ. Cốc vốn họ Đường, vì tránh Cao Tổ nhà Tấn (Thạch Kính Đường) nên đổi họ. Văn chương của ông trội hơn một thời, tự cho mình đã lâu năm, mong được trọng dụng. Nhưng ông là người nghiêng ngả, đố kỵ, lúc mới làm Hàn Lâm Thừa chỉ, hết sức gạt Đậu Nghi (竇儀), nên Nghi không được làm Tể tướng. Đến khi Ngụy Nhân Phổ (魏仁浦) ở Trung thư, Cốc tự nói mình xuất thân từ họ Ngụy, coi Nhân Phổ như cậu, mỗi lần gặp đều quỳ bái từ xa. Hoàng đế vốn coi thường ông, khi chọn đặt Tể phụ, chưa từng nhắc đến Cốc. Một hôm Cốc sai bè đảng nhân việc mà bóng gió với Hoàng đế, nói Cốc ở Từ cấm, dốc sức rất nhiều, Hoàng đế cười nói: “Ta nghe Học sĩ thảo chiếu, đều tra bản cũ của người trước mà sửa đổi đôi chút, ấy là điều tục ngữ gọi là ‘vẽ bầu theo mẫu’ đó thôi, có gì là dốc sức!” Cốc bèn làm thơ đề vách Hàn Lâm, lời lẽ khá oán hận, Hoàng đế vì thế quyết ý không dùng.
Phan Mỹ và các tướng thẳng tiến đến Thiều châu. Đô thống Nam Hán Lý Thừa Ốc (李承渥) lĩnh hơn 10 vạn quân đóng dưới núi Bồng Hoa, dạy voi bày trận, mỗi con voi chở hơn 10 người, đều cầm binh khí, khi đánh trận thì đặt voi ở trước trận để làm uy cho quân. Mỹ gom hết nỏ mạnh trong quân bắn vào voi, voi chạy tán loạn, người cưỡi đều rơi xuống, voi quay lại giày xéo quân Thừa Ốc, quân đại bại, Thừa Ốc chỉ thoát thân, quân ta bèn chiếm Thiều châu, bắt Thứ sử của họ là Tân Diên Ốc (辛延渥) và Gián nghị đại phu Trâu Văn Viễn (鄒文遠). Diên Ốc đi đường tắt sai sứ khuyên Nam Hán chúa ra nghênh hàng, Quán quân khí sứ Lý Thác (李托) hết sức ngăn trở việc ấy, trong nước chấn động sợ hãi. Nam Hán chúa mới sai đào hào phía đông để giữ, nhìn quanh các tướng không ai có thể dùng, cung ảo Lương Loan Chân (梁鸞真) tiến cử nghĩa tử là Quách Sùng Nhạc (郭崇岳) có thể dùng, bèn cho làm Chiêu thảo sứ, cùng Đại tướng Thực Đình Hiểu (植廷曉) lĩnh 60.000 quân đóng ở Mã Kính, dựng trại gỗ chống quân Tống. Sùng Nhạc không có mưu lược, dũng cảm, chỉ ngày ngày cầu đảo quỷ thần mà thôi.
Mùa đông năm ấy, Nam Đường Nam Đô lưu thủ là Kiến An Lâm Nhân Triệu (林仁肇) dâng mật biểu nói:
- Các châu thuộc Hoài Nam, quân đồn trú mỗi nơi không quá 1.000 người. Triều Tống năm trước diệt Thục, nay lại chiếm lĩnh vùng Lĩnh Biểu, quân đi lại mấy nghìn dặm, binh lính đã mệt mỏi kiệt quệ. Xin bệ hạ cho thần mượn vài vạn quân, từ Thọ Xuân vượt sông về phía bắc, đi thẳng chiếm lấy Chính Dương, nhân đó chiêu dụ dân vùng Tư Cựu, có thể khôi phục lại cõi cũ phía bắc sông Giang. Nếu bên ấy có kéo quân đến cứu, thần sẽ dựa vào sông Hoài, giáp mặt lập lũy mà chống giữ, thế tất không địch nổi. Ngày khởi binh, xin cho phép thần lấy danh nghĩa tự ý dấy binh làm phản mà tâu báo với triều Tống. Việc thành, quốc gia hưởng lợi; nếu bại, thì tru di nhà thần, để tỏ rõ bệ hạ không có hai lòng.
Nam Đường chúa sợ, không dám nghe theo.
Ban đầu, người Nghi Xuân là Lư Giáng (盧絳) đến yết kiến Khu mật sứ Trần Kiều (陳喬) dâng thư, Kiều lấy làm lạ, bèn cất nhắc làm tuần kiểm dọc sông, chiêu mộ bọn trốn tránh, luyện tập thủy chiến, nhiều lần chặn đánh quân Ngô Việt ở Hải Môn, thu được mấy trăm chiến thuyền. Ông từng nói với Nam Đường chúa: “Ngô Việt là kẻ thù địch, sau này tất sẽ làm kẻ dẫn đường cho Bắc triều giáp công chúng ta, cần phải tiêu diệt trước.” Nam Đường chúa nói: “Họ là phiên thuộc của đại triều, ta nào dám đem quân đánh!” Giáng nói: “Thần xin giả vờ làm cho Tuyên, Duyện châu nổi loạn, bệ hạ lên tiếng là đi đánh dẹp, lại xin binh của Ngô Việt; khi quân họ đến, ta sẽ chống cự, thần nhân đó men theo mà đánh, nước ấy tất mất.” Nam Đường chúa cũng không thể dùng kế ấy.
Năm đó, bộ tộc Đức Liệt Lặc làm phản, Liêu chúa sai Hữu Y Lặc Hi Ba Da Luật Hi Đạt (耶律希達) đi đánh.
Năm Khai Bảo thứ 4 (Liêu, Bảo Ninh năm thứ 3), Công nguyên năm 971
[sửa]Mùa xuân, tháng giêng, ngày Mậu Tuất là mồng 1, vì xuất quân nên không thị triều.
Phan Mỹ (潘美) bình định Anh châu, Hùng châu, Đô thống Nam Hán là Phan Sùng Triệt (潘崇徹) đến hàng.
Ngày Bính Ngọ, ra lệnh: Các đạo châu, huyện không được tự tiện cử người quyền nhiếp chức quan. Phàm có khuyết chức, phải tâu trình đầy đủ, lập tức sẽ bổ nhiệm; những người trước đây được cử làm quyền nhiếp đều bãi bỏ chức vụ, để quan đương nhiệm tạm quyền quản lý.
Ngày Tân Hợi, Thông phán Lãng châu, Điện trung thị ngự sử Lộ Xung (路沖) tâu rằng: “Các hộ đảm nhiệm chức dịch trong bản châu, ỷ thế, nộp thuế trễ hạn, nay đã lập riêng sổ ‘hình thế’ tại nha Thông phán, theo hạn mà đốc thúc, xin ban hành làm điều lệ.” Chiếu rằng: “Các châu, phủ đều lập ‘hình thế bản bộ’, giao cho Thông phán chuyên quản việc thu thuế của bọn ấy.”
Cấm dân các châu thuộc Hà Đông dời vào nội quận mà riêng tàng trữ binh khí.
Ngày Giáp Dần, Da Luật Hi Đạt nước Liêu sai người dâng tù binh bộ tộc Đức Liệt Lặc, Liêu chúa ra lệnh ban thưởng cho tướng sĩ có công.
Ngày Canh Thân, nước Liêu đặt Đăng Văn viện. Liêu chúa vì Mục Tông trước kia bãi bỏ Chung viện, khiến dân cùng khổ oan uổng không nơi kêu, nên chiếu lập lại, lại sai đúc chuông, khắc lời văn, nêu rõ ý nghĩa việc bãi bỏ rồi lại khôi phục.
Ngày Quý Hợi, quân Liêu xâm phạm Dịch châu, Giám quân Nhâm Đắc Nghĩa (任得義) đánh lui được.
Tháng ấy, quân Phan Mỹ đóng ở Long Đầu, Nam Hán chúa sai sứ xin hòa, lại cầu hoãn binh. Núi sông Long Đầu hiểm trở xấu ác, Phan Mỹ và các tướng nghi có phục binh, bèn giữ chặt sứ giả, ép đi qua các chỗ hiểm. Ngày Giáp Tý, đến Sách Khẩu. Ngày Ất Sửu, đến Mã Kính, đóng quân ở núi Song Nữ, nhìn thẳng xuống trại của Quách Sùng Nhạc (郭崇嶽). Kỵ binh do thám nhiều lần ra khiêu chiến, Sùng Nhạc không ứng chiến, chỉ cố thủ thành lũy mà thôi.
Nam Hán chúa lấy hơn 10 chiếc thuyền buôn, chở vàng ngọc, phi tần, định ra biển; chưa kịp đi, hoạn quan Nhạc Phạm (樂范) cùng hơn 1.000 vệ binh cướp thuyền trốn chạy. Nam Hán chúa sợ, bèn sai Hữu Bộc xạ Tiêu Chuế (蕭漼), Trung thư xá nhân Trác Duy Hưu (卓惟休) mang biểu đến cửa quân xin hàng, Phan Mỹ liền sai thuộc hạ áp giải về kinh. Chuế và Duy Hưu không trở lại, Nam Hán chúa càng sợ, lại lệnh cho Sùng Nhạc giới nghiêm. Tháng 2, ngày Đinh Mão mồng 1, lại sai em là Trinh vương Bảo Hưng (禎王保興) đem quân trong nước đến chống.
Thực Đình Hiểu (植廷曉) nói với Sùng Nhạc:
- Quân Bắc thừa thế cuốn chiếu, mũi nhọn không thể đương nổi. Quân sĩ ta tuy đông, nhưng đều là bọn còn mang thương tích, nay nếu không thúc ép tiến lên, thì cũng chỉ ngồi chờ chết mà thôi.”
Ngày Canh Ngọ, Đình Hiểu bèn lĩnh tiền phong chiếm giữ bờ nước mà bày trận, lệnh cho Sùng Nhạc đi sau, chống đỡ những đợt xung phong. Sau đó quân Tống vượt sông, Đình Hiểu liều chết chiến đấu mà không thắng, rồi tử trận, Sùng Nhạc chạy về trại. Mỹ nói với Vương Minh (王明)
- Chúng dùng tre gỗ đan làm rào trại, nếu dùng giỏ lửa đốt, tất sẽ rối loạn, nhân đó giáp công, ấy là kế vẹn toàn.
Bèn chia phái dân phu, mỗi người cầm 2 bó đuốc, men đường tắt đến trại chúng, đến đêm, vạn bó đuốc cùng cháy. Gặp lúc gió lớn, khói bụi bốc lên, quân Nam Hán đại bại, Sùng Nhạc chết dưới tay địch, Bảo Hưng chạy về.
Cung Thăng Khu (龔澄樞), Lý Thác (李托) cùng Nội thị trung Tiết Sùng Dự (薛崇譽) mưu với nhau rằng:
- Quân Bắc đến đây là tham của báu trong nước ta mà thôi, nay đốt sạch, để họ được một tòa thành trống, tất không thể đóng lâu, ắt sẽ tự rút.
Bèn phóng hỏa đốt phủ khố, cung điện, một đêm cháy sạch.
Ngày Tân Mùi, quân đến Bạch Điền, Nam Hán chúa mặc thường phục ra hàng, Phan Mỹ nhân quyền được ủy nhiệm mà tha cho. Rồi vào Quảng châu, bắt tông thất, quan lại 97 người, cùng Nam Hán chúa đều giam ở Long Đức cung. Bảo Hưng lúc đầu trốn trong dân gian, sau mới bị bắt. Có hơn 100 hoạn quan ăn mặc lộng lẫy xin vào yết kiến, Mỹ nói: “Bọn hoạn quan như lợn này đã nhiều lắm rồi, ta phụng chiếu đi đánh kẻ có tội, chính là vì bọn này.” Sai chém hết.
Mỹ dâng biểu báo thắng trận, ngày Kỷ Sửu đến kinh sư.
Ngày Canh Dần, quần thần chúc mừng, bèn ban yến. Tổng cộng thu được 60 châu, 214 huyện, 172.263 hộ.
Ngày Tân Mão, xá miễn cho các châu, huyện thuộc quản hạt Quảng Nam những tội vốn không được tha trong các lần đại xá trước; các quan do ngụy triều bổ nhiệm đều cho giữ nguyên chức cũ, mọi thứ thu thuế, sưu dịch không có danh mục đều bãi bỏ hết.
Tri chế cáo Lư Đa Tốn (盧多遜) quyền tri cống cử, tâu rằng tiến sĩ trúng cách có 10 người.
Hoàng đế thấy lệnh cho lệnh, úy bắt giặc, trước định hạn ngày, những người đã bị phê phạt, hoặc bèn dứt ý truy bắt.
Ngày Ất Mùi, chiếu: “Từ nay, dù bắt được giặc quá hạn, cũng lệnh cho hữu ty ghi chép đầy đủ vào sổ để xóa bỏ hình phạt, nhưng không được kể là công lao siêng năng. Những người nhiều lần bị giáng chiếu, theo luật phải đình miễn, thì không dùng điều lệ này.”
Tháng ấy, Liêu chúa đi săn phía đông, dùng trâu xanh, ngựa trắng tế trời đất.
Tháng 3, ngày Bính Thân, chiếu: “Ở Lĩnh Nam, những kẻ mua nam nữ làm nô tỳ để kiếm lời, đều phải phóng thích; những chính sự ngụy triều có hại cho dân, đều bãi bỏ.”
Ngày Đinh Mùi, nước Liêu lấy Phi Long sứ Ni Lý (尼哩) làm Khiết Đan hành cung đô bộ thự.
Ban đầu, Hữu Giám môn vệ tướng quân Triệu Bân (趙玭) vì tội bị ép về nhà riêng, không chịu nổi uất hận. Một hôm, rình lúc Triệu Phổ (趙普) vào chầu, mắng chửi Phổ ngay trước ngựa. Hoàng đế nghe, gọi Bân và Phổ đến đối chất, Bân lớn tiếng vu khống Phổ buôn gỗ kiếm lời. Trước đó, gỗ lớn ở Tần, Lũng, triều đình cấm tư nhân buôn bán, Phổ từng sai thân lại đi mua gỗ làm nhà, kết thành bè lớn đưa về kinh sư dựng phủ đệ, lại nhân đó lén buôn bán ở kinh thành, nên Bân mới đem việc ấy ra nói. Hoàng đế nổi giận, gọi gấp môn hạ tập hợp bá quan, định hạ chiếu đuổi Phổ, chiếu hỏi Thái tử Thái sư Vương Phổ (王溥) và những người khác: “Phổ đáng tội gì?”. Phổ theo lời Môn hạ sứ tâu rằng: “Bân vu cáo đại thần.” Ý Hoàng đế liền nguôi, quay lại trách hỏi Bân, sai võ sĩ đánh. Ngự sử thẩm tra ở sân điện, Phổ hết sức xin giảm tội, Hoàng đế mới khoan giảm. Mùa hạ, tháng 4, ngày Bính Dần mồng 1, giáng Bân làm Nha hiệu ở Nhữ châu.
Ngày Nhâm Thân, lệnh cho Phan Mỹ, Doãn Sùng Khoa (尹崇珂) cùng tri Quảng châu, lấy 4 châu Đảm, Nhai, Chấn, Vạn An lệ vào Quỳnh châu, cho Quảng châu chọn quan chia nhau coi việc châu.
Ngày Kỷ Mão, Liêu chúa tế núi Mộc Diệp, làm lễ tái sinh.
Ngày Bính Tuất, Liêu chúa trở về Thượng Kinh, lấy Hàn Đức Nhượng (韓德讓) làm Thượng Kinh hoàng thành sứ, kiêm lãnh chức Tiết độ sứ Chương Đức. Từ đó Đức Nhượng ngày càng được trọng dụng.
Ngày Mậu Tý, Vĩnh Hưng quân Tiết độ sứ, Đồng trung thư môn hạ bình chương sự Ngô Đình Tộ (吳廷祚) đến chầu. Gặp lúc bệnh, Hoàng đế thân đến thăm hỏi, sai Trung sứ Vương Kế Ân (王繼恩) giám thị việc chữa trị.
Ngày Canh Dần, Đình Tộ mất, truy tặng Thị trung. Kế Ân là người Thiểm.
Nam Đường chúa sai em là Cát vương Tòng Khiêm (吉王從謙) đến triều cống.
Phan Mỹ sai sứ áp giải Lưu Sưởng (劉鋹) cùng bè đảng, quan thuộc dâng lên kinh sư. Sưởng đến Công An, điếm lại Bàng Sư Tiến (龐師進) đến yết kiến, Học sĩ Hoàng Đức Chiêu (黃德昭) hầu bên Sưởng. Sưởng bèn hỏi Sư Tiến là người ở đâu, Đức Chiêu nói: “Người bản quốc.” Sưởng nói: “Sao lại ở đây?” Đức Chiêu nói: “Khi Cao Hoàng đế còn ở phiên, hằng năm triều cống đại triều, xe chở nặng đều đi qua Kinh châu, bèn lệnh cho Sư Tiến lập điếm ở đây, đóng xe cộ để cung cấp việc vận chuyển mà thôi.” Sưởng than rằng: “Ta ở ngôi 14 năm, chưa từng nghe lời này, nay mới biết núi sông tổ tông ta và cõi đất đại triều.” Rồi khóc hồi lâu. Đến nơi, cho ở Ngọc Tân viên, Hoàng đế sai Tham tri chính sự Lữ Dư Khánh (呂餘慶) hỏi đi hỏi lại về việc phản phúc và tội đốt phủ khố, Sưởng đổ tội cho Cung Thăng Khu, Lý Thác, Tiết Sùng Dự. Hoàng đế lại sai sứ hỏi Thăng Khu và những người khác, họ đều cúi đầu không đáp, Ngụy gián nghị đại phu Vương Khuê (王珪) nói với Thác:
- Xưa ở Quảng châu, mọi việc cơ mật đều do bọn các ông chuyên quyền, lửa lại bốc lên từ trong cung, nay còn muốn đổ tội cho ai?
Rồi nhổ nước bọt, tát vào má hắn, Thăng Khu và bọn kia mới nhận tội.
Tháng 5, ngày Ất Mùi là mồng 1, hữu ty dùng lụa buộc Sưởng và quan thuộc của hắn, trước hết dâng tế Thái miếu, Thái xã. Hoàng đế ngự Minh Đức môn, sai Quyền Hình bộ Thượng thư Lư Đa Tốn tuyên chiếu trách tội Sưởng. Sưởng đáp:
- Thần năm 16 tuổi đã xưng hiệu ngụy, Thăng Khu và những người khác đều là cựu thần của tiên quân, mọi việc thần không được tự do, khi còn ở nước, thần là bề tôi, Thăng Khu là quốc chủ.
Nói xong, phủ phục chờ tội. Hoàng đế sai Quyền Đại lý khanh Cao Kế Thân (高繼申) dẫn Thăng Khu, Thác, Sùng Dự ra chém ở ngoài cửa Thiên Thu, tha tội cho Sưởng cùng em là Bảo Hưng và quan thuộc, mỗi người đều ban mũ đai, đồ khí dụng, tiền tệ, ngựa yên. Sau đó lấy Bảo Hưng làm Tả Giám môn vệ suất phủ suất.
Ban đầu, bàn về lễ dâng tù binh, triều thần không ai biết, bèn sai sứ đến hỏi Thượng thư bộ Lại đã về hưu là Trương Chiêu (張昭). Chiêu nằm bệnh, ứng khẩu soạn ra trao cho sứ giả, mọi người đều phục là uyên bác, bèn dùng theo.
Ngày Đinh Dậu, lấy Tàm châu Phòng ngự sứ Phan Mỹ kiêm lĩnh Sơn Nam Đông đạo Tiết độ sứ, Lang châu Đoàn luyện sứ Doãn Sùng Khoa kiêm lĩnh Bảo Tín quân Tiết độ sứ, cùng tri Quảng châu như cũ.
Lấy Vương Minh làm Bí thư Thiếu giám, kiêm Thiếu sử Thiều châu, Quảng Nam chư châu Chuyển vận sứ. Khi đại quân nam phạt, Minh làm Chuyển vận sứ, đường núi hiểm trở tuyệt, không thông thuyền xe, chỉ dùng dân phu gánh vác lương khô mấy vạn, cung cấp đầy đủ không thiếu; mỗi khi đến quận huyện, tất trước hết thu sổ hộ tịch, giữ chặt kho lẫm, cũng phần nào dự vào việc quân mưu. Hoàng đế khen công, nên cất nhắc dùng.
Ban đầu, Hoàng đế sai Quân khí khố sứ Sở Chiêu Phụ (楚昭輔) kiểm kê vàng lụa ở Tả tàng khố, mấy ngày là xong, bản tâu rất hợp ý, đến đây cho làm Tả Kiêu vệ Đại tướng quân, quyền phán Tam ty.
Ngày Tân Sửu, đãi yến tiệc Lưu Sưởng ở điện Sùng Đức.
Tháng 6, ngày Tân Mùi, lệnh Tư nông Thiếu khanh Lý Kế Phương (李繼芳) tế Nam Hải. Lưu Sưởng trước kia tôn thần biển làm Chiêu Minh đế, lập miếu là Thông Chính cung, y phục dùng hình rồng phượng. Chiếu bãi bỏ đế hiệu và tên cung, đổi dùng phẩm phục bậc nhất.
Ngày Nhâm Thân, lần đầu đặt Thị bạc ty ở Quảng châu.
Ngày Bính Tý, chiếu lệnh Ngự sử trung thừa Lưu Ôn Tẩu (劉溫叟), Trung thư xá nhân Lý Phưởng (李昉) chỉnh định lại “Khai Nguyên lễ”, đem chế độ thay đổi của bản triều phụ thêm vào.
Ngày Đinh Sửu, Hồi Hột sai sứ triều cống nhà Liêu.
Ban đầu, khi Hoàng đế chinh phạt Tấn Dương, sai Mật châu Phòng ngự sứ Mã Nhân Duật (馬仁瑀) đem quân tuần biên, đến Thượng Cốc, Ngư Dương, người Liêu vốn nghe danh, không dám ra, ông nhân đó thả quân cướp bóc lớn rồi về. Năm sau, bọn giặc Chu Bật (周弼) nổi lên ở Duyện châu, chiếu cho Nhân Duật đánh úp. Nhân Duật dẫn hơn chục người trong trướng vào Thái Sơn bắt Bật, bắt hết bọn đảng. Ngày Canh Thìn, dời Nhân Duật làm Phòng ngự sứ Doanh châu. Cháu gọi ông bằng bác vì say rượu lỡ tay giết dân thường, bị giam, đáng tội chết, nhà nạn nhân xin luận theo tội làm bị thương do sơ suất, Nhân Duật nói: “Ta làm trưởng quan mà cháu giết người, ấy là ỷ thế làm càn, chẳng phải sơ suất, há dám vì thân thích riêng mà làm loạn pháp nước sao!” Bèn luận tội theo luật.
Ngày Nhâm Ngọ, phong Lưu Sưởng làm Hữu Thiên Ngưu vệ Đại tướng quân, đặt ngoài biên chế, phong tước Ân Xá hầu, ngoài bổng lộc còn cấp riêng 50.000 quan tiền, 50 hộc gạo lúa.
Sưởng thân thể béo tốt, mày mắt đều đẹp. Tính cực khéo, có tài biện luận, từng tự tay kết chuỗi ngọc trên yên cương thành hình rồng đùa giỡn dâng lên, Hoàng đế khen tinh xảo, cho 150 vạn quan tiền trả giá, rồi bảo tả hữu: “Sưởng ưa khéo tay, quen thành tính, nếu có thể chuyển tâm lý ấy sang việc trị nước, há đến nỗi mất nước sao!”
Khi còn ở nước, Sưởng thường dùng thuốc độc giết bề tôi. Một hôm, theo Hoàng đế đến Giảng Vũ trì, quan theo hầu chưa đến đủ, Sưởng đến trước, Hoàng đế chiếu ban cho một chén rượu, Sưởng nghi ngờ, bưng chén khóc nói:
- Thần thừa hưởng cơ nghiệp tổ phụ, chống cự triều đình, khiến vương sư nhọc công chinh phạt, tội vốn đáng chết. Nay bệ hạ đã đối đãi thần không giết, thần nguyện làm thứ dân ở Đại Lương, xem cảnh thái bình thịnh trị, chưa dám uống chén rượu này.
Hoàng đế cười nói: “Trẫm đem lòng mình đặt vào bụng người, sao lại có chuyện ấy!” Sai lấy chén rượu của Sưởng tự uống, rồi rót chén khác ban cho Sưởng, Sưởng rất thẹn, dập đầu tạ.
Tháng ấy, Lan châu phá quân Bắc Hán ở thôn Cổ Đài.
Sông Hoàng Hà vỡ ở huyện Nguyên Vũ, châu Trịnh; sông Biện vỡ ở huyện Cốc Thục, châu Tống.
Hoàng đế đã bình định Quảng Nam, muốn làm lễ báo tạ, mùa thu, tháng 7, ngày Giáp Ngọ là mồng 1, chiếu đến tiết Đông chí sẽ làm lễ ở Nam giao.
Ngày Ất Mùi, Ngự sử trung thừa Lưu Ôn Tẩu mất. Ôn Tẩu làm Trung thừa 12 năm, nhiều lần xin giải chức, Hoàng đế khó tìm người thay, rốt không cho. Đến khi mắc bệnh, Hoàng đế biết ông nghèo, sai Trung sứ đến ban đồ khí dụng, tiền tệ. Ôn Tẩu tính tình trầm hậu, phương chính, ưa cổ, giữ lễ, phụng dưỡng mẹ kế có tiếng hiếu, cha tên là Nhạc, trừ khi dự yến, suốt đời không nghe nhạc. Khai Phong doãn Quang Nghĩa (光義) nghe tiếng thanh liêm, từng sai phủ lại mang 500.000 tiền tặng, Ôn Tẩu không dám nhận, để ở gian tây của nha thính sự, bảo phủ lại niêm phong rồi mới đi. Năm sau, tiết Đoan Ngọ, lại gửi bánh nếp, quạt lụa, người được sai đi chính là kẻ trước mang tiền, thấy niêm phong ở gian tây vẫn y nguyên, về báo. Quang Nghĩa nói: “Ta biếu mà còn không nhận, huống chi người khác!” Bèn sai khiêng tiền về phủ. Một hôm, Quang Nghĩa dự yến, bàn về những người có tiết tháo đương thời, kể rõ chuyện Ôn Tẩu từ chối tiền, Hoàng đế than khen hồi lâu. Ôn Tẩu mất rồi, Hoàng đế khó tìm người kế, nói: “Phải được người hòa hậu như Ôn Tẩu mới được.” Bèn lệnh Thái tử Tân khách Biên Quang Phạm (邊光範) kiêm phán Ngự sử đài sự, ở nửa năm, mới chính thức làm Trung thừa.
Ngày Tân Sửu, nước Liêu lấy Da Luật Hiền Thích (耶律賢適) làm Tây Bắc lộ Binh mã đô bộ thự. Hiền Thích trung trực, cẩn thận, nhanh nhẹn, lấy thành tín đãi người, dù lúc nghỉ ngơi cũng không quên chính sự, nên trăm ty, bách chức không dám lười biếng, những vụ án tồn đọng nhiều năm đều được xử xong.
Ngày Bính Thân, chiếu:
- Các châu Quảng Nam thu thuế dân đều dùng đấu của Bộ Lại, mỗi 1 thạch ngoài ra nộp thêm 2 thăng để bù hao tổn do chim chuột.
Trước đó, Lưu Sưởng tự đặt đấu lượng lớn, nặng thu dân, phàm nộp 1 thạch thì tính thành 1 thạch 8 đấu. Chuyển vận sứ Vương Minh dâng sớ, nên mới cải bỏ.
Con nuôi của hoạn quan phần nhiều tranh giành tài sản mà kiện tụng, ngày Mậu Ngọ, chiếu: “Từ năm nay, ai đủ 30 tuổi mà không có cha nuôi, mới được nhận con nuôi, lại phải báo tên lên Tuyên Huy viện, kẻ trái lệnh xử tử.”
Kiến Vũ Tiết độ sứ, phán Địch châu Hà Kế Quân (何繼筠) đến chầu, ngày Quý Hợi mất ở kinh sư. Hoàng đế thân đến viếng, rơi lệ bảo tả hữu
- Kế Quân giữ biên có công, trẫm không sớm giao cho phiên trấn, là lo số mệnh ông ta không may. Nay mới lĩnh cờ tiết chưa bao lâu, quả đến nỗi mất mạng, há chẳng đáng thương sao!
Liền sai Trung sứ lo việc tang, cho đem gươm và giáp trụ ông thường mang lúc sinh thời chôn theo. Kế Quân trầm tĩnh, có mưu lược, cùng sĩ tốt đồng cam cộng khổ, được họ liều chết theo, ở tiền tuyến bắc biên trước sau 20 năm, giỏi dò biết tình hình địch, nhiều lần lấy ít thắng nhiều, người Liêu sợ phục, thường vẽ tượng mà thờ.
Bình Tấn quân sứ đánh hai trại Mạnh Viên, Lạc Nghĩa của Bắc Hán, phá được.
Sông Biện vỡ ở huyện Tống Thành, châu Tống.
Tháng 8, ngày Giáp Tuất, Liêu chúa đi Thu Sơn.
Ngày Giáp Thân, quần thần dâng biểu xin gia tôn hiệu là Hưng Hóa Thành Công, dâng đến hai lần, rốt không cho.
Ngày Tân Mão, Liêu chúa tế mộ hoàng huynh Hống (吼). Hống là trưởng tử của Thế Tông, mất sớm, mộ gọi là Thái tử viện, đến nay truy phong làm Hoàng thái tử, thụy Trang Thánh. Trước đó, Liêu Thế Tông bị Sát Khắc (察克) giết, Liêu chúa khi ấy mới 4 tuổi, có người lấy nỉ bọc lại, giấu dưới đống củi, nên thoát nạn. Sau nuôi ở Vĩnh Hưng cung, những người làm bảo phụ đều có ơn.
Tháng 9, ngày Ất Tị, Liêu chúa ban cho phụ phụ, bảo mẫu và những người khác hộ khẩu, trâu dê theo thứ bậc. Lại lấy bọn hầu hạ ở tiềm để làm Tháp Mã bộ, đặt quan cai quản.
Ngày Nhâm Tý, Liêu chúa đi Quy Hóa châu. Ngày Giáp Dần, đến Nam Kinh. Dời Thượng Kinh lưu thủ Hàn Khuông Tự (韓匡嗣) sang Nam Kinh, lấy con là Đức Nhượng thay làm Đông Kinh lưu thủ.