Bước tới nội dung

Tục tư trị thông giám/Quyển 66

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tục Tư trị thông giám, quyển 66  (2025)  của Tất Nguyên, do Cơ Như Tuyết dịch
Tống kỷ 66

Từ tháng Giêng năm Mậu Thân (1068) đến tháng 6 năm Kỉ Dậu (1069), Thần Tông Hi Ninh năm thứ 1 đến năm thứ 2, gồm 1 năm có dư

Thần Tông Thể Nguyên Hiển Đạo Pháp Cổ Lập Hiến Đế Đức Vương Công Anh Văn Liệt Vũ Khâm Nhân Thánh Hiếu hoàng đế, tên là Húc (頊), là trưởng tử của Anh Tông, mẹ là Tuyên Nhân Thánh Liệt hoàng hậu Cao thị (高氏). Năm Khánh Lịch thứ 8, tháng 4, ngày Mậu Dần, sinh ở phủ của Bộc vương. Tháng 8, ban tên là Trọng Châm, trao chức Suất phủ Phó suất, ba lần thăng đến Hữu Thiên Ngưu vệ tướng quân. Năm Gia Hựu thứ 8, theo hầu Anh Tông, dời vào ở cung Khánh Ninh. Anh Tông lên ngôi, trao chức An châu quan sát sứ, phong Quang quốc công. Hoàng đế thiên tính hiếu học, ham hỏi, đến nỗi mặt trời đã xế mà quên ăn, Anh Tông từng sai Nội thị vào ngăn lại. Hoàng đế chỉnh tề y quan, chắp tay đứng hầu, dù trời đại nóng cũng chưa từng dùng quạt. Năm ấy, tháng 9, gia phong Tiết độ sứ quân Trung Vũ, Đồng Trung thư môn hạ Bình chương sự, phong Hoài Dương quận vương, đổi sang tên hiện nay. Năm Trị Bình thứ 1, tiến phong làm Dĩnh vương. Tháng 12, ngày Nhâm Dần năm trước đó, lập làm Hoàng thái tử.

Năm Hy Ninh thứ 1 (Liêu, năm Hàm Ung thứ 4), Công nguyên năm 1068

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Giáp Tuất mồng 1, nhật thực. Ra chiếu đổi niên hiệu.

Lại sai võ thần cùng Đề điểm hình ngục.

Ngày Bính Tý, Liêu chúa đi đến Uyên Ương Lạc.

Ngày Đinh Sửu, vì hạn hán nên giảm tội cho tù nhân trong thiên hạ 1 bậc, từ tội trượng trở xuống đều tha.

Ngày Tân Tị, nước Liêu đổi chức Dịch châu Binh mã sứ thành An phủ sứ.

Ngày Đinh Hợi, lệnh cho Tể thần hết sức nói rõ những điều khiếm khuyết, sai lầm.

Liêu chúa đi săn ở Than Sơn.

Ngày Canh Dần, ngự điện, lại dùng bữa.

Ngày Tân Mão, nước Liêu sai sứ cứu tế dân đói ở Tây Kinh.

Ngày Nhâm Thìn, Hoàng đế ngự đến chùa quán cầu mưa.

Tham tri chính sự Triệu Khái (趙概) nhiều lần lấy cớ tuổi già xin cáo quan, ngày Bính Thân, bãi chức, cho làm Tri Từ châu. Khái giữ lòng hòa bình, không có oán ghét với người, ở chức như người không biết nói, nhưng ngầm làm lợi cho dân thì rất nhiều, đương thời dư luận so sánh ông với Lưu Khoan, Lâu Sư Đức.

Lấy Tam ty sứ Đường Giới (唐介) làm Tham tri chính sự. Theo lệ cũ, quan chấp chính ngồi đợi ở Đãi lậu xá, Tể tướng xem xét các tờ văn thư dâng lên, đồng liêu không được biết. Giới nói với Tăng Công Lượng: "Thân ở trong phủ Chính sự mà việc lại không được biết trước, nếu bề trên có hỏi đến, thì lấy lời gì mà đối đáp?" Bèn cùng xem chung, về sau trở thành lệ thường.

Ngày Đinh Dậu, ra chiếu tu sửa "Anh Tông thực lục".

Ngày Nhâm Dần, ra chiếu cho Thái học tăng thêm 100 suất Ngoại xá sinh. Ban đầu, Thái học đặt 200 suất Nội xá sinh, triều đình cấp ăn. Đến đây, người chờ đến lượt đã hơn 100, quan Ngự sử lấy đó tâu lên, nên mới có chiếu này.

Tháng 2, ngày Giáp Thìn mồng 1, nước Liêu lệnh cho Nguyên soái phủ tuyển mộ quân.

Ngày Tân Hợi, lệnh cho các lộ mỗi quý phải tâu báo tình hình mưa tuyết.

Ngày Ất Mão, lấy con của Khổng Tông Nguyện (孔宗願) là Nhược Mông (若蒙) làm Chủ bạ huyện Tân Thái, cho tập phong Diễn Thánh công.

Ban đầu, có người liên tiếp luận tội Chung Ngạc (種諤) tự tiện gây chuyện, ra chiếu giam vào ngục Trường An. Ngạc bèn đốt hết thư từ qua lại với những người đương quyền, khi bị tra hỏi đối chất, không có một lời nào liên lụy đến người khác, chỉ tự mình nhận tội. Ngày Bính Thìn, giáng Ngạc 4 bậc lương, an trí ở Tùy châu.

Tư Mã Quang dâng đọc "Tư trị thông giám", đến đoạn Tô Tần liên kết 6 nước làm việc "hợp tung", Hoàng đế nói: "Tô Tần, Trương Nghi chỉ lay động ba tấc lưỡi mà có thể làm được như thế ư?" Quang đáp: "Thuật tung hoành không có ích gì cho việc trị nước. Thần sở dĩ giữ việc ấy trong sách là muốn cho thấy phong tục đương thời, chuyên lấy biện thuyết để hơn thua, vua chúa đem cả nước mà nghe theo, đó chính là cái gọi là ‘miệng khéo làm đổ nước’ vậy." Hoàng đế nói: "Nghe khanh đọc sách, trẫm suốt ngày quên cả mệt mỏi."

Hoàng đế bảo Văn Ngạn Bác (文彥博) và những người khác rằng: "Việc tệ trong thiên hạ rất nhiều, không thể không cải cách." Ngạn Bác đáp: "Ví như đàn cầm đàn sắt không điều hòa, tất phải tháo dây mà căng lại." Hàn Cương (韓絳) nói: "Làm chính sự, lập việc, phải có thứ tự lớn nhỏ, trước sau." Hoàng đế nói: "Đại để phải dùng uy mà chế được ân, rồi mới có thể thành công."

Ngày Đinh Mão, Liêu chúa tuần hành phương Bắc.

Tháng 3, ngày Quý Dậu mồng 1, Hoàng đế bảo Văn Ngạn Bác và những người khác rằng: "Hiện nay trị tài chính là việc cấp bách nhất, nuôi binh, phòng biên, kho tàng không thể không đầy đủ, các đại thần nên cùng để tâm tiết kiệm chi dùng." Lại nói: "Hán Văn đế thân mặc áo vải thô, không phải là việc làm vô cớ, ấy là có chủ ý mà làm, mấy chục năm sau, rốt cuộc có hiệu quả. Nói như thế, việc không thể không gắng sức vậy."

Ngày Canh Thìn, nước Hạ sai Tiết Tông Đạo (薛宗道) và những người khác đến báo tang. Hoàng đế hỏi việc giết Dương Định (楊定), Tông Đạo nói: "Kẻ giết người đã bị bắt giải đến rồi." Bèn ban chiếu an ủi, lại dụ bảo phải tâu lên tên mấy người đại thủ lĩnh, sẽ ban tước lộc cho, đợi Lý Sùng Quý (李崇貴) đến, sẽ cử hành lễ sách phong. Đến khi Sùng Quý đến, nói: "Định khi đi sứ sang chỗ Lượng Tộ (諒祚), từng lạy xưng thần, lại hứa trả những hộ dân quen thuộc dọc biên giới, Lượng Tộ tặng cho y bảo kiếm, bảo giám và vàng bạc." Ban đầu, khi Định trở về, dâng nộp kiếm và giám mà giấu vàng bạc, nói rằng có thể giết được Lượng Tộ, Hoàng đế vui mừng, bèn cất nhắc làm Tri Bảo An. Sau đó, người nước Hạ mất Tùy châu, cho là Định bán đứng mình, nên giết y. Đến đây việc lộ ra, Hoàng đế giảm nhẹ tội của Sùng Quý và những người khác mà xóa bỏ chức tước của Định, tịch thu ruộng đất nhà y đến hàng vạn khoảnh.

Nước Hạ cũng sai sứ báo tang với nước Liêu, nước Liêu sai người đến điếu tế.

Ngày Giáp Thân, nước Liêu cứu tế dân đói ở Ứng châu.

Trước đó, nước Liêu cấm ở Nam Kinh trồng lúa, dân lấy làm khổ. Ngày Ất Dậu, lệnh trừ những nơi quân đi qua, còn thì đều cho dân trồng lúa.

Ngày Bính Tuất, ra chiếu thương xót việc hình ngục.

Ngày Mậu Tý, xây cung Khánh Thọ cho Thái hoàng thái hậu, cung Bảo Từ cho Hoàng thái hậu.

Ngày Canh Dần, nước Liêu cứu tế dân đói ở Sóc châu.

Ngày Ất Mùi, ra chiếu cho Hà Bắc chuyển vận sứ phải tính trước việc đặt chỗ cứu tế dân đói.

Ngày Đinh Dậu, ở Tầm châu mưa rơi xuống như lông.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Nhâm Dần mồng 1, Tân Phán Nhữ châu Phú Bật (富弼) vào chầu, vì đau chân, cho phép ngồi kiệu đến cửa điện. Hoàng đế đặc biệt ngự ở tiểu điện phía đông trong cửa Nội Đông môn để tiếp kiến, sai con là Thiệu Đình dìu vào, lại lệnh không phải lạy. Ngồi nói chuyện thong thả đến xế chiều, hỏi về đạo trị nước. Bật biết Hoàng đế hăng hái muốn làm việc, bèn đáp: "Sự yêu ghét của người làm vua, không thể để người ta dò biết, nếu có thể dò biết thì kẻ gian sẽ nhân đó mà thêm thắt ý chỉ của vua. Bệ hạ nên như trời soi xét người, thiện ác đều do tự mình mà chuốc lấy, rồi sau đó mới theo đó mà ban thưởng, giáng phạt, thì công tội không gì là không đúng thực." Lại hỏi việc biên cương, Bật nói: "Bệ hạ mới lên ngôi chưa lâu, nên trước hết ban đức trạch. Xin trong 20 năm miệng không nói đến việc binh, cũng không nên trọng thưởng công lao ở biên giới, một khi đao binh nổi lên, họa phúc liên quan không nhỏ." Hoàng đế lặng im rất lâu. Lại hỏi việc trị nước nên lấy gì làm trước, Bật nói: "Làm cho thiên hạ giàu đủ, yên ổn là trước hết." Hoàng đế khen phải, muốn lấy chức Tập Hỉ quán sứ để lưu ông lại. Bật hết sức từ chối, trở về quận.

Ngày Ất Tị, ra chiếu cho Hàn lâm học sĩ Vương An Thạch (王安石) vượt thứ bậc vào chầu đối. An Thạch vốn thân thiện với Hàn Cương, Hàn Duy (韓維) và Lữ Công Trứ (呂公著), khi Hoàng đế còn ở phiên phủ, Duy làm Ký thất, mỗi lần giảng nói được khen, thường nói: "Đây là lời của bạn ta là Vương An Thạch." Đến khi làm Thái tử Thứ tử, lại tiến cử An Thạch thay mình, nên Hoàng đế từ đó tưởng tượng ra con người ông, vừa mới lên ngôi đã lệnh cho làm Tri Giang Ninh phủ; mấy tháng sau, triệu làm Hàn lâm học sĩ, kiêm Thị giảng. Đến đây mới vào triều chầu đối lần đầu, Hoàng đế hỏi việc trị nước nên lấy gì làm trước, ông đáp: "Chọn thuật (phương pháp) làm trước." Hoàng đế nói: "Đường Thái Tông thế nào?" Đáp: "Bệ hạ nên noi theo Nghiêu, Thuấn, sao lại lấy Thái Tông làm chuẩn? Đạo của Nghiêu, Thuấn, cực kỳ giản dị mà không rườm rà, cực kỳ cốt yếu mà không quanh co, cực kỳ dễ mà không khó, chỉ vì kẻ học đời sau không thể thông hiểu, cho là cao xa không thể với tới mà thôi." Hoàng đế nói: "Khanh có thể gọi là người trách nạn đối với vua vậy."

Lại hỏi An Thạch: "Tổ tông giữ thiên hạ, có thể trăm năm không có biến lớn, đại khái đạt được thái bình, là dùng đạo gì?" An Thạch lui về dâng sớ, đại lược nói: "Thái Tổ thân có trí tuệ bậc thượng, cái sáng suốt riêng thấy, lại hiểu rõ tình giả dối của nhân vật, chỉ huy, phó thác, tất tận dụng được tài năng của họ, thay đổi, sắp đặt, tất hợp với công việc, nên có thể điều khiển tướng soái, huấn luyện chỉnh tề binh sĩ, bên ngoài để chống Di Địch, bên trong để bình định Trung Quốc. Bấy giờ bỏ chính sách hà khắc, dừng hình phạt tàn bạo, bãi bỏ các phiên trấn cường hoành, giết bọn quan lại tham tàn, thân mình lấy giản dị, tiết kiệm làm gương cho thiên hạ, trong việc ban chính, phát lệnh, chỉ lấy việc an lợi cho dân đen làm trọng. Thái Tông kế thừa bằng sự thông minh, dũng lược, Chân Tông giữ gìn bằng sự khiêm tốn, nhân hậu, cho đến Nhân Tông, Anh Tông, không có sự buông tuồng trong đức hạnh. Đó là lý do hưởng nước trăm năm mà thiên hạ vô sự. Tuy nhiên, bản triều nhiều đời theo đuôi tệ tục đời sau, mà không có nghĩa thân mật với quần thần, vua chúa sớm tối cùng ở, không qua bọn hoạn quan, đàn bà, ra ngoài xem việc, cũng không qua những việc vụn vặt của các nha môn, chưa từng như các vua có việc làm lớn đời xưa, cùng với sĩ đại phu bàn luận pháp của tiên vương để thi hành trong thiên hạ. Mọi việc đều phó mặc cho thế tự nhiên, mà vận hành tinh thần không đem hết vào, giữa danh và thực có chỗ không xét. Quân tử không phải là không được trọng, nhưng tiểu nhân cũng được chen vào; chính luận không phải là không được dung, nhưng tà thuyết cũng có lúc được dùng. Lấy thơ phú, ghi nhớ mà cầu sĩ trong thiên hạ, mà không có phép học hiệu để nuôi dưỡng thành tài; lấy khoa danh, ngạch bậc mà sắp xếp địa vị trong triều đình, mà không có phép khảo xét ở các nha môn. Giám ty thì không có người kiểm sát, Thủ tướng thì không phải là quan được chọn lựa; việc thuyên chuyển quá gấp, đã khó khảo công trạng; mà bọn du thuyết thì nhiều, nhân đó làm loạn phải trái; kẻ giao kết riêng tư, nuôi danh vọng, phần nhiều được chức vị hiển hách; người độc lập làm tròn chức vụ thì hoặc bị gạt bỏ. Vì thế trên dưới lười biếng, chỉ cầu dung thân, dù có người tài ở chức cũng không khác gì kẻ tầm thường. Nông dân bị phá hoại vì sưu dịch, mà chưa từng được đặc biệt cứu giúp, lại không đặt quan để sửa sang lợi ích về thủy thổ cho họ; binh sĩ lẫn lộn với kẻ già yếu, mà chưa từng được nghiêm lệnh huấn luyện, lại không chọn tướng để lâu giữ quyền ở biên giới. Quân túc vệ thì tụ tập bọn binh sĩ vô lại, mà chưa từng thay đổi phong tục dung túng, kềm giữ từ đời Ngũ đại; tông thất thì không có thực chất về giáo huấn, tuyển cử, mà chưa từng hợp với phép thân sơ, tôn ti của tiên vương. Về mặt trị tài chính, đại để không có phép, nên tuy tiết kiệm mà dân không giàu, tuy cần lao lo nghĩ mà nước không mạnh. May nhờ không phải lúc Di Địch hưng thịnh, lại không có tai biến nước lụt, hạn hán như đời Nghiêu, Thang, nên thiên hạ vô sự hơn trăm năm, tuy nói là nhân sự, cũng là trời giúp vậy. Cúi mong bệ hạ biết rằng sự giúp của trời không thể thường có, biết rằng việc người không thể chậm trễ, thì thời cơ làm việc lớn chính là hôm nay vậy!"

Hôm sau, Hoàng đế bảo An Thạch: "Hôm qua xem sớ của khanh, những điều liệt kê các sai lầm, khanh ắt đã từng tính toán từng điều, hãy thử vì trẫm nói rõ phương pháp sắp đặt thi hành." An Thạch nói: "Vội kể thì không thể hết, xin bệ hạ lấy việc giảng học làm trọng, giảng học đã sáng tỏ, thì phương pháp sắp đặt thi hành không nói mà tự hiểu vậy."

Ngày Tân Hợi, tiết Đồng thiên, quần thần và sứ nước Liêu lần đầu dâng mừng thọ ở điện Tử Thần.

Lễ quan bàn, muốn theo lệ đời Đường, lấy ngày mồng 1 tháng 5 thỉnh Hoàng đế ngự điện Đại Khánh nhận triều hạ, nhân đó dâng tôn hiệu. Hàn lâm học sĩ Lữ Công Trứ nói: "Hội triều tháng 5 bắt đầu từ Đường Đức Tông, lấy thuyết thuật số yếm thắng, Hiến Tông cho là không hợp kinh điển nên bãi. Huống chi tôn hiệu không phải điển cổ, không liên quan đến nặng nhẹ của người chủ. Bệ hạ đang muốn noi theo ba đời, hà tất phải vào ngày âm trưởng mà làm cuộc hội phi lễ, nhận cái danh vô ích!" Bèn theo đó.

Ngày Mậu Ngọ, người Hồi Hột dâng cống ở nước Liêu.

Ngày Canh Thân, Lữ Công Trứ, Vương An Thạch và những người khác tâu: "Theo lệ cũ, người Thị giảng đều được ban ngồi; từ đời Càn Hưng trở đi, người giảng bắt đầu đứng, còn người hầu đều ngồi nghe. Chúng thần trộm nghĩ người hầu có thể cho đứng, còn người giảng nên được ban ngồi." Lễ quan Hàn Duy, Điêu Ước, Hồ Tông Dự tâu: "Nên theo chế cũ đời Thiên Hi, để tỏ rõ ý bệ hạ khảo cứu cổ, trọng đạo." Lưu Bàn nói: "Thần hầu giảng luận trước mặt, không thể ngồi yên. Lùi chiếu mà nói, đó là lễ thường xưa nay. Vua sai họ ngồi, là để tỏ ý người chủ tôn đức, vui đạo; nếu không ban mà tự xin thì khác vậy." Cung Đỉnh Thần, Tô Tùng, Chu Mạnh Dương, Vương Phần, Hàn Trung Ngạn đều đồng ý với Lưu Bàn, nói: "Từ đời Càn Hưng trở đi, thần hầu đứng giảng, trải hai triều Nhân Tông, Anh Tông, thi hành đã gần 50 năm, há có thể dễ dàng bàn đổi!" Hoàng đế hỏi Tăng Công Lượng, Công Lượng nói: "Thần hầu thư tọa Nhân Tông cũng đứng." Sau đó, An Thạch nhân buổi giảng được lưu lại, Hoàng đế trực tiếp bảo: "Ngày khanh giảng có thể ngồi." An Thạch không dám ngồi, nên thôi.

Tập Hiền viện học sĩ, Phán Nam Kinh lưu tư Ngự sử đài Lưu Sảng (劉敞) mất. Sảng học vấn uyên bác, nằm ngồi ăn ngủ, chưa từng không mang theo "Lục kinh". Từng được mấy chục chiếc đỉnh, đỉnh lễ trước Tần, minh văn kỳ áo, đều tra cứu mà đọc, nhân đó khảo biết chế độ ba đời, rất trân trọng, thường nói: "Ta chết, con cháu dùng những thứ này mà cúng tế ta." Triều đình mỗi khi có việc lễ nhạc, tất đến nhà ông để quyết đoán. Âu Dương Tu mỗi khi trong sách có điều nghi, bẻ thẻ đến hỏi, Sảng đáp lại thay ông, bút không ngừng tay, Tu thường than phục. Trước năm Khánh Lịch, người học giữ theo thuyết chú sớ, đến Sảng làm "Thất kinh tiểu truyện", mới khiến các Nho gia khác biệt. Về sau Vương An Thạch tu "Kinh nghĩa", đại để dựa vào Sảng, mà mới lạ lại càng quá vậy.

Ngày Quý Hợi, lấy Tôn Giác (孫覺) làm Hữu chính ngôn, Đồng tri Gián viện. Hoàng đế cùng Giác nói chuyện, muốn cải cách tệ cũ, Giác nói: "Tệ nạn vốn không thể không cải, cải mà hợp, thì hối mới không." Hoàng đế khen là biết lẽ.

Tháng 5, ngày Quý Dậu, Hoàng đế bảo Văn Ngạn Bác và những người khác rằng: "Đinh Vị (丁渭), Vương Khâm Nhược (王欽若), Trần Bành Niên (陳彭年) là hạng người thế nào?" Ngạn Bác và những người khác mỗi người theo điều mình nghe mà đáp, nhân đó nói: "Khi ấy tu sửa, xây dựng cung điện, đều là bọn họ mở đầu, hao tổn quá nửa tích trữ của tổ tông, đến nay kho tàng vẫn chưa đầy đủ trở lại." Hoàng đế nói: "Vương Đán (王旦) làm Tể tướng, không thể không có lỗi." Hàn Cương nói: "Đán từng can gián, Chân Tông không nghe; xin từ chức, lại không được cho." Hoàng đế nói: "Việc có điều bất tiện, phải hết sức bàn luận, sao có thể lấy việc xin từ chức để trốn trách nhiệm?"

Quốc Tử giám tâu bổ thi sinh Quốc Tử giám lấy 900 người làm ngạch, theo đó.

Ngày Giáp Tuất, tuyển mộ dân đói bổ vào Thượng quân.

Ngày Canh Thìn, ra chiếu cho Lưỡng chế và Quốc Tử giám cử giáo thụ cho các vương phủ.

Ngày Bính Tuất, Liêu chúa đóng quân ở Đặc Cổ Lý.

Ngày Mậu Tuất, bãi bỏ Khánh Thành quân.

Tháng 6, ngày Quý Mão, ghi công hậu duệ Ngụy Trưng, Địch Nhân Kiệt đời nhà Đường; theo lời xin của Hàn Kỳ.

Ngày Đinh Mùi, nước Chiêm Thành đến dâng cống.

Ngày Tân Hợi, ra chiếu: "Các lộ Giám ty tìm hỏi châu huyện, khôi phục thủy lợi, nếu có thể đặt phương pháp khuyến dụ tu sửa đập, đê, bờ bao, công lợi có thực, sẽ bàn ban khen, sủng thưởng."

Ngày Nhâm Tý, ở Tây Bắc lộ nước Liêu mưa lúa trong vòng 30 dặm.

Ngày Ất Mão, ban chiếu thư khen ngợi, khuyến dụ cho Tri Đường châu Cao Phú (高賦). Phú ở Đường châu 5 năm, đến khi bãi chức, tăng thêm hơn 11.000 hộ, khai khẩn hơn 30.000 khoảnh ruộng, mỗi năm tăng thuế hơn 22.000, làm 44 cái đập, đê.

Tháng này, sông tràn ở Ân châu, vỡ đê Ô Lan, lại vỡ đê Táo Cường ở Ký châu, nước chảy về phía bắc vào địa phận Oanh châu.

Mùa thu, tháng 7, ngày Nhâm Thân, nước Liêu đặt chức Đô thống quân ti cho bộ Ô Khố Đức Liệt Lặc.

Ngày Quý Dậu, ra chiếu: "Kẻ mưu giết người mà đã gây thương tích, nếu khi tra hỏi mà muốn tự thú, thì theo điều ‘án vấn dục cử’ (khi tra hỏi mà muốn tự thú) mà luận, giảm 2 bậc so với tội mưu sát." Ban đầu, Đăng châu tâu, có người đàn bà A Vân, đang để tang mẹ mà được gả cho họ Vi, ghét Vi xấu xí, mưu giết Vi, làm bị thương mà không chết. Đến khi tra hỏi, muốn tự thú. Thẩm hình viện, Đại lý tự luận tội chết, dùng việc trái luật mà gả chồng để tâu xin định đoạt, chiếu tha tội chết. Tri Đăng châu Hứa Tuân (許遵) tâu, dẫn luật: vì phạm tội giết, làm bị thương mà tự thú thì được miễn, tội do đó mà phạm vẫn theo luật giết, làm bị thương cũ, lấy mưu làm cái do, phải dùng điều ‘án vấn dục cử’ giảm 2 bậc; Bộ Hình định như Thẩm hình, Đại lý. Lúc ấy Tuân vừa được triệu làm Phán Đại lý, Ngự sử đài hặc Tuân, mà Tuân không phục, xin giao cho Lưỡng chế bàn, bèn lệnh cho Hàn lâm học sĩ Tư Mã Quang, Vương An Thạch cùng bàn. An Thạch cho rằng mưu và giết là hai việc, Quang nói: "Mưu giết, cũng như cố ý giết, đều là một việc, không thể chia ra. Nếu lấy mưu làm cái do, còn giết là một việc khác, thì cố ý và giết cũng có thể làm hai việc sao?" Hai người nghị luận không giống nhau, bèn mỗi người làm một bản tấu, Quang cho là Bộ Hình đúng, An Thạch cho là Tuân đúng. Chiếu theo ý kiến của An Thạch.

Ngày Ất Hợi, đặt tên cho thành mới xây ở cửa ải Đại Cam Cốc thuộc Tần châu là Cam Cốc thành. Ban đầu, dân sinh Tần châu bị Lượng Tộ cướp đi dời về phía tây, có đất trống trăm dặm, gọi là Tất Lịch, Tri châu Mã Trọng Phủ xin xây thành và cày cấy, tức là ải Đại Cam Cốc. Đến đây đặc biệt ban tên.

Ngày Bính Tý, Liêu chúa đi săn ở Hắc Lĩnh.

Ngày Đinh Sửu, ra chiếu: "Các lộ Soái thần, Giám ty và Lưỡng chế, Tri tạp Ngự sử trở lên, mỗi người cử 2 viên Tam ban sứ thần có võ dũng, mưu lược."

Ban cho thứ dân Vương An Quốc (王安國) đỗ Tiến sĩ cập đệ. An Quốc là em An Thạch, đỗ khoa Mậu tài dị đẳng. Hữu ty khảo bài "Tự ngôn" y dâng là đứng đầu, vì có tang mẹ nên không dự thi, ở lều mộ 3 năm. Hàn Cương tiến cử tài đức của y, triệu vào thi, ban cho đỗ, bổ làm Giáo thụ Quốc Tử ở Tây Kinh.

Ngày Kỷ Mão, quần thần dâng biểu tôn hiệu là Phụng Nguyên Hiến Đạo Văn Vũ Nhân Hiếu, chiếu không cho. Đến lần dâng biểu thứ 3, Tư Mã Quang vào trực, nhân đó nói: "Lễ tôn hiệu không phải là điển lệ của tiên vương, khởi từ đời Võ Hậu, Trung Tông nhà Đường, rồi thành lệ. Tiên đế không nhận tôn hiệu, thiên hạ không ai là không ca tụng. Cuối đời, có người dâng lời nói rằng nước nhà cùng nước Khiết Đan trao đổi thư tín, bên kia có tôn hiệu mà ta riêng không có, cho là rất nhục, nên quần thần lại dâng tôn hiệu không đúng lúc. Xưa đời Hán Văn đế, Hung Nô tự xưng là ‘Thiên địa sở sinh, nhật nguyệt sở trí Hung Nô đại Thiền vu’, không nghe Văn đế lại đặt đại danh để thêm cho mình. Xin bệ hạ noi theo ý ban đầu của tiên đế, không nhận tôn hiệu này." Hoàng đế rất vui, thân viết chiếu đáp Quang rằng: "Nếu không có khanh, trẫm không nghe được lời này." Rốt cuộc không cho.

Lấy Quan Văn điện học sĩ, Thượng thư Tả thừa, Tri Việt châu Trần Thăng Chi (陳升之) làm Tri Khu mật viện sự. Theo lệ cũ, Khu mật sứ và Tri viện sự không đặt song song, lúc ấy Văn Ngạn Bác, Lữ Công Trứ đã làm Sứ, Hoàng đế vì Thăng Chi ba lần phụ chính, muốn hơi khác về lễ, nên đặc biệt bổ nhiệm.

Ngày Tân Tị, giáng Tôn Giác làm Thái tử Trung doãn, vẫn cho làm Tri Gián viện. Trước đó, Trần Thăng Chi vào chầu đối, Hoàng đế trực tiếp hứa cho vào Trung枢. Đến lượt Giác nối tiếp vào chầu đối, Hoàng đế nhân đó nói: "Thăng Chi nên ở chỗ Khu mật; Thiệu Kháng (邵亢) bất tài, trước muốn cho giữ Trường An, mà Tể tướng cho là không có lỗi." Lúc ấy Thăng Chi đã có chiếu bổ nhiệm, mà Giác không biết, lui ra liền dâng sớ nói: "Nên cho Kháng làm Tri Vĩnh Hưng, Thăng Chi làm Khu mật sứ." Hoàng đế cho Giác là đón ý để cầu ân, nên giáng chức. Giác lại nói rằng Đằng Phủ (滕甫) tham ô, thiên lệch, liệt kê 7 tội, Hoàng đế không tin, đem tờ sớ của Giác cho Phủ xem, Phủ tạ rằng: "Bệ hạ không nghi, thần không thẹn, thế là đủ."

Ngày Nhâm Ngọ, vì đê sông vỡ ở Ân, Ký châu, ban tiền vải cho nhà người chết đuối và thóc cho hạ hộ.

Ngày Giáp Thân, ở Kinh sư động đất. Ngày Ất Dậu, lại động, mưa to. Đêm ấy, nguyệt thực, Hữu ty tâu rằng "Minh thiên lịch" không nghiệm, nên đổi; chiếu lệnh Ty Tư thiên làm lịch mới.

Tri Khai Phong phủ Lữ Công Trứ dâng sớ rằng: "Từ xưa người làm vua gặp tai biến, hoặc vì sợ hãi mà dẫn đến phúc, hoặc vì sơ lược, dối trá mà dẫn đến họa. Trên dùng chí thành đãi dưới, thì dưới nghĩ hết lòng thành để ứng lại, trên dưới đều hết lòng thành mà biến dị không tiêu, chưa từng có vậy. Chỉ có người làm vua bỏ tệ nạn nghe một phía, chuyên dùng một người, mà không chủ trương lời nói đến trước, thì không bị tà thuyết làm loạn. Nhan Uyên hỏi việc trị nước, Khổng Tử lấy việc tránh xa kẻ nịnh làm răn. Bởi kẻ nịnh chỉ sợ không hợp với vua, nên thế dễ thân; người chính trực chỉ sợ không hợp với nghĩa, nên thế dễ xa. Chỉ có trước hết làm cho việc của vua hợp chính, chưa từng có việc chính mà đời không trị vậy."

Ngày Tân Mão, vì đất Hà Sóc động đất lớn, lệnh cho An phủ ty dọc biên và Thứ sử Hùng châu theo dõi động tĩnh của người Liêu mà tâu báo. Ban tiền vải cho người bị đè chết.

Ở Kinh sư lại động đất.

Ngày Nhâm Thìn, sai Ngự sử trung thừa Đằng Phủ, Tri chế cáo Ngô Sung (吳充) đi an phủ Hà Bắc. Lúc ấy đất Hà Bắc động đất lớn, cát trồi, nước phun, thành trì, nhà cửa sụp đổ, quan dân đều ngủ trong lều trại. Phủ đến, một mình nằm ngủ dưới mái nhà, nói: "Dân trông cậy ta mà sống, nhà sập dân chết, ta nên lấy thân cùng chịu." Dân mới trở về yên ổn trong nhà. Bèn lệnh chôn cất người chết, cho người đói ăn, miễn thuế ruộng, xét bọn quan lười, sửa đê điều, tu bổ giáp binh, đốc thúc trộm cướp, đường phía bắc bèn yên.

Hàn Kỳ từ Vĩnh Hưng lại xin Ái châu để trở về. Gặp lúc đất Hà Bắc nhiều lần động đất, Tri Tử châu Hà Đàm (何郯) nhân dâng thư nói âm thịnh, thần mạnh để bóng gió chê trách Kỳ, lại xin triệu hoàn Vương Đào (王陶), để hợp ý vua, Hoàng đế coi thường. Sau Đào vào làm Tam ty sứ, thăng Hàn lâm học sĩ, Trung thừa Ngự sử Lữ Công Trứ lại luận rằng: "Đào tính tình nghiêng tà, khi Hàn Kỳ cầm quyền, nịnh bợ không gì không làm; đến khi làm Trung thừa, lại vu cho Kỳ có dấu hiệu bất thần, khiến Kỳ mắc họa tru di. Lật lọng như thế, há có thể tin dùng!" Bèn cho Đào ra làm Tri Thái châu.

Ngày Quý Tị, nạo vét nước tràn ở Thâm châu.

Ngày Giáp Ngọ, giảm tội cho tù nhân Hà Bắc 1 bậc.

Ngày Đinh Dậu, ban 70 đạo chiếu, sắc để trống tên, giao cho Hà Bắc An phủ ty, tuyển mộ dân nộp thóc.

Ngày Mậu Tuất, Tri Gián viện Tiền Công Phụ (錢公輔) tâu: "Ty Tư bộ gặp năm đói, sông vỡ, bán độ điệp để giúp cấp bách một thời. Xin từ nay, trong cung gặp Thánh tiết, ân ban độ điệp, đều cắt giảm hoặc giảm nửa, đổi thành áo tía, dần bớt sự thừa thãi của việc cạo tóc xuất gia." Theo đó.

Tháng này, sông tràn ở Oanh châu, vỡ đê Lạc Thọ.

Ở Nam Kinh nước Liêu mưa dầm, động đất.

Tháng 8, ngày Nhâm Dần, ở Kinh sư lại động đất.

Đồng tri Gián viện Tôn Giác sau khi bị giáng chức, nhiều lần dâng sớ xin ra ngoài, không cho. Giác cho rằng năm trước có Ngự sử bị phạt tiền, năm nay có Gián quan bị giáng chức, chưa từng nghe người bị phạt tiền, giáng chức mà còn có thể ở chức, bèn cho Giác ra làm Thông phán Việt châu.

Ra chiếu cho Kinh Đông, Kinh Tây lộ cứu tế dân lưu tán từ Hà Bắc.

Ngày Giáp Thìn, ở Kinh sư lại động đất.

Ngày Tân Hợi, sau buổi giảng đọc ở Nhĩ Anh, triệu Tư Mã Quang, hỏi về tai biến ở Hà Bắc, Quang đáp: "Năm đói kém, vàng bạc không dùng được, chỉ có lương thực là không thể thiếu một ngày, nên nhiều lần vận chuyển lúa gạo Giang, Hoài để cứu." Hoàng đế nhân đó luận đạo trị nước, nói rằng quan Trưởng lại ở châu huyện phần nhiều không được người, phủ Chính sự không thể chọn lựa tinh tường. Quang nói: "Người không dễ biết, thiên hạ hơn 300 châu, trách họ chọn lựa tinh tường thật khó, chỉ cần chọn 18 lộ Giám ty, khiến họ chọn Tri châu thuộc bộ mình mà tiến, lui họ, Tri châu chọn Tri huyện thuộc bộ mình mà tiến, lui họ, thì được người nhiều vậy." Lại hỏi: "Gián quan khó được người, ai có thể đảm nhiệm?" Đáp: "Phàm chọn Ngôn quan, phải lấy 3 điều làm trước: thứ nhất là không tham phú quý, kế đến là coi trọng, tiếc giữ danh tiết, sau nữa là hiểu rõ thể thống trị nước. Đủ 3 điều ấy, thật cũng khó được. Phó sứ Diêm thiết Lữ Hối (呂誨), Thị ngự sử Ngô Cảnh (吳景), hai người này dường như có thể chọn."

Ngày Quý Sửu, Tăng Công Lượng và những người khác tâu: "Đất Hà Sóc tai hại, quốc dụng không đủ, xin năm nay Hoàng đế thân tế Giao, Lưỡng phủ không ban vàng bạc." Gửi đến Học sĩ viện xin chỉ. Tư Mã Quang nói: "Cứu tai, tiết dụng, nên bắt đầu từ người quý gần, có thể cho Lưỡng phủ từ chối ân ban." Vương An Thạch nói: "Xưa Thường Cổn (常袞) từ chối đồ ăn trong đường, đương thời cho rằng Cổn tự biết mình không thể, nên từ chức, không nên từ lộc. Huống chi quốc dụng không đủ, không phải việc cấp bách hiện nay." Quang nói: "Cổn từ lộc, còn hiền hơn kẻ giữ lộc cố vị. Quốc dụng không đủ thật là việc cấp bách, lời An Thạch không phải." An Thạch nói: "Sở dĩ không đủ là vì chưa được người giỏi trị tài chính." Quang nói: "Người giỏi trị tài chính, chẳng qua là thu gom đầu, đuôi để vét hết tài sản của dân. Dân cùng khốn mà làm giặc, không phải phúc của nước." An Thạch nói: "Không phải vậy, người giỏi trị tài chính, không tăng thuế mà quốc dụng đủ." Quang nói: "Trời đất sinh ra tài vật trăm thứ, chỉ có bấy nhiêu, không ở dân thì ở quan, ví như mưa móc, hè lụt thì thu hạn. Không tăng thuế mà quốc dụng đủ, chẳng qua đặt phép để ngầm đoạt lợi của dân, hại còn hơn tăng thuế. Đó là lời Tang Hoằng Dương (桑弘羊) lừa Hán Vũ đế, Sử Thiên (Tư Mã Thiên) chép lại, để thấy vua không sáng suốt vậy." Tranh luận không dứt. Hoàng đế nói: "Ý trẫm giống với Quang, nay tạm lấy ‘bất chuẩn’ mà đáp." Gặp lúc An Thạch đang làm chế cáo, bèn dẫn việc Thường Cổn để trách Lưỡng phủ, Lưỡng phủ cũng không từ nữa.

Ngày Ất Mão, ban chiếu để trống tên chiếu sắc giao cho Hà Đông và Phu Diên lộ An phủ ty, tuyển mộ dân nộp thóc để cung cấp cho biên giới.

Hoàng đế cho rằng việc dựng nghiệp, truyền thống thực từ Thái Tổ, ngày Giáp Tý, ra chiếu cho Trung thư môn hạ: "Khảo xét tông phả của Thái Tổ, lấy một người gần gũi mà hàng tôn, chia đất phong vương, khiến thường theo hầu cúng ở tông miếu, đời đời không dứt."

Ngày Ất Sửu, lại thi hành "Sùng thiên lịch".

Bổ nhiệm Phó sứ Salt and Iron là Lữ Hối (呂誨) làm Thiên Chương các đãi chế, lại kiêm Tri gián viện; là do theo lời Tư Mã Quang (司馬光) mà dùng vậy.

Ra chiếu: "Từ nay thi tuyển các chức ở Hàn lâm viện, đều dùng sách luận, bãi bỏ thơ phú."

Tháng 9, Đồng tri Thái thường lễ viện Lưu Ban (劉攽) tâu: "Theo lễ, chư hầu không được thờ Hoàng đế làm tổ, phải tự phụng thờ tổ của nước mình. Thái Tổ truyền thiên hạ cho Thái Tông, các vua nối ngôi về sau đều là con cháu Thái Tổ, không nên lại riêng lập người khác làm hậu. Nếu tôn sùng đời sau của Đức Chiêu (德昭), Đức Phương (德芳), thì đời đời không được giáng tước, trong việc tế tự tông miếu, khiến cho họ được ở vào hàng vị thứ, như thế là cách để biểu dương, tôn xướng Nghệ Tổ đến mức cùng cực vậy." Vua theo đó. Ngày Tân Mùi, Kinh châu quan sát sứ, Thư Quốc công Tòng Thức (從式) được tiến phong làm An Định quận vương. Tòng Thức là cháu nội của Đức Phương.

Ban đầu, Hàn Kỳ (韓琦) từ Vĩnh Hưng vào triều yết kiến, nói với Hoàng đế: "Việc tôn sùng đời sau của Thái Tổ, khiến chọn 1 người phong vương, thường theo dự hiến tế ở tông miếu, không biết vì cớ gì lại đến nỗi như thế? Từ xưa người chủ rượu lẫn người theo hiến tế, đều là việc của Thái tử; nay bỗng chọn 1 người khiến theo hiến tế ở tông miếu, há chẳng khiến thiên hạ nghi ngờ, kinh hãi trong việc nhìn nghe hay sao!" Hoàng đế tỉnh ngộ, bèn bãi bỏ chiếu chỉ cho theo hiến tế ấy.

Ngày Đinh Hợi, giảm bớt việc hậu phi, thần liêu dâng sớ tiến cử xin ban ân.

Ngày Mậu Tý, ở Mạc châu động đất, có tiếng như sấm.

Ngày Đinh Dậu, chiếu lệnh Tam ty định lại tiền gạo cấp hàng tháng cho tông thất, cùng việc cấp cho khi cưới gả, sinh nhật, lễ tế Giao.

Ngày Kỷ Hợi, Liêu chúa đóng quân ở Tịch Ty Điện.

Trước đó, Vương An Thạch (王安石) giảng Kinh Lễ, nhiều lần bắt bẻ những chỗ sai trái của người giảng Kinh, Hoàng đế cho là phải. Mùa đông, tháng 10, ngày Nhâm Dần, chiếu tạm đình việc giảng Kinh Lễ ở giảng đường. Ngày hôm ấy, Hoàng đế lưu An Thạch ở lại ngồi, nói: "Trẫm muốn được nghe bàn luận của khanh." Nhân đó nói: "Đường Thái Tông ắt phải được Ngụy Trưng, Lưu Bị ắt phải được Gia Cát Lượng, rồi sau mới có thể làm nên sự nghiệp." An Thạch nói: "Nếu bệ hạ thật có thể làm được như Nghiêu, Thuấn, thì ắt sẽ có được Cao, Quỳ, Tắc, Tiết; thật có thể làm được như Cao Tông, thì ắt sẽ có Phó Duyệt. Hai người kia (chỉ Ngụy Trưng, Gia Cát Lượng) thì có gì đáng nói đâu! Với thiên hạ rộng lớn như thế, thường lo không có người có thể giúp việc trị nước, là vì bệ hạ trong việc chọn thuật trị nước chưa sáng, đem lòng thành chưa đến nơi; dẫu có bậc hiền như Cao, Quỳ, Tắc, Tiết, Phó Duyệt, cũng sẽ bị tiểu nhân che lấp, ôm chí mà bỏ đi đó thôi." Hoàng đế nói: "Đời nào mà không có kẻ trên người, dù thời Nghiêu, Thuấn cũng không thể không có bốn kẻ hung ác." An Thạch nói: "Chính vì có thể phân biệt bốn kẻ hung ác mà giết đi, đó là chỗ để làm Nghiêu, Thuấn vậy. Nếu để cho bốn kẻ hung ác mặc sức thi thố lời gièm pha, điều ác, thì Cao, Quỳ, Tắc, Tiết há lại chịu ăn lộc một cách tầm thường để sống hết đời hay sao!"

Ngày Bính Ngọ, Hoàng đế hỏi các quan giảng đọc về thuật làm cho dân giàu, Tư Mã Quang nói: "Gốc làm cho dân giàu là ở chỗ được người. Huyện lệnh là người gần dân nhất; muốn biết huyện lệnh có làm được việc hay không, không gì bằng hỏi Thái thú; muốn biết Thái thú có làm được việc hay không, không gì bằng hỏi Chuyển vận sứ. Bệ hạ chỉ cần chọn được Chuyển vận sứ, khiến Chuyển vận sứ xét hỏi Thái thú, Thái thú xét hỏi huyện lệnh, thì còn lo gì dân không giàu!"

Ngày Tân Hợi, nước Liêu đặc xá nhẹ ở Nam Kinh, tha cho tù tội từ tội lưu đày trở xuống. Vì các huyện Vĩnh Thanh, Vũ Thanh, An Thứ, Cố An, Tân Thành, Quy Nghĩa, Dung Thành đều bị lụt, nên miễn 1 năm tô thuế.

Ngày Ất Mão, xuất châu báu ở Phụng Thần khố, giao cho Hà Bắc mua ngựa.

Ngày Mậu Thìn, cấm nấu chảy vàng làm đồ trang sức.

Nước Liêu sai sứ sách phong Lý Bỉnh Thường (李秉常) làm Hạ quốc vương.

Tháng 11, ngày Quý Dậu, sao Thái Bạch hiện ra ban ngày.

Ngày Bính Tuất, vào triều tế yến ở Thái miếu, rồi trai giới ở Giao cung. Ngày Đinh Hợi, tế Trời Đất ở Viên Khâu.

Trước đó, sông Hoàng Hà tràn ngập cõi Ân, Ký, Thâm, Doanh, Hoàng đế lo lắng, hỏi các cận thần như Tư Mã Quang. Đô thủy giám thừa Lý Lập Chi (李立之) xin ở 4 châu đắp mới sinh đê dài 367 dặm để ngăn sông, còn Hà Bắc đô chuyển vận ty tâu rằng phải dùng hơn 83.000 dân phu, làm trong 1 tháng là xong, nay đang lúc tai hại mất mùa, xin làm chậm lại. Đô thủy giám thừa Tống Xương Ngôn (宋昌言) cho rằng nay hai nhánh sông đã đổi cửa, xin đón dòng sông, tiến hành đắp "ước" (đập điều tiết) dẫn nước vào lòng sông, để làm giảm nạn nước cho 4 châu, bèn cùng với Đồn điền đô giám nội thị Trình Phưởng (程昉) dâng kế, mở hai nhánh sông để dẫn nước chảy về phía đông. Bấy giờ Đô thủy giám tâu: "Những năm gần đây, từ Ký châu trở xuống, đường sông tắc nghẽn, tràn ngập, khiến cho bờ đê trên dưới nhiều lần nguy hiểm. Nay ở Táo Cường sông đánh sạt bờ, cướp mất đường cũ, dẫu có đắp đê mới, rốt cuộc cũng không phải kế lâu dài. Xin khảo sát cửa cũ ở Lục Tháp, cùng với hai nhánh sông, dẫn cho chảy về phía đông, rồi dần dần lấp dòng chảy về phía bắc." Nhưng Đề cử Hà khâu Vương Á (王亞) và những người khác lại cho rằng: "Dải Hoàng Hà và Ngự Hà chảy về phía bắc, đi qua biên giới, thẳng vào biển, dòng sâu rộng, đó là cái mà Trời dùng để ngăn nước Khiết Đan. Người bàn việc muốn lại mở hai nhánh sông, dần dần lấp dòng bắc, ấy là chưa từng thấy lợi ích của việc Hoàng Hà chảy về phía đông trong vùng sông giới." Đến đây, chiếu cho Tư Mã Quang cùng Nhập nội phó đô tri Trương Mậu Tắc (張茂則) cưỡi trạm xe đi xem xét sinh đê ở 4 châu, khi về thì kiêm xem xét lợi hại của Lục Tháp và hai nhánh sông. Ngày Giáp Ngọ, Quang vào chầu từ biệt, nhân đó xin nhận chức ở Hà Dương, Tấn, Giáng, Hoàng đế nói: "Kịp Đản ở triều, thì Hoài Nam dừng mưu; khanh chưa thể đi được."

Ngày Ất Mùi, Kinh sư và Mạc châu động đất.

Tháng 12, ngày Nhâm Dần, chiếu: "Từ nay các việc do nội phê chỉ huy, đợi ngày hôm sau tâu lại rồi mới thi hành."

Ngày Quý Mão, Doanh châu động đất lớn.

Ngày Canh Tuất, ban chiếu cho người kế tự của Hạ quốc chủ là Bỉnh Thường: "Đợi đến ngày biểu thề đến nơi, sẽ lập tức sai sứ phong sách, đồng thời trả lại châu Tùy, các khoản tuế tặng, từ sau khi phong sách, đều theo lệ cũ."

Ngày Tân Hợi, ghi nhận đời sau của Đường Đoạn Tú Thực (段秀實).

Nước Hạ sai sứ sang cống nước Liêu.

Ngày Canh Thân, lấy Phán Nhữ châu Phú Bật (富弼) làm Tập Hỉ quán sứ, chiếu cho cưỡi trạm xe vào kinh.

Ngày Tân Dậu, Triệu Kháng (邵亢) bị bãi chức. Kháng ở Khu mật viện hơn 1 năm, không có bổ ích lớn, Hoàng đế khá chán ghét. Đến đây, Kháng lấy cớ bệnh xin đi, bèn cho ra làm Tri Việt châu.

Năm ấy, Tiền Kiến Xương quân tư lý tham quân, Vương Thiệu (王韶) người Đức An, vào kinh dâng 3 thiên "Bình Nhung sách", đại lược nói: "Nước nhà muốn bình định giặc phương tây, không gì bằng trước hết dùng uy lệnh để khuất phục Hà, Hoàng; muốn khuất phục Hà, Hoàng, không gì bằng trước hết dùng ân tín để chiêu phủ các bộ tộc dọc biên. Bởi vì chiêu phủ các bộ tộc dọc biên, là để dùng uy phục được họ Giác; dùng uy phục được họ Giác, là để uy hiếp, chế ngự Hà Tây. Bệ hạ thật có thể chọn những người thông đạt, minh mẫn, hiểu rõ tình hình nơi ấy, sai họ đi lại ra vào giữa các bộ tộc, đem lòng trung tín mà vỗ về, khiến họ một lòng hướng mộ, vui vẻ có ý quy phụ; chỉ cần được 5, 7 thủ lĩnh của các đại tộc, thì các tiểu bộ tộc còn lại đều có thể sai khiến, sử dụng. Các bộ tộc đã mất, thì họ Giác há dám không quy thuận? Họ Giác đã quy thuận, thì họ Lý ở Hà Tây sẽ ở trong lòng bàn tay ta. Nếu gấp, có thể quét sạch sào huyệt của chúng; nếu chậm, có thể uy hiếp, chế ngự tâm phúc của chúng, đó là cách hiện hình thế ở chỗ chúng mà thu công ở chỗ ta. Nay các bộ tộc Mã Nhĩ Tiển đã nhiều lần đến cửa ải xin được dùng cho Trung Quốc đã lâu, ý của họ là muốn mượn tước mệnh của Trung Quốc để uy hiếp trong bộ lạc mà thôi. Nhưng biên thần vì chuyện Đống Tiển nên không thể thay mặt nước nhà thông đạt ân ý để vỗ về họ, bỏ chỗ viện trợ gần mà kết giao xa, tham cái hàng giả dối mà quên sự phụ thuộc thực sự, khiến Đống Tiển được lợi ở chợ mà cầu công ở ta, đó không phải là lợi thế để chế thắng. Các bộ tộc Mã Nhĩ Tiển đều là con cháu họ Giác, mỗi bộ tự đóng giữ, nơi mà pháp lệnh của họ tới được, xa thì không quá 4, 5 trăm dặm, gần thì 2, 3 trăm dặm, chính là có thể thâu hợp lại mà cùng vỗ về. Ngu thần cho rằng nên sai người đến Hà châu cùng Mã Nhĩ Tiển bàn bạc, khiến họ vào ở quân Vũ Thắng hoặc thành Vị Nguyên, gần với cõi Hán, lấy pháp Hán mà giúp. Nhân đó chọn 1 viên quan có tài văn võ, mưu lược, cho cùng ở với Mã Nhĩ Tiển, dần dần dùng ân tín chiêu phủ các Man Di dọc biên, ai không theo, thì khiến Mã Nhĩ Tiển mượn pháp lệnh nhà Hán để uy hiếp. Bọn Hạt Chinh, Khi Ba Ôn đã có phần đất, cũng nên dần dần dùng tước mệnh để làm mềm lòng họ, khiến họ quen dùng pháp Hán, dần dần đồng với phong tục Hán, thì đối với ta thật có chỗ giúp ở bên nách, lại khiến người Hạ không thể cùng các Man Di kết liên, đó là thượng sách để chế giặc vậy." Ban đầu, Thiệu thi Chế khoa không đỗ, làm khách du chơi ở Thiểm Tây, tìm hỏi việc biên thùy rất tường tận, nên làm sách này dâng lên. Hoàng đế lấy làm lạ lời nói của ông, triệu vào hỏi phương lược, cho Thiệu quản câu cơ nghi văn thư của Tần Phụng kinh lược ty.

Nước Hạ đổi niên hiệu là Càn Đạo.

Năm Hy Ninh thứ 2 (Liêu, năm Hàm Ung thứ 5), Công nguyên năm 1069

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Đinh Hợi, Hoàng đế bảo các phụ thần: "Từng nghe thời Thái Tông, tài vật trong Nội tàng, cứ mỗi 1.000 thì dùng 1 đồng tiền có khắc răng để ghi, tên vật khác nhau thì màu tiền dùng cũng khác, người khác không thể hiểu được. Tất cả đều đựng trong hòm, đặt ở Ngự các, để đối chiếu với số định trong sổ sách. Về cuối đời, từng đem số tiền ấy ra cho Chân Tông xem, nói: ‘Khéo giữ gìn cái này là đủ rồi!’ Gần đây xem sổ sách Nội tàng khố, chỉ có văn tự ghi chép mà thôi, tài vật xuất nhập hầu như không có canh phòng. Trước đây từng đem long não, châu báu bán cho Ty Tiêu dịch, số lượng ghi trên tờ tấu không nộp đủ giá, cũng không có ai tra xét. Bởi vì người lĩnh giữ là bọn trung quan mấy chục người, chỉ biết cẩn thận khóa cửa, trét kín cửa sổ, cho là kín đáo, thì làm sao có thể tra xét số xuất nhập nhiều ít so với số tồn trữ được!" Bèn lệnh cho Hộ bộ, Thái phủ tự đều được kiểm sát các kho Nội tàng. Kho ấy đặt hơn 100 năm, đến đây mới bắt đầu biên duyệt.

Ngày Giáp Ngọ, rước thần ngự của Anh Tông an trí ở điện Anh Đức trong Cảnh Linh cung.

Tháng ấy, Tư Mã Quang xem sông trở về, vào chầu, tâu xin làm theo sách lược của Tống Xương Ngôn, đặt "thượng ước" ở phía tây hai nhánh sông, bẻ dòng nước cho chảy về đông, đợi khi dòng đông dần sâu, dòng bắc bồi lấp nông, thì lấp dòng bắc, cho nước Ngự Hà, Hồ Lô Hà chảy ra, để làm giảm nạn cho vùng từ Ân, Ký, Thâm, Doanh trở về phía tây. Ban đầu, sông Thương Hồ phá đê, từ phía bắc Ngụy đến Ân, Ký, Can Ninh đổ vào biển, gọi là dòng bắc. Năm Gia Hựu thứ 8, sông chia dòng ở đê thứ 6 của Ngụy, bèn thành hai nhánh, từ Ngụy, Ân về phía đông đến Đức, Thương, đổ vào biển, gọi là dòng đông. Bấy giờ người bàn luận phần nhiều không đồng ý, Lý Lập Chi cố chủ trương đắp sinh đê, Hoàng đế không nghe, rốt cuộc dùng sách lược của Xương Ngôn, đặt "thượng ước".

Tháng 2, chiếu: "Từ nay về sau, kẻ mưu giết người mà tự thú, đều tâu lên đợi chỉ quyết định." Ban đầu, Hoàng đế theo lời bàn của Vương An Thạch, phàm kẻ mưu giết người đã gây thương tích mà tự thú, thì giảm 2 bậc hình phạt, dư luận không phục. Ngự sử trung thừa Đằng Phụ (滕甫) xin lại chọn quan để định nghị, chiếu giao cho Hàn lâm học sĩ Lữ Công Trứ (呂公著), Hàn Duy (韓維), Tri chế cáo Tiền Công Phụ (錢公輔) định lại. Công Trứ và những người khác nghị như An Thạch, bấy giờ pháp quan Tề Khôi (齊恢), Vương Sư Nguyên (王師元), Thái Quán Khanh (蔡冠卿) đều hặc tấu cho rằng nghị luận của Công Trứ và những người khác là không đúng, lại chiếu cho An Thạch cùng các quan hữu trách hội nghị. Tranh luận qua lại, lâu ngày không quyết, nên mới có chiếu này.

Ngày Kỷ Hợi, lấy Quán Văn điện đại học sĩ, Phán Nhữ châu Phú Bật làm Thượng thư tả bộc xạ kiêm Môn hạ thị lang, Bình chương sự.

Ngày Canh Tý, lấy Hàn lâm học sĩ Vương An Thạch làm Hữu gián nghị đại phu, Tham tri chính sự.

Ban đầu, Hoàng đế muốn dùng An Thạch, hỏi Tăng Công Lượng (曾公亮), Công Lượng hết sức tiến cử. Đường Giới (唐介) nói An Thạch không thể giao trọng trách, Hoàng đế nói: "Khanh cho rằng văn học của An Thạch không thể giao, hay kinh thuật không thể giao, hay việc lại không thể giao?" Giới nói: "An Thạch hiếu học mà câu nệ cổ, nghị luận quanh co xa vời, nếu cho làm chính sự, e nhiều thay đổi." Ra ngoài, nói với Công Lượng rằng: "Nếu An Thạch quả được dùng, thiên hạ ắt rối loạn, các ông nên tự biết lấy." Hoàng đế lại hỏi Thị độc Tôn Cố (孫固): "An Thạch có thể làm tướng không?" Cố đáp: "Văn hạnh của An Thạch rất cao, ở chức Thị tòng hiến nạp thì được. Chức Tể tướng tự có khuôn độ, An Thạch hẹp hòi, ít dung người. Nếu thật muốn cầu hiền tướng, thì Lữ Công Trứ, Tư Mã Quang, Hàn Duy là những người ấy." Tổng cộng hỏi 4 lần, đều đáp như vậy. Hoàng đế không cho là phải, rốt cuộc dùng An Thạch, bảo rằng: "Người ta đều cho rằng khanh chỉ biết kinh thuật, không hiểu thế vụ." An Thạch đáp: "Kinh thuật chính là để kinh lý thế vụ. Chỉ vì đời sau cái gọi là Nho giả, phần nhiều là hạng tầm thường, nên thói tục cho rằng kinh thuật không thể thi hành vào thế vụ mà thôi." Hoàng đế nói: "Vậy thì những điều khanh sẽ thi hành, lấy việc gì làm trước?" An Thạch nói: "Thay đổi phong tục, lập pháp độ, đó là việc cấp bách hiện nay." Hoàng đế rất tin theo.

Sai Hàn lâm học sĩ Lữ Công Trứ tu "Anh Tông thực lục".

Ngày Ất Tị, vì có tai biến, tránh chính điện, giảm bớt bữa ăn, bỏ nhạc.

Ngày Bính Ngọ, Tư Mã Quang vào chầu, xin ra trấn giữ 1 châu. Hoàng đế không cho, nói: "Danh tiếng của khanh vang đến ngoại quốc, sao có thể ra ngoài?" Trước đó, khi Lữ Công Trứ đi sứ nước Liêu, Quang vừa giải chức ở Đài, người Liêu nhân đó hỏi vì sao Quang không làm Trung thừa; Công Trứ về, tâu lại với Hoàng đế, nên Hoàng đế biết.

Ngày Giáp Tý, đặt Ty Chế trí Tam ty điều lệ ty, phụ trách hoạch định quốc kế, bàn việc thay đổi pháp cũ để thông lợi ích trong thiên hạ, sai Trần Thăng Chi (陳升之), Vương An Thạch đứng đầu. An Thạch vốn thân với Lữ Huệ Khanh (呂惠卿), bèn nói với Hoàng đế: "Đức hạnh của Huệ Khanh, dù là Nho giả đời trước cũng khó sánh. Người học đạo của Tiên vương mà có thể dùng được, chỉ có Huệ Khanh mà thôi." Bèn lấy Huệ Khanh làm Điều lệ ty kiểm tường văn tự. Việc không kể lớn nhỏ, An Thạch tất cùng Huệ Khanh bàn; phàm những chương tấu kiến nghị đều do bút của Huệ Khanh. Người đương thời gọi An Thạch là Khổng Tử, Huệ Khanh là Nhan Tử. Phú Bật vì đau chân chưa thể vào chầu. Có người nói với Hoàng đế rằng tai dị đều là thiên số, không phải do được mất của nhân sự mà nên, Bật nghe vậy than rằng: "Điều mà người quân chủ phải sợ chỉ là Trời, nếu không sợ Trời, thì việc gì mà không dám làm! Đây ắt là kẻ gian muốn dâng tà thuyết để lay động lòng bề trên, khiến cho các thần phụ tá, can gián không còn chỗ thi thố sức mình, đó là then chốt trị loạn, không thể không cứu gấp." Liền dâng thư mấy nghìn chữ, hết sức luận bàn.

Vương An Thạch đã được dùng, từng nhân tranh luận việc biến pháp, trợn mắt bảo đồng liêu rằng: "Các ông ngồi mà không đọc sách đó thôi!" Triệu Biện (趙抃) bác lại rằng: "Lời của ông sai rồi, thời Cao, Quỳ, Tắc, Tiết thì có sách gì để đọc!" An Thạch im lặng.

Tháng ấy, sai Lưu Hàng (劉航) và những người khác sang sách phong Lý Bỉnh Thường làm Hạ quốc vương.

Tháng 3, Phú Bật mới vào chầu, nói: "Thần nghe việc trong ngoài, dần dần có thay đổi, đây ắt là do tiểu nhân dâng lời với bệ hạ. Đại để tiểu nhân chỉ thích tác động, sinh chuyện, thì trong đó mới có chỗ mong cầu. Nếu triều đình giữ yên tĩnh, thì việc có phép thường, tiểu nhân còn trông mong gì được! Xin bệ hạ soi xét sâu điều ấy, chớ để sau phải hối." Hoàng đế đổi sắc mặt, nghe theo, nói: "Hôm nay được lời bàn của khanh, có thể gọi là lời vàng đá!"

Ngày Quý Mùi, lấy Tô Triệt (蘇轍) làm Điều lệ ty kiểm tường văn tự. Trước đó, Triệt dâng sớ nói: "Cái gọi là phong phú tài chính, không phải là cầu tài mà tăng thêm, mà là bỏ đi những việc làm tổn hại tài chính mà thôi. Việc làm tổn hại tài chính có 3: một là quan lại thừa, hai là binh lính thừa, ba là chi phí thừa." Sớ dâng lên, Hoàng đế phê giao cho Trung thư, nhân đó triệu vào chầu mà có lệnh này.

Hai phủ cùng vào tâu việc, Phú Bật nói rằng đại thần cần hòa thuận mới có thể thành việc. Lại nói nay những người được tiến dụng, hoặc là hạng nhỏ nhen, khắc bạc, hạng nhỏ nhen tuy có vẻ đáng ưa, nhưng hại việc, làm hỏng phong tục rất nặng, cần phải tiến dụng những người thuần hậu, đôn thực. Hoàng đế nói: "Đại thần vốn nên cùng triều đình phân biệt tà chính, tà chính phân minh thì thiên hạ tự trị."

Ngày Ất Dậu, chiếu lệnh Tam ty phán quan, các lộ giám tư và quan trong ngoài đều phải kê rõ lợi hại về tài dụng mà tâu lên.

Ngày Mậu Tý, Hạ quốc chủ Bỉnh Thường dâng biểu thề, nộp 2 trại Tắc Môn, An Viễn, xin hoãn việc trả lại châu; cho phép.

Ngày Nhâm Thìn, Hoàng đế hỏi Vương An Thạch: "Việc chế trí điều lệ thế nào?" An Thạch nói: "Đã khảo xét văn tự, đại lược đã thấy mạch lạc. Nhưng nay muốn trị tài chính, thì tất phải dùng người có năng lực. Thiên hạ chỉ thấy triều đình lấy dùng người có năng lực làm trước, mà không lấy việc giao cho người hiền làm gấp; chỉ thấy triều đình lấy trị tài chính làm việc, mà đối với lễ nghĩa, giáo hóa thì chưa có chỗ nào vươn tới, e rằng phong tục từ đó mà hỏng, sẽ không chịu nổi sự tệ hại, bệ hạ nên suy nghĩ sâu về thể thống quốc gia có trước sau, khẩn cấp." Hoàng đế gật đầu.

Ngày Ất Mùi, vì hạn hán mà xét giảm tội cho tù nhân.

Tấn vương Da Luật Nhân Tiên (耶律仁先) nước Liêu, trước đây vì lời gièm của Da Luật Y Tốn (耶律伊遜) mà bị đuổi ra ngoài. Đến đây, Chuẩn Bố làm phản, Liêu chúa lại nhớ đến Nhân Tiên, bèn sai làm Tây Bắc lộ chiêu thảo sứ, suất cấm quân tiến đánh. Nhân Tiên vào chầu, Liêu chúa thân bảo rằng: "Khanh đi xa triều đình, mỗi khi đợi tấu chương thi hành, e lỡ cơ hội, có thể tùy nghi làm việc."

Mùa hạ, tháng 4, ngày Mậu Tuất, bãi bỏ việc xây dựng bằng đất gỗ trong ngoài.

Ban đầu, quần thần xin dâng tôn hiệu và làm nhạc, Hoàng đế vì lâu hạn nên không cho. Phú Bật nói: "Theo lệ cũ, hễ có tai biến đều bỏ nhạc, e rằng bệ hạ vì cùng ngày sinh với Liêu sứ phải dâng thọ, nên chưa dứt lời xin. Thần cho rằng đây là việc đức lớn, chính nên lấy đó mà tỏ với ngoại quốc, xin cũng bãi bỏ việc dâng thọ."’Hoàng đế nghe theo.

Hoàng đế ủy nhiệm chính phủ, giao trách nhiệm thái bình. Một hôm, chính phủ triệu các quan Đài, quan Gián đến Đô đường, Phú Bật bảo rằng: "Bề trên cầu trị như đói khát, chính trông cậy các ông đồng lòng để giúp." Tri Gián viện Tiền Công Phụ đáp: "Triều đình làm điều phải, thì thiên hạ ai dám không theo! Làm điều không phải, Công Phụ dẫu muốn theo cũng không thể được."

Ngày Bính Ngọ, ngày sinh của thiên tử, bãi việc dâng thọ. Hôm ấy trời mưa. Phú Bật nói: "Xin bệ hạ đừng lấy mưa móc hôm nay làm vui, mà hãy lấy tai biến nhiều năm làm sợ. Bởi vì tu đức mà cảm mưa, thì ứng nghiệm như thế; vạn nhất về đức có tổn, thì ứng nghiệm của tai họa há lại chậm sao!" Hoàng đế thân viết chiếu trả lời rằng: "Há dám không đặt lời ấy ở bên gối, khắc vào tim phổi! Lại mong khanh đừng bỏ chí hướng ngày hôm nay."

Ngày Đinh Mùi, Tham tri chính sự Đường Giới mất. Giới là người giản dị, cương trực, vì dám nói mà bị kiêng sợ. Hoàng đế cho là bậc di trực của triều trước, nên trọng dụng; nhưng bị Vương An Thạch chèn ép, ít có điều kiến nghị, thanh danh kém hơn lúc làm Gián quan, Ngự sử.

Ban đầu, Trung thư từng dâng bản bổ nhiệm, mấy ngày không quyết, Hoàng đế nói: "Nên hỏi Vương An Thạch." Giới nói: "Bệ hạ cho rằng An Thạch có thể giao trọng trách thì dùng, há có thể khiến chính sự của Trung thư quyết ở Hàn lâm học sĩ! Gần đây thường nghe tuyên dụ, việc nào cũng nói hỏi An Thạch, có thể thì làm ngay, không thể cũng làm. Như thế thì các quan chấp chính dùng vào việc gì! Nếu cho thần là bất tài, xin cho thần bãi miễn trước."

An Thạch đã làm chấp chính, tâu rằng: "Các trát tử xử phân của Trung thư đều xưng là Thánh chỉ, những điều không hợp lý thì 10 phần có đến 8, 9, nên chỉ để Trung thư xuất thiệp." Hoàng đế kinh ngạc. Giới nói: "Xưa Khấu Chuẩn dùng trát tử thăng chức cho Phùng Chửng là không đúng, Chửng kiện. Thái Tông nói: ‘Đời trước Trung thư dùng đường thiệp, là quyền thần mượn đó làm uy phúc. Thời Thái Tổ, đường thiệp nặng hơn chiếu mệnh, nên bỏ đi. Nay lại dùng trát tử, khác gì đường thiệp!’ Trương Tế nhân đó nói: ‘Nếu bỏ trát tử, thì việc hành sự của Trung thư không còn công thức.’ Thái Tông nói: ‘Việc lớn thì ban chiếu; việc nên dùng trát tử, cũng phải tâu xin quyết định.’ Vì thế nên mới xưng là Thánh chỉ. Như lời An Thạch, thì là chính không do Hoàng đế mà ra. Nếu các phụ thần đều là trung hiền, còn là chuyên quyền; nếu chẳng phải người như thế, há chẳng hại nước sao?" Hoàng đế cho là phải, bèn thôi.

Giới nhiều lần tranh luận với An Thạch, An Thạch cãi mạnh, mà Hoàng đế chủ trương theo lời An Thạch, Giới không chịu nổi uất ức, nhọt độc phát ở lưng mà chết. Lúc bệnh nguy kịch, Hoàng đế đến thăm hỏi, rơi lệ. Sau khi mất, lại đến nhà viếng khóc, vì bức họa chân dung không giống, bèn lấy bản cũ cất trong cấm trung ban cho gia đình. Bởi vì khi Giới làm Gián quan, Nhân Tông bí mật sai vẽ chân dung ông, đặt trong Ôn Thành các, đề ngự bút là "Hữu chính ngôn Đường Giới", ngoài triều không ai biết.

Bấy giờ An Thạch hăng hái muốn thay đổi, mà Hoàng đế tin dùng càng chuyên, Giới đã chết, đồng liêu không một ai dám chống lại. Tăng Công Lượng nhiều lần xin trí sĩ, Phú Bật lấy cớ bệnh không vào làm việc, Triệu Biện sức không chịu nổi, gặp một việc thay đổi, thì nói "như thế" đến mấy chục lần. Cho nên đương thời nói: "Trung thư có sinh, lão, bệnh, tử, khổ", tức là nói An Thạch là "sinh", Công Lượng là "lão", Phú Bật là "bệnh", Đường Giới là "tử", Triệu Biện là "khổ".

Ban đầu, thời Nhân Tông, Phạm Tường (范祥) làm Chế trí Giải diêm sứ, dùng muối chiêu mộ thương lữ chở cỏ lúa để cung cấp cho biên thùy, công tư đều tiện lợi. Tường mất, lấy Thiểm Tây chuyển vận phó sứ Tiết Hướng (薛向) kế nhiệm, Hướng xin kiêm dùng muối đổi ngựa, Vương An Thạch bấy giờ lĩnh Quần mục, chủ trương việc ấy, xin cho Hướng làm lâu dài. Cuối niên hiệu Trị Bình, Hướng vì cùng Chủng Ngạc (種諤) mở rộng biên giới mà bị bãi. Đến đây, Hoài Nam chuyển vận sứ Trương Tĩnh (張靖) vâng chiếu khảo xét được mất của việc muối ngựa ở Thiểm Tây, chỉ ra chỗ gian dối che giấu của Hướng, Hoàng đế triệu Hướng và Tĩnh đối chất. Tiền Công Phụ, Phạm Thuần Nhân (范純仁) đều nói tội của Hướng đáng bị giáng chức; An Thạch gạt bỏ mọi lời bàn, đẩy Tĩnh vào pháp luật, lấy Hướng làm Giang, Hoài đẳng lộ phát vận sứ. Hướng bèn xin đặt chợ bán muối ngay ở Vĩnh Hưng quân, lấy 100.000 quan tiền biên phí làm vốn muối phiếu cho Vĩnh Hưng, quan tự bán mà bãi bỏ việc thông thương; vua theo.

Tri Khai Phong phủ Đằng Phụ bị bãi. Ban đầu, Phụ cùng tu Khởi cư chú, Hoàng đế triệu hỏi đạo trị loạn, Phụ đáp: "Đạo trị loạn như đen trắng, đông tây, cái khiến đổi màu, đổi chỗ là do bè đảng làm cho rối lên." Hoàng đế nói: "Khanh biết bè đảng của quân tử, tiểu nhân chăng?" Đáp: "Quân tử không có đảng. Ví như cỏ cây, quấn quýt bám vào nhau, tất là dây leo, không phải tùng bách. Triều đình không có bè đảng, thì dù là ông vua tầm thường cũng có thể thành công; nếu không, dù là bậc thánh thượng cũng nguy." Hoàng đế cho là lời hay, bèn bổ làm Hàn lâm học sĩ, Tri Khai Phong phủ. Phụ khi bàn việc trước mặt Hoàng đế, lời không văn sức; Hoàng đế biết ông thành thực, việc không kể lớn nhỏ, người không kể thân sơ, đều đem hỏi, Phụ tùy việc giải đáp, không chút e dè. Vương An Thạch từng cùng Phụ đồng khảo thí, lời nói không hợp, rất ghét Phụ. Gặp lúc tân pháp thi hành, thiên hạ xôn xao, sợ Phụ nói mà Hoàng đế tin, nhân việc mà gạt Phụ, cho ra làm Tri Vận châu.

Ngày Mậu Thân, Phú Bật, Tăng Công Lượng vì hạn mà dâng biểu xin chịu tội, chiếu không cho.

Ngày Quý Sửu, sai Tăng Công Lượng làm Tây Kinh phụng an lễ nghi ngự dung của Nhân Tông, Anh Tông.

Ngày Đinh Tị, sai bọn Lưu Di (劉彝), Tạ Khanh Tài (謝卿材), Hầu Thúc Hiến (侯叔獻), Trình Hạo (程顥), Lư Bỉnh (盧秉), Vương Nhữ Dực (王汝翼), Tằng Kháng (曾伉), Vương Quảng Liêm (王廣廉) 8 người đi các lộ, xét tình hình nông điền, thủy lợi, sưu dịch, là theo lời xin của Điều lệ ty.

Ngày Giáp Tý, ngự điện, phục lại bữa ăn như cũ.

Miễn thuế mùa hạ cho lưu dân ở Hà Bắc trở về quê cũ.

Tháng 5, ngày Tân Mùi, yến ở điện Tử Thần, lần đầu dùng nhạc.

Ngày Kỷ Mão, ban tiền cấp riêng cho quân dịch ở Hà Bắc.

Ngày Quý Mùi, Hàn lâm học sĩ Trịnh Giải (鄭獬) bị bãi, làm Tri Hàng châu; Tuyên huy Bắc viện sứ Vương Củng Thần (王拱辰) bị bãi, làm Tri Ứng Thiên phủ; Tri Gián viện Tiền Công Phụ bị bãi, làm Tri Giang Ninh phủ. Củng Thần từ Bắc Kinh về triều, nói rằng muốn dâng lời trung, nhưng chưa biết ý Hoàng đế hướng về đâu, lại nói việc bè đảng Ngưu, Lý đang nổi lên, không thể không đề phòng. Hoàng đế đem lời ấy nói với phụ thần, Vương An Thạch nói: "Điều ấy chưa đủ gọi là gian tà; nói là chưa biết ý bệ hạ hướng về đâu, đó mới là gian tà thật." Tăng Công Lượng nhân đó nói Củng Thần thời Nhân Tông đã biết là không chính, không cho dùng lại. An Thạch nói: "Củng Thần giao kết với nhà Ôn Thành hoàng hậu, ai cũng biết." Giải tạm quyền phát khiển Khai Phong phủ, dân Dụ Hưng cùng vợ mưu giết 1 người phụ nữ, Giải không chịu dùng pháp mới để tra hỏi, nên bị Vương An Thạch ghét. An Thạch vốn thân với Công Phụ; sau khi được thế, gạt bỏ người khác ý, cho Đằng Phụ ra làm Tri Vận châu, Công Phụ nhiều lần trước mặt Hoàng đế nói Phụ không nên đi. Tiết Hướng đổi phép muối, An Thạch chủ trương, mà Công Phụ cho rằng Hướng nên bị đuổi, trái ý An Thạch. Ba người vì thế cùng ngày bị bãi.

Theo lệ cũ, việc bổ nhiệm hai chế, tất Tể tướng phải tự tay viết. Bấy giờ Phú Bật đang cáo bệnh, Tăng Công Lượng đi sứ, chỉ có An Thạch ở Trung thư, tự ý bãi Giải và những người khác; Bật vì thế không bằng lòng, thường lấy cớ bệnh nằm nhà. Ngự sử trung thừa Lữ Hối dâng sớ nói: "Ba người không có tội mà bị giáng, rất trái với công luận." Hoàng đế đem sớ của Hối cho phụ thần xem, An Thạch nói: "Ba người này bị bãi, thần thẹn vì không thể phơi bày hết tội trạng của họ, khiến tiểu nhân biết mà sợ, không ngờ người nói lại còn như thế!"

Ngày Bính Tuất, Vương An Thạch xin từ chức; Hoàng đế trả lại tấu, lệnh vẫn làm việc như cũ.

Ngày Nhâm Thìn, Thái hoàng thái hậu dời đến ở cung Khánh Thọ.

Ngày Quý Tị, Khu mật viện tâu: "Muốn tra tìm các văn thư của bản viện, phàm những điều liên quan đến pháp chế từ đời Tổ tông trở lại, đáng thi hành ở biên thùy, đều lược lấy đại ý, biên tập thành sách, lại ở mỗi môn để chừa giấy trắng, để ghi chép việc xử lý về sau." Hoàng đế nghe theo, ban tên là "Kinh Vũ yếu lược".

Vương An Thạch cho rằng xưa việc chọn sĩ đều gốc ở học, xin hưng lập học hiệu để phục cổ, các khoa thi thơ phú, Minh kinh đều bãi, chỉ dùng kinh nghĩa, luận, sách để thi tiến sĩ. Chiếu cho hai chế, hai tỉnh, Ngự sử đài, Tam ty, Tam quán bàn nghị.

Bấy giờ, người bàn luận phần nhiều đều muốn thay đổi phép cũ. Chỉ có Trực Sử quán, Phán quan Cáo viện là Tô Thức (蘇軾) một mình cho là không cần phải thay đổi, bàn rằng:

Đạo để được người là ở chỗ biết người; phép để biết người là ở chỗ khảo xét sự thực. Nếu chư tướng, tể thần có con mắt sáng suốt biết người, triều đình có chính sách khảo xét sự thực, thì bọn thư lại, tốt đen vốn chưa từng là không có người tài, huống chi là ở trường học và khoa cử tiến cử hay sao! Dù cứ dùng phép hiện nay, thần cho là đã dư đủ. Nếu chư tướng, tể thần không có con mắt sáng suốt biết người, triều đình không có chính sách khảo xét sự thực, thì bậc công khanh, thị tòng thường đã lo thiếu người, huống chi là trường học và khoa cử tiến cử hay sao! Dù có khôi phục chế độ thời xưa, thần cho là vẫn chưa đủ.
Xưa nay thời thế có chỗ nên hay không nên, sự vật có chỗ hưng hay suy. Giả sử ba đời thánh nhân sống lại ở đời nay, thì phép tuyển cử của các ngài ắt cũng có đạo riêng, đâu nhất thiết phải do trường học mà ra! Vả lại, vào niên hiệu Khánh Lịch trước đây đã từng lập học rồi, thiên hạ cho rằng thái bình có thể trông đợi, thế mà đến nay chỉ còn trơ cái tên suông, miễn cưỡng còn sót lại.
Nay bệ hạ nếu nhất định muốn cầu người có đức hạnh, đạo nghiệp, tài nghệ, lại đòi hỏi thành tựu lớn trong 9 năm, thì sẽ phải thay đổi lễ nghi hiện nay, đổi thay phong tục hiện nay, lại còn phải phát động sức dân để sửa sang cung thất, thu góp tài sản của dân để nuôi bọn du sĩ, trong vòng 100 dặm đều đặt quan, lập thầy, rồi lại thường xuyên lựa chọn, kẻ nào không theo được sự dạy bảo thì đày ra phương xa. Như thế chẳng phải là chỉ làm cho rối loạn suông, khiến thiên hạ chịu khổ hay sao! Nếu không có cuộc cải cách lớn mà lại mong có ích cho thời thế, thì khác gì chuyện đời Khánh Lịch!
Còn như phép khoa cử tiến cống, thi hành đã 100 năm, trị loạn, thịnh suy vốn không do đó mà ra. Những điều mà người đương thời bàn muốn thay đổi, chẳng qua mấy mối: Hoặc nói nên cử người ở hương lý theo đức hạnh mà lược bỏ văn chương; hoặc nói nên chuyên cử sách luận mà bỏ thơ phú; hoặc muốn noi theo chuyện cũ nhà Đường, kiêm chọn người có tiếng tăm danh vọng mà bỏ việc phong đề kín tên; hoặc muốn bỏ bọn kinh sinh học lối mộc mạc, không dùng lối chép sẵn chữ mực mà khảo sát đại nghĩa. Mấy điều ấy đều là hạng người chỉ biết một mà không biết hai.
Muốn hưng khởi đức hạnh thì cốt ở bậc làm vua tự tu thân để cảm hóa muôn vật, xét kỹ điều mình ưa ghét để làm gương cho phong tục. Trên hướng về đâu thì dưới tự khom lưng chạy theo đó. Nếu ở dưới đặt ra khoa mục, lập tên gọi để lấy người theo đức hạnh, thì tức là dạy thiên hạ rủ nhau mà làm giả dối. Trên lấy hiếu mà chọn người, thì kẻ dũng cảm sẽ cắt thịt đùi, kẻ nhút nhát sẽ dựng lều ở mộ; trên lấy liêm mà chọn người, thì xe nát ngựa gầy, áo xấu cơm sơ; phàm cái gì có thể trúng được ý trên, thì không việc gì họ không làm tới.
Xét riêng về văn chương, thì sách luận là có ích dụng, thơ phú là vô ích; nhưng xét về chính sự, thì thơ phú, sách luận đều là vô dụng. Tuy vậy, từ tổ tông đến nay, chưa từng bỏ chúng, vì cho rằng đặt phép lấy sĩ, cũng chỉ đến thế mà thôi. Huống chi từ đời Đường đến nay, nhờ thơ phú mà nổi danh làm danh thần thì nhiều không kể xiết, có lỗi gì với thiên hạ mà nhất định phải bỏ nó!
Gần đây sĩ nhân gom góp kinh sử, chắp nối thời vụ, gọi là ‘sách quát’, chờ câu hỏi, chia mục, lục tìm gần hết, đến lúc vào thi thì ăn cắp, sửa đổi đầu đuôi để làm lóa mắt quan coi thi, mà quan coi thi không thể phân biệt được. Lại nữa, lối ấy dễ học. Không có quy củ, chuẩn mực, nên học thì dễ thành; không có luật thanh, đối ngẫu, nên khảo xét thì khó tinh. Lấy hạng sĩ dễ học ấy, giao cho bọn lại khó khảo ấy, thì tệ hại còn hơn thơ phú.
Thông bảng đời Đường vốn là phép tệ. Tuy có cái hay là lấy danh tiếng mà chọn người, khiến dư luận phục, nhưng cũng có cái hại là hối lộ công khai, quyền quý xin xỏ, rốt cuộc khiến ân huệ rời khỏi vương thất, quyền lực về tay cửa riêng, đến giữa đời thì kết thành bè đảng. Thông bảng mà lấy người, há còn đáng tôn sùng sao!
Các khoa lấy người, phần nhiều xuất thân từ ba đường: kẻ có tài văn chương thì đã đổi làm Tiến sĩ; kẻ hiểu nghĩa lý thì đều bỏ sang làm Minh kinh; còn lại đều là hạng chất phác ngu độn, không chịu cảm hóa. Còn như nhân tài thì vốn có số phần nhất định, đem thi hành vào chính sự thì hay dở tự lộ. Nay bọn Tiến sĩ ngày đêm học kinh truyện, tử sử, xuyên suốt, rong ruổi, có thể gọi là bác lắm rồi, nhưng đến khi lâm chính, nào đã từng dùng được một hai phần! Ngoảnh lại nhìn học cũ, đã thành đồ rỗng, thế mà lại muốn khiến hạng người này phân biệt chú sớ, sơ biết đại nghĩa, rồi trông mong họ có thể tăng tiến, thì cũng đã xa vời lắm. Cho nên thần mới nói: mấy điều ấy đều là chỉ biết một mà không biết hai vậy."

Bản nghị dâng lên, Hoàng đế nói: "Trẫm vốn đã nghi ngờ việc này, nay được bản nghị của Thức, thì đã thông suốt rồi." Liền trong ngày triệu vào yết kiến, hỏi: "Hiện nay chính lệnh được mất ở chỗ nào? Dù là lỗi lầm của trẫm, khanh cũng có thể chỉ rõ." Tô Thức đáp: "Bệ hạ cầu trị quá gấp, nghe lời quá rộng, tiến dùng người quá gấp." Hoàng đế kinh sợ nói: "Ba điều khanh nói, trẫm phải suy nghĩ kỹ." Tô Thức lui ra, nói với đồng liêu, Vương An Thạch càng thêm không vui. Hoàng đế muốn dùng Tô Thức tu sửa điều lệ Trung thư, An Thạch nói: "Những điều học và nghị luận của Tô Thức đều khác với thần, nên cho thử làm việc khác thì được." Bèn sai Tô Thức quyền làm Khai Phong phủ Thôi quan, định sẽ làm khó ông bằng công việc. Tô Thức quyết đoán tinh tế, nhanh nhẹn, thanh danh càng vang xa.

Tháng 6, ngày Kỷ Hợi, Liêu chúa đóng quân ở Đặc Cổ Lý.

Ngày Bính Ngọ, Thổ Phồn sang cống nước Liêu.

Ngày Đinh Tị, Ngự sử trung thừa Lữ Hối bị bãi chức. Vương An Thạch nắm quyền chấp chính, phần nhiều thay đổi phép tắc của tổ tông, chăm việc thu góp tài sản của dân, Lữ Hối nhiều lần can gián mà không được.

Trước đó, Trứ tác tá lang Chương Bích Quang dâng lời nói rằng Vương Hạo (岐王顥) nên dời ra ở ngoại để, Hoàng thái hậu nổi giận, Hoàng đế sai trị tội chia rẽ, An Thạch cho là không có tội. Lữ Hối xin giao Bích Quang cho quan lại xét xử, nhưng không theo, bèn dâng sớ hặc tội An Thạch rằng:

Vương An Thạch bề ngoài tỏ ra chất phác quê mùa, bên trong chứa chất xảo trá, kiêu căng cứng cỏi, khinh nhờn bề trên, ngầm độc hại người khác. Thần lược nêu 10 việc:
  1. An Thạch trước đây ở niên hiệu Gia Hựu từng dâng bản bác bỏ công việc không đúng, Ngự sử đài nhiều lần gửi văn thư thúc giục vào tạ tội, hắn ngạo mạn không theo, đến triều Anh Tông vẫn không giữ tiết thần. Khinh nhờn bề trên, vô lễ, đó là một.
  2. An Thạch giữ chức nhỏ, mỗi lần thăng chuyển thì khiêm nhường tránh né không thôi; từ khi làm Hàn lâm học sĩ, lại không nghe thấy cố từ. Tiên đế lâm triều thì hắn có ý muốn về núi rừng ở ẩn một mình; bệ hạ vừa lên ngôi thì hắn lại có niềm vui được hầu cận Kim loan. Sao lại kiêu với trước mà cung kính với sau? Tham danh, ham tiến, đó là hai.
  3. An Thạch hầu ở điện Nhĩ Anh, lại muốn ngồi mà giảng nói, định ép cái tôn nghiêm của vạn thặng, tự lấy cái tôn vị của bậc thầy, không biết lễ nghi trên dưới, phận vua tôi. Ép vua để cầu danh, đó là ba.
  4. An Thạch từ khi ở trong phủ tể tướng, việc không kể lớn nhỏ, đều trái ý với đồng liêu. Hoặc nhân lúc tâu đối, lưu lại trong cung để tiến nói, phần nhiều xin bút phê từ trong cung xuống, việc nào là phải thì vơ công về mình, việc nào là sai thì gom oán về vua. Dùng tình riêng, không công bằng, đó là bốn.
  5. Trước đây Hứa Tuân xử sai một vụ mưu sát, An Thạch hết sức chủ trương, trong vụ vợ mưu sát chồng, hắn dùng lời cung đầu để giảm tội theo điều luật, ôm lòng riêng mà làm hỏng pháp, đó là năm.
  6. An Thạch vào Hàn lâm, chưa từng nghe tiến cử một sĩ nhân nào, chỉ trước hết xưng tài của em là An Quốc, triều đình theo lệ người đứng đầu mà ban ân, hắn còn cho là mỏng, người chủ khảo định văn quyển không ưu, bèn mắc họa bị hãm hại. Đến khi ở trong phủ tể tướng mới được nửa năm, đã phô trương quyền sinh sát, không việc gì không làm tới. Bỏ công, kết đảng chết sống, đó là sáu.
  7. Tể tướng không ký vào chiếu chỉ, là chuyện xưa của bản triều, chưa từng nghe ai làm khác. Chuyên quyền, hại chính, đó là bảy.
  8. An Thạch cùng Đường Giới tranh luận về hình danh trong vụ mưu sát, đến nỗi ầm ĩ, mọi người đều chê An Thạch mà cho Đường Giới là phải. Người trung trực cương nghị, giữ đại thể, không thể dùng miệng lưỡi mà thắng, uất ức mà chết. Từ đó người sợ hãi hắn rất nhiều, dù là Thừa tướng cũng co rút, không dám tranh biện phải trái. Chà đạp đồng liêu, đó là tám.
  9. Tiểu thần Chương Bích Quang dâng lời, bảo Vương Hạo dời ra ở ngoại để, tội chia rẽ vốn không thể không giết, thế mà An Thạch nhiều lần dâng lời nguy hiểm để mê hoặc tai vua. Kết bè gian, a dua kẻ dưới, đó là chín.
  10. Nay kinh phí của bang quốc, then chốt ở Tam ty, An Thạch cùng với các đại thần ở Khu mật đồng chế định điều lệ Tam ty, tuy nói là bàn bạc tài lợi, nhưng thực ra là làm rung chuyển thiên hạ, có hại không có lợi, đó là mười.
Thần thật lo bệ hạ ưa tài biện luận của hắn, lâu ngày dựa cậy. Đại gian được đường, bọn ám tối tụ họp tiến lên, thì người hiền đều bỏ đi, loạn từ đó mà sinh. Vả lại, An Thạch vốn không có viễn lược, chỉ chăm việc đổi mới, lập điều khác người, dùng lời văn để che giấu điều sai, dối trên lừa dưới. Làm lầm lạc sinh dân thiên hạ, ắt là người này, biết rằng nếu hắn ở lâu nơi triều đường, thì không thể có yên tĩnh. Mưu gian của Bích Quang vốn do An Thạch và Lữ Huệ Khanh xui khiến, Bích Quang từng nói to: ‘Nếu triều đình tội ta nặng, ta quyết không tha cho hai người này!’ Vì thế hắn hết sức cứu giúp. Xin xét chỗ ẩn khuất, đem hỏi ở lời bàn của sĩ phu, rồi sau mới biết lời thần là đúng hay sai."''

Hoàng đế lúc ấy đang hết sức trông cậy An Thạch, trả lại chương sớ, Lữ Hối bèn xin từ chức. Hoàng đế bảo Tăng Công Lượng rằng: "Nếu cho Lữ Hối ra ngoài, e An Thạch không yên lòng." An Thạch nói: "Thần đã lấy thân phó cho nước, bệ hạ xử trí có nghĩa, thần đâu dám vì hình tích mà tự nghi, miễn là được đi hay ở!" Bèn cho Lữ Hối ra làm Tri Đặng châu. Tô Tùng phụ trách soạn chế thư, Tăng Công Lượng bảo Tùng rằng: "Khi Bích Quang dâng thư vào năm Trị Bình thứ 4, An Thạch đang ở Kim Lăng, Huệ Khanh coi việc rượu ở Hàng Châu, làm sao có thể dạy hắn được?" Vì thế trong lời chế viết: "Bè đảng tiểu nhân, cùng dâng lời gièm, phóng túng lời dối vua không gốc." Chế ban ra, Hoàng đế trách Tô Tùng, Tùng đem lời của Tăng Công Lượng nói lại, bấy giờ mới biết Bích Quang vào năm Trị Bình là tự nói chuyện khác, không phải việc này.

Khi Lữ Hối sắp dâng lời, Tư Mã Quang từ điện Nhĩ Anh chạy sang đường Tư Thiện, gặp Hối giữa đường, Quang kín hỏi: "Hôm nay ông xin vào chầu, muốn nói việc gì?" Hối nói: "Văn đàn trong tay áo, chính là bản đàn mới dâng." Quang kinh ngạc nói: "Mọi người đều cho là được người, sao lại luận tội ông ta?" Hối nói: "Quân Thực (chỉ Tư Mã Quang) cũng nói như thế sao? An Thạch tuy có tiếng tăm nhất thời, nhưng ưa giữ thành kiến thiên lệch, không thông tình thế, nhẹ tin kẻ gian tà, thích người nịnh mình, nghe lời thì đẹp, đem dùng thì hỏng. Nếu ở hàng thị tòng còn có thể châm chước; đặt ở ngôi tể phụ, thiên hạ ắt chịu họa của ông ta." Quang nói: "Nay chưa có dấu vết rõ ràng, sao không đợi ngày khác?" Hối nói: "Quan gia mới nối ngôi, tuổi còn trẻ, người cùng bàn bạc sớm tối chỉ có hai ba đại thần mà thôi, nếu không phải người thích đáng, sẽ làm hỏng quốc sự. Đây là bệnh ở tim gan, trị chỉ sợ không kịp, sao có thể chậm trễ!" Chương dâng lên, Hối bị giáng mà An Thạch càng ngang ngược, Quang từ đó khâm phục cái nhìn xa của Hối, tự cho mình không bằng. Lữ Hối ba lần giữ chức ngôn quan, đều vì đàn hặc đại thần mà bị bãi. Thiên hạ đều suy tôn ông là cương trực.

Lấy Tri Khai Phong phủ Lữ Công Trứ làm Ngự sử trung thừa.

Vương An Thạch vì anh của Công Trứ là Công Bật không theo mình, bèn tâu dùng Công Trứ làm Trung thừa để ép. Quả nhiên Công Bật hết sức xin từ chức, Hoàng đế không cho.

Sao Thái Bạch vào giếng, ngày Nhâm Tuất, hiện ra ban ngày.

Nước Liêu lấy Nam viện Khu mật sứ Tiêu Duy Tín làm người coi việc Bắc viện Khu mật sứ, sai Bắc viện Khu mật sứ là Ngụy vương Da Luật Y Tốn kiêm giữ chức Thủ Thái sư, phàm bốn phương có việc quân, cho phép Y Tốn được tùy nghi làm việc. Do đó thế lực Y Tốn chấn động trong ngoài, cửa nhà nhận hối lộ không dứt, phàm ai a thuận thì được tiến cử đề bạt, kẻ trung trực thì bị đuổi đày. Người nước Liêu có câu tục ngữ: "Thà trái chiếu chỉ, chớ trái tờ bạch thiếp của Ngụy vương."