Bước tới nội dung

Tục tư trị thông giám/Quyển 69

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tục Tư trị thông giám, quyển 69  (2025)  của Tất Nguyên, do Cơ Như Tuyết dịch
Tống kỷ 69

Từ tháng Giêng năm Nhâm Tí (1072) đến tháng Chạp Quý Sửu (1073), Thần Tông Hi Ninh năm thứ 5 đến năm thứ 6, gồm 2 năm

Năm Hy Ninh thứ 5 (Liêu, năm Hàm Ung thứ 8), Công nguyên năm 1072

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, Bắc bộ của nước Liêu làm phản, chức Tường côn của bộ U Khố Đức Liệt Lặc là Da Luật Sào suất lĩnh quân tiến đánh, ngày Quý Mùi sai sứ báo tin thắng trận. Liêu chúa vì trong chiến trận giết người nhiều, nên cúng cơm cho chư tăng ở Nam Kinh, Trung Kinh.

Ngày Giáp Thân, Liêu chúa đi đến Ngư Nhi Lạc.

Ngày Kỷ Sửu, xuống chiếu cho người Khương hàng phục được trở về nước.

Ngày Kỷ Hợi, đặt lính tuần tra trong Kinh thành, để xét những kẻ phỉ báng, bàn nghị chính sự đương thời, bắt tội họ.

Ngày Tân Sửu, Lang trung Linh Đài thuộc Ty Thiên giám là Kháng Anh tâu rằng: "Trời lâu ngày âm u, sao đi sai độ, nên bãi miễn Vương An Thạch." Hoàng đế đem tờ tâu của Anh giao cho Trung thư, An Thạch bèn xin cáo bệnh. Sau đó hạ chiếu đày Anh đi giam giữ trong lao, hôm sau An Thạch mới chịu ra.

Trong cõi Liêu, từ sau ngày Nhâm Dần, mù mịt u ám liên tiếp nhiều ngày.

Tháng 2, ngày Nhâm Tý, vì Lưỡng Chiết có lụt, ban 10 vạn thạch thóc để cứu tế, lại chiêu mộ dân khai khẩn thủy lợi.

Ngày Bính Thìn, Bắc, Nam Khu mật viện nước Liêu tâu rằng không có việc gì để trình bày. Lúc ấy Da Luật Di Tốn nắm quyền, quần thần đều sợ, không ai dám nói điều xấu của y, chỉ có tông thất bên hậu mới dám chống lại. Di Tốn thường ngày uất ức không vui.

Ngày Nhâm Tuất, Liêu chúa bàn công lao đánh dẹp bộ Bắc, lấy Tường côn bộ U Khố Đức Liệt Lặc là Da Luật Sào cho biết việc Bắc viện Đại vương, lấy Đô giám Tiêu A Lỗ Đãi làm Tường côn bộ U Khố Đức Liệt Lặc, gia chức Thượng tướng quân Vệ Tả Giám môn.

Ngày Quý Hợi, sao Thái Bạch hiện ra ban ngày.

Ngày Bính Dần, lấy Tri Trịnh châu Lữ Công Bật làm Nam viện Tuyên huy sứ, kiêm Phán Tần châu; Long Đồ các Trực học sĩ, Tri Vị châu Thái Đĩnh làm Khu mật phó sứ. Đĩnh ở Vị châu, kê tra quân cấm binh, đều cho qua phủ, không để có sự chiếm giữ giấu giếm. Lập điện Cần Vũ, luân phiên các tướng 5 ngày một lần dạy dỗ duyệt tập, phép tắc hàng ngũ, chiêng trống rất đầy đủ. Tích trữ quân tinh nhuệ ở trong hàng ngũ, khi gặp việc dùng kỳ binh thì tách ra làm một đội riêng xuất chiến. Giáp binh chỉnh tề luyện tập, thường như lúc giặc đến. Khi ấy binh sĩ có thiếu, xuống chiếu chiêu mộ 3.000 người. Đĩnh tâu: "Binh sĩ không nhất thiết phải bổ sung. Nên lấy nghĩa dũng 4 châu Kinh, Vị, Nghi, Nguyên chia làm 5 phiên, mỗi phiên 3.000 người, phòng bị mùa thu thì từ ngày Rằm tháng 8 đến, tháng 9 bãi; phòng bị mùa xuân thì từ ngày Rằm tháng Giêng đến, tháng 3 bãi, xoay vòng như thế. So với việc chiêu mộ binh sĩ, thì tiết kiệm được nhiều." Triều đình theo đó. Mỗi năm tiết kiệm được thóc, lụa, tiền hơn 13 vạn.

Đĩnh lại kê thu 1.800 khoảnh ruộng hoang dọc biên giới bị người lén cày, chiêu mộ người cày cấy, để tăng thêm lương trữ nơi biên thùy; lấy 8.000 khoảnh ruộng mà dân biên giới lén mua bán của các bộ Phiên, cấp cho cung tiễn thủ nuôi ngựa. Ngoài hào quân Trấn Nhung có gò đất, Đĩnh nhân chỗ hiểm mà đắp đồn, dựa cao nhìn bốn phía, do đó dò xét giặc qua lại, khai khẩn 2.000 khoảnh đất màu mỡ, chiêu mộ 3.000 cung tiễn thủ cày cấy giữ đất, ban tên là đồn Hy Ninh.

Thám báo nói người nước Hạ mấy vạn tụ tập ở sông Hồ Lô, Đĩnh xuất kỳ binh nghênh đánh, bèn làm cho tan vỡ; sai 4 tướng chia đường truy kích, phá 7 bộ tộc của chúng. Người Hạ lại xâm phạm các đồn, quân Hoàn Khánh không thể chống giữ, Đĩnh sai Trương Ngọc đem 1 vạn quân đi giải vây. Quân Khánh châu làm biến, Quan Trung đại loạn, Đĩnh đánh dẹp yên ổn. Hoàng đế nói: "Quân Khánh làm loạn mà không đến nỗi hung hăng tàn bạo, đó là nhờ sức Kinh Nguyên vậy." Thăng Đĩnh làm Long Đồ các Trực học sĩ. Đĩnh tự cho mình có công lao, lâu ngày ở biên, uất ức không được như chí, gửi ý vào từ khúc, có câu “Ngọc quan nhân lão” (người ở ải Ngọc đã già), Trung sứ đến, Đĩnh khiến ưu nhân hát khúc ấy để truyền đạt vào cung cấm. Hoàng đế nghe mà thương xót, nên mới có việc bổ nhiệm này.

Ngày Mậu Thìn, nước Liêu vì mất mùa đói kém, miễn tô thuế châu Vũ An, cứu tế dân các châu Ân, Úy, Thuận, Huệ.

Tháng 3, ngày Giáp Ngọ, Nam Bình vương Lý Nhật Tôn mất, con là Càn Đức nối ngôi. Nhật Tôn là cháu nội Công Uẩn. Nhật Tôn mất, Càn Đức còn nhỏ, mẹ là Thái phi Lê Thị Yến cùng hoạn quan Lý Nhược Cát cùng nắm việc nước. Tin buồn đến, triều đình sai sứ sang điếu và ban tặng.

Ngày Mậu Tuất, Phán Nhữ châu Phú Bật xin về hưu.

Bật đến Nhữ châu được 2 tháng, liền dâng sớ nói: "Tân pháp thần không hiểu, không thể dùng để trị một quận, xin về Lạc Dương dưỡng bệnh." Triều đình cho phép. Bật tuy ở nhà, nhưng triều đình có việc lợi hại lớn, điều gì biết đều nói hết. Hoàng đế tuy không hoàn toàn dùng theo, nhưng sự ưu ái lễ đãi không suy giảm. Vương An Thạch từng có điều kiến nghị, Hoàng đế bác đi, nói: "Phú Bật có tay sớ nói ‘Lão thần không có gì để tâu bày, chỉ ngửa mặt than thầm’, ắt là việc này vậy." Kính trọng ông đến như thế.

Ngày Quý Mão, quan hữu ty nước Liêu tâu: "Ba châu Xuân, Thái, Ninh Giang có hơn 3.000 người nguyện làm tăng ni, thọ Cụ túc giới." Liêu chúa sùng phụng Phật giáo, có tăng được phong làm Tư đồ, Tư không, nên một thời phong tục chuộng như thế.

Ngày Bính Ngọ, thi hành pháp Thị dịch.

Từ khi Vương Thiều khởi xướng thuyết Thị dịch dọc biên giới, Vương An Thạch cho là hay, cho rằng giống với pháp Bình chuẩn của nhà Hán, có thể điều tiết giá vật cao thấp mà làm cho lưu thông đều đặn, bèn dùng ý kiến của kẻ ẩn dật là Ngụy Kế Tông, lấy tiền lụa của Nội tàng khố đặt Thị dịch vụ ở Kinh sư. Phàm hàng hóa có thể mua bán và những thứ ứ đọng trong dân mà không bán được, thì định giá bình quân mà mua, ai muốn đổi lấy vật của quan thì cho phép. Căn cứ vào giá trị vật cầm cố nhiều ít mà chia đều cho vay, ước định hạn trả, mỗi năm lấy lãi 2 phần mà nộp lại. Lấy Phán quan Hộ bộ Lữ Gia Vấn làm Đề cử. Gia Vấn dâng 13 điều về việc lập đặt, trong đó có một điều nói: "Nhà hào phú kiêm tính thì càng cố chấp việc lấy lợi, khiến Thị dịch vụ phát giác, tâu lên Tam ty, chiếu pháp mà xử." Hoàng đế xóa bỏ điều này. Ngự sử Lưu Hiếu Tôn nói: "Ở đây thấy được Hoàng thượng khoan nhân yêu dân đến mức cùng cực." An Thạch nói: "Hiếu Tôn ca tụng việc này, cho là thánh chính, thần ngu dại trộm cho rằng đây chính là chỗ khiếm khuyết của thánh chính vậy." Từ đó, các thứ chiếu cống lên các châu như chiếu cói, sậy vàng, đều cho tính giá, tùy theo dân tự nguyện mà mua để cung cấp dùng. Sau đó đổi Thị dịch vụ ở Kinh thành làm Đô đề cử Thị dịch ty, 6 Thị dịch ty ở Tần Phụng, Lưỡng Chiết, Sở châu, Thành Đô, Quảng châu, Vận châu đều thuộc về đó.

Ngày Mậu Thân, Quần mục sứ Lý Túc Chi làm Tri Vĩnh Hưng quân. Hoàng đế răn bảo phải vỗ về an ủi cả một đạo, Túc Chi nói: "Từ nay triều đình dùng Thường bình, Trợ dịch mà quấy nhiễu châu huyện đó thôi." Hoàng đế không vui.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Canh Tuất mồng 1, lập phép khảo thí Xuân Thu về hạng nhất hạng nhì đối với quân Mã bộ quân tiền điện.

Ngày Nhâm Tý, nước Liêu cứu tế dân đói 2 châu Nghĩa, Nhiêu.

Ngày Đinh Tị, Liêu chúa đóng quân ở Tháp Lý Xá.

Ngày Kỷ Mùi, kê thu ruộng hoang.

Tri Định châu Đằng Phủ tâu: "Các châu huyện Hà Bắc gần núi khe, trong dân đều có các xã cung tiễn và người săn bắn, quen thuộc thuận tiện, không khác gì người Phiên. Xin hạ lệnh cho đạo này, các châu huyện đều chiêu mộ các hạng công nhân, cùng dân thành quách, thôn xóm, ai có võ dũng, nguyện tập cung tiễn, thì tự lập xã. Mỗi năm vào mùa xuân, quan trưởng đến duyệt xét. Người phương Bắc cường kiện hung hãn, khi khẩn cấp có thể dùng được." Triều đình theo đó.

Ngày Đinh Mão, sông Nhị Cổ đào xong, sâu 10 trượng, rộng 400 thước. Lúc đào sông, thì dần dần ngăn chỗ nước vỡ, đến nay nước chảy vào sông, mà chỗ vỡ cũng lấp.

Ngày Kỷ Mão, Liêu chúa đến Thanh Thử Đặc Cổ Lý.

Tháng 5, ngày Tân Tị, đổi trại Cổ Vị làm Thông Viễn quân. Hoàng đế có chí khôi phục Hà Lũng, gặp lúc Đô giám Định châu là Trương Thủ Ước xin lấy Cổ Vị làm quân, Hoàng đế theo đó, lấy Vương Thiều làm Tri quân sự, thi hành phép giáo duyệt.

Xuống chiếu: "Tông thất không phải thân thích đến mức cởi áo để tang mới được dự thi; lần đầu khảo thí thì loại bỏ những người văn lý không thành, những người còn lại cho khảo lại; nhiều lần khảo lại mà không trúng, cũng tùy tài mà cất nhắc dùng."

Ngày Nhâm Ngọ, Tấn vương nước Liêu là Da Luật Nhân Tiên mất, sai gia nhân lo việc mai táng sơ sài. Nhân Tiên từ khi được Hiển Tông biết đến, liền lập công tích, lòng người đều hướng về. Liêu chúa lúc đầu vì việc định nạn mà rất trọng đức của ông; sau rốt bị Da Luật Di Tốn gièm pha, bị đuổi ra ngoài, không được dùng hết tài, đương thời tiếc cho ông.

Ngày Canh Dần, lấy Đại thủ lĩnh Thanh Đường là Bao Thuận làm Tây đầu Cung phụng quan.

Ngày Tân Mão, Vương An Thạch dâng trình thư của Vương Thiều; Thiều nói đã mở rộng đất 1.200 dặm, chiêu dụ hơn 30 vạn người quy phụ. Hoàng đế cùng An Thạch bàn rằng người có tài không thể để ở chỗ nhàn rỗi, nhân đó nói Hán Vũ Đế cũng biết dùng người. An Thạch nói: "Chỗ thấy của Vũ Đế thấp, nên tướng soái mà ông ta dùng chỉ đến bọn Vệ, Hoắc, đến nỗi hộ khẩu thiên hạ giảm một nửa, mà cũng không thể diệt được Hung Nô." Hoàng đế nói: "Vũ Đế là tự mình quá nhiều dục vọng đó thôi." An Thạch nói: "Dục vọng cũng không hại được chính sự. Như Tề Hoàn Công cũng nhiều dục vọng, nhưng đặt bày phương lược, vẫn không mất chỗ bá chủ thiên hạ, là vì biết dùng người vậy." Hoàng đế nói: "Hán Vũ đến mức bất nhân, vì một con ngựa mà làm nhọc quân đi vạn dặm, người được phong hầu hơn 70 người, coi mạng người như cỏ rác, cho nên hộ khẩu giảm một nửa. Mạng người là rất trọng, đức lớn của trời đất là sinh, há có thể như thế sao!"

Ngày Nhâm Thìn, vì Tri Đường châu Triệu Thượng Khoan cùng những người trước đây giữ Đường châu khai ruộng, khơi nước có công, tăng bậc lương, để khuyến khích thiên hạ.

Ngày Bính Ngọ, sao Thái Bạch hiện ra ban ngày.

Thi hành pháp Bảo mã.

Vương An Thạch khởi xướng việc này, Văn Ngạn Bác, Ngô Sung cho là không tiện, An Thạch càng giữ vững ý kiến. Bèn xuống chiếu cho các huyện thuộc địa giới Khai Phong phủ, các hộ Bảo giáp, ai nguyện nuôi ngựa thì cho phép, lại lệnh lấy ngựa mua ở Thiểm Tây chọn cấp cho. Bấy giờ Tăng Bố cùng những người khác dâng điều khoản, phàm nghĩa dũng, Bảo giáp 5 lộ Thiểm Tây, hộ nào nguyện nuôi ngựa thì 1 con, hộ có tài lực cao, nguyện nuôi 2 con thì cho, đều lấy ngựa hiện có ở Giám mục cấp cho, hoặc quan cho tiền để tự mua. Trước hết thi hành ở Khai Phong phủ và 5 lộ Thiểm Tây, địa giới phủ không quá 3.000 con, 5 lộ không quá 5.000 con. Ngoài việc đuổi bắt giặc cướp, thì cấm cưỡi vượt quá 300 dặm. Mỗi năm một lần xét ngựa béo gầy, ngựa chết bệnh thì phải bù. Ở địa giới phủ thì miễn nộp 250 bó cỏ, lại cấp thêm tiền vải; ở 5 lộ thì mỗi năm miễn tiền nộp do đổi nộp. Hạng 3 trở lên, 10 hộ làm một Bảo, hạng 4 trở xuống, 10 hộ làm một Xã, để chờ khi ngựa bệnh chết mà bù. Ngựa của hộ Bảo chết, hộ Bảo tự bồi thường; ngựa của hộ Xã chết, hộ Xã bồi thường một nửa. Về sau phép này thi hành khắp các lộ.

Tháng 6, ngày Nhâm Tý, Tư không kiêm Thị trung, Hà Dương Tam thành Tiết độ sứ, Phán Vĩnh Hưng quân Tăng Công Lượng, lấy hàm Thái phó về hưu.

Ngày Giáp Dần, nước Liêu cứu tế dân nghèo châu Dịch, rồi lần lượt đến Trung Kinh và Hưng Trung phủ đều được cứu tế.

Ngày Quý Hợi, xuống chiếu chia Kinh nghĩa, Luận, Sách làm 4 trường để thi Tiến sĩ.

Ngày Bính Dần, làm thẻ Đồng ngư ở cửa thành Kinh sư.

Ngày Giáp Tuất, nước Liêu lấy Khu mật phó sứ Da Luật Quan làm Tham tri chính sự, kiêm Tri Nam viện Khu mật sứ sự. Lúc ấy Tể tướng Bắc phủ là Dương Tích nhiều lần dâng biểu xin về, Liêu chúa không cho, phong làm Triệu vương.

Khu mật viện tâu rằng thời Nhân Tông từng lập Võ học, xin khôi phục lại. Ngày Ất Hợi, xuống chiếu đặt Võ học ở miếu Võ Thành vương, chọn quan văn võ am hiểu binh pháp làm Giáo thụ.

Ngày Đinh Sửu, Cao Ly sai sứ sang cống nước Liêu.

Tháng này, sông tràn ở Bắc Kinh Hạ Tân.

Mùa thu, tháng 7, ngày Kỷ Mão, nước Liêu vì Kỷ châu Kỷ Văn Cao 8 đời cùng ở chung, ban lệnh phong tước.

Ngày Nhâm Ngọ, xuống chiếu lấy Khoát hóa vụ làm Thị dịch Tây vụ Hạ giới, Thị dịch vụ làm Đông vụ Thượng giới.

Ngày Tân Mão, xuống chiếu: "Các Ty Thương thuế ở Kinh sư, chợ tạp mại, Ty tạp mãi, đều thuộc về Đề cử Thị dịch vụ."

Ngày Bính Thân, nước Liêu cứu tế dân đói châu Nhiêu.

Ngày Đinh Dậu, Liêu chúa đi đến Hắc Lĩnh.

Ngày Nhâm Dần, lấy Tăng Hiếu Khoan làm Sử quán Tu soạn, kiêm Khu mật Đô thừa chỉ. Chức Đô thừa chỉ trước đây vốn dùng võ thần, từ Hiếu Khoan mới bắt đầu dùng văn thần kiêm nhiệm.

Tháng này, Biên tu Tam ty Sắc điều lệ San định quan là Quách Phùng Nguyên dâng sớ rằng: "Hoàng thượng vốn đã coi Vương An Thạch như thầy, mà lại khiến ông ấy từ canh năm vào triều, tất tả vội vã bái lạy, giữ phận thường quân thần, thần chưa hiểu được." Lại nói: "Tể tướng thay trời trị vật, không gì không thống nhiếp, nên bãi Khu mật viện, gộp về Trung thư. Nay An Thạch giữ trọng trách Tể phụ, triều đình có việc lập đặt, lại riêng bị Khu mật ràng buộc mà không được dự, thần e rằng chỗ Hoàng thượng ủy nhiệm An Thạch chưa được chuyên vậy." Sớ dâng lên, Hoàng đế rất không vui. Hôm khác, nói với An Thạch rằng: "Phùng Nguyên ắt là người khinh bạc." An Thạch hỏi: "Sao biết được?" Hoàng đế nói: "Xem tờ sớ dâng, muốn gộp cả Khu mật viện." An Thạch nói: "Nhân tài khó được, như Phùng Nguyên cũng là người hiểu việc, có thể thử dùng."

Ngày Đinh Mùi, Liêu chúa đem bản thân viết tay “Hoa Nghiêm ngũ tụng” đưa ra cho quần thần xem.

Tháng nhuận, ngày Canh Tuất, sai Trung thư Kiểm chính quan Chương Đôn đi tra xét đường Hồ Bắc. Hoàng đế muốn dùng binh để uy hiếp tứ di, Ti điểm hình ngục Hồ Bắc là Triệu Đỉnh dâng tấu nói thổ tù động ở Hạp châu bóc lột quá độ, bọn Man muốn nội phụ. Kẻ áo vải ở Thần châu là Trương Kiều cũng dâng thư nói lợi hại sông Nam, sông Bắc. Bèn xuống chiếu cho Đôn đi tra xét, kinh lý việc Man.

Lúc ấy sông Bắc thì họ Bành làm chủ, có 20 châu; sông Nam thì họ Thư có 4 châu, họ Điền có 4 châu, họ Hướng có 5 châu, đều từ thời Thái Tổ đến nay nhận mệnh triều đình, thuộc Thần châu mà vào cống. Đến khi Đôn đến kinh lý, bọn Man nối tiếp nhau dâng đất, nguyện làm dân vua, bắt đầu dựng thành trại, so với nội địa rồi vậy.

Ngày Tân Hợi, Hoàng đế nhân vì sông tràn, nói với các phụ thần rằng: "Nghe nói Kinh Đông điều phu sửa sông, có người vì thế mà phá sản, Hà Bắc điều phu gấp càng nhiều; nếu sông lại vỡ, thì làm sao? Huống chi sông vỡ chẳng qua chiếm một dải đất sông, hoặc tây hoặc đông, lợi hại không hơn kém, cứ để mặc cho nó chảy về đâu thì sao?" Vương An Thạch nói: "Nếu không ngăn dòng chảy về bắc, thì chiếm ruộng công tư rất nhiều. Lại nước tràn lan, lâu ngày lại bồi lấp. Trước đây đào sông Nhị Cổ, tốn kém ít mà ruộng công tư đều lộ ra, chỗ trước kia mặn chua đều thành đất màu mỡ, há chẳng phải là lợi sao? Huống chi phu gấp năm nay đã giảm so với năm trước, nếu lại tu sửa đê điều, thì phu dịch Hà Bắc mỗi năm càng giảm vậy." Hoàng đế cho là phải.

Chương Đôn kinh lý Khuất Di, khinh nhờn quận huyện, quan lại không ai dám cùng ông ta nói chuyện. Tri Nam Xuyên huyện là Trương Thương Anh, khí phách phóng khoáng, coi thường việc đời; Bộ sứ giả nghĩ chỉ có Thương Anh đủ sức chống Đôn, bèn gọi đến Khuất, cho gặp Đôn. Thương Anh mặc đạo bào, chắp tay dài rồi mới ngồi. Đôn buông lời lớn lối, Thương Anh tùy cơ bác lại, vượt hẳn lên trên. Đôn rất vui, mời làm thượng khách, tiến cử với Vương An Thạch, được triệu vào chầu, bổ làm Quang Lộc tự khanh, sau gia Thái tử Trung doãn, Quyền Giám sát ngự sử Lý hành. Thương Anh dâng sớ nói: "Hoàng thượng từ khi lên ngôi đến nay, thay đổi sửa sang đến mấy chục, mấy trăm việc, trong đó lớn nhất có 3 việc: một là Miễn dịch, hai là Bảo giáp, ba là Thị dịch. Ba việc ấy, nếu được người thích hợp, làm chậm rãi mà bàn, thì là lợi; không được người thích hợp, làm gấp mà thành, thì là hại. Xin Hoàng thượng cùng đại thần yên tĩnh nghỉ ngơi, chọn người rồi hãy thi hành. Nếu một việc chưa xong, một việc khác lại khởi, thì dù cho Bì Thầm ra đồng mà mưu, Mặc Địch cầm thẻ mà tính, rốt cuộc cũng không thấy được thành công."

Ngày Nhâm Tý, xuống chiếu: "Học sinh Võ học lấy 100 người làm ngạch, gặp trước khoa trường 1 năm, giao cho Khu mật viện hạ chiếu, lệnh Võ thần Lộ phân Đô giám và văn thần từ Chuyển vận phán quan trở lên, mỗi người tiến cử 1 người có thể dự Võ cử, người được tiến cử nếu gặp lúc thiếu học sinh, nguyện vào học, thì cho phép."

Ngày Bính Thìn, Quyền Giám sát ngự sử Lý hành Trương Thương Anh tâu: "Phán Hình bộ Vương Đình Quân lập pháp, phàm châu chấu gây hại, phải bắt hết mới được tâu. Nay Đại Danh phủ, các châu Kỳ, Bảo, Hình, Mạc, Thuận An, Bảo Định quân tâu lên, cộng 49 tờ, mà 39 tờ vì chưa bắt hết, nên Viện Tiến tấu cho là không hợp pháp, không dám tâu lên. Châu chấu gần như khắp Hà Sóc, mà bọn lại ở Ty Tiến tấu câu nệ văn thư, phong trả tấu thư, nhất định đợi đến khi đập hết mới cho tâu. Hoàng thượng nếu muốn vào lúc này sợ hãi tu tỉnh, trên để đáp thiên giới, dưới để thương nỗi khổ của dân, thì cũng đã muộn vậy." Ngự bút phê: "Lệnh Viện Tiến tấu truyền chỉ khắp các Lộ Chuyển vận, An phủ ty, từ nay về sau có tai hại, lệnh nơi đó vẽ tấu đồ trình ngay." Vương An Thạch nói: "Các Lộ An phủ ty có vô số việc phải kinh lý, lại đâu rảnh mà quản việc ghi chép tấu tai hại?" Hoàng đế cười mà không đáp.

Trước đó, Nội phê giao cho An Thạch: "Nghe nói Thị dịch mua bán quá hà khắc tỉ mỉ, dân buôn xôn xao oán trách, cho rằng quan ty dần dần thu hết hàng hóa thiên hạ, tự mình kinh doanh, có thể lệnh chỉ theo đúng bản vạch ban đầu của Ngụy Kế Tông mà thi hành." Bấy giờ An Thạch lưu lại tâu với Hoàng đế rằng: "Ắt là có việc thực, xin ban cho xem." Hoàng đế nói: "Nghe nói Khoát hóa bán nước đá, khiến dân bán tuyết đều không bán được; lại nghe nói mua lược gỗ thì lược gỗ đắt, mua dầu mè thì dầu mè đắt; lại nghe nói đặt tiền thưởng, bắt người không đến Thị dịch ty mua bán." An Thạch nói: "Nếu quả như thế, thì là thần muốn dùng việc tụ lũy mà làm sai Hoàng thượng vậy. Hạnh kiểm của thần vốn Hoàng thượng đã biết, sao lại có việc ấy được?" Hoàng đế nói: "E rằng người được sai khiến chưa hiểu ý triều đình, cần phải xét kỹ hơn." An Thạch nói: "Việc này đều có dấu vết, xin cho thần tra xét kỹ càng, rồi sẽ có tấu trình riêng."

Ngày Tân Mùi, Liêu chúa bắn gấu ở núi Cừ Dương. Chương Quốc quân Tiết độ sứ Da Luật Phổ Tích yết kiến ở hành cung. Liêu chúa hỏi việc biên giới, Phổ Tích nói: "Từ phía nam Ứng châu đến Thiên Trì, đều là đất ta cày cấy chăn thả, thời Thanh Ninh, do biên tướng không cẩn thận mà bị người Tống xâm lấn, đài phong hỏa, đồn canh dời vào trong, dường như không nên như thế." Liêu chúa cho là phải, phong Phổ Tích làm Bắc diện Lâm nha.

Ngày Giáp Tuất, đổi Tri Thanh châu Triệu Biện làm Tư chính điện Đại học sĩ, Tri Thành Đô phủ. Lúc ấy Thành Đô lo về quân đồn trú, triều đình chọn đại thần được người Thục tin yêu, nên bổ Biện. Triệu vào chầu, Biện xin được làm việc theo quyền biến, hôm ấy liền từ biệt ra đi. Đến Thục, việc trị càng chuộng khoan hậu, kín đáo kinh lược, mà lúc yến ủi lúc nhàn rỗi thì như ngày thường, binh dân yên ổn. Dân Kiếm châu là Lý Hiếu Trung tụ tập hơn 200 người, tự làm phù điệp, độ dân làm tăng. Có người cáo là mưu nghịch, án đã thành, Biện không giao cho pháp quan, mà theo ý mình quyết đoán, chỉ xử Hiếu Trung tội tự độ, những người khác đều không hỏi.

Tháng 8, ngày Giáp Thân, Quan văn điện Học sĩ, Thái tử Thiếu sư về hưu là Âu Dương Tu mất. Thái thường ban đầu đặt thụy là Văn, để phối với Hàn Dũ. Thường Tích khi ấy kiêm Thái thường, với Tu có hiềm khích, bèn nói Tu có công định sách, xin gia thêm chữ “Trung”, thực ra là để đè nén ông. Tu thiên tư cương nghị, thấy nghĩa thì dũng cảm làm, bị giáng đày đến hai ba lần, chí khí vẫn như cũ. Trị quận thì khoan mà không rối, đến đâu dân cũng được lợi. Có người hỏi: "Cai trị khoan giản mà việc không buông bỏ, là thế nào?" Tu nói: "Nếu coi phóng túng là khoan, coi sơ lược là giản, thì chính sự buông bỏ mà dân chịu hại. Cái ta gọi là khoan, là không làm khắt khe gấp gáp; giản, là không làm rườm rà vụn vặt đó thôi." Ông khuyến khích nâng đỡ người sau, như sợ không kịp. Tăng Củng, Vương An Thạch, Tô Tuân, hai con Tuân là Thức, Triệt, khi còn áo vải ẩn dật, chưa được người biết, Tu đã truyền dương thanh danh của họ, nói ắt sẽ hiển đạt ở đời. Văn chương của ông phong phú mà tiết độ, lời lẽ giản dị mà sáng sủa, chân thực mà thông suốt, từ sau Ngũ đại, văn thể suy hèn, đến ông thì thay đổi, trở lại với cổ. Vài ngày sau khi Tu mất, xuống chiếu tìm bộ “Ngũ đại sử ký” do ông soạn, sau cho cùng lưu hành với bộ “Ngũ đại sử” do quan tu soạn.

An phủ sứ dọc biên giới Tần Phụng lộ là Vương Thiều dẫn quân đắp thành ấp Vị Nguyên bảo, phá Mông La Giác, rồi đắp thành Khất Thần Bình, phá bộ tộc Mạt Nhĩ Thủy Ba. Ban đầu, người Khương đều giữ chỗ hiểm, các tướng bàn đặt trận ở đất bằng, Thiều nói: "Giặc không bỏ chỗ hiểm mà đến đánh, thì quân ta ắt về không. Nay đã vào đất hiểm, nên khiến chỗ hiểm thành của ta." Bèn đi thẳng đến núi Mạt Bang, vượt Trúc Ngưu lĩnh, áp sát quân giặc mà bày trận, ra lệnh: "Ai dám nói lui thì chém!" Sai mọi người xuống ngựa nghỉ một lát. Giặc dựa cao đánh xuống, quân hơi lui. Thiều vẫy quân tùy tùng đánh, người Khương tan chạy, đốt lều trại của chúng, vùng Tây Đào chấn động. Gặp lúc Mã Nhĩ Tiển vượt sông Đào đến cứu, dư đảng lại tụ tập. Thiều sai tướng khác theo đường Trúc Ngưu lĩnh bày quân thanh thế, còn mình thì bí mật đem quân vượt Vũ Thắng, gặp thủ lĩnh Mã Nhĩ Tiển là Hạt Dược cùng những người khác, giao chiến, phá được, rồi đắp thành Vũ Thắng. Thiều tâu rằng: "Sắp đặt việc sông Đào, chỉ dùng tiền lãi của Hồi dịch tức tức, chưa từng tự tiện dùng vốn của quan." Văn Ngạn Bác nói: "Thợ xây nhà, lúc đầu tất tính ít, mong người dễ động công. Đến khi công trình đã khởi, biết không thể dừng, mới bắt đầu tăng thêm." Hoàng đế nói: "Nhà hư há có thể không sửa!" Vương An Thạch nói: "Người chủ việc tính toán giỏi, tự có chỗ cân nhắc, há lại bị thợ lừa sao!" Ngạn Bác không dám nói nữa. Từ đó Thiều tiến đánh, thường buông lời dối trá, triều đình không cùng tính toán tài chính.

Ngày Nhâm Thìn, lấy Vũ Thắng quân làm Trấn Đào quân.

Ngày Ất Mùi, xuống chiếu lệnh Thị tòng và các Giám tư các lộ mỗi người tiến cử 1 người có tài hạnh.

Ngày Kỷ Hợi, xuống chiếu: "Kinh Tây chia làm 2 lộ Nam, Bắc, 8 châu Tương, Đặng, Tùy, Phòng, Kim, Quân, Dĩnh, Đường làm Nam lộ, Tây Kinh, Hứa, Mạnh, Trần, Nhữ, Thái, Nhuệ 7 châu và Tín Dương quân làm Bắc lộ."

Ngày Quý Mão, giáng Thái tử Trung doãn, Đồng tri Gián viện Đường Quynh làm Biệt giá Triều châu. Ban đầu, Vương An Thạch thích Quynh, bảo Đặng Hoán tiến cử làm Ngự sử. Vài tháng sau, sắp dùng làm Gián quan, An Thạch nghi Quynh khinh bạc, sẽ phản mình để lập danh, nên không bổ chức, chỉ lấy bản quan làm Đồng tri Gián viện, trái với lệ cũ. Quynh quả nhiên giận An Thạch coi thường mình, dâng tổng cộng 20 sớ luận thời sự; đều lưu lại trong cung không đưa ra. Quynh bèn nhân ngày bá quan vào chầu vấn an, gõ cửa xin được yết kiến, Hoàng đế sai bảo hôm khác, Quynh phục xuống đất không đứng dậy, bèn triệu lên điện. Quynh đến trước ngai, tiến lên nói: "Những điều thần nói đều là đại thần không hợp pháp, xin trước mặt Hoàng thượng trình bày từng điều một." Bèn cài hốt, mở sớ, nhìn An Thạch nói: "Vương An Thạch đến gần trước ngai nghe tấu!" An Thạch chần chừ, Quynh quát: "Trước mặt bề trên còn dám như thế, ở ngoài thì biết thế nào!" An Thạch cay đắng mà tiến lên. Quynh lớn tiếng đọc, tổng cộng 60 điều, đại để nói: "An Thạch chuyên làm uy phúc, Tăng Bố trong ngoài chuyên quyền, thiên hạ chỉ biết sợ An Thạch, không còn biết có Hoàng thượng. Văn Ngạn Bác, Phùng Kinh biết mà không dám nói, Vương Khuê uốn mình thờ An Thạch, không khác gì kẻ hầu hạ." Vừa đọc vừa nhìn Khuê, Khuê thẹn sợ cúi đầu. Lại nói: "Nguyên Cương, Tiết Hướng, Trần Dịch, An Thạch nhướng mày sai khiến, không khác gì gia nô; Trương Tảo, Lý Định là móng vuốt của An Thạch, Trương Thương Anh là chim chó săn của An Thạch. Kẻ trái ý thì dù hiền cũng coi là bất tiếu, kẻ theo mình thì dù bất tiếu cũng coi là hiền." Đến mức mắng An Thạch là Lý Lâm Phủ, Lư Quỳ. Hoàng đế nhiều lần ngăn, Quynh vẫn hào sảng như cũ. Đọc xong, lạy hai lạy rồi lui. Môn quan bắt lỗi ông làm loạn triều nghi, giáng làm Biệt giá Triều châu. Đặng Hoán dâng sớ cứu, lại tự trách mình tiến cử sai. An Thạch nói: "Đó vốn là kẻ cuồng si, không đáng trách." Đổi làm Giám Quảng châu Quân tư khố.

Ngày Giáp Thìn, Vương Thiều phá Mã Nhĩ Tấn ở thành Củng Lệnh, khiến bộ lạc của y hơn 2 vạn người quy hàng.

Hoàng đế lo thuế ruộng không đều, xuống chiếu lệnh Ty Tư nông định lại pháp Phương điền và Quân thuế, ban hành khắp thiên hạ.

Pháp Phương điền, lấy đông tây nam bắc mỗi bên 1.000 bộ, tính là 1 phương, tương đương 41 khoảnh 66 mẫu 160 bộ. Mỗi năm vào tháng 9, huyện sai Lệnh, Tá chia đất đo đạc, tùy theo gò đồi, đồng bằng, đầm lầy mà định loại đất, căn cứ đất đỏ, đất đen mà phân biệt màu đất. Đo đạc xong, lấy loại đất và màu đất để xét định tốt xấu, chia làm 5 hạng để định phép thuế. Đến tháng 3 năm sau thì xong, niêm yết cho dân xem, một quý không có kiện tụng, thì ghi vào thẻ hộ, kèm theo sổ trang giao cho, làm phù hiệu ruộng đất. Pháp Quân thuế, mỗi huyện lấy số thuế ruộng làm hạn mức. Trước đây thu gom những số lẻ, như gạo không đủ 10 hợp mà thu làm 1 thăng, lụa không đủ 10 phần mà thu làm 1 thốn, nay không được dùng những số ấy để chia đều mà tăng thêm, khiến vượt quá hạn cũ, phàm những số vượt hạn đều cấm. Những nơi đất xấu mặn không sinh lợi, cùng núi rừng, ao đầm, đường rãnh, mồ mả mà mọi người cùng hưởng lợi, đều không lập thuế. Phàm góc của ruộng phương, đắp đất làm mốc, trồng cây thích hợp với vùng đó để làm dấu, có Phương trướng, có Trang trướng, có Giáp thiếp, có Hộ thiếp, có việc chia khói tách sản, cầm bán cắt chuyển, quan cấp khế ước, huyện lập sổ, đều lấy ruộng đã đo theo pháp Phương điền hiện nay làm chuẩn. Lệnh đã xong, bèn lấy Úy huyện Cự Dã là Vương Mạn làm Chỉ giáo quan, trước thi hành ở Kinh Đông lộ, các lộ khác noi theo.

Tháng 9, ngày Quý Sửu, cho phép Tông thất thi đổi Văn tư.

Ngày Quý Hợi, bắt đầu ngự tiện điện, đích thân xem xét kỹ thuật võ nghệ của các quân.

Ngày Giáp Tý, Liêu chúa đi đến Ấu Ty Điện.

Ngày Đinh Mão, ban chiếu: "Hoài Nam chia làm 2 lộ Đông, Tây. 10 châu Dương, Bạc, Túc, Sở, Hải, Thái, Tư, Trừ, Chân, Thông thuộc lộ Đông; 8 châu Thọ, Lư, Kì, Hòa, Thư, Hào, Quang, Hoàng và Vô Vi quân thuộc lộ Tây."

Quyền phát khiển Diên châu Triệu Tiệp (趙禼) tâu: khai khẩn được hơn 15.900 khoảnh đất, chiêu tập được hơn 4.900 người Hán và Phiên làm cung tiễn thủ kỵ binh, tổ chức thành 8 chỉ huy. Ngày Nhâm Thân, ban chiếu lấy Tiệp làm Lại bộ Viên ngoại lang, ban thưởng bạc, lụa 300 tấm, lạng.

Mùa đông, tháng 10, ngày Mậu Dần, Tri Hoa châu Lữ Đại Phòng (呂大防) tâu: "Tháng 9, ngày Bính Dần, núi Cốc Sơn ở phía trước Phụ Đầu của Thiếu Hoa sơn sụp lở, vùi lấp 6 xã dân cư, tổng cộng mấy trăm hộ." Ban chiếu cấp tiền cho các nhà bị vùi lấp, có phân bậc khác nhau.

Ngày Kỷ Sửu, nước Liêu Tham tri chính sự Da Luật Quan (耶律觀) vì tội giả mạo chiếu chỉ để xây nhà riêng, bị giáng làm thứ dân.

Ngày Quý Tị, người Hồi Hột sang nước Liêu dâng cống.

Ngày Mậu Tuất, thăng Trấn Thao quân châu làm 4 châu Hy, Hà, Thao, Mân và Thông Viễn quân, đặt Hy Hà lộ, bổ Vương Thiệu (王韶) Long đồ các Trực học sĩ làm Kinh lược An phủ sứ, Tri Hy châu. Nhưng 3 châu Hà, Thao, Mân vẫn chưa thể khôi phục được. Giảm tội cho tù nhân ở Tần, Phụng 1 bậc.

Tháng 11, ngày Canh Tuất, nước Liêu miễn thuế khóa cho Tổ châu.

Ngày Quý Sửu, thủ lĩnh Hà châu là Hạt Dược (瞎藥) đem đồng bọn đến hàng, cho làm Nội điện Sùng ban, ban cho họ tên là Bao Ước (包約).

Ngày Bính Thìn, nước Liêu tuyết lớn khắp nơi, cho phép dân vào khu vực cấm chặt củi, hái lượm.

Ngày Đinh Mão, giáng chức Quyền Giám sát ngự sử Lý hành Trương Thương Anh (張商英) làm Giám Kinh Nam thuế. Lúc ấy Đài quan xét vụ cướp bóc của Lý Tắc, định tội theo đường lối khoan nhẹ, quan Kiểm tường ở Khu mật viện là Lưu Phụng Thế (劉奉世) bác lại; bèn ban chiếu giao cho Cửu sát ty đàn hặc xử lý. Thương Anh nói: "Việc này do tư oán của đại thần mà ra. Xin bệ hạ thu lại quyền chủ trương, tự mình nắm giữ uy phúc, khiến các quan tai mắt không bị hai phủ bức ép." Hoàng đế vì thế đình chỉ vụ án ấy. Thương Anh nhân đó lại nói Khu mật viện bao che thân thích ở Bác châu, để lọt tội đáng chết, và dung túng nha lại của viện là Nhậm Viễn phạm pháp 12 việc, do đó Văn Ngạn Bác (文彥博), Ngô Sung (吳充), Thái Đĩnh (蔡挺) đều dâng ấn xin từ chức. Hoàng đế khó xử, bèn giáng chức Thương Anh.

Ngày Nhâm Thân, chia Thiểm Tây làm 2 lộ Vĩnh Hưng, Tần Phụng, vẫn đặt 6 lộ Kinh lược ty.

Trương Độn (章惇) chiêu hàng Man Động ở Mai Sơn. Người Man họ Tô, xưa nay không thông với Trung Quốc, đất ấy phía đông giáp Đàm, phía nam giáp Thiệu, phía tây giáp Thần, phía bắc giáp Đỉnh, Lễ. Độn chiêu hàng được, ghi vào sổ hộ khẩu hơn 14.800 hộ dân, ruộng hơn 260.400 mẫu, định đều thu thuế, mỗi năm nộp 1 lần. Xây 2 thành Vũ Dương, Khai Thiểm, đặt huyện Tân Hóa, thuộc Thiệu châu.

Tháng 12, ngày Mậu Thìn, nước Liêu lấy Hán nhân Hành cung Đô bố trí Da Luật Trọng Hỉ (耶律仲禧) làm Khu mật Phó sứ, phong Hàn quốc công; lấy Khu mật Phó sứ Sài Đức Tư (柴德滋) làm Tham tri chính sự. Điều Tham tri chính sự Triệu Huy (趙徽) làm Vũ Định quân Tiết độ sứ; thăng Hán nhân Hành cung Phó bố trí Đại Bi Nỗ (大悲努) làm Đô bố trí; lấy Đồng tri Nam viện Khu mật sứ sự Tiêu Hãn Gia Nỗ (蕭罕嘉努) làm Tri Tả Y Lặc Hy Ba sự. Lấy Tham tri chính sự, Đồng tri Khu mật viện sự Trương Hiếu Kiệt (張孝傑) làm Bắc phủ Tể tướng, phong Trần quốc công. Liêu chúa khen Hiếu Kiệt cần mẫn tháo vát, thường hỏi việc, trong đám Hán nhân được sủng ái, không ai sánh kịp.

Ngày Bính Tý, xá tội những kẻ trốn tránh ở khe động Kinh Hồ.

Ngày Đinh Sửu, ban chiếu đặt cung tiễn thủ ở Thái Nguyên.

Nước Liêu nhân tiết Thanh Ninh đại xá.

Ngày Mậu Dần, đổi Ôn Thành miếu làm từ.

Ngày Nhâm Ngọ, Trần Thăng Chi (陳升之) được khởi phục làm Kiểm giáo Thái phó, Hành Lễ bộ Thượng thư, Đồng Bình chương sự, Khu mật sứ.

Ngày Quý Mùi, mưa đất.

Ngày Ất Mùi, xây cửa ải Nam, Bắc và các bảo trại ở Hy châu.

Năm ấy, Hà Bắc đại hạn châu chấu.

Hoàng đế từng nói: "Tổ tông đều yêu tiếc của trời đất, không nỡ tiêu phí bừa bãi, Hán Văn Đế nói: ‘Trẫm chỉ thay thiên hạ giữ của mà thôi.’” Vương An Thạch nói: "Người làm chủ thiên hạ mà có thể dùng chính sự của Nghiêu, Thuấn để ban ân trạch cho dân, thì dù tận lực thiên hạ để phụng sự ngự giá cũng không phải là quá. Lời ‘giữ của’ không phải là chính lý của thiên hạ. Nhưng an ở tiết kiệm, tự nó là đức lớn, đủ để dẫn dắt, thúc đẩy phong tục."

Năm Hy Ninh thứ 6 (Liêu, năm Hàm Ung thứ 9), Công nguyên năm 1073

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Đinh Mùi, Liêu chúa đi đến Uyên Ương Lạc.

Ngày Tân Hợi, ban chiếu phụng tôn Hy Tổ làm Thái miếu Thủy tổ, dời thần chủ Thuận Tổ cất vào gian kẹp. Đầu mùa hạ tế Cảm Sinh Đế, lấy Hy Tổ phối hưởng.

Trước đó, Trung thư tâu xin bàn việc dời thần chủ Hy Tổ, giao cho hai chế quan bàn kỹ. Nguyên Giáng (元絳) cùng những người khác nói: "Từ xưa các vua được mệnh, đã lấy công đức mà hưởng thiên hạ, đều truy tìm gốc, nối chỗ tôn, thờ tổ của mình. Thương, Chu vì Tắc, Tích có công vào thời Đường, Ngu, nên gọi là tổ có công. Nếu tổ tất phải có công, thì nhà Hạ sao lại tế Cổn ở ngoại giao? Nay Thái Tổ lúc mới nhận mệnh, lập thân miếu bắt đầu từ Hy Tổ, trên Hy Tổ nữa, số đời đã không thể lại biết được, thì Hy Tổ làm Thỉ tổ là không nghi ngờ gì. Nếu cho rằng Hy Tổ không nên sánh với Tắc, Tích làm Thỉ tổ, tức là khiến người trong thiên hạ không còn biết tôn tổ, mà con cháu có thể vì mình có công mà thêm tôn cho tổ khảo vậy. Xin lấy miếu Thỉ tổ làm miếu Hy Tổ, may ra hợp với ý lễ của tiên vương." Hàn lâm học sĩ Hàn Duy (韓維) nói: "Thái Tổ Hoàng đế minh triết thần vũ, binh không đổ máu, ngồi yên dẹp loạn lớn, con cháu nối nghiệp, muôn đời hưởng ân, công đức rực rỡ, làm Tống Thái Tổ, không có gì bàn cãi. Hy Tổ tuy là cao tổ, nhưng ngửa xem dấu vết công nghiệp, chưa thấy chỗ dựa, lần theo thế hệ trên nữa, lại không biết bắt đầu từ đâu. Nếu lấy lễ thờ Tắc, Tích mà phụng thờ Hy Tổ, e rằng xưa không có chứng, mà nay cũng có chỗ chưa yên." Thiên Chương các Đãi chế Tôn Cố (孫固) xin đặc biệt lập một gian riêng cho Hy Tổ, ngày tế Giao, tế Miếu, cho Hy Tổ tạm ở vị trí quay mặt hướng đông, để bày tỏ sự tôn kính; từ Thái Tổ trở xuống, các vua thân gần mà lần lượt bị bỏ miếu, đều cất vào gian Hy Tổ. Lễ quan Chương Hành (章衡) cùng những người khác xin lập riêng miếu Hy Tổ. Tô Duật (蘇棁) xin phối thờ Hy Tổ ở Cảnh Linh cung.

Hoàng đế đem ý kiến của Tôn Cố hỏi Vương An Thạch, An Thạch nói: "Lập riêng miếu cho tổ, xưa nay không có lễ ấy. Giang Nguyên (姜嫄) nên có miếu riêng là vì Giang Nguyên là thần Môi, do là tiên tỉ nên trọng lễ ấy, cùng ca múa đều xếp trước tiên tổ. Nếu không thế, thì nhà Chu sao không lập miếu Đế Khốc mà lại lập Giang Nguyên?" Hoàng đế cho lời An Thạch là phải, bèn ban chiếu theo nghị của Giáng và những người khác.

Tháng 2, ngày Tân Mão, người nước Hạ sang cướp Tần châu, Đô tuần kiểm sứ Lưu Duy Cát (劉維吉) đánh bại chúng.

Ngày Bính Thân, cửa Đông thượng cung Vĩnh Xương lăng bị cháy.

Vương Thiệu lại chiếm được Hà châu, bắt được vợ con Mã Nhĩ Tiển (瑪爾戩).

Ngày Nhâm Dần, Hàn Giáng (韓絳) từ Hứa châu đổi làm Tri Đại Danh phủ.

Tháng 3, ngày Kỷ Dậu, ban chiếu truy tặng tướng Điền Quỳnh (田瓊) tử trận ở Hy Hà làm Lễ tân sứ, cho 3 con trai, 1 cháu nội của ông được ghi công.

Ngày Canh Tuất, đặt Kinh nghĩa cục, tu soạn nghĩa lý 3 kinh Thi, Thư, Chu Lễ, lệnh Vương An Thạch đề cử, Lữ Huệ Khanh (呂惠卿), Vương Phương (王雱) cùng tham gia tu soạn. Hoàng đế muốn triệu Trình Hạo (程顥) dự việc ấy, An Thạch không đồng ý, nên thôi.

Ngày Tân Hợi, thi các khoa Minh kinh.

Ngày Bính Thìn, Ty Tư thiên tâu: ngày mồng 1 tháng 4, nhật thực 9 phần. Ban chiếu từ ngày Đinh Tị tránh điện, giảm bữa ăn, giảm tội cho tù trong thiên hạ 1 bậc, từ tội lưu trở xuống thì tha.

Ngày Kỷ Mùi, ban chiếu: "Các học quan ở các lộ, đều giao cho Trung thư chọn quan Kinh triều, người trong diện tuyển hoặc cử nhân đảm nhiệm." Lại ban chiếu: "Các lộ chọn châu, quân có nhiều cử nhân nhất, theo phép 5 lộ, đều đặt 1 viên Giáo thụ."

Ngày Nhâm Tuất, Hoàng đế ngự điện Tập Anh, ban cho 596 người đỗ các khoa Tiến sĩ, Minh kinh từ bậc trung trở xuống, gồm đỗ cập đệ, xuất thân, đồng xuất thân, đồng học sĩ xuất thân. Ban cho Tiến sĩ đỗ cập đệ 3.000 quan tiền, các khoa khác 700 quan, để làm phí kỳ tập. Người đứng đầu là người ở Thường châu.

Ngày Đinh Mão, Tể tướng dâng biểu xin phục lại bữa ăn, không được cho.

Ban chiếu: Tiến sĩ, các khoa đều phải thi Minh pháp để bổ quan.

Ngày Mậu Thìn, đặt mỗi lộ 1 viên Kiểm pháp quan ở Ty Đề điểm hình ngục, theo lời xin của Lữ Huệ Khanh.

Ngày Canh Ngọ, phong Lý Càn Đức (李乾德) làm Giao Chỉ quận vương.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Giáp Tuất mồng 1, nhật thực, nhưng vì mây che nên không thấy. Tể thần vào tâu mừng, cho là do cảm ứng bởi thánh đức, xin Hoàng đế ngự điện, phục lại bữa ăn; Hoàng đế theo.

Ngày Ất Hợi, đổi Triều tập viện làm Luật học, đặt 4 viên Giáo thụ. Công khảo sinh viên học luật lệnh, thi nghĩa 3 đề, sinh viên học xử án thi 1 đề, về hình danh từ 5 đến 7 việc; tư khảo thi nghĩa 2 đề, án 1 đề, hình danh từ 3 đến 5 việc. Quan lại, cử nhân đều được vào học luật lệnh.

Ngày Mậu Dần, Tri Quế châu Thẩm Khởi (沈起) xin từ nay bản lộ có việc biên thùy, chỉ cần trình Kinh lược ty chuyên quyền xử trí rồi tâu lên, được chuẩn.

Từ khi Vương An Thạch nắm quyền, hăng hái mở rộng biên cương, Tri Ung châu Tiêu Chú (蕭注) ưa nói việc binh, thèm muốn địa vị cao mà Vương Thiệu và những người khác đạt được, bèn dâng sớ nói: "Giao Chỉ tuy phụng triều cống, nhưng thực ôm lòng phản nghịch đã lâu, nay không đánh lấy, ắt thành mối lo về sau." Gặp lúc người Giao bị Chiêm Thành đánh bại, có người nói số quân còn lại không đầy 1 vạn, có thể tính ngày mà lấy được, bèn ban chiếu lấy Chú làm Tri Quế châu, cho làm Kinh lược. Chú vào triều, Hoàng đế hỏi kế đánh lấy, Chú lại nói là khó. Lúc ấy Thẩm Khởi làm Độ chi phán quan, nói Nam Giao là lũ tiểu man, không có lý do gì không lấy được; bèn lấy Khởi thay Chú. Khởi迎 hợp An Thạch, bèn một lòng lo việc tiến công, Giao Chỉ bắt đầu sinh lòng hai dạ.

Ngày Ất Dậu, Kinh lược ty Hy Hà tâu về công lao của tướng sĩ Hà châu, Vương An Thạch tâu với Hoàng đế: "Khí thế quân sĩ từ đây càng thêm phấn chấn." Hoàng đế nói: "Người xưa nói hễ cất việc thì tài tự luyện, lời ấy đúng vậy." An Thạch nói: "Hễ cất việc thì người có tài xuất hiện, kẻ bất tài thì khốn đốn, vì thế kẻ bất tài không vui cất việc vậy."

Ngày Nhâm Thìn, Liêu chúa đi đến Vượng Quốc Nhai.

Ngày Giáp Ngọ, định phép Bảo giáp ở Tề, Từ và các châu.

Ngày Mậu Tuất, định lại bổng lộc quan lại ở Kinh sư.

Ngày Kỷ Hợi, bãi chức Văn Ngạn Bác.

Từ khi Thị dịch ty được lập, đến cả hoa quả cũng do quan giám sát bán, Ngạn Bác cho là tổn hại thể diện quốc gia, gom oán dân, khiến Hoa Nhạc sơn sụp lở, bèn hết lời tâu với Hoàng đế, lại nói: "Nhà quan lại không mưu lợi ở chợ, thanh nghị của sĩ đại phu còn không dung được. Há có lẽ nào một nước lớn đường đường, lại hối hả cầu lợi, mà ý trời lại không tỏ ra cảnh cáo ư?" Vương An Thạch nói: "Biến cố ở Hoa sơn, có lẽ là ý trời phát lộ cho kẻ tiểu nhân. Việc lập Thị dịch, vốn là vì dân đen khốn khổ đã lâu, để ngăn kẻ thôn tính mà thôi, triều đình được lợi gì ở đó!" Trước đó Hàn Giáng cùng An Thạch hợp lực gạt bỏ Ngạn Bác, mỗi khi bàn việc, Giáng thường mặt đối mặt gạt đi, lại đặt 4 viện Thẩm quan để đoạt quyền của ông. Ngạn Bác trong lòng không yên, cố xin bổ ra ngoài, Hoàng đế sai trung sứ triệu vào, ép đến Khu mật viện mấy lần. Đến đây ông càng cố xin từ chức, bèn lấy chức Thủ Tư đồ kiêm Thị trung, Hà Đông Tiết độ sứ, Phán Dương Hà.

Tháng ấy, bắt đầu đặt Ty Sơ tuấn Hoàng Hà.

Trước đó có người trong diện tuyển là Lý Công Nghĩa (李公義), dâng phép dùng “xe móng rồng sắt khuấy bùn” để nạo vét sông. Phép ấy dùng mấy cân sắt làm hình móng, buộc dây vào đuôi thuyền rồi thả chìm xuống nước, người chống sào chèo gấp, theo dòng nước nối tiếp nhau mà đi, qua lại 1, 2 lần, nước đã sâu thêm mấy thước. Hoạn quan Hoàng Hoài Tín (黃懷信) cho là dùng được, nhưng lo là quá nhẹ. Vương An Thạch xin cho Hoài Tín và Công Nghĩa cùng bàn việc tăng giảm, bèn đặt riêng “cái bừa nạo sông”. Phép ấy dùng khúc gỗ lớn dài 8 thước, răng dài 2 thước, xếp dưới gỗ như hình cái bừa, dùng đá đè; hai bên buộc dây lớn, hai đầu neo vào 2 chiếc thuyền lớn, cách nhau 80 bộ, mỗi bên dùng ròng rọc kéo, đi lại khuấy động bùn cát, rồi lại dời thuyền mà nạo vét. Có người nói nước sâu thì bừa không chạm đáy, dù qua lại nhiều lần cũng vô ích, nước cạn thì răng vướng bùn cát, kéo không nhúc nhích, rốt cuộc phải lật răng lên trên mà kéo. Người ta đều biết là không dùng được, chỉ có An Thạch khen phép ấy, sai Hoài Tín trước thử dùng để nạo vét hai nhánh sông, lại mưu đào sông thẳng mấy dặm để xem hiệu quả, lại nói với Hoàng đế: "Mở sông thẳng thì thế nước chia ra, cái không thể mở được là vì gần sông, mỗi khi đào sâu mấy thước là gặp nước, không thể thi công. Nay chỉ cần thấy nước là dùng bừa nạo vét, nước ắt theo bừa mà đổi hướng. Nếu ở sông thẳng đặt mấy nghìn cái bừa, thì các sông cạn đọng đều không còn là mối lo, mỗi năm có thể tiết kiệm chi phí nạo vét đến mấy trăm vạn." Hoàng đế nói: "Nếu quả vậy thì rất tốt. Nghe nói tiểu quân ở Hà Bắc đắp lũy phải bắt phu 5.000 người, tính cả đinh trong cõi, chỉ chừng ấy, một phu phải dùng đến 8 quan. Vì thế Âu Dương Tu từng nói mở sông như đốt lửa, thà khỏi nhọc dân còn hơn mở." An Thạch nói: "Nhọc dân để trừ hại, là cái gọi là ‘dù làm khổ thiên hạ mà dân vẫn theo’." Hoàng đế bèn cho phép đầu xuân khởi công, và trả công cho Hoài Tín bằng 15 đạo độ tăng thiệp, Công Nghĩa được bổ chức trong triều. Lấy phép dùng bừa ban xuống Bắc Kinh, lệnh Đô đại đề cử Kim Đê thuộc Đại Danh phủ là Phạm Tử Nguyên (范子淵) cùng Thông phán, Tri huyện cùng thử nghiệm, đều nói không dùng được. Gặp lúc Tử Nguyên vì việc đến Kinh sư, An Thạch hỏi nguyên do, Tử Nguyên muốn phụ họa, vội nói: "Phép ấy thật là tốt, chỉ vì ý kiến đồng liêu không hợp mà thôi." An Thạch rất vui. Đến đây bèn đặt Ty Nạo hà, định từ Vệ châu nạo vét đến cửa biển, lấy Tử Nguyên làm Đô đại đề cử, Công Nghĩa làm thuộc quan.

Tháng 5, ngày Quý Mão mồng 1, Man Hồ Bắc là Hướng Vĩnh Ngộ (向永晤), Thư Quang Ngân (舒光銀) đem đất của mình đến hàng.

Ngày Mậu Thân, ban chiếu khuyến khích làm thủy lợi, phàm dựng cối nước, cối giã gạo bằng nước mà làm hại việc tưới ruộng dân, đều luận tội là trái chế độ.

Ngày Ất Sửu, ban chiếu cho Kinh Đông lộ xét tâu những sĩ nhân có hạnh nghĩa.

Vì Lô Di man phản, ban chiếu sai Trung thư Kiểm chính quan Hùng Bản (熊本) làm Ty Sát phóng Tử Khu, được phép tùy nghi xử trí các việc của man di.

Tháng 6, ngày Đinh Sửu, Ty Đề cử Tại kinh Thị dịch vụ tâu xin cho Tam ban Tá chức Trương Cát Phủ (張吉甫) làm Thượng giới Cú đương công sự. Cát Phủ từ chối, nói hiện đang là người bị Lý Chương (李璋) sai khiến, đang lúc bị giáng phạt, một sớm một chiều bỏ đi, về nghĩa là không yên. Hoàng đế than: "Cát Phủ tuy là tiểu nhân, nhưng lời bày tỏ nghĩa lý rất cao, hơn Lý Thanh Thần (李清臣) xa vậy, nên cho theo chí của y." Lúc đầu Hàn Giáng đi Tuyên phủ, Thanh Thần theo lệnh mời, gặp lúc Giáng bị giáng chức, Thanh Thần mưu tự bảo toàn, nhiều lần nói xấu Giáng, nên Hoàng đế coi thường.

Ngày Tân Tị, Ty Đề cử Ty Tư thiên Trần Dịch (陳繹) cùng những người khác tâu rằng lịch “Sùng thiên lệ” tính khí hậu sai, lịch “Minh thiên lịch” tính sóc sai, thủy lậu, hỗn nghi cũng đều có chỗ sai lệch. Ban chiếu cho Vệ Phác (衛樸) làm lịch mới, so sánh chặt chẽ với lịch cũ. Còn thủy lậu, hỗn nghi thì nay chế tạo theo kiểu mới, Ty Tư thiên riêng đo nghiệm rồi tâu.

Ngày Kỷ Sửu, Trung thư dâng lên phép khuyến khích trồng dâu, Hoàng đế nói: "Nông tang là gốc của áo cơm, nên dùng để khuyến dân. Nhưng dân không dám tự sức mình, chính vì châu, huyện lấy đó làm vốn, nâng bậc hộ tịch của họ. Trước đã có điều cấm, có thể nhắc lại cho rõ." Bèn ban phép ấy xuống các lộ, mỗi năm cuối tháng 2 điểm kiểm, ai trồng được đủ 10 phần thì có thưởng, không đủ 7 phần thì có phạt.

Vương Phương tâu: "Nay thiên hạ có áo giáp, cung nỏ tính đến hàng chục vạn, mà không có một cái nào bền sắc, chi bằng chế lại. Phép ấy là gom sản phẩm của mấy châu lại làm một, như các tiền giám hiện nay, chọn quan am hiểu việc công xưởng, giao cho chức ấy, lại mộ thợ giỏi làm Tượng sư." Hoàng đế theo. Ngày Kỷ Hợi, đặt Quân khí giám, lấy Lữ Huệ Khanh làm Phán giám sự.

Tháng ấy, Tri Nam Khang quân Chu Đôn Di (周敦頤) mất. Đôn Di lúc đầu nhờ cậu là Trịnh Hướng (鄭向) đang làm quan, được làm Phân Ninh Chủ bạ, có vụ án lâu ngày chưa quyết, Đôn Di đến, hỏi cung một lần là phân biệt rõ ngay. Điều làm Tư lý Nam An, có tù nhân, theo luật không đáng chết, Chuyển vận sứ Vương Khôi (王逵) muốn xử nặng. Đôn Di hết sức biện bạch, Khôi không nghe, Đôn Di đặt thẻ bài xuống, định bỏ quan mà đi, nói: "Như thế này thì còn có thể làm quan được sao! Giết người để lấy lòng người khác, ta không làm vậy." Khôi tỉnh ngộ, tù nhân được tha. Điều làm Huyện lệnh Quế Dương, đổi làm Tri Nam Xương, nhà giàu, đại tộc, lại lại gian xảo, bọn ác thiếu niên, không những lo sợ vì mắc tội, mà còn lấy việc làm bẩn thỉu chính sự tốt đẹp làm điều xấu hổ. Thăng dần đến chức Quảng Đông Chuyển vận phán quan, bệnh phát, bèn xin Tri Nam Khang như cũ, đến đây thì mất.

Đôn Di tin cổ, chuộng nghĩa, lấy danh tiết tự mài giũa mình. Hoàng Đình Kiên (黃庭堅) khen lòng ngực ông khoáng đạt, như gió lành trăng tạnh. Lúc làm Tư lý Nam An, Thông phán Trình Hạo (程珦) cho học vấn của ông là biết đạo, bèn cho 2 con là Hạo (顥), Di (頤) đến kết giao với ông. Đôn Di thường bảo họ tìm chỗ vui của Khổng, Nhan, xem các ngài vui ở việc gì. Hạo từng nói: "Từ sau lần thứ hai gặp Chu Mậu Thúc (周茂叔), ta ngâm gió, đùa trăng mà về, có cái ý ‘có ta cùng với Điểm vậy’." Học giả gọi ông là Liêm Khê tiên sinh.

Mùa thu, tháng 7, ngày Giáp Thìn, Liêu chúa đi săn ở Đại Hùng sơn.

Ngày Ất Tị, ban chiếu: "Kinh Tây, Hoài Nam, Lưỡng Chiết, Giang Tây, Kinh Hồ 6 lộ, mỗi lộ đặt 1 Đúc tiền giám, Giang Nam, Kinh Hồ Nam lộ lấy 15 vạn quan làm ngạch, các lộ khác lấy 10 vạn quan làm ngạch."

Ngày Mậu Thân, nước Liêu, tướng thống quân Ô Khố Đức Liệt Lặc (烏庫德埒勒) tâu bộ hạ giết Tiết độ sứ của mình mà phản. Ngày Kỷ Dậu, Liêu chúa ra lệnh chia quân các bộ đi đánh.

Ngày Giáp Dần, vì hạn, xét tù ở Kinh sư, tội tử hình trở xuống giảm 1 bậc, tội trượng thì tha.

Ngày Đinh Tị, ban chiếu: "Quan lại biên thùy giết dân thuộc hộ để cầu thưởng, thì xử lăng trì."

Ngày Ất Sửu, chia Hà Bắc làm 2 lộ Đông, Tây. 3 phủ Đại Danh, Khai Đức, Hà Gian, 11 châu Thương, Ký, Bác, Địch, Mạc, Hùng, Bá, Đức, Tân, Thanh, Ân, 5 quân Đức Thanh, Bảo Thuận, Vĩnh Tĩnh, Tín An, Bảo Định thuộc lộ Đông; 4 phủ Chân Định, Trung Sơn, Tín Đức, Khánh Nguyên, 9 châu Tương, Tuấn, Hoài, Vệ, Minh, Thâm, Từ, Kì, Bảo, 6 quân Thiên Uy, Bắc Bình, An Túc, Vĩnh Ninh, Quảng Tín, Thuận An thuộc lộ Tây.

Đêm ngày Bính Dần, phía tây bắc có tiếng như tiếng cối xay.

Nam Kinh nước Liêu tâu: châu chấu ở 2 huyện Quy Nghĩa, Lại Thủy bay sang cõi Tống, số còn lại bị ong ăn hết.

Tháng 8, lệnh Kiểm chính Trung thư Hình phòng công sự Thẩm Khoát (沈括) chiêu mộ quan lại để xem xét thủy lợi Lưỡng Chiết. Hoàng đế bảo Vương An Thạch và những người khác: "Việc này nhất định có thể làm được chăng?" An Thạch nói: "Khoát là sĩ nhân, quen biết lợi hại, tính lại cẩn mật, ắt không làm bừa." Hoàng đế nói: "Việc phải tính kỹ, chớ như Giáp Đản (郟亶) làm bừa, bỏ dở giữa chừng, gây hại không nhỏ." Ngày Đinh Sửu, Khoát tâu: "Các châu ở Chiết Tây bị nạn nước đã lâu không được nạo vét, đắp đê, sông ngòi, kênh rạch phần nhiều bị vùi lấp, nay nếu một lần dùng sức dân, ắt khó thành công, xin giao cho Ty Tư nông cho vay tiền công, mộ dân làm lợi." Hoàng đế theo.

Ngày Giáp Thân, bãi việc cống nộp tơ lụa hàng năm của Giản châu.

Ngày Giáp Ngọ, ban tiền thưởng đặc biệt cho quân sĩ Hy Hà, Kinh Nguyên.

Ngày Bính Thân, nước Liêu lấy Khu mật Phó sứ Da Luật Trọng Hỉ làm Nam viện Khu mật sứ.

Ngày Mậu Tuất, khôi phục phép so sánh lân lý, tông tộc, đảng phái.

Tháng 9, ngày Nhâm Dần, đặt kho Hòa tích ở Lưỡng Chiết, lập phép thu phát.

Ngày Quý Mão, Liêu chúa đóng quân ở Độc Lô Kim.

Ngày Mậu Thân, ban chiếu khuyến khích làm thủy lợi.

Ngày Tân Hợi, Hoàng đế ngự điện Sùng Chính, ra đề sách cho võ cử. Lúc đầu, Khu mật viện sửa phép võ cử, ai không trả lời được sách thì cho trả lời nghĩa đen binh thư. Vương An Thạch nói: "Võ cử mà thi nghĩa đen, khác gì học trò! Thuộc sách mà không hiểu lý, không bổ ích cho việc. Tiên vương thu nạp kẻ có dũng lực đều thuộc về quân hữu, là để dùng vào việc chống nhục, thế thì việc ghi nhớ thuộc lòng dùng vào đâu!" Hoàng đế theo. Đến đây mới bắt đầu thi sách.

Ngày Mậu Ngọ, thủ lĩnh Mô Lân Sâm (摩琳沁) ở Mân châu đem thành đến hàng.

Lúc đầu, Vương Thiệu sau khi chiếm lại Hà châu, gặp lúc người Khương hàng rồi phản, Thiệu quay quân đánh. Thổ Phồn Mã Nhĩ Tiển nhân lúc ấy chiếm cứ Hà châu, Thiệu tiến đánh phá thành Hà Nặc Mộc Tạng, đào xuyên núi Lộ Cốt, tiến xuống phía nam vào cõi Thao châu, đường hẹp hiểm, bỏ ngựa đi bộ, có ngày đi 6, 7 dặm. Mã Nhĩ Tiển để bộ hạ giữ Hà châu, tự mình đem quân bám theo quan quân. Thiệu liều chết đánh, phá tan, đuổi chạy, Hà châu lại yên. Tiến đánh Đãng châu, chiếm được, thông đường đến Thao châu. Mô Lân Sâm nghe tiếng quân đến trước, bèn đem thành hàng. Thiệu vào Mân châu, bấy giờ các thủ lĩnh Khương ở Điệp, Thao 2 châu đều lần lượt đến quân doanh, đem thành xin nghe lệnh. Quân đi tổng cộng 54 ngày, vượt 1.800 dặm, chiếm được 5 châu, chém mấy nghìn thủ cấp, bắt được trâu, dê, ngựa tính đến hàng vạn. Trận ấy, người ta đều truyền rằng Thiệu đã toàn quân bị diệt, đến khi có tấu báo thắng trận, Hoàng đế rất vui, thăng Thiệu làm Tả Gián nghị đại phu, Đoan Minh điện học sĩ.

Ngày Mậu Thìn, thu tiền Miễn hành.

Trước đó ở Kinh sư, vạn vật đều có “hành”, những thứ quan ty cần dùng đều giao cho các hành chịu trách nhiệm cung ứng, đến cả dân nghèo gánh gồng buôn bán cũng nhiều lần bị bồi thường, thiệt hại. Lữ Gia Vấn (呂嘉問) xin ước định lợi tức dày mỏng của các hành, bắt nộp tiền để cấp bổng lộc cho quan lại, đổi lại các hộ hành được miễn việc cung ứng. Lại đem việc mua bán các loại hàng hóa trong Cấm trung giao cho Tạp mãi trường vụ, lại đặt Thị ty để định giá cao thấp, phàm quan ty trong ngoài muốn biết giá vật, thì lấy đó làm chuẩn. Đến đây bèn thi hành.

Mùa đông, tháng 10, Liêu chúa đi đến Âm sơn, rồi đến Tây Kinh, liền ban lệnh miễn tô thuế cho những nơi ngự giá đi qua.

Ngày Tân Mùi, Trương Độn đánh Man Nam Giang, bình định được. Lúc đầu, Man Hồ Bắc là Hướng Vĩnh Ngộ, Thư Quang Ngân cùng những người khác đều đem đất quy thuận, chỉ có họ Điền, có người tên Nguyên Mãnh (元猛), khá kiêu ngạo khó chế. Độn sai Tả Thị cấm Lý Tư (李資) đến chiêu dụ. Tư nóng nảy, không mưu lược, khinh mạn tù trưởng người Di, bị Man Ỷ châu giết. Độn bèn tiến quân phá Ỷ châu, các động Nam Giang châu đều bình.

Phò mã Đô úy Trương Đôn Lễ (張敦禮) xin lập học quan về Kinh Xuân Thu, không được cho. Hoàng đế bảo Vương An Thạch: "Khanh từng cho rằng Kinh Xuân Thu từ khi sử nước Lỗ mất thì nghĩa không thể khảo, nên chưa đặt học quan. Đôn Lễ hiếu học không mệt, chỉ chưa biết ý này mà thôi. Nếu chỉ đọc Xuân Thu mà không đọc Truyện, thì Xuân Thu chưa dễ hiểu vậy."

Ngày Tân Tị, vì khôi phục được các châu Hy, Hà, Thao, Mân, Điệp, Đãng, Hoàng đế ngự điện Tử Thần, nhận lời chúc mừng của quần thần, cởi đai ngọc đang đeo ban cho Vương An Thạch. An Thạch cố từ, nói: "Bệ hạ rút Vương Thiệu từ nơi xa xôi, khôi phục một phương, thần cùng hai ba vị chấp chính chỉ là phụng thừa thánh chỉ mà thôi, không dám một mình nhận ân thưởng này." Hoàng đế lại dụ rằng: "Lúc nghi ngờ nổi lên khắp nơi, trẫm cũng muốn dừng lại, nếu không có khanh giúp trẫm, thì công này không thành." An Thạch bấy giờ mới nhận.

Ngày Giáp Thân, triều cúng Cảnh Linh cung.

Ngày Bính Tuất, phát chẩn cho dân đói ở Lưỡng Chiết, Giang, Hoài.

Ngày Nhâm Thìn, thi hành phép tiền chiết hai.

Ngày Đinh Dậu, sai sứ chôn cất hài cốt tử trận ở Hy, Hà.

Tháng ấy, mở sông thẳng. Lúc ấy dòng bắc đã bị bít mấy năm, nước hoặc vỡ ngang, chảy tản mạn, thường lo bị ngăn tắc. Ngoại Đô thủy giám thừa Vương Lệnh Đồ (王令圖) dâng kế, ở chỗ Đệ tứ, Đệ ngũ sáo thuộc Đại Danh mở sửa sông thẳng, khiến Đại hà trở lại hai nhánh cũ, bèn lệnh Phạm Tử Nguyên và Chu Trọng Lập (朱仲立) đảm nhiệm việc ấy. Mở sông thẳng sâu 8 thước, lại dùng bừa nạo vét hai nhánh và sông Thanh Thủy trấn, phàm các sông Thoái Bối, Ngư Lặc thì lấp lại. Vương An Thạch bèn hết lời ca ngợi công dụng của bừa, nói nếu không ngừng công, thì đến cả thượng lưu hai nhánh sông cũng có thể khiến chảy giữa đất bằng.

Tri Định châu Đằng Phủ (滕甫) vào chầu, nói về cái hại của tân pháp: "Thần lúc đầu chỉ ước đoán bằng ý mà cho là không thể được. Nay làm Thủ châu, tận mắt thấy cái hại đối với dân." Bèn trình bày rõ tình trạng. Phủ ở Định châu, đến ngày Thượng Tị yến tiệc ngoài thành, có tin báo quân Liêu vào cướp, dân biên thùy có người bỏ trốn, tướng lại kinh hoảng, xin lập tức chỉnh binh. Phủ cười nói: "Không phải điều các ngươi biết." Lại bày rượu, làm nhạc, sai người bảo những kẻ bỏ trốn rằng: "Ta ở đây, chúng không dám động." Bảo họ về làm ăn. Hôm sau hỏi lại, quả là tin đồn nhảm, các tướng vì thế hổ thẹn, phục phục.

Hàn Trung Ngạn (韓忠彥) đi sứ nước Liêu, Dương Hưng Công (楊興公) ra đón, hỏi Phủ ở đâu, lại nói: "Tằng công (tức Đằng Phủ) có thể gọi là ‘mở miệng là thấy lòng’ vậy!" Trung Ngạn về tâu, Hoàng đế vui, thăng Phủ làm Lễ bộ Thị lang, cho làm quan lần nữa. Phủ soạn sách 5 thiên: một là “Tôn chủ thế”, hai là “Bổn thánh tâm”, ba là “Giảo nhân phẩm”, bốn là “Phá bằng đảng”, năm là “Tán trị đạo”, dâng lên. Đại lược nói: "Bệ hạ thần thánh văn võ, tự đủ xoay chuyển lục hợp. Ví như trời xanh, mặt trời trắng, không cần tô điểm, tự nhiên trong sáng." Người hiểu biết đều khen lời ấy là phải.

Tháng 11, ngày Quý Sửu, Trung Thái Nhất cung xây xong. Ngày Ất Mão, Hoàng đế thân tế ở Trung Thái Nhất cung.

Ngày Giáp Tý, nước Liêu Nam viện Đại vương Da Luật Ha Lí Tế (耶律哈哩濟) về hưu. Ha Lí Tế từng làm Liêu Hưng quân Tiết độ sứ, Đông Bắc lộ Tường cống, minh đạt, cần mẫn, ôn hòa, có đạo. Việc đặt các Tân khách quán và doanh điền ở Tây biên đều do Ha Lí Tế khởi xướng. Chẳng bao lâu thì mất.

Ngày Bính Dần, ban chiếu cho Kinh Kỳ thu nhận nuôi dưỡng người già yếu, rét đói.

Tháng 12, ngày Tân Mùi, nước Liêu lấy Y Lỗ Dung Tân (耶律宜新), người giữ chức Tri Bắc viện Khu mật sứ sự, làm Lưu thủ Trung kinh, và lấy Y Lỗ Tát Lạt (耶律薩喇), người giữ chức Nam viện Tuyên huy sứ, làm Nam viện Đại vương.

Ngày Nhâm Thìn, nước Cao Ly và nước Hạ đều sai sứ sang nước Liêu dâng cống.