Bước tới nội dung

Tục tư trị thông giám/Quyển 75

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tục Tư trị thông giám, quyển 75  (2025)  của Tất Nguyên, do Cơ Như Tuyết dịch
Tống kỷ 75

Năm Canh Thân (1080), Thần Tông Nguyên Phong năm thứ 3, gồm 1 năm

Năm Nguyên Phong thứ 3 (Liêu, năm Thái Khang thứ 6), Công nguyên năm 1080

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Ất Sửu mồng 1, vì linh cữu Thái hoàng Thái hậu còn quàn nên Hoàng đế không ra coi chầu.

Ngày Quý Dậu, thăng Hứa châu làm Vĩnh Xương phủ.

Liêu chúa đi đến Uyên Ương lạc.

Ngày Quý Mùi, Ty Thẩm quan Đông viện tâu: “Thừa phán Đại lý tự Thân Thiên Quy (申天規) trước đây xin nghỉ dài ngày, để đi tìm cha. Nay đã rước được cha về phụng dưỡng, xin cho Thiên Quy không phải đợi đủ năm rồi mới được vào chầu.” Chiếu theo lời xin. Thiên Quy thuở nhỏ thất lạc cha, đến nay tìm được thì người cha đã trăm tuổi.

Ngày Kỷ Sửu, nước Cao Ly sai sứ sang cống.

Có bạch hồng xuyên qua mặt trời.

Ngày Tân Mão, Vu Điền đến cống.

Người nước Liêu là Da Luật Y Tốn (耶律伊遜) vì được đổi phong tước vương, đến kinh đô vào tạ. Liêu chúa lập tức cho về, đổi cho làm Tri Hưng Trung phủ sự.

Tháng 2, ngày Bính Ngọ, lấy Hàn lâm học sĩ Chương Đôn (章惇) làm Tham tri chính sự.

Ngày Bính Thìn, lần đầu ngự điện Sùng Chính để coi chầu.

Ngày Đinh Tị, lệnh các Phụ thần cầu mưa.

Tháng 3, ngày Ất Sửu, Hộ bộ Thị lang, Bình chương sự Ngô Sung (吳充) bị bãi, làm Quan Văn điện Đại học sĩ, Tây Thái Nhất cung sứ.

Ngày Quý Dậu, táng Từ Thánh Quang Hiến Hoàng hậu ở Vĩnh Chiêu lăng.

Ngày Giáp Tuất, lệnh Vương Khuê (王珪) Đề cử tu sửa Quốc sử hai triều.

Ngày Bính Tý, người Nam Đan châu vào cống.

Ngày Canh Thìn, lại đặt huyện Triệu Thành thuộc Tấn châu. Ban đầu, vào niên hiệu Hy Ninh, bãi huyện này nhập vào Hồng Đồng huyện làm trấn. Đến nay, Tri châu Vương Thuyết (王說) tâu rằng bách tính nộp thuế, dâng từ tụng, đường đi vòng xa, mỗi năm nộp thuế khóa đều bất tiện, lại khảo xét thấy Triệu Thành vốn là nơi chỗ sơ phong, không thể so với các huyện ấp khác, nên cho đặt lại.

Ngày Ất Dậu, hợp thờ thần chủ Từ Thánh Quang Hiến Hoàng hậu vào Thái miếu.

Ngày Kỷ Sửu, lấy em trai Từ Thánh Quang Hiến Hoàng hậu là Chiêu Đức quân Tiết độ sứ Tào Dật (曹佾) làm Tư đồ kiêm Trung thư Thị lang, Hộ Quốc quân Tiết độ sứ, các thân thuộc khác đều gia ân có phân bậc.

Ngày Canh Dần, Liêu chúa cho Hoàng điệt Thuần (淳) ra ở ngoài, lập Hoàng tôn Diên Hi (延禧) làm Lương vương, gia chức Thủ Thái úy kiêm Trung thư lệnh, lúc ấy mới 6 tuổi. Lấy Trung Thuận quân Tiết độ sứ Da Luật Pha Đức (耶律頗德) làm Nam viện Đại vương, lấy Quảng Đức quân Tiết độ sứ Da Luật Trọng Hỉ (耶律仲禧) làm Nam viện Khu mật sứ, lấy Hộ bộ sứ Trần Nghị (陳毅) làm Tham tri chính sự.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Ất Mùi, Quan Văn điện Đại học sĩ Ngô Sung mất, thọ 60 tuổi. Tặng làm Tư không kiêm Thị trung, thụy là Chính Hiến. Sung làm tướng, chủ trương yên tĩnh. Lúc sắp mất, dặn vợ con chớ lấy việc riêng mà quấy nhiễu triều đình. Đời cho rằng lòng Sung thì chính mà sức thì không đủ, chê ông không thể dũng cảm lui về.

Ngày Đinh Dậu, phong Tông Huy (宗暉) làm Bộc Dương quận vương, con cháu Bộc An Ý vương đều được thăng quan 1 cấp.

Ngày Ất Tị, vì người man ở Lô châu là Khất Đệ (夷乞弟) quấy nhiễu, chiếu cho biên tướng đánh dẹp. Ngày Mậu Thân, Khất Đệ cướp phá Nhung châu, binh quan Vương Tuyên (王宣) cùng những người khác tử trận.

Ngự sử đài tâu: “Phụng chiếu phục đặt Lục sát, để xét các quan ty ở Kinh sư. Nay xin đem Lại bộ và Thẩm quan Đông, Tây viện, Tam ban viện… thuộc về Lại sát; Hộ bộ, Tam ty và Ty Tư nông... thuộc về Hộ sát; Hình bộ, Đại lý tự, Thẩm hình viện… thuộc về Hình sát; Binh bộ, Vũ học… thuộc về Binh sát; Lễ, Tư bộ, Thái thường tự… thuộc về Lễ sát; Thiếu phủ, Tướng tác… thuộc về Công sát.” Chiếu theo.

Ngày Giáp Dần, bãi Quần mục hành ty, phục đặt Đề cử Mãi mã giám mục ty.

Ngày Ất Mão, Liêu chúa đi săn ở Thán sơn.

Tháng 5, ngày Giáp Tý, Hàn lâm học sĩ kiêm Tường định lễ văn Trương Tảo (張璪) tâu: “Thần cúi xem việc hợp tế Trời Đất, người bàn luận không thống nhất. Thần trộm cho rằng dương sinh vào tháng 11, âm sinh vào tháng 5. Tiên vương thuận theo nghĩa âm dương, lấy ngày Đông chí tế Trời ở Viên khâu trên mặt đất, lấy ngày Hạ chí tế Đất ở Phương khâu giữa đầm, cho đến trâu tế, tiền lụa, đồ khí, y phục, thơ ca, nhạc vũ, hình sắc, độ số, không gì không mô phỏng theo tượng loại của nó, nên thần Trời Đất có thể được mà tế lễ. Từ đó mà xét, ngày Hạ chí tế Đất ở Phương khâu, mà Thiên tử thân đến chủ trì, đó là đạo lý muôn đời không thể thay đổi. Người bàn luận cho rằng nay nghi vệ vạn thặng gấp bội thời cổ, vào giữa mùa hạ nóng bức, không thể thân hành, nên muốn đổi dùng tháng khác; không những không có chỗ dựa, lại còn mất đi nghĩa dùng âm để thờ Đất. Nếu bất đắc dĩ, thì nên ngay năm có tế Giao, vào ngày Hạ chí, bày lễ nghi long trọng, đủ nhạc vũ, sai Tụng tể (塚宰) quyền chủ trì; tuy chưa thể hoàn toàn hợp với lễ, nhưng cũng còn giữ được chút di ý của tiên vương.” Chiếu cho Lễ viện gấp rút tường định tâu lên. Lễ quan xin theo lời Tảo, đặt nhạc Cung Huyện, Văn, Vũ nhị vũ, cải chế nhạc chương, dùng trúc sách, bầu tước, tăng phối Đế độc và quan Phụng trở phân hiến, mở rộng đàn vi, trai quan, tu định nghi chú dâng lên.

Nhưng Phán Thái thường tự Vương Tồn (王存), Tri Lễ viện Tằng Triệu (曾肇) tâu: “Lễ tế tự thời xưa, hoặc do Thiên tử thân hành, hoặc do Hữu ty quyền chủ trì, không ngoài hai điều ấy; nay trong việc quyền chủ trì lại chia ra tôn ty cao thấp, đó là điều xưa chưa từng có. Hơn nữa, sai quan tuy là trọng, nhưng rốt cuộc không phải thân tế, e rằng đối với nghĩa Trời Đất là cha mẹ vẫn có chỗ chưa thuận. Tảo vốn cho rằng hợp tế là trái lễ, muốn bỏ đi; nhưng điều ông ta trình bày, xét theo lễ cũng chưa thấy là có thể. Nay ngày Hạ chí đã gần, xin tạm theo như chế độ cũ. Còn lễ thân tế, xin lại chiếu cho Ty Tường định Giao miếu lễ văn hết sức khảo cứu, định ra điều thích đáng, để sửa cái sai của đời sau, may ra hợp được ý tiên vương.”

Phán Thái thường tự Lý Thanh Thần (李清臣) cũng tâu: “Lễ tế Trời Đất là phép để muôn nước noi theo, không thể dễ nói mà đổi. Nay Hạ chí đã gần, mà nhạc vũ chưa tu, nhạc chương chưa chế, âm điệu Bát biến chưa kịp tập, áo mũ trai tế chưa kịp làm, trai cung chưa kịp dựng, đàn vi chưa kịp mở rộng, trâu tế chưa từng được tẩy rửa, thần lo rằng Hữu ty vội vàng ứng phó, có thể đến nỗi rối loạn, mất sự nghiêm kính. Cúi xin lại cân nhắc kỹ.” Ngự bút viết rằng: “Ý kiến của Trương Tảo, hiện nay thật không có gì thay thế được. Có thể theo lời Thanh Thần, tạm hoãn để hết thảy mọi người đều bày tỏ.” Bèn chiếu cho Lễ viện càng phải khảo cứu.

Lục Điển (陸佃) tâu: “Thần trộm xem điều Trương Tảo xin, là Hoàng thượng thân tế Giao, ngày Hạ chí tế Đất, cứ theo lời Táo mà làm. Còn ngày hôm sau lễ tế Trời vào Đông chí, theo phép xưa về việc Phương vọng, nhân đó sai tế Đất ở Bắc giao, và đem các thần Hải nhạc, Tứ độc, sơn lâm, xuyên trạch, phàm những thần vốn theo tế ở Viên khâu đàn vi trước đây, đều cho cùng được hưởng lễ; cũng sai Tụng tể quyền chủ trì, đều như nghi lễ tế ngày Hạ chí. Như thế là thân hành đại lễ, lễ hợp tế tuy bỏ, nhưng thần Trời Đất vẫn được dùng loại mà theo lễ cùng thờ, để tỏ rõ nghĩa Hoàng thượng tôn Trời thân Đất. Tuy nhiên, sau lễ Giao ắt có việc Phương vọng, kinh điển chứng minh rõ ràng, cố nhiên nên khảo xét phục hành. Còn như việc tế Đất tuy chưa có chứng cứ hiển nhiên, nhưng lấy loại suy mà cầu, đã Phương vọng còn tế, thì Địa kì giúp Trời thi hành công, lại là bậc lớn, sao có thể bỏ được! Thần kính xét ‘Thuấn điển’, lễ Loại có Thượng Đế mà không có Nhật Nguyệt Tinh Thần, lễ Nhân có Lục tông mà không có Thái tổ, lễ Vọng có Sơn Xuyên mà không có Đại kì; ‘Chu quan’ Đại tông bá, lễ Tế có Thượng Đế mà không có Ngũ Đế, có Tư trung, Tư mệnh mà không có Tư lộc, lễ Tế có Xã Tắc, Ngũ tự mà không có Đại kì, có Nhạc mà không có Tứ độc, có Sơn lâm xuyên trạch mà không có Khâu lăng phần diễn, lễ Hưởng có Tiên vương mà không có Tiên công, thì thứ tự trên dưới của đối tượng tế, so sánh nghĩa đều có thể biết được vậy.” Ty Tường định cho rằng điều Lục Điển nói “chưa có chứng cứ hiển nhiên”, khó mà thi hành.

Ngày Ất Sửu, Hợp môn tâu: “Mỗi năm vào lúc nóng bức, Quan gia ngự hậu điện, tiện cho việc quyết đoán. Xin từ ngày mồng 1 tháng 5 đến hết tháng 7, vào những ngày lẽ ra ngự tiền điện, Hợp môn xin chỉ. Nếu được chỉ ngự hậu điện, thì miễn triều tham.” Chiếu: “Nay trong ba Phục, 5 ngày một lần ngự tiền điện.”

An phủ ty Kinh Hồ Nam Lộ tâu rằng Tri Thiệu châu Quan Kỷ (關杞) bàn việc lập thành trại, đồn binh ở các châu trấn Khê Động Huy, Thành… cùng kế sách phòng thủ, chiêu nạp, xin giao cho Chuyển vận sứ xem xét. Chiếu cho Tạ Cảnh Ôn (謝景溫), Chu Sơ Bình (朱初平), Triệu Dương (趙楊) xem xét lợi hại, và sắp đặt sao cho về sau lâu dài không sinh chuyện, tâu rõ lên. Về sau việc xây dựng đặt để đều theo như lời Kỷ bàn.

Ngày Nhâm Thân, nước Liêu vì dân Phí châu (平州) mới trở lại làm ăn, miễn tô thuế 1 năm.

Ngày Kỷ Mão, Thục quốc Trưởng công chúa qua đời. Công chúa xuất giá cho Vương Thâm (王詵), phụng sự mẹ chồng rất có hiếu, trong ngoài đều xưng tụng là hiền. Công chúa bệnh nặng, Thái hậu, Hoàng hậu đến thăm hỏi, Hoàng đế tiếp đến, thấy công chúa gầy yếu, phục xuống chiếu mà khóc, tự tay bưng cháo cho ăn, công chúa vì Hoàng đế mà gắng ăn. Hôm sau, không dậy nữa. Hoàng đế chưa ăn sáng, liền ngự giá đến, trông thấy cửa nhà mà khóc. Ban cho nhà công chúa 5 triệu tiền, đình triều 5 ngày, truy phong làm Việt quốc, thụy Hiền Tuệ. Thâm vì lúc hầu bệnh công chúa mà thông dâm với tỳ nữ, bị cách chức Phò mã đô úy, giáng làm Chiêu Hóa quân Tiết độ hành quân Tư mã, an trí ở Quân châu.

Ngày Giáp Thân, phúc mệnh cho Hàn Tồn Bảo (韓存寶) kinh chế Lô Di.

Chiếu đổi Đô Đại đê Cử đạo Lạc thông Biện ty làm Đô Đề cử Biện hà đê ngạn ty.

Ngày Canh Dần, Ty Tường định Triều hội nghi chú tâu: “Nay định ở trong cửa sau điện Đại Khánh, phía đông tây đặt trướng làm các Hợp, lại ở hai bên sau rèm điện, tại đông tây phòng đặt màn, làm nơi xe ngự ra vào.” Lại tâu: “Bệ ngự bình liễn, Tiêu dao bày trong triều hội, trước đây đặt ở Tây Đóa điện, nay Tông thất ngồi ở Tây Đóa điện để ban rượu, muốn dời bày bình liễn… sang hai bên Long trì phía đông tây.” Đều được theo.

Liêu chúa vì hạn hán mà cầu mưa, lệnh tả hữu lấy nước dội vào nhau, chẳng bao lâu thì mưa xuống.

Tháng 6, ngày Mậu Tuất, Lễ viện tâu: “Việt quốc Trưởng công chúa qua đời trong thời gian để tang Từ Thánh Quang Hiến. Theo lễ, đại tang chưa hết mà gặp tiểu tang, thì tự phải đổi áo để tỏ ân ý, xong việc thì lại trở về như cũ. Chân Tông lúc để tang, vì Nhũ mẫu Tần quốc phu nhân mà mặc áo tang ty, lễ đạm chưa xong, cũng vì Hứa quốc Trưởng công chúa mà thành phục. Nay vì Từ Thánh Quang Hiến Thái hậu mà để tang, đã quá tháng đổi áo, nên vì Việt quốc Trưởng công chúa mà cử ai, thành phục.” Chiếu theo.

Ngày ấy, Liêu chúa đóng quân ở Nạp Cát lạc.

Ngày Canh Tý, Đồng phán Thái thường tự Vương Tồn tâu: “Gần đây chiếu cho Bí thư giám Lưu Kỷ (劉幾) đến Ty Tường định Giao miếu lễ văn bàn việc nhạc. Thần cúi xem Lễ bộ Thị lang trí sĩ Phạm Trấn (范鎮) từng luận về Nhã nhạc, xin triệu Trấn cùng Kỷ tham khảo chỗ được mất.” Chiếu theo.

Ban đầu, Trấn trí sĩ, ở Đông viên ngoài đô thành, mỗi khi gặp ngày Đồng thiên tiết, liền xin theo tản quan ban vào chúc thọ. Sau có chiếu: “Trấn xếp ban trên đương nhiệm Hàn lâm học sĩ, lại từ nay các quan trí sĩ gặp ngày Đản tiết và Đại lễ, cho phép chen vào ban cũ.” Về sau Trấn dời ở Vĩnh châu, lần này vào chầu, Hợp môn tâu Trấn thất nghi, có chiếu tha tội. Lại chiếu: “Từ nay quan trí sĩ vào triều có thất nghi thì không luận tội, ghi làm lệ.”

Ty Tường định lễ văn tâu: “Xin từ nay Hoàng đế thân tế Giao miếu, cài Đại khuê, cầm Trấn khuê. Mỗi khi phụng tế, sau khi tiếp thần, lạy hai lần, thì đặt Trấn khuê làm vật dâng, cầm Đại khuê làm hốt. Lúc ấy cài hốt, vua tôn thì không cài, khác với bề tôi. Các nghi chú ghi Hoàng đế cài Trấn khuê đều là lỗi do theo cũ, xin cho sửa lại.” Chiếu: “Đợi khi chế xong Đại khuê thì thi hành.”

Lại tâu: “Từ nay thân tế Giao miếu, quần thần mặc mũ miện giúp tế, cầm hốt, hoặc khi làm việc thì cài hốt, quan bồi vị cũng nên mặc mũ miện giúp tế.” Chiếu theo.

Ngày Bính Ngọ, chiếu cho Trung thư tường định quan chế, bãi Binh bộ Câu đương công sự.

Chiếu: “Các lộ Hà Bắc, Hà Đông, Thiểm Tây mỗi nơi chọn 1 viên văn, 1 viên võ, Đề cử Nghĩa dũng Bảo giáp.”

Ngày Mậu Thân, nước Liêu lấy Độ chi sứ Vương Tích (王績) làm Tham tri chính sự.

Ngày Canh Tuất, Nữ Chân sang cống nước Liêu.

Ngày Nhâm Tý, chiếu bãi Chủ phán quan Trung thư Môn hạ tỉnh, trả việc ấy về cho Trung thư.

Ngày Ất Mão, Tham tri chính sự Chương Đôn dâng “Đạo Lạc thông Biện ký”, lấy “Nguyên Phong đạo Lạc ký” làm câu, khắc đá ở Lạc Khẩu miếu.

Ngày Kỷ Mùi, Ty Tường định lễ văn tâu: “Hoàng Địa kì, Thần châu Địa kì, Đại Xã, Đại Tắc, các trúc bản chúc cùng trâu tế, tiền lụa, đồ ăn, đều chôn xuống hố.”

Lại tâu: “Các sách cáo thần ở Giao miếu, Minh đường, trước đây sai Trung thư Thị lang đọc, không đúng, xin đổi lệnh cho Thái chúc.”

Lại tâu: “Thân tế Giao miếu, các quan làm việc, đều là tạm thời chọn người cho đủ chỗ đứng mà thôi; Tông thất và quan bồi tế thì không dự vào việc làm, không hợp nghĩa xưa. Xin khi thân tế Nam giao, việc dâng, rút bèn đậu, phủ quỹ, trở soạn, dùng triều thần đảm nhiệm; ở Thái miếu, dùng Tông thất từ Viễn huyện Thứ sử trở lên đảm nhiệm.”

Lại tâu: “Nay lễ Đế hiệp lấy Công thần phối hưởng, mà lễ Đông chưng lại không có, trái với kinh. Xin mỗi khi gặp lễ Đông chưng, lấy Công thần phối hưởng, còn các lễ Đế hiệp yến đều bãi.”

Chiếu: “Việc đọc sách cáo do Sử quan quyền làm Thái chúc; các quan làm việc ở Giao miếu chọn người không quá nhiều; lễ Đông hưởng, Đế hiệp và thân tế đều lấy Công thần phối hưởng.” Các điều khác đều theo.

Mùa thu, tháng 7, ngày Mậu Thìn, Liêu chúa xem chợ.

Ngày Canh Ngọ, đê sông Hoàng Hà vỡ ở Thiền châu (澶州), đê Tôn thôn, Trần bảo của Thiền châu và đê Đại Ngô, Tiểu Ngô đều vỡ, chiếu cho Ngoại giám thừa ty gấp sửa đắp. Ban đầu, sông vỡ ở Thiền châu, Giám thừa Trần Hựu Phủ (陳祐甫) nói: “Chỗ Thương Hồ vỡ đã hơn 30 năm, vì thế lòng sông bồi lấp dần cao, đê phòng mỗi năm thêm, vẫn không tránh khỏi tràn lụt. Nay chỗ nên sửa có 3: Thương Hồ là 1, Hoành Lũng là 2, dấu vết cũ của Vũ là 3. Nhưng cố đạo Thương Hồ, Hoành Lũng, địa thế cao bằng, tính đất tơi xốp xấu, đều không thể khôi phục, dù khôi phục cũng không thể bền lâu. Chỉ có cựu độc của Vũ còn tồn tại, ở giữa Đại Phi, Thái Hành, đất thấp mà thế vững. Bí các Giáo lý Lý Thùy (李垂) và nay là Tri Thâm châu Tôn Dân Tiên (孫民先) đều có nghị luận về việc tu phục, mong triệu Dân Tiên cùng 1 viên Hà Bắc Tào thần, từ Vệ châu Vương cung bảo đi xem xét, cho đến cửa biển.” Chiếu theo.

Ngày Đinh Sửu, Ty Tường định lễ văn tâu: “Nghi chú Minh đường, đặt ngự vị ở phía đông nam dưới trung giai, quay mặt về tây. Thần kính xét xưa nhân quân lâm tế, đứng ở Tọa. Khi lâm tế, vào chỗ đứng ở dưới Tọa giai, đó là lễ của Đại phu, Sĩ. Từ đời Tào Ngụy trở về sau, Hữu ty làm sai. Cúi xin đặt bản vị Hoàng đế ở trên Tọa giai, quay mặt về tây; Thái miếu, Cảnh Linh cung cũng như thế.” Chiếu theo.

Ngày Quý Mùi, Liêu chúa vì Hoàng tôn Lương vương Diên Hi mà đặt cờ trống, cho 6 người Y lạt (伊喇) hộ vệ.

Ngày Giáp Thân, Liêu chúa đi săn ở Sa Lĩnh.

Ngày Bính Tuất, vì sao chổi xuất hiện, Hoàng đế tránh điện, giảm bớt bữa ăn, chiếu cầu lời nói thẳng.

Ngày Đinh Hợi, chiếu bảo Trung thư rằng:

Trẫm nghĩ tiên vương đặt ra phép tắc để ứng với lễ, hiếu không gì lớn bằng tôn kính cha, tôn kính cha không gì lớn bằng phối với Trời. Việc phối với Trời là một, nhưng bậc được phối có khác nhau về tôn thân, lễ có khác nhau về tôn ty. Cho nên bậc xa mà tôn là Tổ, thì tế ở Viên khâu của Giao mà phối với Trời; bậc gần mà thân là Nhĩ, thì tế ở Minh đường của nước mà phối với Thượng Đế. Trời đủ để bao gồm Thượng Đế, mà Thượng Đế chưa đủ để hết nghĩa của Trời, nên Viên khâu tế Trời thì đối đãi với chư thần, còn Minh đường thì chỉ có Thượng Đế mà thôi. Vì thế người được phối như vậy, rồi sau mới đủ để hợp với nghĩa tôn thân, xa gần. Thế mà các đời về sau, việc phối ở Hợp cung đã rối loạn với kinh, lại đến nỗi pha tạp với thuyết Lục thiên của tiên Nho, đều là do theo chỗ hẹp hòi, mờ tối xưa cũ, mà mất đi sự thích đáng của tình văn, trẫm rất không chấp nhận. Nay về sau tế Anh Tông Hoàng đế ở Minh đường, chỉ lấy để phối với Thượng Đế, còn các thần theo thờ khác đều bãi hết.

Ngày Mậu Tý, sao Thái Bạch hiện ra ban ngày.

Hộ bộ Thị lang trí sĩ Phạm Trấn tâu: “Xin giao cho các Chuyển vận sứ Kinh Đông, Kinh Tây, Hà Đông, Hà Bắc, Thiểm Tây, tùy tình hình đặt ra điều lệ thưởng, tìm kiếm giống kê thật, để xét âm nhạc.”

Ngày Kỷ Sửu, Ty Tường định lễ văn tâu: “Xin từ nay khi ngự xe không cầm khuê, và khi ngồi Đại liễn cũng không cầm.”

Lại tâu: “Xưa trong tông miếu, trong phòng đặt đá để chứa thần chủ, gọi là Tông hữu. Xin dời thần chủ trong miếu, chứa ở trong tường phía bắc Thái tổ Thái thất, thần chủ Hoàng đế, Hoàng hậu mỗi bên chung một phòng đá. ‘Lễ ký’ nói: ‘Chiếu của Thiên tử có 5 lớp.’ Nay kỷ chiếu ở Thái miếu đều không hợp lễ, xin đổi dùng quản chiếu, phấn thuần thêm chiếu tơ, họa thuần thêm chiếu thứ, phất thuần hai bên là ngọc kỷ. Khi tế tự, chiếu tơ, chiếu thứ đều thêm 1 lớp, cùng với quản chiếu thành 5 lớp.” Đều được theo.

Ngày Canh Dần, Kinh lược ty Hy Hà lộ tâu rằng các thủ lĩnh biên giới phía tây là Vũ Tàng Kết Bô Dược (禹臧結逋藥), các phiên bộ Ba Cúc (巴鞫) dùng thư dịch đến báo rằng nước Hạ tập hợp binh, sẽ xây thành Triệt Bô Đạt Tông (撤逋達宗城) ở phía nam Hoàng Hà, phía tây sông Đào, trong cương giới Hà châu. Hoàng đế nói: “Nếu như lời báo, thì đó là thuộc cương giới Hà châu, há có thể để mặc cho chúng xây dựng! Rất lo Kinh lược ty không xét kỹ chỗ đất đã nói, hoàn toàn không phòng bị, xua đuổi, ngăn cấm từng bước, nên gấp hạ lệnh cho bản ty tăng nhiều binh mã để cấm chỉ.”

Tháng 8, ngày mồng 1, tức ngày Tân Mão, Ty Tường định lễ văn tâu: “Lễ thần Ngô Thiên Thượng Đế ở Minh đường, ngọc dùng để tế thần nên dùng Thương bích. Nay dùng Tứ khuê hữu để, xin đổi dùng Thương bích để tế Trời. Các Hữu ty quyền chủ trì tế Ngũ Đế, cũng xin theo chế ‘Đại tông bá lễ thần’, bày ngọc đều mô phỏng theo màu của phương ấy.” Chiếu cho theo.

Ngày Mậu Tuất, chiếu: “Các quan Lưỡng chế, Đài gián cho đến Tổng quản, Giám tư, mỗi người cử 1 người có thể ứng thí Võ cử Tiến sĩ, dâng tên lên.”

Ngày Canh Tý, Kiểm chính Trung thư Hộ phòng công sự Tất Trọng Diễn (畢仲衍) dâng bộ “Bị đối” do mình biên soạn, tâu rằng: “Thời nhà Chu, Tụng tể cuối năm lệnh cho bách quan, các phủ chỉnh lý việc trị, nhận bản hội; Tiểu tể theo thứ tự nhận yếu điểm của quần lại. Cái gọi là ‘Hội yếu’ ấy, chính là điều mà nay Trung thư nên có. Từ Hán đến Đường, trải nghìn trăm năm, không ai biết bàn việc này, nên mới có những câu hỏi về xử án, tiền thóc mà không thể đối đáp được. Việc này khởi từ thánh ý, khiến thêm biên tập. Thần góp nhặt sự thực cũ, mới tạm thành quyển mục, gồm 125 môn, phụ thêm 58 điều, thành 6 quyển, việc nhiều thì chia thượng, trung, hạ, cộng thành 10 quyển.” Chiếu cho Trung thư, Môn hạ mỗi nơi chép 1 bản nộp cho Chấp chính, lại chia cho các phòng treo bảng. Ban đầu, sách thành, Trọng Diễn muốn cầu Hoàng đế xem để mong công thưởng, Hoàng đế cho rằng sách này là sách để bề tôi chuẩn bị đối đáp với vua, không nên dâng lên ngự lãm, nên mới có chiếu ấy.

Ngày Ất Tị, chiếu bảo Trung thư: “Trẫm khen nhà Chu thành tựu việc đặt quan theo việc, đặt bổng theo tước, muôn việc có điều lý, soi xét hai đời trước, thì đầy đủ mà lại tôn nghiêm. Quốc gia nhận mệnh đã 100 năm, bốn biển thừa đức, há lẽ nào quan chính hiện nay còn thẹn với tiếng xưa! Nay sẽ truy xét gốc của việc chế tác, chấn chỉnh nguồn gốc, nếu khảo xét ý nghĩa noi theo phép tắc của tổ tông, tham khảo việc thêm bớt, theo kịp điều thích hợp với thời, khiến quan ở Đài, Tỉnh, Tự, Giám thực sự đảm nhiệm chức sự, những người chỉ lĩnh hư danh, đều bãi hết mà đổi thành cấp bậc, nhân đó đặt bổng lộc, mọi số lần ban ân, đều như điều lệ cũ. Các việc nên thi hành, Trung thư kê rõ tâu lên.”

Bí thư thừa, Đồng tri Lễ viện Dương Kiệt (楊傑) tâu: “Mười hai là bản thanh của luật; bốn là ứng thanh của luật. Bản thanh nặng, ứng thanh nhẹ trong; bản thanh là vua cha, ứng thanh là bề tôi con, nên bốn thanh ấy hoặc gọi là Thanh thanh. Từ niên hiệu Cảnh Hựu, Lý Chiếu (李照) bàn về nhạc trở đi, chung, khánh, tiêu bắt đầu không dùng bốn thanh, tức là có bản mà không có ứng, có xướng mà không có hòa, tám âm làm sao hòa được! Nay Tiêu sinh, Hòa sinh, ống đều 19, dùng 12 ống phát bản thanh của luật lữ, dùng 7 ống làm ứng thanh của Dật trung, dùng đã lâu, mà âm thanh rất hòa hợp. Cúi xin tham khảo chế độ xưa, theo lệ Tiêu sinh, Hòa sinh, dùng Biên chung, Biên khánh, tiêu, để hòa tám âm.” Lại tâu: “Nay khi tấu Đại nhạc, cầm, sắt, huân, trì, địch, ủy, tiêu, sinh, noãn tranh, trúc tấu 1 tiếng, thì Bác chung, Đặc khánh, Biên chung, Biên khánh liên tiếp đánh 3 tiếng, trong các nhạc khí, tiếng là nhiều nhất. Xin Bác chung, Đặc khánh, Biên chung, Biên khánh đều theo tiết tấu của các khí khác, không được liên tiếp đánh, cốt để tám âm không lấn át nhau.”

Lại tâu: “Nay Nhã nhạc của triều ta ở Giao miếu, trước tấu Văn vũ, sau tấu Vũ vũ, dung tiết của Vũ vũ có 6 biến: một biến tượng trưng Hoài, Dương bình định, hướng nên về đông nam; bốn biến tượng trưng Kinh, Hồ quy thuận, hướng nên về nam; năm biến tượng trưng Khung, Thục nạp khoản, hướng nên về tây; sáu biến tượng trưng binh trở về, chấn lữ, hướng nên về bắc rồi nam. Nay người múa không chỉ động tác phát dương, đảo lệ, tiến thoái cúi ngẩng không xứng với công thành đức thịnh, lại còn sai hướng. Lại nữa, dung tiết của Văn vũ, hoàn toàn không có phép tắc. Xin định dung tiết của hai vũ, và đổi hướng, để xứng với công thành đức thịnh. Lại xin theo ‘Chu lễ’ tấu luật, ca lữ, hợp âm thanh âm dương.”

Lại tâu: “Nay nhạc khí cổ của Nhã nhạc không phải là không còn, luật lữ của Thái thường không phải là không đủ, mà sĩ đại phu bỏ đó không khảo cứu, việc khảo xét, gõ, tấu, giao cho bọn thợ hèn, làm sao không để Nhã, Trịnh lẫn lộn! Cúi xin chỉnh định chuông của Thái thường, theo điển lễ dùng phép Thập nhị luật hoàn cung quân, khiến trên dưới đều hiểu rõ âm của Thập nhị luật, thì tiếng Trịnh không có đường làm loạn Nhã nữa.” Chiếu giao cho Ty Nghị nhạc. Lưu Kỷ cùng những người khác tâu rằng điều Kiệt xin đều có thể thi hành, chiếu theo.

Ngày Mậu Thân, Bí thư giám trí sĩ Lưu Kỷ cùng những người khác tâu: “Chuông, khánh Đại nhạc của Thái thường có 3 loại: nhạc của Vương Phác (王朴) là 1, nhạc của Lý Chiếu là 2, nhạc của Hồ Nguyên (胡瑗), Nguyễn Dật (阮逸) là 3. Nhạc của Vương Phác, âm quá cao, đây là điều Thái Tổ Hoàng đế từng nói, không đợi luận mới rõ. Niên hiệu Cảnh Hựu đời Nhân Tông, lệnh Lý Chiếu định nhạc, bèn hạ luật pháp để lấy âm Hoàng chung; lúc ấy người quen nghe âm cũ, nghi là quá nặng, nên nhạc của Lý Chiếu do đó không dùng. Đến niên hiệu Hoàng Hựu, Hồ Nguyên, Nguyễn Dật lại định Đại nhạc, so với nhạc của Vương Phác thì hơi thấp, mà âm luật tương cận; đến khi đúc Đại chung, có người chê âm uất, nên cũng không dùng, từ đó Giao miếu vẫn dùng nhạc của Vương Phác. Nhạc công tự tâu, nếu dùng nhạc của Vương Phác, thì chuông, khánh là Thanh thanh khó theo, nếu đổi chế Hạ luật, thì Thanh thanh của chuông, khánh mới có thể dùng. Càng chứng tỏ chuông, khánh của Vương Phác quá cao, khó dùng hết. Nay lấy 3 loại chuông, khánh so sánh âm, thì Hoàng chung trong nhạc của Vương Phác, Nguyễn Dật chính tương đương với Thái tộc trong nhạc của Lý Chiếu. Trong nhạc của Vương Phác, Nguyễn Dật, Biên chung, Biên khánh mỗi thứ 16 cái, tuy có 4 Thanh thanh, nhưng thực ra sai lệch chính thanh Hoàng chung, Đại lữ. Trong nhạc của Lý Chiếu, Biên chung, Biên khánh mỗi thứ 12 cái, tuy có Hoàng chung, Đại lữ mà hoàn toàn thiếu 4 Thanh thanh, không phải chế độ xưa. Thánh nhân làm nhạc để ghi âm thanh trung hòa, nhờ đó dẫn dắt khí trung hòa. Thanh không thể quá cao, trọng không thể quá thấp, khiến tám âm hòa hiệp, người hát thong thả mà có thể kéo dài lời ca, đó gọi là trung hòa. Thần cùng những người khác nhân đó chọn kỹ 12 chiếc Biên chung, Biên khánh của Lý Chiếu hợp với luật, tăng thêm Thanh thanh Vô xạ, Ứng chung và Hoàng chung, Đại phẩm của Vương Phác, để làm 4 Thanh thanh của Hoàng chung, Đại lữ, Thái tộc, Giáp chung, khiến các nhạc khí theo đó, ca công kiêm dùng Thanh thanh mà ngâm, âm thanh trong mà không quá cao, nặng mà không quá thấp, âm trung hòa có thể khảo nghiệm được. Muốn xin hạ lệnh dùng hai luật trong nhạc của Vương Phác để định âm trung hòa, rồi từ chuông, khánh của Thái thường chọn cái có thể dùng, cái không thể sửa thì chế cái khác.” Chiếu theo.

Ngày Bính Thìn, Thái thường tự tâu: “Gần đây xin lưu chuông, khánh của Vương Phác, nay Ty Tu Đại nhạc đã tập hợp thợ thuyền, chuẩn bị lò than, e rằng sẽ đúc chảy, mài giũa. Huống chi khí cụ của Đại nhạc, độ lượng, âm luật, nhỏ nhặt tinh vi, sau khi sửa xong, nếu Hoàng thượng thân đến nghe xét, vạn nhất có chỗ chưa hợp, thì lại không còn khí cụ cũ để khảo nghiệm. Bản tự mỗi khi gặp Đại lễ, ngoài nhạc của Vương Phác được dùng, vốn có không ít nhạc khí do Lý Chiếu, Hồ Nguyên làm, và đá khánh làm nguyên liệu, có thể chế nhạc mới khác, để nghiệm thuật của người bàn.” Chiếu cho phép mượn chuông nhạc của Vương Phác làm Thanh thanh, không được đúc chảy, mài giũa.

Ban đầu, Lưu Kỷ, Dương Kiệt muốn đúc chảy chuông cũ của Vương Phác, ý là nhạc mới thành, dù không hay cũng không còn âm cũ để so. Sau đó, Chấp chính đến Thái thường tự nghe thử, đêm hôm trước, Kiệt bèn bày ra 1 chiếc chuông của Phác đã hỏng. Nhạc công đều bất bình, đêm thay chuông khác, mà Kiệt không biết. Hôm sau, Chấp chính đến, Kiệt lớn tiếng nói: “Chuông của Phác rất không êm tai.” Sai nhạc công gõ, âm vận lại càng hay. Kiệt rất thẹn, nản.

Vương An Thạch dâng bản sửa định chữ sai trong “Thi”, “Thư”, “Chu lễ nghĩa”, chiếu chép gửi Quốc tử giám để tu chính.

Ngày Mậu Ngọ, không còn thấy sao chổi.

Tháng 9, ngày Nhâm Tuất, tăng cho phần mộ Tuyên Tổ đất Đông An ở Định châu 20 khoảnh và hộ giữ vườn.

Ngày Bính Dần, ngự điện, phục lại bữa ăn.

Ngày Canh Ngọ, Tri Gián viện Thư Đản tâu: “Trung thư Kiểm chính quan Trương Thương Anh có gửi thư tay cho thần, lại đem cả văn thư của con rể là Vương Vi cho thần xem. Chức phận của thần ở đường ngôn luận, việc có dính đến cầu cạnh xin xỏ, thần không dám che giấu.” Chiếu cách chức Thương Anh chức Quán các Giáo khán, sung Giám thu thuế huyện Giang Lăng, phủ Giang Lăng. Lúc đầu, Đản làm Huyện úy, vì tự tay giết người, bị đình chỉ bãi bỏ mấy năm. Thương Anh làm Ngự sử, nói rằng tài của Đản có thể dùng được, nên Đản mới được đổi quan. Đến đây lại quay ra hãm hại Thương Anh, sĩ luận chê ghét việc ấy.

Thái thường bác sĩ, Tập hiền Hiệu lý, mới quyền Tri Hồ châu là Trần Đồng tâu: “Bệ hạ tôn sùng việc tế tự ở Giao miếu và trăm thần, khảo cứu điển lễ, lại càng nghiêm mật đầy đủ. Chỉ riêng nơi đặt đàn của Ngũ Nhạc, Tứ Độc là chưa lập. Muốn xin theo Chu lễ dựng bốn đàn Tứ vọng ở bốn phía ngoài kinh thành, để tế Ngũ Nhạc, Tứ Trấn, Tứ Độc, mong là hợp với kinh điển, lại càng xứng với ý bệ hạ phụng thờ tế tự.”

Chiếu giao cho Ty Tường định lễ văn. Ty Tường định tâu: “Xin lấy các mộ phần Ngũ Nhạc, Tứ Trấn, Hải, Độc đã ghi trong Tư lệnh của bản triều, đặt làm Tứ vọng ở bốn phía ngoài kinh thành: Đài Sơn, Di Sơn, Đông Hải, Đại Hoài ở phía đông; Hành Sơn, Hội Kê Sơn, Nam Hải, Đại Giang, Tung Sơn, Hoắc Sơn ở phía nam; Hoa Sơn, Ngô Sơn, Tây Hải, Đại Hà ở phía tây; Thường Sơn, Y Vu Lư Sơn, Bắc Hải, Đại Tế ở phía bắc. Mỗi phương, phần Nhạc và Trấn thì cùng lập chung một đàn, phần Hải và Độc thì cùng làm một lần tế. Lấy ngày nghênh khí của 5 mùa mà tế, đều dùng huyết tế, chôn vùi xuống đất, khi có việc thì đến cầu đảo. Lại đem các núi sông bốn phương đều phụ thuộc dưới các Ngũ Nhạc, Tứ Trấn, Hải, Độc của phương ấy, riêng lập một đàn, một lần tế. Núi thì chung một đàn, sông thì chung một hố tế, khi có hạn hán hay lụt lội thì cầu đảo. Việc tòng tự ở Bắc giao và việc các huyện đến tế vẫn như cũ.”

Chiếu: “Ngũ Nhạc, Tứ Trấn bốn phương cùng chung một đàn để vọng tế, các điều khác theo tấu chương.”

Ngày Ất Hợi, chỉnh đính tên gọi quan chức. Ty Tường định quan chế dâng bản quy cách mới, đổi bậc tước để thay đổi quan hàm kiêm chức và bổng lộc: “Trung thư lệnh, Thị trung, Đồng Bình chương sự là Khai phủ Nghi đồng Tam ty; Tả, Hữu Bộc xạ là Đặc tiến; Lại bộ Thượng thư là Kim tử Quang lộc đại phu; 5 Ty Thượng thư là Ngân thanh Quang lộc đại phu; Tả, Hữu Thừa là Quang lộc đại phu; 6 Ty Thị lang là Chính nghị đại phu; Cấp sự trung là Thông nghị đại phu; Tả, Hữu Gián nghị là Thái trung đại phu; Bí thư giám là Trung đại phu; Quang lộc khanh đến Thiếu phủ giám là Trung tán đại phu; Thái thường đến Tư nông Thiếu khanh là Triều nghị đại phu. 6 Ty Lang trung là Triều thỉnh, Triều tán, Triều phụng đại phu, cộng 3 bậc; Viên ngoại lang là Triều thỉnh, Triều tán, Triều phụng lang, cộng 3 bậc; Khởi cư xá nhân là Triều tán lang; Ty Tư gián là Triều phụng lang; Chính ngôn, Thái thường, Quốc tử bác sĩ là Thừa nghị lang; Thái thường, Bí thư, Điện trung thừa là Phụng nghị lang; Thái tử Trung dụ, Tán thiện đại phu, Trung xá, Tẩy mã là Thông trực lang; Trứ tác tá lang, Đại lý tự thừa là Tuyên đức lang; Quang lộc, Vệ úy, Tướng tác giám thừa là Phú nghị lang; Đại lý Bình sự là Thừa sự lang; Thái thường tự Thái chúc, Phụng lễ lang là Thừa phụng lang; Bí thư tỉnh Giáo thư lang, Chính tự, Tướng tác giám Chủ bộ là Thừa vụ lang. Lại quy định từ Khai phủ Nghi đồng Tam ty đến Thông nghị đại phu trở lên thì không áp dụng phép Ma khám; từ Đại trung đại phu đến Thừa vụ lang đều phải Ma khám. Từ Đãi chế trở lên, cứ 6 năm thăng 2 cấp quan, đến bậc Thái trung đại phu thì dừng; từ Thừa vụ lang trở lên, cứ 4 năm thăng 1 cấp quan, đến bậc Triều nghị đại phu thì dừng, đợi khi Triều nghị đại phu có khuyết thì lần lượt bổ sung. Số Triều nghị đại phu lấy 70 người làm hạn ngạch, việc Ma khám tuyển người, đều theo phép của Lại bộ Thượng thư; người được thăng làm Kinh triều quan thì theo quan chế mới định hiện nay. Về bổng lộc, đều lấy số cũ về bổng lộc, tiền gạo cấp cho chức quan có thực chức, mà đối chiếu với quan chế mới định hiện nay để xin cấp phát, rồi dựa đó mà định.” Đều theo cả.

Theo lệ cũ, hai ban Trung thư, Môn hạ không chuyển sang làm quan Thượng thư, Giám; người từng làm Lang trung thì được vượt cấp thăng làm Gián nghị đại phu; người từng làm Lang trung, về bậc tước thì là Triều thỉnh đại phu, còn Gián nghị đại phu, về bậc tước thì là Thái trung đại phu. Hoàng đế cho rằng Ma khám là phép khảo tích của đời xưa, là điều mà trăm chức vụ cùng phải chịu, mà riêng bọn quan cận cận lại được vượt cấp, là không hợp phép. Bèn xuống chiếu: “Các quan từ Đãi chế trở xuống đều 3 năm thăng 1 cấp, lại chuyển qua 3 bậc Triều nghị đại phu, Trung tán đại phu, Trung đại phu.”

Ngày Bính Tý, chiếu: “Khai phủ Nghi đồng Tam ty là Thứ tướng, không kèm theo Đại sắc hàm. Các Tể tướng, Thứ tướng đương nhiệm, bổng lộc thực phong cộng lại đến 1 vạn hộ; các Tể tướng tiền nhiệm, bổng lộc và 1 vạn hộ, đều phong làm Quốc công, tông thất thì theo lệ cũ.”

Lại nữa, Trung thư tâu: “Quan chế sở trình, triều chỉ trừ tam công, tam ty ra, các quan Kiểm hiệu khác đều bỏ bậc tước tản, đều bãi. Các tông thất và Võ thần chính nhiệm đến Nội thường thị trở lên, Nội thần Cung phụng quan trở xuống, người trong diện tuyển, Kỹ thuật quan, Tướng hiệu, Trung thư, Khu mật viện Chủ sự trở xuống, và các lại dịch ở các ty được ban cho chức Lưu quan, Nha hiệu, đều có bậc tước Văn tản, Kiểm hiệu quan và Hiến hàm đi kèm, nay muốn đều bỏ hết. Còn các Tăng quan, và bọn người Man ở khe động làm Tri châu, Tri trấn, cùng các quan Phiên ở ngoài hóa độ được mang tản quan, đều nên do triều đình chỉ huy.” Đều theo cả. Sau đó lại chiếu: “Các bậc tước tản theo văn thức, trừ người ngoài hóa độ vẫn theo lệ cũ mà ban cho, còn lại đều bãi.”

Ngày Tân Tị, đại hưởng ở Minh đường, lấy Anh Tông phối hưởng.

Ngày Quý Mùi, dùng Tiết độ sứ Tiết độ phó sứ Tạ Hướng, Tôn Cố đều làm Khu mật phó sứ.

Ngày Ất Dậu, chiếu lập ngay trong Cảnh Linh cung 11 điện, dùng lễ của Thời vương để tế tự tổ tông.

Lấy Vương An Thạch làm Đặc tiến, đổi phong làm Kinh quốc công, giáng Vương Củng Thần xuống, bãi chức Khai phủ Nghi đồng Tam ty, đều là vì thi hành quan chế mà chỉnh đốn tên gọi quan chức. Chiếu cho Củng Thần làm Phán Đại Danh phủ. Củng Thần từ chối, nói: “Thần đã già, không đủ để đảm nhiệm việc.” Hoàng đế nói: “Bắc môn là nơi trọng yếu, khanh từng trị nhậm ở đó, hãy gắng vì trẫm mà đi!”

Ngày Bính Tuất, tiến phong Kỳ vương Hạo làm Ung vương, Gia vương Quân làm Tào vương, đều kiêm chức Tư không. Văn Ngạn Bác làm Thái úy. Phong Tào Dật làm Tế Dương quận vương, Tông Đán làm Hoa Âm quận vương. Phong Phùng Kinh làm Khu mật sứ. Tạ Hướng bị bãi, làm Tri Ứng châu. Gặp lúc có chiếu cho dân nuôi ngựa, Hướng đã phụng hành mệnh lệnh, rồi liền biết dân không tiện, bàn muốn sửa đổi. Bấy giờ Thư Đản luận tội Hướng là lật lọng, không có phong độ đại thần, giáng làm Tri Ứng châu, lại đổi sang làm Tri Tùy châu.

Ngày Đinh Hợi, lấy Lữ Công Trứ làm Khu mật phó sứ. Công Trứ cùng với Phùng Kinh, Tạ Hướng, Tôn Cố cùng ở Tây phủ. Ba người kia thường nhiều lần tranh luận trước mặt Hoàng đế, chỉ riêng Công Trứ là không nói. Đến khi Hoàng đế hỏi đến, bấy giờ mới thong thả phân tích chỗ nên, chỗ không, lời ít mà trúng, Hoàng đế thường nghe theo, ba người kia cũng không thể trái được. Hoàng đế nhiều lần cùng các phụ thần bàn việc thiên hạ, một hôm, bảo Công Trứ rằng: “Trong dân gian không còn biết đến việc dịch nữa.” Công Trứ đáp rằng: “Nhà giàu trước kia vì dịch nhiều mà tan nhà, nay thì ăn no ở yên, thật là may mắn. Nhà nghèo trước kia không có dịch, nay phải nộp tiền thay dịch, thì khổ vậy.” Hoàng đế nói: “Như thế thì phép ấy cũng nên đổi vậy.”

Ngày Mậu Tý, Ty Kinh lược lộ Hy Hà tâu, xin trước hết kết tập bọn phiên cung tiễn thủ; theo cho. Năm ấy chiếu: “Phàm cung tiễn thủ, binh kỵ, mỗi 50 người làm 1 đội, đặt Dẫn chiến kỳ đầu, Tả hữu Khiêm kỳ, và lấy bọn Phiên thủ lĩnh bản thuộc, Tướng hiệu làm Ủng đội, đều như phép Chính quân. Bọn Phiên Tróc sinh, Phiên Cảm dũng, Sơn hà hộ cũng như thế. Phàm mộ cung tiễn thủ, Phiên Tróc sinh, Cường nhân, Sơn hà hộ, không kể đẳng hạng, chỉ mộ người có người bảo đảm, từ 17 tuổi trở lên, bắn cung được 7 đấu, có thể gánh vác mang đeo được. Bọn Phiên sinh mới cũ ở Phu lộ, Cường nhân ở Hoàn Khánh lộ, Hán cung tiễn thủ các lộ, bọn Phiên hộ Quy minh giới Bảo nghị ở Phu lộ, cung tiễn thủ, đều xăm mực ở lưng.”

Nhuận tháng, ngày Tân Mão, Ngự sử Phạm Thang tâu: “Tào Dật vì là ngoại thích mà được phong quận vương, từ tổ tông đến nay, chưa từng có người nào như Dật. Bệ hạ đã ban cho sự giàu sang, ân sủng bổng lộc rất hậu, để tỏ lòng hiếu ái đối với Từ Thánh (Thái hậu) cũng đã hết sức. Dật tuy không làm vương, nhưng vẫn có thể bảo toàn họ Tào; mệnh đã ban rồi mà sửa lại, há chẳng phải là lập thành phép tắc cho con cháu muôn đời sao?” Không theo.

Ngày Nhâm Dần, Liêu chúa tế ở Mộc Diệp Sơn.

Ngày Kỷ Dậu, Liêu chúa đóng quân ở Ấu Ty Điện.

Ngày Ất Mão, gia phong Văn Ngạn Bác làm Hà Đông, Vĩnh Hưng quân Tiết độ sứ, lấy Phú Bật làm Tư đồ.

Mùa đông, tháng 10, ngày Tân Dậu, Ty Tường định quan chế Kiểm thảo văn tự, Quang lộc tự thừa Lý Đức Sô dâng 30 quyển Nguyên Phong quận huyện chí, 3 quyển Đồ.

Y Lý Nhân Kiệt nước Liêu ở chức Tể tướng đã lâu, tham lam vay mượn không biết chán, thường cùng thân thích hội ẩm, từng nói: “Không có trăm vạn lạng vàng, thì không đủ làm nhà Tể tướng.” Y Lý Di Tốn đã ra ngoài, Liêu chúa dần dần tỉnh ngộ sự gian tà của Nhân Kiệt, ngày Đinh Mão, giáng làm Vũ Định quân Tiết độ sứ.

Ngày Canh Ngọ, Tham tri chính sự nước Liêu Lưu Thân về trí sĩ.

Ngày Quý Dậu, nước Liêu lấy Trần Nghị làm Hán nhân Hành cung Đô bố trí, Vương Tích làm Đồng tri Khu mật viện sự.

Ngày Quý Mùi, chiếu cho Hàn lâm học sĩ đều được đeo ngư phù.

Tháng 11, ngày Kỷ Sửu, mồng 1, nhật thực.

Ngày Quý Mão, Liêu chúa triệu quần thần bàn chính sự. Liêu chúa nói: “Bắc Khu mật viện là trọng nhiệm quân quốc, đã lâu khuyết người, giữa hai người Y Lý A Tô và Tiêu Ngạch Đặc Lặc, ai hơn?”

Quần thần mỗi người khen sở trường của người mình. Hành cung Đô bố trí Khiết Đan là Tiêu Thác Huy chỉ im lặng. Liêu chúa nói: “Khanh sao không nói?” Thác Huy nói: “Ngạch Đặc Lặc thì nhu nhược mà làm hỏng việc; A Tô thì có tài mà tham, sẽ làm mầm họa. Bất đắc dĩ mà dùng, thì làm hỏng việc còn hơn là gây mầm họa.” Liêu chúa nói: “Thác Huy, dẫu là Ngụy Trưng cũng không hơn được, chỉ tiếc trẫm không thể sánh với Đường Thái Tông mà thôi.”

Ngày Nhâm Tý, Trực Long đồ các, Câu đương Tam ban viện Tăng Củng dâng tấu nói: “Từ khi nhà nước hưng khởi, 6 vị thánh nối tiếp nhau, cùng với dân nghỉ ngơi, cho nên dân số đã đông, tài dụng có dư. Lại đem so sánh các năm Cảnh Đức, Hoàng Hựu, Trị Bình: năm Cảnh Đức có 730 vạn hộ, ruộng khai khẩn 170 vạn khoảnh; năm Hoàng Hựu có 1090 vạn hộ, ruộng khai khẩn 225 vạn khoảnh; năm Trị Bình có 1270 vạn hộ, ruộng khai khẩn 430 vạn khoảnh. Thu nhập hàng năm của thiên hạ, đời Hoàng Hựu, Trị Bình đều trên 1 ức vạn, chi phí hàng năm cũng đều trên 1 ức vạn. Năm Cảnh Đức, quan lại hơn 1 vạn viên; năm Hoàng Hựu hơn 2 vạn viên; năm Trị Bình, kể cả Mạc chức, châu huyện quan hơn 3.300 viên, cộng là 24.000 viên. Chi phí tế Giao năm Cảnh Đức là 600 vạn, năm Hoàng Hựu là 1200 vạn, năm Trị Bình là 1300 vạn. Lấy hai điều ấy mà so, số quan lại đông gấp đôi năm Cảnh Đức, chi phí tế Giao cũng gấp đôi năm Cảnh Đức. Số quan lại khác nhau như thế, thì cửa để vào làm quan đời Hoàng Hựu, Trị Bình nhiều hơn đời Cảnh Đức; chi phí tế Giao khác nhau như thế, thì đầu mối dùng tiền đời Hoàng Hựu, Trị Bình nhiều hơn đời Cảnh Đức. Thật nên chiếu cho hữu ty tra xét sách vở ghi chép mà tìm tòi nguyên do. Để cho số quan lại, số cửa vào làm quan có thể khảo mà biết; chi phí tế Giao, các đầu mối dùng tiền có thể khảo mà biết; rồi sau đó mỗi người bàn việc cái gì có thể bỏ thì bỏ, cái gì có thể giảm thì giảm, khiến cho dân trong thiên hạ được như sự thịnh vượng đời Hoàng Hựu, Trị Bình, mà việc dùng tiền của thiên hạ, số quan lại, chi phí tế Giao đều giống như đời Cảnh Đức, thì hai bên tiết giảm được chừng một nửa vậy.”

Sau đó lại dâng tấu bàn rằng: “Bệ hạ cho rằng lời thần nói lấy việc tiết dụng làm yếu chỉ của trị tài, những người đời nói về trị tài chưa ai đạt đến mức ấy, nên giao cho Trung thư. Thần chịu tội ở Tam ban, xét từ buổi đầu quốc triều tiếp tục phép cũ mà lấy Cung phụng quan, Tả, Hữu ban Điện trực làm Tam ban, lập Đô tri, Hành thủ lĩnh, lại có Điện tiền Thừa chỉ, Ban viện riêng lập Hành thủ lĩnh. Từ sau niên hiệu Đoan Củng, chia làm Đông, Tây Cung phụng, lại đặt Tả, Hữu Thị cấm và Thừa chỉ, các chức Cung chức đều thuộc về Tam ban, tên gọi Tam ban cũng không đổi. Lúc đầu, số lại viên Tam ban chỉ 300, hoặc chưa đến, đến khoảng niên hiệu Thiên Hy, thì tổng cộng hơn 4.200, đến nay thì tổng cộng 11.690, tông thất lại có 870. Tính ra, số viên chức năm Cảnh Đức đã gấp 10 lần buổi đầu, mà so với nay thì gần gấp 3 lần năm Cảnh Đức. Đại lược lấy sổ sách thu vào, chi ra trong 3 năm mà so, năm Hy Ninh thứ 8, vào sổ là 487 người, năm thứ 9 là 544 người, năm thứ 10 là 690 người; còn số chết, thôi miễn, ra khỏi sổ, mỗi năm hoặc hơn 200 người, hoặc chưa đến. Như thế là mỗi năm đều có tăng, chưa thấy dừng lại. Thần lại đại lược khảo xét các đường lối vào quan, ghi riêng thành một bản để dâng, bàn cái gì có thể bỏ thì bỏ, cái gì có thể giảm thì giảm, chỉ trông vào sự lựa chọn của bệ hạ. Điều thần biết là Tam ban, còn Lại bộ Đông, Tây Thẩm quan và các khoản chi phí khác trong thiên hạ, ắt cũng có chỗ gần giống như thế, chỉ mong bệ hạ thử gia công khảo sát, tìm theo loại mà xét. Khiến cho thu nhập hàng năm của thiên hạ là ức vạn, mà điều tiết giảm được là 3 phần trong 10 phần, tính thông cả 30 năm, thì sẽ có tích trữ được 15 năm. Tài dụng là gốc của thiên hạ, khiến cho quốc gia giàu mạnh như thế, thì không có gì cầu mà không được, không có việc gì làm mà không thành! Lấy tư chất thánh minh của bệ hạ mà thêm vào sự siêng năng tinh tế, để thay đổi tệ nạn nhân theo, tạm bợ, đang lúc sửa sang lớn lao chính sách pháp độ, để làm phúc cho thiên hạ, truyền cho muôn đời, nên thần dám nhân việc quan mà khảo cứu số lượng tổn ích, để kết thúc lời nói hôm trước mà dâng, chỉ trông vào sự chọn lựa của bệ hạ.”

Hoàng đế khá khen và nghe theo.

Tháng 12, ngày Giáp Tý, nước Liêu lấy Y Lý Đức Lặc Đãi làm Mạnh phụ phòng Xưởng côn. Ngày Ất Sửu, lấy Tiêu Thác Bột Gia làm Bắc phủ Tể tướng, Y Lý Thế Thiên làm Tri Bắc viện Khu mật sứ sự, Y Lý Thận Tư làm Đồng tri Bắc viện Khu mật sứ sự.

Ngày Canh Ngọ, nước Liêu miễn tô thuế 1 năm cho lưu dân ở Tây Kinh.

Ngày Giáp Tuất, giảm thuế khóa cho dân.

Ngày Đinh Hợi, nước Liêu dự hành lễ Chính đán.

Ngày Mậu Tý, Liêu chúa đi đến sông Hỗn Đồng.