Bước tới nội dung

Tục tư trị thông giám/Quyển 77

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tục Tư trị thông giám, quyển 77  (2025)  của Tất Nguyên, do Cơ Như Tuyết dịch
Tống kỷ 77

Từ tháng Giêng năm Nhâm Tuất (1082) đến tháng 6 năm Giáp Tí (1084), Thần Tông Nguyên Phong năm thứ 5 đến năm thứ 7, gồm 2 năm có dư

Năm Nguyên Phong thứ 5 (Liêu, Thái Khang năm thứ 8), Công nguyên năm 1082

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Quý Mùi mồng 1, không nhận triều hạ.

Ngày Giáp Thân, Liêu chúa đi đến sông Hỗn Đồng.

Ngày Đinh Dậu, các tù trưởng Thiết Lật, Ngũ Quốc dâng sản vật địa phương cho nước Liêu.

Ngày Kỷ Hợi, có bạch hồng xuyên qua mặt trời.

Ngày Tân Sửu, giáng chức Cao Tuân Dụ làm Doanh châu Đoàn luyện phó sứ, an trí tại bản châu; Lưu Xương Tộ làm Vĩnh Hưng quân Kiềm hạt. Chỉ có Chủng Ngạc nhờ công ở trại Mễ Chi mà được thăng Cung.

Ngày Ất Tị, quan Tường định Hỗn nghi Âu Dương Phát dâng Hỗn nghi và Phù lậu mới chế tạo, lệnh thu thập thuyết của ông soạn thành sách "Nguyên Phong Hỗn nghi pháp yếu".

Ngày Tân Hợi, lấy Kinh chế Hi Hà Lý Hiến làm Kinh lược An phủ Chế trí sứ 3 lộ Kinh Nguyên, Hi Hà, Lan Hội; Tri Lan châu Lý Hạo quyền An phủ phó sứ. Hoàng đế đã tha cho Hiến, không giết, Hiến lại dâng sách lược xin hai lần xuất quân, kiêm bày tỏ việc xây thành Ngũ Lợi, Hoàng đế sắp theo đó. Gặp lúc Lý Thuấn Cử vào tâu, trình bày đầy đủ tình trạng quân mỏi dân khốn, bèn bãi binh, giục Hiến vào triều. Sau lại bàn việc Tây phạt, trên đường ban cho Hiến bạc lụa 4.000, lấy làm Kinh lược An phủ Chế trí sứ, cấp vệ binh 300 người, tiến phong làm Cảnh Phúc điện sứ, Vũ Tín quân Lưu hậu, cho trở lại Hi Hà, vẫn kiêm quản quân mã Tần Phượng.

Tháng 2, ngày Quý Sửu mồng 1, ban hành Tam tỉnh, Khu mật, Lục tào điều chế.

Ô Man Khất Đệ trốn đi, Lâm Quảng bèn suất quân tiến sâu vào. Gặp mưa tuyết lớn, suốt 10 ngày, mới đến núi Lão Nhân. Thế núi dựng đứng như gươm, vượt Hắc Nhai, đến núi Quạ Bay Không Tới (Nha phi bất đáo), tiến đến châu Quy Lai. Trời rất rét, quân sĩ đều bị cóng rụng ngón tay, lưu lại 4 ngày tìm Khất Đệ mà không được. Nội thị Mạch Văn Bỉnh hỏi Lâm Quảng về quân sự, Lâm Quảng nói: "Giặc chưa bị chém, thần phải đợi tội." Văn Bỉnh bèn đưa mật chiếu đã nhận ra, nói: "Đại quân tiến sâu đánh giặc, kỳ hạn là chém bắt được đầu sỏ. Nếu đã phá được sào huyệt của chúng, tuy chưa bắt được Khất Đệ, cũng cho phép rút quân." Trong quân đều hô vạn tuế. Ngày Bính Thìn, Lâm Quảng đem quân trở về.

Ngày Mậu Ngọ, Liêu chúa đi đến Sơn Du Điện.

Ngày Tân Dậu, nước Liêu hạ chiếu cho quan Bắc, Nam viện: phàm ai cấp trạm dịch tất phải tâu trước; chỉ khi dâng cống vật mới, hoặc tâu việc ngục tụng, mới cho phép dùng trạm dịch phi mã, còn lại đều cấm.

Ngày Quý Hợi, Hoa Âm quận vương Tông Đán băng.

Ngày Đinh Mão, phong Vũ Xương quân Lưu hậu Tông Huệ làm Giang Hạ quận vương.

Từ trận Nạp Khê, quân đi tổng cộng 40 ngày, xây thành Nhạc Cộng, trại Giang Sơn, Mai Lĩnh, bảo Tịch Mạo Khê, phía tây đến Dục Tỉnh, đường phía đông đến Nạp Khê, đều khống chế nơi hiểm yếu. Tin thắng trận báo về, ngày Quý Dậu, xá tội cho lộ Tử châu, lấy đất châu Quy Lai ban cho Quỷ chủ họ La.

Tiến phong Thường Lạc quận công Đống Tiển làm Vũ Uy quận vương, vì đã hội binh đánh nước Hạ. Lúc ấy người Hạ muốn thông hiếu với Đống Tiển, hứa cắt đất từ Chước Long trở về phía tây để đút lót, nói: "Nếu quy phụ ta, thì quan tước sẽ tùy theo ý muốn của ngươi." Đống Tiển cự tuyệt, huấn luyện chỉnh đốn binh giáp, để đợi lệnh xuất chinh, lại sai sứ đến báo. Hoàng đế triệu kiến sứ giả của ông, lệnh về nói với Đỗng Tiển, phải hết lòng giữ bờ cõi. Mỗi khi nhắc đến văn thư ông dâng, Hoàng đế nói lời lẽ tình ý trung thành tha thiết, dù sĩ đại phu Trung Quốc giữ lòng vì công cũng không hơn thế. Hoàng đế biết thế lực đất Mạc Xuyên cố nhiên không đủ để chống nước Hạ, chỉ muốn phá tan mưu đồ của chúng, khiến chúng không kết hòa với nước Hạ mà thôi.

Ngày Nhâm Thân, nước Liêu lấy Da Luật Phá Đức làm Nam phủ Tể tướng kiêm Tri Bắc viện Khu mật sứ sự, lấy Da Luật Diên Cách làm Đặc Lý Côn, lấy Tiêu Thác Bột Gia kiêm Tri Khiết Đan hành cung Đô bộ thự sự.

Tháng 3, ngày Ất Dậu, Đề cử Giang Nam Tây lộ Thường bình đẳng sự Lưu Nghĩa dâng sớ nói: "Những tân pháp bệ hạ lập ra, vốn là vì dân. Vì dân mà có lợi tức gấp bội, nên cho họ vay tiền; vì dân mà có nạn phá sản, nên cho họ miễn dịch; vì dân mà không có trách nhiệm liên đới, nên dạy họ Ngũ, Bảo; vì dân mà có hàng hóa tích trệ không bán được, nên đặt Thị dịch. Đều là pháp tốt. Thi hành mấy năm, thiên hạ oán kiện, pháp hại mà dân khổ, trong đó về Dịch pháp là nặng nhất." Lại nói: "Kiển Chu Phụ Nguyên lập Muối pháp để cứu dân ăn nhạt, nay trong dân gian muối chất đống không bán được, đến nỗi oán than; việc bán đã không thông, tiền tháng nợ đọng, việc truy đòi, tra khảo, sắp đầy cả Giang Tây. Thế thế này, thì dân đang yên ổn sẽ hóa thành giặc cướp, rồi sẽ tính sao?" Hoàng đế cho rằng Nghĩa chức tại chỗ thi hành pháp độ, đã có chỗ thấy, thì tự nên lấy lòng công mà bày tỏ, vậy mà dám hoảng hốt dâng sớ, đặc biệt lệnh bãi chức.

Ngày Kỷ Hợi, vì ngày có nhật thực, tránh điện, giảm bữa ăn; xá tội thiên hạ, giảm tội tử hình 1 bậc, từ lưu trở xuống đều tha.

Hạ chiếu lệnh Hàng châu mỗi năm tu sửa lăng miếu Ngô Việt vương.

Ngày Nhâm Dần, Phó Tổng quản Phu Diên lộ Khúc Trân đánh bại người Hạ ở Kim Thang.

Ngày Ất Tị, ngự điện Tập Anh, ban cho 1.428 người các khoa Tiến sĩ, Minh kinh từ Hoàng Thường trở xuống đỗ, xuất thân, đồng xuất thân. Thường là người Nam Kiếm châu.

Ngày Canh Tuất, tù trưởng bộ Nữ Chân phủ Hoàng Long quy phụ nước Liêu, được ban quan chức, tặng ấn thụ.

Tháng này, nước Liêu thi hành định mức thăng đấu kê thục (kê thóc nếp đen).

Mùa hạ, tháng 4, ngày Nhâm Tý mồng 1, trời mây âm, nhật thực mà không thấy.

Ngày Giáp Dần, ngự điện, phục lại bữa ăn.

Ngày Kỷ Mùi, Tri Diên châu Thẩm Khoát tâu xin sai Khúc Trân đem quân đến thành Tùy Đức, ứng viện đánh các bộ Khương tụ tập quanh trại Gia Lô; theo đó.

Ngày Nhâm Tuất, Giáo thư ở Sùng Văn viện Dương Hoàn biên "Nguyên Phong dĩ lai Tường định giao miếu lễ văn", thành 30 quyển dâng lên.

Nước Liêu lấy Da Luật Thế Thiên làm Thượng Kinh Lưu thủ.

Ngày Ất Sửu, lấy Trực Long Đồ các Từ Hy làm Tri chế cáo kiêm Ngự sử Trung thừa.

Ngày Quý Dậu, chế độ quan lại thành, lấy Vương Khuê làm Thượng thư Tả Bộc xạ kiêm Môn hạ Thị lang, Thái Xác làm Thượng thư Hữu Bộc xạ kiêm Trung thư Thị lang.

Lúc đầu bàn về quan chế, đại để phỏng theo "Đường Lục điển", việc không kể lớn nhỏ, đều do Trung thư thỉnh chỉ, Môn hạ thẩm xét lại, Thượng thư tiếp nhận mà thi hành; Tam tỉnh chia ban tâu việc, mỗi nơi làm chức phận của mình, mà quyền chính đều quy về Trung thư. Thái Xác nói với Khuê rằng: "Ông ở tướng vị đã lâu, ắt sẽ được bái làm Trung thư lệnh." Khuê tin mà không nghi. Một hôm, Thái Xác nhân sau khi tâu việc xong, lưu lại mật nói: "Trưởng quan Tam tỉnh địa vị cao, e không cần đặt chức Lệnh, chỉ lấy Tả, Hữu Bộc xạ kiêm hai tỉnh Thị lang là đủ." Hoàng đế theo đó. Vì vậy Thái Xác tuy tên là thứ tướng, nhưng thực sự chuyên nắm quyền chính, Khuê chỉ khoanh tay mà thôi, phàm việc bổ dụng quan lại đều không được dự biết.

Hoàng đế tuy theo thứ tự mà dùng Khuê, Xác làm tướng, nhưng không thêm lễ trọng, nhiều lần vì lỗi nhỏ mà phạt tiền, mỗi lần phạt đều phải đến cửa tạ tội. Tể tướng bị phạt tiền mà phải đến cửa tạ tội, trước đây chưa từng có, mọi người đều lấy làm nhục.

Ngày Giáp Tuất, lấy Tri Định châu Chương Đôn làm Môn hạ Thị lang, Tham tri chính sự Trương Táo làm Trung thư Thị lang, Hàn lâm học sĩ Bồ Tông Mạnh làm Thượng thư Tả thừa, Hàn lâm học sĩ Vương An Lễ làm Thượng thư Hữu thừa.

Ghi nhận hậu duệ Đoạn Tú Thực đời Đường, phục lại gia thế cho họ.

Thái Xác đã làm Hữu Bộc xạ, lại kiêm Trung thư Thị lang, muốn tự tôn lớn, bèn bàn rằng công văn của Thượng thư tỉnh gửi sang Trung thư, phải thêm chữ "Thượng" để tôn trọng. Vương An Lễ tranh luận rằng: "Tam tỉnh đều là nơi chính sự phát ra, lễ nên ngang nhau; Thái Xác lại muốn coi người mà chia nhẹ nặng, ấy là để pháp do người mà biến, không phải là cách để kính trọng quốc gia." Sau đó ông nghiêm sắc mặt hỏi Hoàng đế rằng: "Bệ hạ dùng Thái Xác làm Tể tướng, há vì tài thuật của hắn trác tuyệt hơn người ư? Hay chỉ là theo thứ tự thăng tiến mà đến vị trí này thôi?" Hoàng đế nói: "Chỉ là theo thứ tự mà đến vị trí này thôi." An Lễ quay sang bảo Thái Xác rằng: "Bệ hạ nói chỉ là theo thứ tự mà đến vị trí này, sao ông lại dám tự tôn!" Phú Bật ở Tây Kinh, dâng lời nói Thái Xác là tiểu nhân, không nên trọng dụng, nhưng không được nghe theo.

Lúc ấy Lý Hiến xin lại một lần nữa xuất quân đánh Hạ, Hoàng đế đem hỏi các phụ thần, Vương Khuê đối rằng: "Trước đây điều lo là dùng không đủ, nay triều đình bỏ ra 500 vạn quan tiền, để cung cấp quân lương còn dư dả." Vương An Lễ nói: "Tiền sớ không thể ăn, tất phải đổi thành tiền, tiền lại đổi thành cỏ khô, thóc lúa. Nay cách kỳ xuất chinh chỉ 2 tháng, sao có thể gom đủ việc?" Hoàng đế nói: "Lý Hiến cho rằng đã có chuẩn bị, bọn hoạn quan còn có thể như thế, các khanh sao lại không có ý ấy? Đường bình định Hoài, Thái, chỉ có Bùi Độ mưu nghị là đồng với vua, nay lại không xuất từ công khanh mà xuất từ trong cung đình, trẫm rất lấy làm nhục." An Lễ nói: "Hoài Tây chỉ 3 châu, có mưu của Bùi Độ, có tướng Lý Quang Diệm, Lý Tố, vậy mà còn phải dẫn sức binh thiên hạ, trải qua nhiều năm mới định xong. Nay thế mạnh của họ Hạ không thể so với Hoài, Thái, tài của Hiến không sánh với Độ, các tướng cũng không có hạng như Quang Diệm, Tố, thần e rằng không thể đáp ứng được thánh ý."

Ngày Đinh Sửu, Lữ Công Trứ bị bãi. Lúc đầu bàn việc 5 lộ cùng khởi binh đánh Hạ, Công Trứ can gián, không nghe; sau dâng biểu xin bãi chức, lại xin nghỉ, không ra. Hoàng đế trả lại tấu, ban thủ chiếu rằng: "Trong các thần ở triều, có thể giao phó như tâm phúc, không ai hơn khanh, sao lại tự cho mình được nhàn nhã an dật!" Công Trứ bèn lại ra coi việc. Đến khi quân Tây chinh không có công, sắp mưu tính xuất quân lần nữa, Công Trứ lại cố sức can gián, Hoàng đế không vui. Gặp lúc Chương Đôn từ Định châu được triệu làm Môn hạ Thị lang, Công Trứ nhân đó xin thay Đôn giữ biên, Chương Đôn hai lần dâng sớ, bèn lệnh Công Trứ làm Tư chính điện học sĩ, Tri Định châu.

Tháng 5, ngày mồng 1, ngày Tân Tị, thi hành quan chế. Hạ chiếu lệnh Thượng thư tỉnh Tả, Hữu Bộc xạ, Thừa cùng coi việc trong tỉnh.

Ngày Tân Mão, thủ chiếu rằng: "Từ khi ban hành quan chế đến nay, các ty lớn nhỏ trong ngoài, phàm có công việc tâu xin, mỗi ngày báo cáo bị lưu trệ, so với Trung thư ngày trước, chậm trễ gấp bội, mọi người đều lo không làm xong việc. Nên gấp rút xét kỹ, bàn định, sớm khiến cho nhanh tiện, đại để chỉ như Trung thư cũ phát khiển là được." Hoàng đế lại vì mệnh lệnh chậm trễ mà nói với các phụ thần, khá hối hận việc cải quan chế. Thái Xác và đồng bọn lo Hoàng đế có ý muốn bãi bỏ, bèn hết sức tâu rằng quan chế mới đặt bổng lộc, so với trước mỗi tháng tiết kiệm hơn 3 vạn quan tiền, ý Hoàng đế mới dừng.

Ngày Kỷ Sửu, Tam tỉnh tâu: "Cửu tự, Tam giám phân thuộc Lục tào, muốn minh bạch mà ban xuống." Hoàng đế nói: "Không được. Một tự, một giám, chức vụ hoặc phân thuộc các tào, sao có thể chuyên thuộc về một nơi! Nên nói Cửu tự, Tam giám đối với Lục tào tùy việc mà thống thuộc, ghi vào luật lệnh."

Hạ chiếu lệnh Lục tào thuộc Thượng thư phân thuộc Lục sát.

Ngày Quý Tị, xây Thượng thư tỉnh.

Quân tốt Phong châu là bọn Trương Thế Củ làm loạn, bị giết. Hạ chiếu gia thuộc những người đáng bị liên lụy, áp giải đến Phong châu xử trảm; đồng đảng là Vương An vì mẹ già, chiếu đặc biệt tha cho.

Ngày Mậu Tuất, hạ chiếu lệnh quan hai tỉnh mỗi bên cử 2 người có thể đảm nhiệm chức Ngự sử.

Chủng Ngạc Tây phạt, chiếm được 3 châu Ngân, Hạ, Hựu mà không thể giữ. Tri Diên châu Thẩm Quát xin xây thành Cổ Ô Diên để bao trùm Hoành Sơn, nhìn xuống Bình Hạ, khiến địch không thể cắt đứt sa mạc. Ngày Giáp Thìn, sai Cấp sự trung Từ Hy và Nội thị Áp ban Lý Thuấn Cử đến Phu Diên bàn việc ấy. Thuấn Cử lui, đến phủ Chính phủ, Vương Khuê ra đón, nói rằng: "Triều đình đem việc biên thùy giao cho Áp ban và Lý Lưu hậu, không còn lo phía tây nữa rồi." Thuấn Cử nói: "Tây giao nhiều lũy, ấy là sự nhục của khanh đại phu. Tướng công đang cầm quyền, mà việc biên thùy lại giao cho hai nội thần, có được chăng? Nội thần chỉ nên lo việc quét dọn trong cấm uyển, sao có thể đảm nhiệm chức tướng soái!" Người nghe thay Khuê mà hổ thẹn.

Tháng 6, ngày mồng 1, ngày Tân Hợi, Kinh lược ty Hoàn Khánh sai tướng đánh với người Hạ, chém được 2 Thống quân của chúng.

Liêu chúa đi đến Nạp Cát Lạc.

Ngày Giáp Dần, Giám tu Quốc sử Vương Khuê dâng "Lưỡng triều chính sử" 120 quyển. Sách này so với "Thực lục" thì sự tích khá nhiều, nhưng không phải Khấu Chuẩn mà là Đinh Vị, lại mượn danh Hoàng đế chiếu chỉ, đương thời cho là đáng chê.

Ngày Bính Thìn, hạ chiếu: "Từ nay việc không kể lớn nhỏ, đều do Trung thư tỉnh thỉnh chỉ, Môn hạ tỉnh tâu lại, Thượng thư tỉnh thi hành. Việc đã cùng được chỉ của Tam tỉnh, thì khi ban hành không cần mang chữ Tam tỉnh nữa." Theo lời Vương An Lễ. Ngày ấy, có phụ thần nói Trung thư tỉnh một mình thỉnh chỉ, thể thức quá nặng, Hoàng đế nói: "Thể Tam tỉnh ngang nhau, Trung thư suy xét mà bàn, Môn hạ thẩm tra mà tâu lại, Thượng thư tiếp nhận mà thi hành; nếu có điều không thích đáng, tự có thể luận tấu, không nên vì thế mà làm loạn thể thống." Trước đó quan chế tuy phỏng theo tên Tam tỉnh cũ, nhưng không ai hiểu được ý nghĩa phân tỉnh đặt quan, bèn chia Trung thư, Môn hạ, Thượng thư làm 3, mỗi nơi đều được thỉnh chỉ ban mệnh, rối loạn không đầu mối, đến đây một lời của Hoàng đế mới định lại.

Nước Hạ sai sứ sang cống nước Liêu.

Ngày Đinh Tị, nước Liêu lấy Da Luật Pha Đức làm Bắc viện Khu mật sứ, Da Luật Sào làm Nam phủ Tể tướng, Lưu Quân làm Nam viện Khu mật sứ, Tiêu Thác Bột Gia kiêm Tri Bắc viện Khu mật sứ sự, Vương Tích làm Hán nhân hành cung Đô bộ thự. Liêu chúa muốn lập Hoàng tôn Diên Hi làm người kế vị, sợ không có cách giải nghi cho mọi người, bèn cho Phò mã Đô úy Tiêu Thù Oát ra làm Quốc cữu Tường côn.

Ngày Mậu Ngọ, hạ chiếu biên lục "Nhân, Anh lưỡng triều bảo huấn".

Ngày Quý Hợi, hạ chiếu: "Việc của Lục tào thuộc Thượng thư tỉnh, phàm việc cần thỉnh chỉ, đều do Thượng thư tỉnh kiểm điểm điều lệ, dâng lên Trung thư tỉnh." Lại chiếu: "Trung thư, Môn hạ tỉnh đã được chỉ, từ nay không được phê trát ban xuống, đều gửi Thượng thư tỉnh thi hành. Ghi vào luật lệnh." Lại chiếu: "Thượng thư tỉnh được quyền đàn tấu việc Lục sát Ngự sử thất chức."

Ngày Ất Sửu, Chuẩn Bố sang cống nước Liêu.

Ngày Nhâm Thân, Chuyển vận sứ Quảng Nam Tây lộ Mã Mặc tâu rằng Man ở An Hóa châu làm càn, Hoàng đế nói: "Mặc là muốn dùng binh đó thôi; dùng binh là việc lớn, cực cần thận trọng. Trước đây Quách Tuệ chinh phạt An Nam, và quân Tây chinh gần đây, binh phu chết bị thương đều không dưới 20 vạn. Hữu ty làm mất 1 người tội chết, trách nhiệm cũng không nhẹ. Nay vô cớ đặt mấy chục vạn người vào chỗ chết, triều đình không thể không gánh lấy tội ấy."

Hoàng đế ở ngôi đã lâu, quần thần cúi đầu nghe lệnh, không ai có thể bàn luận điều gì, thỉnh thoảng nhân việc tâu mà có người bị quở trách, Vương An Lễ tiến lên nói: "Bệ hạ vốn thánh minh, mà người tả hữu phụ bật, nên chọn những kẻ sĩ tự tốt, có liêm sỉ mà đặt vào đó, thì triều đình mới tôn. Còn như bàn việc mà chỉ cầu dung đẹp, trộm làm kế nhất thời, thì người chủ sẽ được lợi gì ở đó!" Hoàng đế khen lời ấy.

Ngày Bính Tý, nước Liêu lấy Da Luật Thận Tư làm Tri Hữu Y Lặc Hy Ba sự.

Tháng này, sông tràn vào đê Hoàng Tảo trong Bắc Kinh.

Mùa thu, tháng 7, ngày Tân Tị, Kinh lược ty Quảng Nam Tây lộ tâu rằng Tri Nghi châu Vương Kỳ đánh giặc, bị thua.

Ngày Nhâm Ngọ, hạ chiếu bãi việc quan Đại lý đến Trung thư tỉnh nghị án.

Ngày Mậu Tý, hạ chiếu lệnh Ngự sử Trung thừa Thư Đản cử 10 người có thể đảm nhiệm chức Ngôn sự hoặc Sát quan.

Chủng Ngạc mưu chiếm Hoành Sơn, chí chưa dứt, sai con là Phác dâng sách lược. Gặp lúc triều đình sai Từ Hy, Lý Thuấn Cử đến Phu Diên bàn việc biên thùy, Tông Ngạc vào chầu, nói rằng: "Hoành Sơn dài hơn 1.000 dặm, nhiều ngựa, thích hợp cày cấy, nhân dân cứng cỏi thiện chiến, lại có lợi muối sắt, người Hạ dựa vào đó làm chỗ chính; thành lũy của chúng đều dựa hiểm, đủ để giữ phòng. Nay việc khởi công, nên bắt đầu từ Ngân châu, tiếp đó dời Hựu châu đến Ô Diên, lại tiếp đó sửa Hạ châu; 3 quận đứng vững như kiềng 3 chân, thì đất Hoành Sơn đã nằm gọn trong đó. Lại tiếp đó sửa Diêm châu, thì quân mạnh, chiến mã, lợi núi rừng sông ngòi của Hoành Sơn đều quy về Trung Quốc, thế ở trên cao nhìn xuống Hưng, Linh, có thể trực tiếp úp xuống sào huyệt của chúng."

Đến khi Từ Hy đến Diên châu, tâu xin giục Chủng Ngạc trở về. Tông Ngạc trên đường, Từ Hy đã cùng Thẩm Quát định nghị, trước hết xây thành Vĩnh Lạc Đãi, bèn dâng tấu nói: "Ngân châu tuy chiếm chỗ hợp của Minh Đường xuyên và Vô Định hà, nhưng thành cũ phía đông nam đã bị nước sông nuốt mất, phía tây bắc lại là hào trời âm u, thực không bằng thế hiểm yếu của Vĩnh Lạc. Thần nghĩ 3 châu Ngân, Hạ, Hựu mất đã 100 năm, một ngày hưng phục, đối với công lao biên tướng thực là rực rỡ; nhưng lúc mới lập châu, phiền phí không có lợi. Nếu chọn nơi trọng yếu, lập đặt bảo trại, danh tuy không phải châu, nhưng thực có đất ấy, biên giới cũ bèn ở trong lòng. Đã cùng Thẩm Quát bàn xây 6 trại bảo, từ Vĩnh Lạc Đãi đến Trường Thành Lĩnh đặt 6 trại, từ Bối Cương xuyên đến Bố Nương bảo đặt 6 bảo." Theo đó, hạ chiếu lệnh Từ Hy hộ tống các tướng đến xây thành Vĩnh Lạc, Quát dời phủ và quân biên tái đến làm viện binh, Chuyển vận phán quan Thiểm Tây Lý Tích coi việc cung cấp lương.

Ngày Giáp Ngọ, Liêu chúa đi đến Thu Sơn.

Ngày Kỷ Dậu, bắt đầu xây Vũ đàn ở bên trái Nam giao, tế Thượng đế, phối Tống Thái Tông.

Tháng này, phá đê Đại Ngô Tảo, để nước sông Thư Linh chảy xuống hạ Tảo đang nguy cấp.

Nam Kinh nước Liêu mưa dầm, sông Sa tràn, 6 huyện Vĩnh Thanh, Quy Nghĩa, Tân Thành, An Thứ, Vũ Thanh, Hương Hà bị hại lúa.

Tháng 8, tiến phong Hoàng tử Quân Quốc công Dung làm Diên An quận vương; lấy Chiêu dung Chu thị làm Hiền phi.

Ngày Canh Thân, Hoàng đế có bệnh. Hạ chiếu mỗi năm vào 4 tháng Mạnh triều hiến ở Cảnh Linh cung.

Ngày Tân Mùi, giáng Phụng châu Đoàn luyện sứ Chủng Ngạc làm Văn châu Thứ sử, vì có người luận tội Tông Ngạc trước đây đi đường vòng ra Tùy Đức, làm quân mỏi tốn tiền của. Chủng Ngạc từ khi vào chầu trở về, hết sức nói việc xây thành Vĩnh Lạc là không phải kế, Từ Hy giận, đổi sắc mặt, bảo Tông Ngạc rằng: "Ông há không sợ chết sao, dám làm hỏng việc đã thành?" Tông Ngạc nói: "Xây thành tất bại, bại thì chết; trái tiết chế cũng chết; chết vì việc này, còn hơn là làm mất quân quốc mà chết nơi đất lạ." Từ Hy xét không thể bẻ gãy, tâu lưu Tông Ngạc giữ Diên châu, còn mình thì tự suất các tướng đến xây. Ngày Giáp Tuất, xây thành Vĩnh Lạc. Lúc đắp thành đang hăng, có mấy chục kỵ binh Khương vượt Vô Định hà đến do thám việc xây; Khúc Trân muốn đuổi giết chúng, Từ Hy không cho.

Ngày Mậu Dần, sông vỡ đê Nguyên Vũ ở Trịnh châu, tràn vào Lợi Tân, Dương Vũ câu, Điêu Mã hà, đổ vào Lương Sơn bạc.

Hạ chiếu rằng: "Chỗ vỡ ở Nguyên Vũ đã cướp hơn 4 phần 10 nước sông lớn, nếu không trị lớn, sẽ để lại mối lo lớn cho triều đình. Hãy bớt 5.000 quân của Ty tu sửa đê bờ Biện hà, cùng sức đắp đê, sửa chỗ vỡ."

Tháng 9, ngày Giáp Thân, thành Vĩnh Lạc xây xong, cách trị sở cũ Ngân châu 25 dặm, ban tên là Ngân Xuyên trại. Từ Hy và bọn trở về Mễ Chi, giao 1 vạn quân cho Khúc Trân giữ, Lý Tích chở vàng bạc tiền giấy lụa gấm chất đầy trong đó, muốn khoe với Từ Hy, cho rằng thành vừa xong mà trong đã đầy. Vĩnh Lạc tiếp giáp Hựu châu, liền với Hoành Sơn, là nơi người Hạ tất tranh. Từ Hy và bọn đi rồi, người Hạ liền đến đánh; Khúc Trân sai người báo Từ Hy, Từ Hy không tin, nói: "Nếu chúng liền đến, ấy là lúc ta lập công cầu phú quý." Người biên thùy phi báo hơn 10 lần, Từ Hy mới cùng Lý Thuấn Cử đến đó. Đại tướng Cao Vĩnh Hanh nói: "Thành nhỏ, người ít, lại không có nước suối, e không thể giữ." Từ Hy cho là làm nhụt chí quân, xiềng giải về ngục Diên châu. Ngày Bính Tuất, Từ Hy, Thuấn Cử lại vào thành Vĩnh Lạc. Người Hạ dốc cả nước mà đến, nói là 30 vạn, Từ Hy lên thành nhìn về phía tây, không thấy bờ. Ngày Đinh Hợi, người Hạ dần dần áp sát, anh Vĩnh Hanh là Vĩnh Năng xin nhân lúc chúng chưa bày trận mà đánh, Từ Hy nói: "Ngươi biết gì! Vương sư không đánh trống thì không thành trận." Bèn đem 1 vạn người bày trận dưới thành, ngồi ở cửa triều, cầm cờ vàng bảo mọi người rằng: "Hãy nhìn cờ ta tiến lui." Giặc chia quân tiến công, đến sát chân thành. Khúc Trân bày trận ở mé nước, quân không lợi, tướng sĩ đều có sắc mặt sợ, bèn tâu với Từ Hy rằng: "Nay lòng người đã dao động, không thể đánh, đánh tất bại, xin thu quân vào thành." Từ Hy nói: "Ngươi làm đại tướng, sao gặp địch mà không đánh, lại tự lui trước?" Chốc lát người Hạ thả thiết kỵ vượt sông, có người nói: "Đó gọi là Thiết Diều Tử, nên đánh lúc chúng mới qua nửa sông, mới có thể thắng; nếu đã lên bờ, thì thế锋 không thể đương." Từ Hy không nghe. Thiết kỵ đã qua, chấn động xung kích. Lúc ấy quân Tuyển phong Phu Diên là quân dũng mãnh nhất, mỗi người địch trăm người, giao chiến trước, bị bại, chạy vào thành, giẫm đạp hậu trận. Người Hạ thừa thế, quân đại bại, tướng hiệu Khấu Vĩ, Lý Sư Cổ, Cao Thế Tài, Hạ Nghiễm, Trình Bác Cổ và hơn 10 sứ thần, binh sĩ hơn 800 người đều chết hết. Khúc Trân cùng tàn binh vào thành, vách núi hiểm, đường hẹp, kỵ binh men bờ mà lên, mất 8.000 con ngựa. Người Hạ bèn vây thành.

Lúc đầu, Thẩm Quát tâu rằng người Hạ ép Vĩnh Lạc, thấy quan binh chỉnh tề bèn lui, Hoàng đế nói: "Quát liệu địch sơ sài. Chúng đến mà chưa giao chiến, há chịu lui ngay sao? Tất có đại quân phía sau." Sau quả nhiên như vậy.

Ngày Kỷ Sửu, Hoàng đế vì bệnh khỏi, giảm tội tù ở Kinh Kỳ 1 bậc, từ đồ trở xuống đều tha.

Ngày Canh Dần, Liêu chúa đến bái mộ Khánh lăng.

Ngày Nhâm Thìn, nước Liêu sai sứ đi xem xét dân các huyện trong kinh bị nạn lụt.

Ngày Ất Mùi, hạ chiếu lệnh Lý Hiến, Trương Thế Cự đem quân cứu Vĩnh Lạc, lại lệnh Thẩm Quát sai người cùng nước Hạ ước, nếu chúng lui quân, sẽ trả lại đất Vĩnh Lạc.

Người Hạ vây thành Vĩnh Lạc, vòng vây dày mấy dặm, kỵ binh du kích cướp bóc Mễ Chi, lại chiếm thủy trại của nó. Tướng sĩ ngày đêm huyết chiến, trong thành thiếu nước đã mấy ngày, đào giếng không được nước, chết khát quá nửa, đến nỗi vắt nước phân ngựa mà uống; người Hạ như kiến bám lên thành, vẫn còn chống gươm đánh nhau trong cảnh bị thương. Viện binh và lương thực của Thẩm Quát, Lý Hiến đều bị kỵ binh du kích chặn. Tông Ngạc oán Từ Hy, không sai quân cứu. Khúc Trân xét không thể chống, xin Từ Hy nhân lúc khí thế quân chưa kiệt, phá vòng vây mà ra, khiến người ta tự tìm đường sống. Từ Hy nói: "Thành này chiếm nơi trọng yếu, sao có thể bỏ! Hơn nữa làm tướng mà chạy, lòng người sẽ dao động." Trân nói: "Không phải thần tự tiếc thân, chỉ là sợ sứ thần, mưu thần cùng chết ở đây, thì nước sẽ bị hại thôi." Cao Vĩnh Năng cũng khuyên Lý Tích bỏ hết vàng bạc, chiêu mộ tử sĩ liều chết đánh mà ra, đều không nghe. Người Hạ gọi Trân đến giảng hòa, Lữ Chỉnh, Cảnh Tư Nghĩa lần lượt đi. Người Hạ cạo tóc Tư Nghĩa, giam lại. Đêm ngày Mậu Tuất, mưa lớn, người Hạ vây thành đánh gấp, thành liền vỡ. Cháu nội của Cao Vĩnh Năng là Xương Dịch khuyên Vĩnh Năng theo đường tắt mà ra, Vĩnh Năng than rằng: "Tao kết tóc theo việc Tây Khương, chiến đấu chưa từng thua. Năm nay đã bảy mươi, chịu ơn đại quốc, hận không có gì báo đáp, đây là chỗ tao chết vậy!" Bèn thay áo rách của một quân tốt, chiến đấu mà chết. Từ Hy, Lý Thuấn Cử, Lý Tích đều bị loạn quân giết chết; Khúc Trân, Vương Trạm, Lý Phổ, Lữ Chỉnh, cởi trần chân đất chạy thoát; Chỉ huy phiên bộ Mã Quý một mình cầm đao giết mấy chục người mà chết. Người Hạ phô trương binh lực dưới thành Mễ Chi rồi mới lui.

Từ Hy thích bàn binh, thường nói: "Tây Bắc có thể lấy dễ như nhổ nước bọt, chỉ hận tướng soái nhát thôi!" Lã Huệ Khanh hết sức tiến cử, nên được dùng vượt thứ bậc. Từ sau trận bại ở Linh châu, Tần, Tấn khốn đốn, thiên hạ trông mong dừng binh, vậy mà Quát, Ngạc bày sách lược tiến thủ, Từ Hy lại tự nhận việc biên thùy, mưu cuồng khinh địch, đến nỗi bị diệt vong. Thuấn Cử tính tình điềm đạm, trọng hậu, khi nói chuyện với người, chưa từng nhắc đến việc cung tỉnh, đến khi bị vây gấp, xé vạt áo làm tấu, nói: "Thần chết không có gì hận, chỉ mong triều đình chớ khinh thường giặc này!"

Ngày Canh Tý, Man ở An Hóa cướp Nghi châu, Tri châu Vương Kỳ chết trận, hạ chiếu truy tặng làm Thủ ngự sứ Trung châu.

Ngày Đinh Mùi, Liêu chúa đóng quân ở Ổ Ty Điện; gió tuyết lớn, trâu ngựa chết nhiều, ban áo và ngựa cho quan theo hầu trở xuống, có phân biệt.

Tháng này, sông tràn đê Thượng, Hạ Tảo ở Nam Bì, Thương châu, lại tràn đê Thanh Địa, lại tràn đê dưới Phụ Thành ở Vĩnh Tĩnh quân.

Mùa đông, tháng 10, ngày mồng 1, ngày Mậu Thân, Thẩm Quát, Chủng Ngạc tâu: "Thành Vĩnh Lạc mất, quan Hán, quan phiên 230 người, binh 12.300 người đều bị bắt." Hoàng đế rơi lệ bi thương phẫn uất, vì thế không ăn. Sớm triều, đối mặt với các phụ thần mà khóc lớn, không ai dám ngẩng nhìn, rồi than rằng: "Việc Vĩnh Lạc, không một người nói là không thể làm." Bồ Tông Mạnh tiến lên nói: "Thần từng nói." Hoàng đế nghiêm sắc mặt nói: "Chưa từng nghe nói!" Trong nội chỉ có Lữ Công Trứ, ngoài chỉ có Triệu Tiết, từng nói dùng binh không phải việc tốt thôi. Lúc đầu khi Hoàng đế bổ nhiệm Từ Hy, Vương An Lễ can rằng: "Từ Hy chí lớn mà tài sơ, tất làm hỏng việc nước." Hoàng đế không nghe, đến khi bại, nói: "An Lễ thường khuyên trẫm chớ dùng binh, bớt lập ngục, chính là vì việc này." Từ khi Khai biên đời Hy Ninh đến nay, tổng cộng được 6 bảo Hạ Gia Lô, Ngô Bảo, Nghĩa Hợp, Mễ Chi, Phù Đồ, Tái Môn, mà trong các trận Linh châu, Vĩnh Lạc, quan quân, Thục Khương, Nghĩa bảo chết 60 vạn người, tiền gạo bạc lụa tính bằng vạn thì không thể kể hết. Hoàng đế bắt đầu biết biên thần không thể tin cậy, rất hối hận việc dùng binh, không còn ý Tây phạt nữa.

Ngày Tân Hợi, Ty tu sửa đê bờ Biện hà tâu rằng: "Đê Quảng Vũ ở Lạc Khẩu, nước sông lớn dâng cao làm sạt bờ, phá cửa Bài đầu phía dưới, nếu tràn vào Biện hà, sức người không thể chống đỡ, gần sát kinh thành, đáng lo sâu xa." Hạ chiếu lệnh quan Đô thủy giám gấp đến bảo vệ.

Ngày Giáp Dần, Tri Diên châu Thẩm Quát, vì việc sắp đặt trái phép tắc, bị giáng làm Quân châu Đoàn luyện phó sứ, an trí ở Tùy châu; Phó Đô tổng quản Phủ Diên lộ Khúc Trân, vì thành bị hãm mà thua chạy, bị giáng làm Hoàng thành sứ.

Ngày Ất Mão, Liêu chúa lệnh cho Da Luật Hoa Cách làm phụ đạo cho Lương vương Diên Hi, gia phong làm Kim Ngô vệ Đại tướng quân.

Ngày Ất Sửu, chiếu truy tặng thần tử chết vì việc nước ở Vĩnh Lạc là Từ Hỉ làm Lại bộ Thượng thư, Lý Thuấn Cử làm Chiêu Hóa quân Tiết độ sứ, đều ban thụy là Trung Mẫn; Lý Tích làm Công bộ Thị lang; Cao Vĩnh Năng làm Phòng châu Quan sát sứ, cho con là Thế Lượng được tập ấm làm Trung châu Thứ sử; Nội thị Cao phẩm Trương Vũ Cần làm Hoàng thành sứ. Mỗi người đều được suy ân ban tặng khác nhau.

Ngày Nhâm Thân, chiếu lệnh Hộ bộ Hữu tào ở 12 lộ Kinh Đông, Hoài, Chiết, Giang, Hồ, Phúc Kiến phát 8.000.000 quan tiền thường bình, nộp vào Nguyên Phong khố. Từ trước niên hiệu Hy Ninh trở về trước, các lộ thiết lập trường buôn rượu độc quyền, phần nhiều dùng để bù đắp chi phí công vụ cho bọn Nha tiền; đến khi Hy Ninh thi hành phép miễn dịch, bèn bãi việc thu rượu trường, cho dân được tăng giá mà bán, lấy tiền ấy cấp cho Nha tiền. Lúc đó có tiền của phường trường, đến đầu niên hiệu Nguyên Phong, phép đã lâu, tích trữ dư dật. Ty Tư nông xin mỗi năm phát 1.000.000 quan tiền phường trường nộp vào Trung đô, 3 năm, bèn ở phía nam ty ấy dựng Nguyên Phong khố để chứa, gần trăm gian. Phàm tiền lụa ghi chép ở các ty, không do Độ chi chủ quản, đều nộp vào đó, số ngày càng nhiều, muốn để chờ dùng vào việc bất thường.

Tư Chính điện học sĩ, Tri Thái Nguyên phủ Lữ Huệ Khanh được gia phong Đại học sĩ, vào chầu, định sai vẫn trấn thủ Phủ Diên. Huệ Khanh nói: "Quân ở Thiểm Tây, không những không thể dùng để đánh, mà cũng không thể dùng để giữ, cốt yếu là phải tạo thế lớn mà thôi." Hoàng đế nói: "Như lời Huệ Khanh, thì Thiểm Tây có thể bỏ được sao, há nên giao phó việc biên thùy cho ngươi!" Ngày Quý Dậu, kể tội y là khinh suất, dối trá vu bịa, giáng làm Tri Đan châu.

Chung Ngạc vốn có ý tự mình đảm nhiệm thống soái, cho rằng công lao tất ở nơi mình, mà bị Từ Hỉ, Thẩm Quát gạt ra ngoài. Giặc vây Vĩnh Lạc, Ngạc lấy cớ giữ Diên châu, ngồi nhìn không cứu, Vĩnh Lạc vì thế mà mất. Hoàng đế mong y sau này lập công, nên không hỏi tội, lại lo giặc đến, bèn bổ nhiệm làm Tri Diên châu.

Ngày Bính Tý, Liêu chúa yết Càn lăng.

Tháng 11, ngày Mậu Dần mồng 1, bãi việc Ngự sử đi xét các nha môn ở chư lộ, nếu có kẻ không làm tròn chức trách, thì lệnh cho Ngôn sự ngự sử đàn hặc tấu lên. Ghi chép thành điều lệ.

Cảnh Linh cung hoàn thành, ngày Tân Tị, bá quan xếp ban ở cửa Tập Anh điện, Hoàng đế đến các điện Nhị Châu, Ngưng Hoa làm lễ cáo thiên dời thần ngự. Ngày Nhâm Ngọ, rước an trí thần ngự ở 11 điện. Ngày Quý Mùi, lần đầu cử hành lễ triều hiến. Ngày Ất Dậu, vì việc rước an trí thần ngự mà xá tội trong thiên hạ, cho con hoặc cháu 1 người của các đại thần được dự hưởng lộc. Ngày Canh Dần, yến tiệc các quan thị từ ở Tử Thần điện.

Tháng 12, ngày Đinh Tị, Nhạc mới hoàn thành.

Ngày Canh Thân, Liêu chúa giáng Hoàng hậu Tiêu thị làm Huệ phi, cho ra ở Càn lăng, trả em gái của bà về nhà mẹ đẻ.

Ngày Tân Dậu, cửa sông vỡ ở Nguyên Vũ được lấp lại.

Ngày Giáp Tý, đào vét hào ở bốn phía ngoài thành Kinh sư.

Ngày Bính Tý, ghi công các tướng chết vì việc nước ở Vĩnh Lạc là Hoàng thành sứ Khấu Vĩ, Đông Thượng các môn Phó sứ Cảnh Tư Nghị cùng những người khác, ban tặng tuất cấp khác nhau.

Năm Nguyên Phong thứ 6 (Liêu, Thái Khang năm thứ 9), Công nguyên năm 1083

[sửa]

Ngày Tân Tị, Liêu chúa đi đến Xuân Thủy.

Ngày Ất Mùi, chiếu tu sửa lăng miếu từ đời Chu, Hán trở về sau.

Ngày Ất Tị, ngự Sùng Chính điện duyệt võ sĩ.

Ngày Bính Ngọ, phong Tam Lư đại phu nước Sở là Khuất Bình làm Trung Khiết hầu.

Tháng 2, ngày Đinh Mùi mồng 1, người nước Hạ vây Lan châu, mấy chục vạn quân bất ngờ kéo đến, đã chiếm 2 cửa ải, Lý Hạo đóng cửa thành cố thủ. Kiềm hạt Vương Văn Uất xin đánh, Hạo nói: "Kỵ binh trong thành không đầy mấy trăm, sao có thể đánh được?" Văn Uất uất ức nói: "Giặc đông ta ít, chính nên chặn gãy mũi nhọn của chúng để yên lòng quân, rồi sau mới có thể giữ. Đó là lý do Trương Liêu phá Hợp Phì vậy." Đến đêm, tập hợp hơn 700 nghĩa sĩ, đu dây xuống thành, cầm đoản đao xông vào, giặc kinh hoảng tan vỡ, tranh nhau qua sông, chết đuối rất nhiều.

Ngày Bính Thìn, vì người nước Hạ xâm phạm Lan châu, giáng Lý Hiến làm Kinh lược An phủ Đô tổng quản. Lấy Vương Văn Uất làm Tây Thượng các môn sứ, thay Lý Hạo làm Tri Lan châu.

Ngày Giáp Tý, Tam tỉnh tâu: "Lục sát Ngự sử đài xét hỏi quan lại, lấy 2 năm làm 1 nhiệm kỳ. Muốn đặt sổ, ghi chép số lần đàn hặc nhiều ít, đúng sai, để làm căn cứ xếp hạng, cuối năm kê rõ từng điều, xin chỉ dụ để thăng giáng, việc quan trọng thì tùy việc mà xin chỉ." Hoàng đế cho theo.

Tháng 3, ngày Tân Mão, người nước Hạ xâm lấn Lan châu, Phó tổng quản Lý Hạo vì có công giữ thành, được phục chức làm Lũng châu Đoàn luyện sứ.

Ngày Bính Thân, tướng Hà Đông là Tiết Nghĩ đánh bại người nước Hạ ở Tây Lĩnh Khai Gia Lô.

Ngày Kỷ Hợi, tướng Hà Đông là Cao Vĩnh Dực đánh bại người Phục ở Trân Khanh Lưu bộ.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Bính Ngọ mồng 1, trong cõi nước Liêu tuyết lớn, trên mặt đất dày hơn 1 trượng, ngựa chết 6–7 phần 10.

Ngày Tân Hợi, Long Thần vệ Tứ xưởng Đô chỉ huy sứ, Tri Diên châu Chung Ngạc mất. Ngạc giỏi điều khiển tướng sĩ, nhưng tàn nhẫn, ưa giết chóc, kẻ hầu cận có phạm lỗi thì lập tức chém; hoặc trước mổ phanh phổi gan, người ngồi bên đều che mặt, còn Ngạc ăn uống như thường. Địch cũng sợ y dám đánh, nên nhiều lần lập công. Từ đầu niên hiệu Hy Ninh, Ngạc khởi xướng việc biên thùy, 2 lần khởi binh đánh phía tây, đều do y mưu tính ban đầu, cuối cùng dẫn đến thất bại ở Vĩnh Lạc, thường oán hận bị Từ Hỉ, Thẩm Khoát chèn ép, nhọt độc phát ở lưng mà chết. Người bàn luận cho rằng nếu Ngạc không chết, thì việc biên thùy không dứt.

Ngày Giáp Tý, Lễ bộ Lang trung Lâm Hy dâng "Lưỡng triều bảo huấn".

Lý Hạo đánh bại người nước Hạ ở Ba Phóng Khê.

Ngày Tân Mùi, mưa đất.

Tháng này, Trung thư xá nhân Tăng Củng mất. Củng làm văn tự thành một nhà. Thuở nhỏ giao du với Vương An Thạch, khi An Thạch thanh danh chưa vang, Củng dẫn dắt ông ta đến với Âu Dương Tu; đến khi An Thạch được trọng dụng, thì Củng lại khác ý với ông ta. Hoàng đế từng hỏi: "An Thạch là người thế nào?" Củng đáp: "Văn học, hạnh nghĩa của An Thạch không kém Dương Hùng, chỉ vì keo kiệt nên không bằng." Hoàng đế nói: "An Thạch khinh phú quý, sao lại keo kiệt?" Củng nói: "Thần nói keo kiệt, là nói ông ta dũng cảm trong việc làm, nhưng keo kiệt trong việc sửa lỗi mà thôi." Lữ Công Trứ từng nói với Hoàng đế: "Hạnh nghĩa của Củng không bằng chính sự, chính sự không bằng văn chương." Vì thế không được trọng dụng lớn.

Tháng 5, ngày Canh Dần, vì hạn mà xét giảm tội tù.

Người nước Hạ xâm phạm Lan châu, vây 9 ngày. Ngày Giáp Ngọ, đại chiến, Thị cấm Vệ Định chết trận.

Ngày Quý Mão, chiếu ban thóc lụa cho người con hiếu ở Tư châu là Chi Tiệm.

Tháng này, Liêu chúa đi Hắc Lĩnh.

Người nước Hạ xâm phạm Thần Đường trại ở Lân châu, Tri châu Tư Hổ đốc suất binh ra đánh, đánh bại chúng. Chiếu lệnh Hổ từ nay không được khinh suất ra vào, sợ mất lợi, tổn uy mà làm tăng thế giặc, gặp khi có giặc cướp biên giới, chỉ cho phép các Bì tướng đem quân chống đuổi.

Tháng 6, ngày Ất Tị mồng 1, chiếu lệnh Lục sát Ngự sử đài mỗi sát đặt 1 viên Ngự sử.

Ngày Quý Sửu, lấy Lễ bộ Thượng thư Hoàng Lý làm Ngự sử Trung thừa. Lý vì các đại thần phần nhiều do lỗi nhỏ mà bị phạt tiền, bèn nói: "Tội của đại thần nếu đáng nghị luận, thì giáng chức là được, nếu có thể tha, thì tha là được, há có thể phạt tiền để tỏ ý sỉ nhục sao?" Lúc đó lại chế định từ Thị lang trở xuống không được độc đối, Lý nói: "Bệ hạ rộng hỏi việc chính, dù là quan nhỏ xa xôi, còn cho phép độc đối, huống chi bọn thị tòng lại không được sao?" Bèn bãi bỏ chế ấy. Ngự sử Trịch Trung nói việc, có chỉ hỏi gốc tích từ đâu mà đến. Lý can rằng: "Ngự sử lấy việc nói làm chức trách, nếu không có điều nghe được, thì không có gì để nói. Nay lại truy cứu nguồn gốc, thì người ta sẽ sợ, Đài gián sẽ không còn điều gì nghe được nữa."

Trước đó có chiếu lệnh Đại lý kiêm xét xử các vụ án do nội chỉ giao xuống, ý là tất phải gia trọng; Thiếu khanh Hàn Tấn Khanh một mình giữ công bằng, xét thực, không xu nịnh trên dưới, Hoàng đế biết tài, khi Thượng thư tỉnh mới lập, bèn thăng làm Hình bộ Lang trung. Các án đại biện trong thiên hạ xin nghị, có vị chấp chính cho là phiền, định đàn hặc những vụ không đáng xin nghị, Tấn Khanh vừa lúc tâu việc ở trong tỉnh, nhân đó nói: "Xét xử cầu thực, là lòng của triều đình. Nay vì xin nghị mà bị trách phạt, thì sau này sẽ không còn ai đến xin nghị nữa." Có người dẫn việc đời Đường mỗi ngày tâu lại, muốn cho các vụ án trong thiên hạ đều theo tấu mà quyết, Tấn Khanh nói: "Pháp ở nơi thiên hạ, còn những vụ khả nghi, đáng thương thì tâu lên, đó là chế độ của Tổ tông. Nay bốn biển một nhà, nếu muốn xiềng xích tội nhân chờ mệnh triều đình, e rằng kẻ chết trong ngục sẽ nhiều hơn kẻ chịu tội đúng phép." Triều đình đều theo lời ấy.

Ngày Kỷ Mùi, Liêu chúa đóng quân ở Tán Thủy nguyên. Ngày Giáp Tý, lấy Da Luật A Tô làm Khiết Đan Hành cung Đô bố trí, lấy Da Luật Thận Tư làm Bắc viện Khu mật Phó sứ.

Ngày Canh Ngọ, Liêu chúa lệnh cho các lộ kiểm tra những người trốn hộ tịch, tội đến chết thì tha cho.

Tháng nhuận, ngày Ất Hợi mồng 1, Hạ chủ Bỉnh Thường sai sứ đến cống. Trong chiến dịch Vĩnh Lạc, người nước Hạ cũng vì thế mà khốn cùng, Tây Nam Đô thống của họ là Mạo Tinh Ngôi Danh Tế gửi thư cho Lưu Xương Tộ ở Kinh Nguyên, xin thông hiếu như trước. Xương Tộ tâu lên, Hoàng đế dụ Xương Tộ trả lời. Đến khi họ vào cướp nhiều lần bị bại, quốc dụng càng kiệt, bèn sai sứ đến cống, dâng biểu rằng: "Thần từ đời trước đến nay, cống hiến triều đình, không hề thiếu sót, cho đến những năm gần đây, lại càng hòa vui. Không ngờ kẻ gian vu báng ly gián, triều đình đặc biệt khởi đại binh, xâm chiếm cương thổ, thành trại, vì thế kết oán, dẫn đến giao binh. Nay xin triều đình tỏ đại nghĩa, đặc biệt trả lại những nơi đã xâm chiếm. Nếu được mở lòng thu nạp, thần sẽ lại hết lòng trung cần." Hoàng đế ban chiếu rằng: "Trước đây vì ngươi cậy mạnh, dám làm việc phế nhục, trẫm sai biên thần đến hỏi, ngươi giấu mà không trả lời. Vương sư đi chinh phạt, là để hỏi tội kẻ có lỗi. Nay ngươi sai sứ đến triều, lời lẽ cung thuận, lại nghe quốc chính đều đã trở lại như cũ, càng đáng khen ngợi thu nạp. Đã răn bảo biên lại không được tự tiện xuất binh, ngươi cũng nên cẩn thận giữ gìn minh ước trước."

Ngày Mậu Dần, chiếu lệnh Kinh lược ty Thiểm Tây, Hà Đông, những thành trại mới thu phục, việc tuần tra không được ra ngoài 2–3 dặm; tiền tuế cống của nước Hạ đều như cũ, chỉ việc xin trả lại cương thổ đã xâm chiếm thì không cho.

Liêu chúa biết nỗi oan của thứ dân Tuấn, hối hận không kịp, truy phong thụy là Chiêu Hoài Thái tử, theo lễ cải táng ở Ngọc Phong sơn.

Ngày Bính Tuất, nước Biện tràn.

Ngày Đinh Hợi, nước Chuẩn Bố dâng cống cho nước Liêu.

Ngày Kỷ Sửu, nước Liêu lấy Tri Hưng Trung phủ sự Hình Hy Niên làm Hán nhân Hành cung Đô bố trí; lấy Hán nhân Hành cung Đô bố trí Vương Tích làm Nam viện Khu mật Phó sứ.

Ngày Bính Thân, Thủ Tư đồ, Khai phủ Nghi đồng Tam ty Hàn quốc công Phú Bật mất, thụy là Văn Trung.

Bật thọ 80 tuổi, ôm lòng không thể thôi, dâng sớ luận yếu chỉ trị đạo rằng: "Thần nghe từ xưa khiến thiên hạ trị hay loạn, không ngoài 2 điều mà thôi: kẻ dua nịnh được tiến, thì người chủ không nghe được lỗi của mình, chỉ ghét điều trái ý, cho nên dẫn đến loạn; người ngay thẳng được tiến, thì người chủ mỗi ngày đều được mở mang thêm, chỉ theo điều thiện, cho nên dẫn đến trị. Thần từ khi rời triều đình, lui về chốn lâm hạ, đôi khi ngẩng lên mà biết thời chính, đại để kẻ dua nịnh tranh nhau tiến, người ngay thẳng ở ngoài, dù có người ở trong triều, cũng vì sợ đụng chạm gian tà, nên đều ngậm miệng, không dám mở lời." Sớ dâng lên, Hoàng đế nói với các phụ thần: "Phú Bật có sớ đến." Chương Đôn nói: "Bật nói việc gì?" Hoàng đế nói: "Nói rằng bên cạnh trẫm có nhiều tiểu nhân." Đôn nói: "Sao không lệnh cho ông ta phân tích ai là tiểu nhân?" Hoàng đế nói: "Bật là lão thần ba triều, há có thể lệnh cho ông ta phân tích!" Vương An Lễ tiến lên nói: "Lời của Bật là đúng." Tan triều, Đôn trách An Lễ rằng: "Hữu thừa đối lời với thượng như thế là sai." An Lễ nói: "Bọn ta hôm nay nói ‘thật như thánh dụ’, ngày mai lại nói ‘thánh học chẳng phải điều thần theo kịp’, sao lại không bị gọi là tiểu nhân?" Đôn không đáp được.

Bật sau khi dâng sớ, lại điều trần những sai lầm của thời chính để chờ Hoàng đế hỏi, tự tay phong kín giao cho con là Thiệu Đình. Đến khi mất, Thiệu Đình dâng lên. Đại lược nói: "Ngày nay từ trên là các phụ thần, dưới đến sĩ thứ, đều sợ họa, mưu lợi, quen thành thói xấu, lời trung, luận ngay, không còn thông lên trên, khiến thánh minh của bệ hạ bị che lấp. Họa hoạn trong thiên hạ đã thành, mà vẫn không biết cảnh giác, hối cải, chữa trị, cứu vãn, ngày một nặng thêm, e rằng sẽ không kịp. Bệ hạ lúc mới lên ngôi, vào lúc tà thần dâng lời, mưu việc trị nước, nghe nhận không thích đáng, tự cho là có thể cự tuyệt mọi người, không cho dị luận được thi hành, rồi sau thánh hóa mới có thể vận hành, công việc mới có thể thành. Đó là bọn gian nhân tự mưu, lợi ở chỗ tạm làm cho vui lòng, còn những kẻ nắm quyền, muốn chuyên quyền phóng túng để thành chí riêng, bèn làm lầm bệ hạ, phế truất trung trực, tiến dùng tà nịnh, lời trung bị bít, nịnh hót ngày nghe. Năm trước nhận lời bàn bậy của biên thần, khởi đại binh để đánh Tây Nhung, quân đội tan vỡ, 2 lộ xao động. Lúc mới cử binh, nếu các đại thần chấp chính, Đài gián, thị tòng, có thể dám can gián đến cùng, thì lòng thánh tự quay, họa nạn tự dứt. Thần không biết lúc đó từ quan lớn đến quan nhỏ, có ai vì bệ hạ mà hết sức tranh luận điều không thể làm chăng? Nay lâu ngày đồn trú chưa giải, bách tính khốn cùng, há lại vì giấu lỗi, xấu hổ vì bại mà không nghĩ đến lúc cứu họa sao? Trời đất rất nhân, há lại cùng bọn Khương Di so đo hơn thua đúng sai! Nguyện trả lại đất đã xâm chiếm, nghỉ binh, cho dân nghỉ ngơi. Việc triều đình, không gì lớn bằng dùng người. Cái chức phò tá, cái chức nghị luận, đều phải chọn kỹ trong thiên hạ. Bọn tham sủng, sợ mất, mềm mỏng, thuận theo, nịnh bợ, há có thể dùng sao? Việc một khi xuất phát từ trên, thì dưới không ai gánh trách nhiệm, tiểu nhân nhân đó mà làm gian, việc thành thì dưới được trộm lợi, việc không thành thì vua một mình chịu tội, há phải là trên dưới đồng lòng, quân thần một đức sao?" Lại nói: "Bọn thần trong cung, giao cho thống lĩnh một phương, đều là điều không nên. Ở ngoài thì ỷ quyền cậy sủng, chèn ép trên dưới. Vào hầu bên cạnh, ân sủng bổng lộc đã quá, thì kiêu ngạo, oán giận dễ sinh, thế vị liên tiếp, nghi kỵ, tranh đoạt theo đó mà đến, lập đảng sinh họa." Lại nói: "Bọn thần hưng lợi, làm tổn hại thể thống quốc gia, khiến trên gom oán. Như việc lập trường để đình chỉ việc cho dân vay, dựng nhà che lấp nhà cũ, độc quyền việc chở thuyền trên sông, tự chiếm lợi phân bón trên đường, gấp gáp thu góp, khiến đường sá oán than, đó chẳng phải là ý của bề trên đối với dân vậy."

Bật cung khiêm, tiết kiệm, ưa lễ, khi nói chuyện với người, dù trẻ nhỏ, hèn kém cũng hết lòng kính trọng, sắc mặt hòa mục, không thấy vui giận. Cái lòng ưa thiện, ghét ác, vốn do thiên tính. Thường nói: "Quân tử cùng tiểu nhân ở chung, thế tất không thể cùng thắng. Quân tử không thắng, thì giữ thân mà lui, vui với đạo, không buồn. Tiểu nhân không thắng, thì kết giao, cấu kết, xúi giục, trăm đường ngàn nẻo, tất phải thắng rồi mới thôi; đến khi được chí, bèn phóng độc với người thiện lương, muốn cho thiên hạ không loạn, không thể được." Tính trung nghĩa của Bật, càng già càng sâu, ở nhà 10 năm, chốc lát chưa từng quên triều đình.

Ty Phát vận các lộ Giang, Hoài mỗi năm vận chuyển 6.200.000 thạch thóc, Phó sứ Tưởng Chi Kỳ coi việc vận chuyển, vì thế mỗi tháng đến Kinh sư, vào chầu. Hoàng đế hỏi han lao nhọc, ban cho áo bậc Tam phẩm, lại nói: "Trẫm không đổi bổ chức khác, việc vận chuyển một mực giao cho khanh." Chi Kỳ từ chối, nhân đó điều vẽ hơn 30 việc lợi hại, phần nhiều được thu nạp dùng.

Mùa thu, tháng 7, ngày Ất Tị, Liêu chúa săn ở Mã Vĩ sơn.

Ngày Ất Mão, cựu Đồng thành huyện úy Chu Ngạc dâng thư, chiếu lệnh Trung thư tỉnh ghi tên họ. Hoàng đế mỗi ngày xem hòm dâng thư, những điều lợi hại do tiểu thần nói, không điều nào không xem xét kỹ như thế.

Ngày Tân Mão, Bồ Tông Mạnh bị bãi. Trước đó, khi Tể tướng cùng chầu, Hoàng đế than không có nhân tài, Tông Mạnh nói: "Nhân tài một nửa bị tà thuyết của Tư Mã Quang làm hỏng." Hoàng đế không nói, nhìn thẳng Tông Mạnh rất lâu. Tông Mạnh sợ hãi, không biết làm sao cho phải. Hoàng đế lại nói: "Bồ Tông Mạnh lại không dùng Tư Mã Quang sao? Chưa nói việc khác, riêng việc ông ta từ chức Phó sứ Khu mật, từ khi trẫm lên ngôi đến nay, chỉ thấy một người như thế. Người khác dù bị ép phải đi, cũng không chịu vậy." Lại nhân đó bàn rộng về nhân vật xưa nay, Tông Mạnh hết lời khen Dương Hùng là hiền, Hoàng đế đổi sắc nói: "Dương Hùng tâng bốc nhà Tần, ca ngợi nhà Tân, không tốt." Tan triều, Vương An Lễ đùa Tông Mạnh rằng: "Dương Hùng khiến công bị vạ lây." Đến đây, Ngự sử luận tội y say đắm tửu sắc và sửa sang dinh thự quá mức, bèn giữ nguyên chức, làm Tri Nhữ châu.

Lấy Thượng thư Hữu thừa Vương An Lễ làm Thượng thư Tả thừa, Lại bộ Thượng thư Lý Thanh Thần làm Thượng thư Hữu thừa.

Tháng 9, ngày Quý Hợi mồng 1, nhật thực.

Ngày Mậu Thìn, Khởi cư lang Thái Kinh tâu: "Trước đây tu sửa Khởi cư chú có 2 viên quan, không phân tả hữu, nên mỗi tháng luân phiên 1 viên tu soạn. Nay Khởi cư lang, Xá nhân chia thuộc 2 tỉnh, để làm tả hữu sử quan, thì tả nên chép việc động, hữu nên chép lời nói. Xin từ nay, Khởi cư lang, Xá nhân theo tả hữu mà ghi chép lời nói, hành động." Hoàng đế cho theo.

Ngày Kỷ Dậu, Liêu chúa bắn gấu ở Bạch Thạch sơn, gia phong Vi trường sử Ni Ca làm Tả Kim Ngô vệ Đại tướng quân.

Ngày Tân Mùi, thủ lĩnh 5 bộ đến cống nước Liêu.

Ngày Nhâm Thân, Liêu chúa triệu quan Bắc Nam Khu mật viện bàn việc chính sự.

Mùa đông, tháng 10, ngày Quý Dậu mồng 1, Quốc chủ nước Hạ là Bỉnh Thường sai sứ dâng biểu, xin lại tu sửa việc triều cống, xin trả lại cựu cương. An Thao nói: "Đất có chỗ không phải là nơi hiểm yếu, thì nên cho. Nhưng lòng giặc không biết chán, phải khiến chúng biết ta tha lỗi mà bãi binh, không thể tỏ ra ý chán chiến." Hoàng đế bèn ban chiếu cho Bỉnh Thường, nói: "Biên giới đã lệnh cho Phủ Diên lộ gửi công văn cho Hựu châu thi hành, tiền tuế cống đợi đến ngày biên giới định xong thì theo như cũ."

Ngày Đinh Sửu, Liêu chúa yết Quan Đức điện.

Ngày Kỷ Mão, Nam viện Khu mật sứ nước Liêu là Lưu Quân mất.

Ngày Mậu Tý, phong Mạnh Kha làm Trâu quốc công, vì Lại bộ Thượng thư Tăng Hiếu Khoan nói Mạnh Kha chưa được gia phong tước mệnh.

Ngày Nhâm Thìn, Hỗn Đồng quận vương nước Liêu là Da Luật Y Tốn ở Lai châu, riêng cất giấu binh giáp, lại mưu chạy sang Tống; việc bị phát giác, Liêu chúa lệnh thắt cổ giết.

Ngày Quý Tị, Hội Kê quận vương Thế Thanh mất.

Ngày Canh Tý, Thượng thư tỉnh hoàn thành.

Tháng 11, ngày Quý Mão, gia thêm thụy cho Nhân Tông là Thể Thiên Pháp Đạo Cực Công Toàn Đức Thần Văn Thánh Vũ Duệ Triết Minh Hiếu Hoàng đế, cho Anh Tông là Thể Càn Ứng Lịch Long Công Thịnh Đức Hiến Văn Túc Vũ Duệ Thần Phú Hiếu Hoàng đế. Ngày Giáp Thìn, triều hiến Cảnh Linh cung. Ngày Ất Tị, triều Thái miếu. Ngày Bính Ngọ, tế Hạo Thiên Thượng đế ở Viên Khâu, lấy Thái Tổ phối hưởng, bắt đầu bãi việc hợp tế Trời Đất. Khi về, ngự Tuyên Cán môn, đại xá.

Nước Liêu tiến phong Lương vương Diên Hi làm Yên quốc vương, đại xá.

Lấy Nam viện Tuyên huy sứ Tiêu Mô Ca làm Nam phủ Tể tướng, lấy Tam ty sứ Vương Kinh làm Tham tri chính sự, Tri Khu mật viện sự.

Ngày Giáp Dần, Phán Hà Nam phủ Lộ quốc công Văn Ngạn Bác, lấy danh nghĩa Thủ Thái sư, Khai phủ Nghi đồng Tam ty mà về hưu.

Ngày Canh Thân, ngự Thượng thư tỉnh, triệu từ Lục tào Trưởng, Phó trở xuống, hỏi về chức sự, nhân đó răn dạy.

Tháng này, nước Liêu định các bậc thăng tiến của Lệnh sử, Dịch sử.

Tháng 12, ngày Đinh Hợi, nước Liêu lấy Hình Hy Niên coi việc Nam viện Khu mật sứ. Ngày Tân Mão, lấy Vương Ngôn Phu làm Hán nhân Hành cung Đô bố trí.

Trước đó, Cao Ly vương Huy mất, nước Liêu lệnh cho con là Tam Hàn quốc công Huân quyền Tri quốc sự, đến đây Huân lại mất.

Năm ấy, nước Liêu cho đỗ 51 người Tiến sĩ là Lý Quân Dụ và những người khác.

Năm Nguyên Phong thứ 7 (Liêu, Thái Khang năm thứ 10), Công nguyên năm 1084

[sửa]

Ngày Bính Ngọ, lấy Diêm châu Phòng ngự sứ Thế Chuẩn làm An Định quận vương.

Nước Liêu lại dựng tháp chùa Phụng Phúc ở Nam Kinh.

Ngày Quý Sửu, người nước Hạ xâm phạm Lan châu, Lý Hiến và những người khác đánh lui.

Ngày Giáp Dần, tiến phong Hiền phi Chu thị làm Đức phi.

Ngày Tân Dậu, chiếu lệnh Hoàng châu Đoàn luyện phó sứ Tô Thức dời đến Nhữ châu. Hoàng đế mỗi lần thương tiếc tài của Thức, từng nói với các phụ thần: "Việc lớn của Quốc sử, trẫm muốn giao cho Tô Thức làm." Các phụ thần có vẻ khó xử, Hoàng đế nói: "Không dùng Thức thì dùng Tăng Củng." Về sau Củng cũng không hợp ý Hoàng đế, Hoàng đế lại có chỉ triệu Thức, lấy bản chức làm Tri Giang châu. Thái Xác, Trương Tảo nhận mệnh, Vương Khuê một mình cho là không thể. Ngày hôm sau, đổi làm Thái Bình quán ở Giang châu, lại ngày hôm sau, mệnh bị ngăn không ban xuống. Bèn cuối cùng xuất thủ trát, dời đến Nhữ châu, có câu: "Tô Thức bị giáng ở chỗ ở để nghĩ lỗi, qua năm càng sâu, nhân tài thật khó, không nỡ bỏ hẳn." Thức dâng biểu tạ, lại nói có ruộng ở Thường châu, xin được ở đó. Hoàng đế theo lời xin, đổi làm Thường châu Đoàn luyện phó sứ.

Ngày Mậu Thìn, Liêu chúa đi Sơn Kiểm Điến.

Tháng 2, ngày Canh Ngọ mồng 1, Hà Bắc Chuyển vận sứ, Xử trí Hà Bắc thu mua tiện là Ngô Ung tâu: "Lương thực cấp cho người, cỏ cho ngựa hiện có tổng cộng 1176 vạn thạch, số lẻ bù cho nhau, có thể dùng trong 6 năm. Đại kế phòng thủ biên giới của 17 châu Hà Bắc, kho tàng đầy đủ, tuy nhờ năm được mùa, nhưng thực là do quan lại có năng lực đảm nhiệm chức vụ. Đồng Xử trí là Vương Tử Uyên, tại chức 9 năm, hết lòng vì công gia, mong xét công hiệu để khuyến khích quan lại có tài." Chiếu ban cho Tử Uyên áo tía thêu chương.

Ngày Giáp Tuất, Thái sư về hưu là Văn Ngạn Bác vào chầu, bày tiệc ở Thùy Củng điện.

Ngày Quý Mùi, tiến phong Bộc Dương quận vương Tông Huy làm Thế Bộc vương, phong Tông Thịnh làm Cao Mật quận vương, Tông Xước làm Kiến An quận vương, An Ẩn làm An Khang quận vương, Tông Uyển làm Hán Đông quận vương, Tông Dự làm Hoa Nguyên quận vương.

Tháng 3, ngày Tân Sửu, ban yến cho Văn Ngạn Bác ở Khuê Lâm uyển, Hoàng đế làm thơ ban cho.

Ngày Đinh Tị, đại yến quần thần ở Tập Anh điện, Hoàng tử Diên An quận vương đứng hầu bên cạnh ngự tọa, Vương Khuê dẫn bá quan triều hạ chúc mừng. Đến khi lên điện, Hoàng đế lệnh Khuê và những người khác ra mắt vương, lâu sau vương mới lui. Vương chưa ra khỏi cửa, Hoàng đế đặc lệnh cho dự yến để ra mắt quần thần.

Liêu chúa lệnh cho Tri chế cáo Vương Sư Nho, Bài ấn lang quân Da Luật Cố phụ đạo Yên vương Diên Hỉ. Liêu chúa nhớ công Tiêu Ô Nạp bảo vệ Hoàng tôn, từng nói với Sư Nho và những người khác rằng: "Ô Nạp trung thuần, dù Địch Nhân Kiệt phò nhà Đường, Ô Trân lập Mục Tông, cũng không hơn được. Các khanh nên cho Yên vương biết điều đó." Liền lệnh Ô Nạp lấy chức Điện tiền Đô điểm kiểm phụ đạo Yên vương.

Ngày Canh Thân, ngự Sùng Chính điện đại duyệt.

Ngày Nhâm Tuất, chiếu lấy Ngoại xá sinh Thái học là Chu Bang Ngạn người Tiền Đường làm Thí Thái học chính. Bang Ngạn dâng "Biện đô phú", văn chương hoa mỹ đáng chọn, nên được cất nhắc.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Đinh Sửu, ban cho đồng tử ở Nhiêu châu là Chu Thiên Tứ xuất thân Ngũ kinh.

Người Nữ Chân dâng ngựa tốt cho nước Liêu.

Ngày Quý Tị, người nước Hạ xâm phạm An Tái bảo ở Diên châu, tướng quan Lữ Chân đánh bại chúng.

Tháng 5, ngày Nhâm Tý, xét giảm tội tù, tội chết giảm 1 bậc, từ tội trượng trở xuống đều tha.

Ngày Canh Thân, chiếu lệnh Trung thư xá nhân Thái Biện đến Giang Ninh phủ thăm hỏi bệnh tình Vương An Thạch. Biện là con rể của An Thạch.

Ngày Nhâm Tuất, chiếu: "Từ nay lễ Xuân Thu Thích điển, lấy Trâu quốc công Mạnh Kha phối hưởng Văn Tuyên vương, đặt vị ở sau Yển quốc công." Lại truy phong Tuân Khoáng làm Lan Lăng bá, Dương Hùng làm Thành Đô bá, Hàn Dũ làm Xương Lê bá, theo thứ tự đời mà cùng phối hưởng ở giữa 21 hiền.

Chiếu lệnh các lộ Soái thần, Giám ty tiến cử Đại sứ thần làm tướng lĩnh.

Liêu chúa đóng quân ở Tán Thủy nguyên.

Ngày Ất Sửu, Chuẩn Bố dâng cống cho nước Liêu.

Tháng 6, Lễ bộ tâu: "Âu Dương Tu và những người khác biên soạn ‘Thái thường nhân cách lễ’, bắt đầu từ niên hiệu Kiến Long, kết thúc ở Gia Hựu, được 100 quyển. Sau Gia Hựu thì bỏ không ghi chép. Từ niên hiệu Hy Ninh trở lại đây, lễ văn, chế tác đủ để làm phép tắc cho muôn đời, xin giao cho Thái thường, ủy cho Bác sĩ tiếp tục biên soạn, để tiện tra cứu." Hoàng đế cho theo.

Ngày Bính Tý, người nước Hạ xâm phạm Đức Thuận quân, Tuần kiểm Vương Hữu chết trận.

Ngày Mậu Tý, Tập Hỉ quán sứ Vương An Thạch xin lấy vườn nhà mình dựng chùa Thiền, xin ban tên, Hoàng đế cho theo, lấy tên là Bảo Ninh Thiền viện. An Thạch từ khi con là Phương chết, cuối đời đau xót không nguôi, bèn bỏ nửa vườn nhà ở Bán Sơn làm chùa, lại cắt ruộng làm thường trụ, để cầu phúc nơi âm phủ.

Ngày Tân Mão, Giang Hạ quận vương Tông Huệ mất.

Ngày Nhâm Thìn, nước Liêu cấm việc phá hủy tiền đồng để làm đồ dùng.