Bước tới nội dung

Tục tư trị thông giám/Quyển 81

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tục Tư trị thông giám, quyển 81  (2025)  của Tất Nguyên, do Cơ Như Tuyết dịch
Tống kỷ 81

Từ tháng 7 năm Mậu Thìn (1088) đến tháng Chạp năm Canh Ngọ (1090), Triết Tông Nguyên Hựu năm thứ 3 đến năm thứ 5, gồm 2 năm có dư

Năm Nguyên Hựu thứ 3 (Liêu, Đại An năm thứ 4), Công nguyên năm 1088

[sửa]

Mùa thu, tháng 7, ngày Mậu Thân, Kinh Vương Quân (頵) mất, thụy là Đoan Hiến.

Nước Liêu đại xá giảm tội cho dân dịch phu ở Phụng Thánh châu.

Ngày Quý Sửu, Thái Hoàng Thái Hậu xuống chiếu bảo hữu ty tôn sùng Hoàng Thái Phi, khảo cứu điển cố tâu lên.

Ngày Bính Thìn, nước Liêu sai sứ sách phong Lý Càn Thuận (李乾順) làm Hạ Quốc Vương.

Ngày Canh Thân, Liêu chúa đi đến Thu San.

Ngày Nhâm Tuất, xuống chiếu: "Phàm đại thần tấu cử người giữ chức ở quán, đều theo điều lệ triệu vào khảo thí rồi mới bổ nhiệm. Còn những người triều đình đặc biệt bổ nhiệm thì không dùng lệnh này."

Trước đó, Lưu An Thế (劉安世) nói: "Từ khi Tổ Tông định thiên hạ, trước hết mở Nho Quán để nuôi dưỡng nhân tài. Gần đây dần coi nhẹ việc tuyển chọn ấy, hoặc do ân thưởng đời đời, hoặc vì quân công, hoặc để báo đáp kẻ khéo tụ tập thu góp, hoặc vì chiều theo sự tiến cử của quyền quý, chưa từng khảo thí mà đã gắn cho chức danh." Hoàng đế cho là phải, nên có chiếu này. An Thế lại tâu: "Bệ hạ quá nghe lời thần, truy phục lại chế độ cũ, nhưng lại nói rằng những người do triều đình đặc biệt bổ nhiệm thì không thuộc hạn này, thế là chỉ trên danh nghĩa là đổi mới, mà gốc tệ vẫn còn. Xin từ Chuyển Vận Sứ trở lên, những người do xét theo thứ bậc mà đặc biệt bổ nhiệm, thì được không dùng chế độ này. Như thế mới có thể chặn cửa cầu may, làm cho việc tuyển chọn chức quán được coi trọng." Không được nghe theo.

Đêm ngày Mậu Thìn, phương đông bắc sáng như ban ngày, chốc lát lại hiện khí đỏ, giữa có khí trắng vắt ngang trời.

Ngày Kỷ Tị, nước Liêu cấm dân ra khỏi biên cảnh.

Ngày Quý Dậu, Châu Trung tâu rằng ở Lâm Giang, trấn Đồ Tỉnh mưa xuống hạt kê đen.

Tháng 8, ngày Kỷ Mão, tiến phong Dương Vương Hạo (顥) làm Từ Vương.

Ngày Canh Thìn, hữu ty nước Liêu tâu rằng châu Uyển Bình, Vĩnh Thanh châu châu chấu bị chim bay đến ăn.

Ngày Tân Tị, phục đặt Kinh Môn Quân.

Ngày Bính Tuất, bãi việc khảo thí xử đoán hình luật đối với quan lại.

Ngày Canh Dần, Liêu chúa đến bái Khánh Lăng.

Ngày Đinh Dậu, Man Cừ Dương vào cướp.

Ngày Tân Sửu, Lưu An Thế tâu: "Thần cúi thấy từ đời Tổ Tông đến nay, con cháu thân thích của các đại thần chấp chính, chưa từng dám trao cho chức vụ trọng yếu trong ngoài. Từ khi Vương An Thạch (王安石) nắm chính sự trở đi, bèn bỏ hết chế độ của các Thánh đời trước, chuyên dùng thân đảng, chỉ cốt thỏa ý riêng. Nay các quan đang tại chức vẫn còn noi theo thói cũ, con cháu thân thích đầy khắp các nơi trọng yếu, đó là mối đại hoạn lớn nhất hiện nay. Xin đem chương này ban cho khắp Tam Tỉnh, để khỏi bỏ pháp Tổ Tông."

Trung Thư Xá Nhân Tằng Triệu (曾肇) tâu: "Gần đây có kẻ cầu xin nội chỉ, được đặc biệt cho sai phái, thần e rằng bọn cầu may sẽ lần lượt kéo nhau. Thần kính cẩn sao chép dâng lên 8 điều sự tích chiếu thư răn cấm việc nội chỉ đời Nhân Tông, làm thành một bản riêng, cúi xin đặt ở bên phải chỗ ngự, để giúp phần nào cho việc xem xét."

Tháng 9, ngày Canh Thân, cấm Tông Thất kết thân với nhà Nội Thần.

Ngày Ất Sửu, xuống chiếu cho từ Quan Sát Sứ trở lên được cấp ruộng vĩnh nghiệp.

Ngày Đinh Mão, khảo hạch khoa Hiền Lương Phương Chính Năng Trực Ngôn Cực Gián, Tạ Tông (謝悰) đỗ; ngày Kỷ Tị, ban cho xuất thân Tiến Sĩ, bổ nhiệm chức quan bậc thấp. Lưu An Thế tâu: "Gần đây thấy Tông (悰) trình lên Thượng Thư Tỉnh tờ trạng từ chối chức mới, trong đó viết ‘sở hữu sắc mệnh, vị cảm để thụ’; lấy ‘祗’ (chỉ) viết thành ‘抵’ (để), lấy ‘受’ (thụ) viết thành ‘授’ (thụ). Xưa trong Tỉnh đời Đường có chức ‘Phục Liệp Thị Lang’, bị Nghiêm Đĩnh Chi chê trách mà bãi bỏ. Nay bệ hạ mới phục đặt khoa cử này, há lại dung được chuyện ‘để thụ hiền lương’ sao!"

Mùa đông, tháng 10, ngày Đinh Sửu, Liêu chúa săn ở bờ sông Liêu Thủy. Ngày Kỷ Mão, dừng lại ở Ngẫu Ti Điến. Ngày Quý Mùi, miễn cho bách tính số thóc vay của quan.

Ngày Bính Tuất, bãi các đồn trại mới dựng.

Triệu Chiêm (趙瞻) xin bãi bỏ Cừ Dương Quân để giảm bớt sức lực của vùng Kinh Hồ, được chuẩn cho.

Ngày Kỷ Sửu, nước Liêu phong cho Da Luật A Tô (耶律阿蘇), Tri Bắc Viện Xu Mật Sứ, làm Tất Thủy Quận Vương. Ngày Quý Tị, lấy Y Thật Đại Vương Da Luật Địch Lý (耶律迪裡) làm người coi việc Tây Bắc Lộ Chiêu Thảo Sứ, lấy Tiêu Hưu Cách (蕭休格), quyền Tri Tây Bắc Lộ Chiêu Thảo Sự, làm người coi việc của Y Thật Đại Vương.

Ngày Mậu Tuất, phục đặt Nam Bắc Tuyên Huy Viện.

Ngự Sử Địch Tư (翟思) cùng các quan tâu: "Giữ lòng thanh tĩnh không gì bằng giảm việc, giảm việc không gì bằng giảm quan. Nay việc trong thiên hạ, sự nhiều ít, phức tạp hay giản đơn, không khác gì trước khi đặt chế độ quan lại; nhưng xưa một việc do một quan xử lý, nay chia ra làm 4, 5; xưa một lại trông coi, nay tăng lên 6, 7. Xin triều đình tham khảo chế độ cổ để cứu tệ nay."

Ngày Nhâm Dần, nước Liêu lệnh cho các trưởng quan các bộ thân tự xét hỏi các vụ kiện tụng.

Tháng 11, ngày Giáp Thìn, sai Lại Bộ Thượng Thư Phạm Bách Lộc (范百祿), Cấp Sự Trung Triệu Quân Tích (趙君錫) đi xem xét lợi hại việc đổi dòng sông Hoàng Hà, vẽ đồ dâng tấu.

Ngày Canh Thân, dân Trương Hóa Pháp ở Hưng Trung Phủ nước Liêu, vì cha anh phạm tội trộm cướp đáng chết, xin lấy thân mình thay, Liêu chúa đều tha cho.

Ngày Đinh Mão, xuống chiếu mỗi năm đến tháng 10 cấp áo bông cho quân tuần thành.

Ngày Giáp Dần, Lưu An Thế tâu: "Thường thấy các cận thần liên danh tiến cử sĩ nhân, phần nhiều là đường tắt. Dung cho kẻ nóng nảy cầu tiến, người người ôm lòng mong ngóng, thì không gì là không dám làm!" Chiếu: "Từ nay thần liêu nếu có tiến cử riêng, không được liệt tên cùng tấu."

Tháng 12, ngày Quý Mùi, nước Liêu lấy Da Luật Thận Tư (耶律慎思) làm Lưu Thủ Trung Kinh.

Lưu An Thế tâu: "Giáo thụ châu Vận Châu là Chu Chủng (周穜) dâng thư, xin phối thờ cố tướng Vương An Thạch ở Thần Tông Miếu Đình. Chủng là kẻ thần xa lạ hèn mọn, ôm lòng gian tà ngóng trông, khinh miệt công luận, bàn bậy điển lễ, cúi xin trừng trị nặng, để tỏ rõ điều yêu ghét." Tô Thức (蘇軾) tâu: "Thần hèn kém mà được dự hàng thị tòng, lầm lẫn trong việc biết người, đến nỗi tiến cử Chủng khiến làm ô uế học hiệu, thần kính cẩn tự hặc xin chịu tội." Ngày Giáp Ngọ, bãi chức giáo thụ của Chủng, trả về Lại Bộ.

Ngày Nhâm Dần, bạch hồng xuyên mặt trời.

Hộ Bộ Thị Lang Tô Triệt (蘇轍) dâng sớ nói: "Đại nghị về việc đổi dòng Hoàng Hà tuy đã bỏ, nhưng nghe người bàn vẫn cố chấp kế hoạch sang năm mở sông phân nước. Nay cửa vỡ ở Tiểu Ngô đã khoét sâu vào đất, mà chỗ mở ở Tôn Thôn chỉ dài ngắn có hạn, không những không thể đổi dòng sông, mà cũng không thể phân nước. Huống tính chất Hoàng Hà, khi nước gấp thì chảy thông, khi nước chậm thì bồi lắng; đã không có thế nước đều gấp cả đông lẫn tây, thì làm sao có lý hai sông cùng chảy song song? Nay người đề nghị lại nói sông đổi dòng không chừng, vạn nhất từ cõi Liêu chảy vào biển, thì biên phòng mất chỗ phòng bị. Xét xưa sông ở phía đông, các quận huyện phía tây sông tiếp giáp với nước Liêu, không có núi sông ngăn cách, biên thần đắp đê nước để chống giữ chỗ xung yếu. Nay sông đã ở phía tây, thì dãy Tây Sơn một dải, đất mà Khiết Đan có thể đi lại không còn bao nhiêu, lợi cho biên phòng, không nói cũng biết. Lại các sông của Khiết Đan đều từ bắc chảy xuống nam mà vào biển, bởi địa thế phía bắc cao, sông không có đường dời lên bắc, mà cửa biển sâu và thông, thế không thể dời đổi, nên lời nói về biên phòng ấy không đáng nghe. Thần lại nghe Tạ Khanh Tài đến kinh, nói rằng: ‘Hoàng Hà từ khi vỡ ở Tiểu Ngô, nước theo chỗ cao đổ xuống, thế nước ào ạt, đê điều thượng lưu không còn lo vỡ dữ nữa; nếu triều đình giao việc sông cho thần, thì không phải dịch một người, không tốn một đồng, bảo đảm 10 năm không có nạn sông.’ Đại thần vì ông ta khác ý mình mà bãi về, lại khiến Vương Hiếu Tiên, Du Cẩn, Trương Cảnh Tiên 3 người vẽ lại kế hoạch đổi dòng sông. Ấy là do đại thần nặng nề chuyện sửa lỗi, nên mượn nỗi lo bất trắc về Khiết Đan để cầu cho được việc ở triều đình; tuy đã sai Phạm Bách Lộc v.v. ra ngoài xét lợi hại, nhưng chưa dám bảo là không có chuyện họ ngóng gió ý chỉ. Xin gấp thu hồi lệnh mua thuyền, phát binh, khiến Phạm Bách Lộc v.v. rõ biết thánh ý không thiên lệch, để khỏi a dua mà làm hỏng quốc kế."

Tháng nhuận, ngày mồng 1, Quý Mão, ban hành 《Nguyên Hựu Sắc Lệnh Cách Thức》.

Ngày ấy, nước Liêu làm trước lễ Chính Đán.

Ngày Giáp Thìn, Ngân Thanh Quang Lộc Đại Phu trí sĩ Thục Quận Công Phạm Trấn (范鎮) đúc xong luật, độ lượng, chuông khánh v.v., cùng sách và đồ pháp dâng lên, so với nhạc của Lý Chiếu đời Cảnh Hựu thì lại thấp hơn một luật. Hoàng đế cùng Thái Hoàng Thái Hậu ngự Diên Hòa Điện, xuống chiếu cho phụ thần cùng xem xét, ban chiếu khen thưởng, giao cho Thái Thường, lệnh cho quan Tam Tỉnh, Thị Tòng, Đài Các đều đến xem. Lúc ấy Trấn đã mắc bệnh, nhạc tấu xong, 3 ngày thì mất, thụy là Trung Văn.

Trấn thanh bạch, thẳng thắn, trong ngoài sáng tỏ, đối người lấy thành thực, miệng không nói lỗi người. Đến khi gặp đại tiết, quyết đoán đại nghị, sắc mặt hòa mà lời nói trang trọng, dù ở trước vạn thặng cũng không hề khuất. Bình sinh cùng Tư Mã Quang (司馬光) rất hợp, bàn luận như từ một miệng mà ra, nên đương thời hễ nhắc đến bậc hiền trong thiên hạ, tất nói Quân Thật, Cảnh Nhân. Cảnh Nhân là tự của Trấn.

Hộ Bộ Thượng Thư Hàn Trung Ngạn (韓忠彥), Thị Lang Tô Triệt, Hàn Tông Đạo (韓宗道) tâu: "Bản bộ gần đây biên soạn xong 《Nguyên Hựu Hội Kế Lục》, đại để một năm trong thiên hạ thu tiền, thóc, vàng bạc, lụa vải v.v. không đủ chi dùng cho một năm. Chúng thần xin minh chiếu cho bản bộ, tùy việc xem xét, ước lượng cắt giảm; Nhị Thánh lấy thân làm gương, đại thần lấy thân đi trước, thì ai là không tin phục!" Tấu dâng lên, chiếu: "Hộ Bộ thu gom các khoản chi dùng tài chính, trừ tiền lương, áo gạo, thưởng cấp đặc biệt cho các ban, các quân theo lệ cũ, còn các khoản chi phí thừa đều cắt giảm, lần lượt tâu lên."

Ngự Sử Trung Thừa Lý Thường (李常) tâu: "Tiên đế cho rằng quan lại không có bổng lộc thì không đủ để trách họ thanh liêm, nên tăng nặng hình phạt mà cấp lộc cho. Trước đã lệnh cho quan xét thực, bớt kẻ dư thừa, xin thúc giục hoàn thành thành sách." Chiếu lệnh Môn Hạ, Trung Thư Hậu Tỉnh mau lập pháp.

Ngày Bính Ngọ, Liêu chúa đi đến Hỗn Đồng Giang.

Ngày Mậu Thân, giảm bớt việc ban thưởng cho Tể Tướng và quan chấp chính.

Ngày Giáp Dần, Thái Hoàng Thái Hậu xuống chiếu rằng: "Họa quan lại dư thừa, từ xưa đã có; chỗ cực của tệ ấy, thực tụ lại ở nay, so với số biên chế thì đã gấp mấy lần. Trên có quan lại lâu ngày nhàn rỗi mất chức, thì dưới có dân chịu hại mà không nơi kêu. Vì thế lệnh cho đại thần khảo cứu gốc, nếu không cắt giảm số người nhập lưu, thì không thể làm trong sạch nguồn gốc lấy sĩ. Nay ta tự lấy thân mọn làm gương trước thiên hạ, nhớ buổi đầu lâm chính, từng bảo hữu ty rằng việc ấm bổ thân thích xưa không có hạn định, tự nghĩ đức mỏng, dám sánh với người trước! Đã chiếu rằng ân huệ trong nhà chỉ theo lệ của mẫu hậu, nay lại phải giảm nữa để tỏ ý quyết làm. Với sự ủy thác sâu của tiên đế, sự trông đợi nặng nề của thiên hạ, hễ có lợi cho xã tắc, ta không tiếc thân mình. Huống chi việc ban ân này thực như sợi lông, bậc trung nghĩa phải hiểu tấm lòng ấy, đều quên tình riêng trong nhà, cùng thành phép tiết kiệm. Từ nay mỗi khi gặp Thánh Tiết, Đại Lễ, Sinh Thần, ân trạch ban cho thân thuộc đều giảm 1 phần trong 4 phần. Hoàng Thái Hậu, Hoàng Thái Phi cũng theo đó."

Ngày Canh Thân, đặt quyền quan Lục Tào Thượng Thư.

Ngày Bính Dần, chiếu cho Lại Bộ xét rõ sự trùng lặp, lợi hại của Lục Tào, Tự, Giám, tâu lên.

Phạm Bách Lộc, Triệu Quân Tích sau khi nhận chiếu, đi xem xét hai dòng sông đông và tây, đo địa thế, xét lợi hại, thấy dòng đông cao ngược, dòng bắc thuận xuống, biết sông không thể đổi dòng, bèn ghi chép tâu lên.

Năm Nguyên Hựu thứ 4 (Liêu, Đại An năm thứ 5), Công nguyên năm 1089

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Quý Mùi, Phạm Bách Lộc v.v. đi sứ trở về, vào chầu, lại nói: "Sửa giảm Thủy Hà chỉ có hại không có lợi, xin bãi việc ấy, chuyển công sức, tiền của sang đắp đê phía tây để bảo vệ cửa vỡ phía nam." Chốc lát, bèn chiếu bãi việc đổi dòng sông và việc sửa Thủy Hà.

Liêu chúa đi đến Ngư Nhi Lạc.

Ngày Giáp Thân, vì Hạ Nhân đã thông hiếu, chiếu cho biên tướng không được sinh sự.

Tả Tư Gián Hàn Xuyên bị bãi làm Tập Hiền Hiệu Lí, quyền phát khiển Dĩnh châu, vì nhiều lần can gián Hồ Tông Dự mà không được nghe.

Ngày Giáp Ngọ, Cao Ly cống cho nước Liêu.

Tháng ấy, Tri Đặng Châu Thái Xác (蔡確) lại được làm Quan Văn Điện Học Sĩ.

Tháng 2, ngày Giáp Thìn, Tư Không, Đồng Bình Chương Quân Quốc Sự, Thân Quốc Công Lữ Công Trứ (呂公著) mất, thọ 72 tuổi. Thái Hoàng Thái Hậu gặp các phụ thần nói: "Nước nhà bất hạnh, Tư Mã tướng công đã mất, Lữ Tư không lại qua đời." Thương xót rất lâu. Hoàng đế cũng bi cảm, lập tức đến nhà ông tế viếng, truy tặng Thái Sư, thụy là Chánh Hiến.

Công Trứ từ nhỏ học tập, lấy trị tâm dưỡng tính làm gốc, bình thường không có lời gắt, sắc mặt vội; đối với thanh danh, lợi lộc, phồn hoa, thản nhiên không ham. Suy nghĩ sâu sắc, lượng rộng mà học thuần, hễ có lợi cho nước thì không để lợi hại lay động lòng mình. Đối người hết sức thành, không phô trương. Sự ưa đức, thích thiện là do thiên tính, sĩ đại phu nào để ý đến nhân vật, ông tất hỏi điều họ biết, đem so với điều mình nghe, tham khảo thực hư, để chờ khi trên hỏi. Thần Tông từng bảo các quan chấp chính: "Lữ Công Trứ đối với nhân tài, lời nói không dối, như cái cân cân vật vậy." Mỗi khi bàn chính sự trước Hoàng đế, ông hết lòng bỏ trang sức, rộng lấy điều hay của mọi người làm điều hay của mình, đến chỗ mình phải giữ thì cứng cỏi không thể lay chuyển. Vương An Thạch biện bác rộng, phóng lời, người khác không dám chống, chỉ Công Trứ dùng kiến thức tinh tế, lời lược mà phục được ông ta. An Thạch từng nói: "Tính hẹp hòi của ta thường không tự thắng được, mỗi lần đến gặp bậc trưởng giả, tự nhiên tiêu tan." Sự kính phục đến thế.

Ngày Canh Tuất, bạch hồng xuyên mặt trời.

Ngày Ất Mão, Hạ Quốc Vương sai sứ đến tạ việc phong sách.

Ngày Nhâm Tuất, ngự Nhĩ Anh Các, chiếu cho quan giảng đọc giảng 《Thượng Thư》, đọc 《Bảo Huấn》. Tư Mã Khang (司馬康) giảng 《Hồng Phạm》 đến câu “nghi dụng Tam Đức”, Hoàng đế hỏi: "Chỉ có ba đức này, hay còn đức nào nữa?" Khang đáp: "Cao Đào (皋陶) trình bày có Cửu Đức, như các câu ‘Nhu Nhi Lập, Cương Nhi Tắc, Cường Nhi Nghĩa’ v.v. là vậy." Trước đó Hoàng đế cung kính lặng im chưa nói, Khởi Cư Xá Nhân Vương Nham Tẩu (王岩叟) vui mừng nghe lời nói về đức, muốn nhân đó mà phong gián, lui ra dâng sớ nói: "Bệ hạ đã có thể xét hỏi như thế, tất có thể thể nghiệm mà làm. Tam Đức là đại bản của người làm vua, được thì trị, mất thì loạn, không thể rời một khắc. Tuy số ba ít, nhưng suy rộng ra thì đủ để bao quát yếu chỉ thiên hạ." Nham Tẩu từng hầu giảng, tâu rằng: "Trong cung bệ hạ lấy gì tiêu ngày?" Hoàng đế nói: "Không có gì ưa thích, chỉ là xem sách." Đáp: "Thánh học cốt ở tích lũy, yếu của tích lũy là ở chuyên và cần. Gạt bỏ việc khác mới gọi là chuyên, lâu mà không mệt mới gọi là cần." Hoàng đế cho là phải.

Tháng 3, ngày Quý Dậu, Liêu chúa lệnh cho hai phủ Tích Tân, Đại Định chọn kỹ sĩ tử tâu lên. Từ sau niên hiệu Thanh Ninh, nước Liêu ở Ngũ Kinh, chư châu đều dựng Khổng Tử Miếu, ban 《Ngũ Kinh》 cùng các bản chú giải, đến nay lại xuống chiếu bảo học giả phải cùng tận kinh, sáng tỏ đạo.

Ngày Giáp Tuất, Tô Tụng (蘇頌) v.v. tâu đã soạn xong và dâng 《Hán Đường Cố Sự Phân Môn Tăng Tu》, chiếu lấy tên là 《Nhĩ Anh Yếu Lãm》.

Ngày Kỷ Mão, chế tạo Hỗn Thiên Nghi.

Hồ Tông Dự bị bãi làm Tư Chánh Điện Học Sĩ, Tri Trần Châu, vì Lưu An Thế nhiều lần hặc tội trạng của ông ta.

Thái Sử Cục tâu: "Nhà Tống lấy Hỏa Đức vương thiên hạ, nay Hỗn Nghi mới chế lại đặt tên là Thủy Vận, rất không phải điềm lành." Chiếu lấy tên là Nguyên Hựu Hỗn Thiên Nghi Tượng. Về sau Hàn Lâm Học Sĩ Hứa Tương (許將) v.v. xin lấy Tượng làm Nghi, hợp làm một khí, được chuẩn cho.

Lưu An Thế tâu: "Từ đông sang xuân, mưa tuyết sai kỳ, mạ mùa hạ sắp khô, giống mùa thu chưa gieo, cúi xin đặc biệt bãi yến nhạc, để tỏ ý thương tiếc vì hạn." Ngày Đinh Hợi, chiếu bãi yến xuân.

Hàn Lâm Học Sĩ kiêm Thị Độc Tô Thức bị bãi làm Long Đồ Các Học Sĩ, Tri Hàng châu. Thức từng đọc 《Tổ Tông Bảo Huấn》, nhân đó nói đến thời sự, lần lượt nói: "Nay công tội không rõ, thiện ác không có chỗ khuyến khích hay ngăn cản; lại nữa, thế Hoàng Hà đang chảy về bắc mà ép cho chảy về đông; Hạ Nhân cướp Trấn Nhung, giết cướp đến mấy vạn người, soái thần che giấu không tâu, triều đình cũng không hỏi. E dần thành mối suy loạn." Người đương quyền oán ghét, Triệu Đĩnh Chi (趙挺之), Vương Địch (王覿) công kích ông ta càng dữ. Thức biết mình không được dung, xin ra ngoài, nên có lệnh này.

Ngày Kỷ Sửu, chiếu: "Từ nay trong các Đại Lễ không được dâng tôn hiệu."

Ngày Tân Mão ban ngày, có sao sa từ đông bắc hướng tây bắc lao nhanh, đến chỗ mờ đục thì mất.

Ngày Ất Mùi, bãi việc ngự đến Cùng Lâm Uyển, Kim Minh Trì.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Giáp Thìn, nước Liêu lấy Nghi Ca, người coi việc Hề Lục Bộ Đại Vương, làm Bản Bộ Đại Vương.

Ngày Ất Tị, Lữ Đại Phòng (呂大防) v.v. xin bãi chức vì lâu hạn, không được chuẩn.

Ngày Đinh Mùi, Thái Bảo, Tư Đồ kiêm Trung Thư Lệnh, Trung Thái Nhất Cung Sử, Tế Dương Quận Vương Tào Dật (曹佾) mất.

Dật tính hòa dịu, dáng vẻ đẹp, Thần Tông thường hỏi ông về chính sự, nhưng khi lui chầu, suốt ngày không nói đến việc công. Thần Tông bảo đại thần: "Tào Vương tuy dùng thân thích quý, nhưng đoan chính ít lỗi, khéo tự giữ, thực là thuần thần." Khi vào chầu, chưa từng gọi tên.

Ngày Mậu Thân, bãi chức Đại Lễ Sứ và việc tâu xin ban thưởng thêm cho Tể Tướng, quan chấp chính.

Trước đó, Tri Hán Dương Quân Ngô Xử Hậu (吳處厚) tâu: "Thái Xác trước bị giáng An Châu, không tự xét mình, ôm lòng oán hận, từng dạo chơi ở Xa Cái Đình, làm 10 bài thơ, trong đó 2 bài châm biếm rất nặng." Tấu đến, Tả Tư Gián Ngô An Thi (吳安詩) nghe việc ấy trước, liền đàn hặc; Lương Đảo (梁燾), Phạm Tổ Vũ (范祖禹), Vương Nham Tẩu, Lưu An Thế v.v. dâng chương xin định tội Xác. Ngày Nhâm Tý, chiếu lệnh Xác phải trình bày rõ ràng tâu lên, lại giao cho Tri An Châu Tiền Cảnh Dương (錢景陽) thu nộp bản thơ đề nguyên của Xác.

Ban đầu, Xác từng học làm phú với Xử Hậu, đến khi làm tướng, có hiềm khích với Xử Hậu. Vương Khuê muốn bổ Xử Hậu chức ở quán, bị Xác ngăn trở, nên Xử Hậu oán Xác, bèn giải thích thơ mà dâng lên. Sĩ đại phu vốn nhiều người ghét Xác, nhưng cũng vì thế mà sợ và ghét Xử Hậu.

Liêu chúa săn ở Bắc Sơn.

Ngày Mậu Ngọ, chia Kinh Nghĩa, Thi Phú làm hai khoa để khảo thí sĩ tử, bãi khoa Minh Pháp.

Thượng Thư Tỉnh xin phục khoa Thi Phú, cùng với Kinh Nghĩa, Thi Phú làm hai khoa khảo thí sĩ tử, lại nói khoa Minh Pháp xưa là khoa thấp nhất, nay người trúng thì lập tức bổ Tư Pháp, thứ bậc lại ở trên Tiến Sĩ, không phải lẽ, chiếu cho theo đó. Phàm Tiến Sĩ Thi Phú, trong 《Dịch》, 《Thư》, 《Thi》, 《Chu Lễ》, 《Lễ Kí》, 《Xuân Thu Tả Truyện》 được chọn một kinh để học. Sơ khảo ra 2 đề nghĩa bản kinh, nghĩa 《Luận》, 《Mạnh》 mỗi thứ 1 đề; thứ khảo làm phú và luật thi mỗi thứ 1 bài; tam khảo làm luận 1 bài; chung khảo ra 2 đề sách về Tử, Sử, Thời Vụ, cộng 4 trường. Còn Tiến Sĩ Kinh Nghĩa phải học 2 kinh, lấy 《Thi》, 《Lễ Kí》, 《Chu Lễ》, 《Tả Thị Xuân Thu》 làm Đại Kinh, 《Thư》, 《Dịch》, 《Công Dương》, 《Cốc Lương》, 《Nghi Lễ》 làm Trung Kinh, ai muốn học 2 Đại Kinh thì được, không được chỉ chọn 2 Trung Kinh. Sơ khảo ra 3 đề nghĩa bản kinh, nghĩa 《Luận Ngữ》 1 đề; thứ khảo 3 đề nghĩa bản kinh, nghĩa 《Mạnh Tử》 1 đề; tam khảo luận, sách như khoa Thi Phú. Đều lấy 4 trường tổng định cao thấp, mà lấy số người trong hạn, mỗi khoa chiếm một nửa. Người chuyên kinh thì lấy nghĩa lí làm chuẩn để chọn bỏ, người kiêm Thi Phú thì lấy Thi Phú làm chuẩn để định đi hay ở, còn thứ bậc cao thấp thì tham chiếu luận, sách.

Ban đầu, Tư Mã Quang nói: "Thần Tông tôn trọng dùng Kinh Nghĩa, Luận, Sách để lấy sĩ, đó là phục lại phép lệnh của Tiên Vương, là pháp không đổi của trăm đời. Nhưng Vương An Thạch không nên lấy học thuyết riêng của mình mà muốn che lấp Tiên Nho, bắt thiên hạ thầy trò giảng giải. Còn như luật lệnh, đều là điều quan lại cần, khiến cho kẻ làm sĩ nếu thực biết đạo nghĩa thì tự nhiên hợp với pháp luật, cần gì đặt riêng khoa Minh Pháp, tập cho người ta thành khắc bạc, không phải là cách nuôi dưỡng nhân tài, làm thuần hậu phong tục." Đến nay bèn bãi khoa Minh Pháp.

Ngày ấy, Thượng Thư Tỉnh lại tâu: "Đại Hà chảy về đông là chỗ hiểm yếu của Trung Quốc, từ sau khi vỡ ở Đại Ngô, chảy vào Giới Hà mà ra biển, không những làm bồi lấp đê đập, lại khiến nước đục vào Giới Hà, từ đó trở đi sẽ bồi lắng, thì cuối sông sẽ chảy thẳng vào bờ bắc mà ra biển, Trung Quốc sẽ mất hẳn giới hạn hiểm trở, không thể không lo sâu." Chiếu lệnh Phạm Bách Lộc, Triệu Quân Tích ghi chép tâu lên. Bách Lộc tâu: "Chúng thần đi xem từ cửa độc lưu của Hoàng Hà đến Giới Hà, lại từ đó đến cửa biển, quan sát kỹ thế nước, cùng các đồn trại dọc Giới Hà đến cửa biển. Sứ thần đều nói rằng trước khi Hoàng Hà chảy vào Giới Hà, sông rộng 150 bộ, hẹp thì 50 bộ, sâu 1 trượng 5 thước, ít thì 1 trượng; từ sau khi Hoàng Hà chảy vào, rộng 540 bộ, chỗ khác cũng 2, 3 trăm bộ, chỗ sâu 3 trượng 5 thước, chỗ khác cũng 2 trượng. Mới biết tính nước chảy xuống chỗ thấp, chảy gấp thì tự gọt sạch thành rỗng mà sâu dần, đúng như lời luận của Trương Nhung đời Hán. Từ năm Nguyên Phong 4 sông vỡ ở Đại Ngô, thế như dốc nước từ bình cao, đến nay 8 năm, xói lở hai bờ Giới Hà, ngày càng mở rộng, đáy liền thành rỗng, thế chảy ra biển rất nhanh, dù gặp lũ lớn bất thường, nhưng mấy trăm dặm phía trên Đại Ngô rốt cuộc không vỡ tràn, đó là chỗ hiểm của hạ lưu sâu và nhanh. Chúng thần cho rằng từ khi bản triều lập quốc đến nay, chưa từng có khi nào Đại Hà chảy yên, hợp với dấu vết Vũ Công, được lợi như thế. Giới Hà từ nay về sau sẽ chảy xuống chỗ sâu, chảy gấp thì chỉ có rộng và sâu, không có chuyện bồi lắng, cuối sông làm sao chảy thẳng vào bờ bắc, Trung Quốc cũng không có chuyện mất hẳn giới hạn hiểm trở, không cần bệ hạ phải lo."

Ngày Nhâm Tuất, nới cho dân được dùng đất chăn thả ở Kinh sư.

Ngày Giáp Tý, Liêu chúa vì mưa dầm mà bãi săn.

Tháng 5, ngày Tân Mùi, lấy Trước Tác Lang Phạm Tổ Vũ làm Hữu Gián Nghị Đại Phu kiêm Thị Giảng.

Tổ Vũ dâng sớ luận điều cốt yếu để người chủ chính tâm tu thân, xin Thái Hoàng Thái Hậu mỗi ngày lấy sự cần lao của thiên hạ, bệnh khổ của vạn dân, tà chính của quần thần, được mất của chính sự, mà mở dẫn lòng trên, khiến rõ ràng giữ trong lòng, để ngày sau lời nói của nhiều người không thể làm mê hoặc, tiểu nhân không thể tiến.

Ngày Quý Dậu, lấy Ngự Sử Trung Thừa Lý Thường làm Binh Bộ Thượng Thư, Thị Ngự Sử Thịnh Đào (盛陶) làm Thái Thường Thiếu Khanh; đều vì tội không luận việc Thái Xác đổi chức.

Ngày Tân Tị, Tri Đặng Châu, Quan Văn Điện Học Sĩ Thái Xác bị giáng làm Tả Trung Tán Đại Phu, Thủ Quang Lộc Khanh, phân ty Nam Kinh.

Lúc ấy, Trung Thư Xá Nhân Bành Nhữ Lệ (彭汝礪) mật dâng sớ cứu Xác, đại lược nói: "Ngô Xử Hậu mở đường tố cáo, phong khí này không thể để dài”; Thịnh Đào cũng dâng chương, ý hợp với Nhữ Lệ. Sau đó An Châu tâu rằng Xác đã cạo sạch bảng thơ. Ngày hôm sau, tấu của Xác cũng đến, tự biện rất tường tận, Nhữ Lệ lại cứu giải. Việc luận tội còn chưa quyết, Lương Đảo, Lưu An Thế nói tội trạng Xác đã rõ, cần gì phân tích, nên có lệnh này. Nhữ Lệ lại trả lại bản thảo chiếu từ, liền xin nghỉ, gặp lúc Vương Nham Tẩu đang coi việc soạn chiếu, bèn thảo chiếu ban xuống.

Ngày Bính Tuất, Lương Đảo, Ngô An Thi, Lưu An Thế tâu rằng tội Thái Xác nặng mà trách phạt nhẹ, Phó Nghiêu Du (傅堯俞), Chu Quang Đình (朱光庭) nối nhau luận tội, Phạm Tổ Vũ cũng phụ họa. Bấy giờ Thái Hoàng Thái Hậu tuyên dụ Đảo v.v., lệnh kín đáo soạn điều lệ xử trí tâu lên, Đảo v.v. liền lấy chuyện cũ của Đinh Vị, Tôn Miện, Lữ Huệ Khanh mà ghi thành điều.

Ngày Đinh Hợi, Tể Tướng vào chầu, Thái Hoàng Thái Hậu bỗng nói: "Thái Xác nên làm Biệt Giá Anh Châu, an trí ở Tân Châu." Tể Tướng kinh ngạc nhìn nhau. Phạm Thuần Nhân (范純仁) nói: "Hiện nay nên chuộng khoan hậu, không thể vì lỗi lời nói, văn tự mập mờ không rõ mà đày đại thần;” Lưu Chí (劉摯) cũng lấy mẹ Xác đã già, dẫn chuyện Lưu Tông Nguyên, Lưu Vũ Tích bị đày Bá Châu mà nói. Lữ Đại Phòng nhân đó nói: "Xác là đại thần của Tiên Đế, xin như lời Chí, dời đến một châu quận gần." Thái Hoàng Thái Hậu nói: "Núi còn có thể dời, châu này không thể dời." Bấy giờ không dám nói nữa. Chỉ Thuần Nhân ở lại, mời Vương Tồn (王存) cùng luận, ý không giải. Thuần Nhân nói: "Thần phụng chiếu, chỉ xin miễn cho Nội Thần áp giải đi." Thái Hoàng Thái Hậu hỏi: "Thế nào?" Thuần Nhân lấy chuyện Tào Lợi Dụng mà nói. Thái Hoàng Thái Hậu nói: "Đừng lo, hắn tất không chết." Đêm ấy, phê ra, sai Nhập Nội Cung Phụng Bùi Ngạn Thần (裴彥臣) v.v. áp giải, thần liêu đều muốn cứu, nhưng sợ trái với lời luận ban đầu, lại không hợp thể thống, nên không dám nói. Lý Thường, Thịnh Đào, Địch Tư, Triệu Đĩnh Chi, Vương Bành Niên (王彭年) vì tội không hặc tấu, Bành Nhữ Lệ vì tội lo cứu và không soạn chiếu trách phạt, đều bị bãi. Thăng Ngô Xử Hậu làm Tri Vệ Châu.

Ban đầu, bàn việc đày Xác vào Lĩnh Giảo, Thuần Nhân bảo Lữ Đại Phòng: "Con đường này từ sau Đinh Tấn Công, gai góc đã 6, 7 chục năm, sao lại mở ra? Chúng ta e cũng không tránh khỏi."

Tri Hàng châu Tô Thức chưa đi, mật dâng sớ nói: "Nếu triều đình coi nhẹ tội của Xác, thì đối với đức hiếu của Hoàng đế là chưa đủ; nếu coi tội Xác là nặng, thì đối với nhân chính của Thái Hoàng Thái Hậu là có chút tổn. Nên để Hoàng đế hạ chiếu tra xét, còn Thái Hoàng Thái Hậu đặc biệt khoan giảm, thì nhân và hiếu đều được." Thái Hoàng Thái Hậu khen lời ấy mà không thể dùng.

Ra chiếu cách chức Trực Long Đồ Các Hình Thứ, đợi đến ngày mãn tang phục thì bãi chức, ban làm Thừa Nghị Lang, Giám thu thuế muối rượu ở Dĩnh châu. Trước đó, Hình Thứ từ Tương châu đổi sang Hà Dương, đi đường tắt đến Đặng châu, gặp Thái Xác, cùng nhau mưu tính việc bịa đặt chuyện lập định sách. Đến khi Tư Mã Khang vào triều, Hình Thứ riêng gọi Khang đến Hà Dương, bèn khuyên Khang viết thư khen Thái Xác, để làm kế giữ trọn thân mình, bảo toàn gia đình về sau. Khang vì Hình Thứ là bạn đồng khoa, lại từng ra vào dưới cửa cha mình, nên tin theo, viết thư đúng như lời Hình Thứ. Bản ý của Hình Thứ nhất định phải có được thư của Khang, vì Khang là con của Tư Mã Quang, nói Thái Xác có công định sách, có thể khiến đời tin. Sau đó, Lương Đảo từ Lộ châu được triệu về làm Tả Gián Nghị, Hình Thứ cũng mời Đảo ra Hà Dương, đến nơi rồi, Hình Thứ ngày đêm nói mãi không thôi về công định sách của Thái Xác, lại lấy thư của Khang gửi Thái Xác làm chứng. Đảo không vui, vào triều tâu việc ấy. Gặp lúc Ngô Xử Hậu hặc tội bài thơ của Thái Xác, Đảo nhân đó cùng Lưu An Thế và những người khác xin xử tử Thái Xác. Thái Xác đã bị giáng đày, Hình Thứ cũng bị liên lụy mà bị giáng chức.

Thái Hoàng Thái Hậu bảo Tam Tỉnh rằng: "Hoàng đế là trưởng tử của Tiên đế, con nối nghiệp cha, lẽ ấy đương nhiên, Thái Xác có định sách công lao gì mà lập được công huân! Nếu để Thái Xác sau này lại trở về, dối trên lừa dưới, há chẳng thành họa cho triều đình sao? Ta sợ Hoàng đế tuổi còn nhỏ, không thể chế ngự được, nay nhân lúc hắn tự chuốc lấy bại vong, xử trí như thế này, là vì xã tắc vậy."

Lúc đầu, Tư Mã Khang muốn theo lời mời của Hình Thứ, con của Thiệu Ung là Bá Ôn bảo Khang rằng: "Công Hưu vừa trừ tang, chưa yết kiến quân thượng, không nên trước hết đi gặp bạn bè." Khang nói: "Ta đã nhận lời rồi." Bá Ôn nói: "Hình Thứ là kẻ khéo nịnh, có thể sẽ dùng việc gì đó để buộc Công Hưu, nếu theo hắn thì ắt sẽ thành mối hối hận về sau." Công Hưu là tự của Khang. Đến khi Lương Đảo và những người khác luận tội Thái Xác, Hình Thứ, cũng chỉ vào bức thư của Khang, chiếu lệnh Khang phải phân giải, lúc ấy Khang mới hối hận.

Ban đầu, khi Lương Đảo luận tội Thái Xác, kín dâng danh sách những người thân đảng của Thái Xác và Vương An Thạch, nói rằng: "Thần cùng các thần khác cho rằng Thái Xác vốn xuất thân từ môn hạ Vương An Thạch, nối tiếp nhau nắm quyền, gần 20 năm, bọn tiểu nhân đua nhau theo phụ họa, gốc rễ ăn sâu, nên kính cẩn kê rõ thân đảng của 2 người ở sau. Thân đảng của Thái Xác: An Đảo, Chương Đôn, Bồ Tông Mạnh, Tằng Bố, Tằng Triệu, Thái Kinh, Thái Biện, Hoàng Lí, Ngô Cư Hậu, Thư Đản, Vương Địch, Hình Thứ cùng 47 người; thân đảng của Vương An Thạch: Thái Xác, Chương Đôn, Lữ Huệ Khanh, Trương Tảo, An Đảo, Bồ Tông Mạnh, Vương An Lễ, Tằng Bố, Tằng Triệu, Bành Nhữ Lệ, Lục Điền, Tạ Cảnh Ôn, Hoàng Lí, Lữ Gia Vấn, Thẩm Quát, Thư Đản, Diệp Tổ Hiệp, Triệu Đĩnh Chi, Trương Thương Anh cùng 30 người." Bấy giờ Thái Hoàng Thái Hậu tuyên bảo các Tể phụ rằng: "Đảng của Thái Xác phần nhiều còn ở trong triều." Phạm Thuần Nhân tiến lên nói: "Thái Xác không có đảng." Lữ Đại Phòng tiến lên nói: "Đảng của Thái Xác rất thịnh, lời của Thuần Nhân không đúng." Lưu Chí cũng phụ họa Lữ Đại Phòng, nói là có. Thuần Nhân nói: "Bè đảng khó phân, e lầm lụy đến người hiền." Lui về, liền dâng sớ nói: "Tội của Thái Xác, tự có phép điển để xử, không cần truy xét đảng nhân, lan đến cành lá. Trước đây phụng đặc chiếu, tha hết lỗi cũ của thần liêu, từ đó trong ngoài đều yên, trên dưới nhân tình hòa hợp, là việc đại đức, thật nên duy trì lâu dài. Lòng thần khẩn thiết, thực ở chỗ này." Phạm Tổ Vũ cũng cho rằng Thái Xác đã bị giáng, những kẻ còn lại có thể không hỏi đến, bèn dâng lời rằng: "Từ khi đời Càn Hưng giáng đày Đinh Vị đến nay, đã hơn 60 năm không từng đuổi bức đại thần, nay bỗng thi hành, bốn phương không ai không kinh sợ. Thái Xác bãi tướng đã lâu, những người bệ hạ dùng, phần nhiều không phải là đảng của Thái Xác. Kẻ vốn ôm lòng gian, ai nấy đều biết, ắt không lọt khỏi thánh giám; còn những người chỉ vì thiên kiến, dị luận, nếu đều cho là đảng của Thái Xác mà đuổi đi, e hình phạt không đúng mực, nhân tâm bất an vậy."

Liêu chúa đóng quân ở Xích Lặc Lĩnh.

Ngày Kỷ Sửu, nước Liêu lấy Chuẩn Bố Mã Cổ Tô làm Trưởng các bộ, là do Tây Bắc Lộ Chiêu Thảo Sử Da Luật Thác Bốc Gia tiến cử. Từ khi Tiêu Địch Lỗ làm Chiêu Thảo Sử trở về sau, việc chính chỉ cốt dung túng, phần nhiều chọn kẻ mềm yếu, dễ bảo mà dùng, các bộ dần dần trở nên kiêu ngạo lộng hành. Thác Bốc Gia dung túng càng quá, biên phòng càng thêm bỏ phế. Đến đây lại tiến cử Mã Cổ Tô, rốt cuộc mở ra họa biên giới về sau.

Ngày Quý Tị, Hồi Cốt dâng ngựa tốt cho nước Liêu.

Ngày Kỷ Hợi, nước Liêu lấy Đồng Tri Nam Viện Xu Mật Sử Sự Da Luật Ngạc Gia làm Tri Hữu Y Lặc Hi Ba Sự, lấy Tả Chi Hậu Lang Quân Ban Tường Cổn Da Luật Ni Lý làm Tri Bắc Đại Vương Sự.

Tháng 6, ngày Giáp Thìn, bãi chức Phạm Thuần Nhân, Vương Tồn.

Lúc ấy, Lương Đảo, Lưu An Thế liên tiếp dâng chương luận tội Phạm Thuần Nhân là đảng phụ họa Thái Xác, Phạm Thuần Nhân cũng xin ra ngoài. Ngô An Thi vì thế nói Vương Tồn từng giúp Phạm Thuần Nhân cứu Thái Xác, Phạm Thuần Nhân đã nên bãi, thì Tồn không thể một mình ở lại. Bèn chiếu cho Phạm Thuần Nhân theo chức cũ làm Quan Văn Điện Học Sĩ, Tri Dĩnh Xương Phủ, Tồn làm Đoan Minh Điện Học Sĩ, Tri Thái châu.

Ngày Bính Ngọ, lấy Trực Học Sĩ Xu Mật, Hộ Bộ Thượng Thư Hàn Trung Ngạn làm Thượng Thư Tả Thừa, Hàn Lâm Học Sĩ Hứa Tương làm Thượng Thư Hữu Thừa, Trực Học Sĩ Xu Mật, Kiêm Kí Xu Mật Viện Sự Triệu Chiêm làm Đồng Tri Xu Mật Viện Sự.

Ngày Đinh Mùi, lấy Hộ Bộ Thị Lang Tô Triệt làm Lại Bộ Thị Lang; 3 ngày sau, đổi làm Hàn Lâm Học Sĩ.

Nước Hạ sai sứ sang cống.

Ngày Giáp Dần, nước Hạ sai sứ sang nước Liêu tạ việc phong sách.

Ngày Nhâm Tuất, nước Liêu lấy Tham Tri Chính Sự Vương Ngôn Phu làm Xu Mật Phó Sử, Cổ Sĩ Huân làm Tham Tri Chính Sự kiêm Đồng Tri Xu Mật Viện Sự.

Mùa thu, tháng 7, ngày Canh Ngọ, Liêu chúa đi săn ở Sa Lĩnh.

Ngày Ất Hợi, An Đảo vì mẹ mất mà bỏ chức.

Ngày Bính Thân, chiếu cho Hộ Bộ, lệnh các Đề Hình Ti các lộ hạ lệnh cho những châu huyện được mùa, tùy lượng tăng tiền, rộng thu mua thóc, theo lời xin của Tư Mã Khang, Lưu An Thế, Phạm Tổ Vũ.

Ngày Nhâm Thìn, Liêu chúa đóng quân ở Ngẫu Tư Điến.

Ngày Bính Thân, Đô Thủy Giám tâu: "Sông ở Tông Thành vỡ tràn xuống dưới, nước chứa không ổn định, thế sông chưa thể hoàn toàn đổi dòng. Nên tạm làm 2 nhánh mà dẫn, để giảm bớt tai họa hạ lưu, tuy chưa thể bảo đảm nước chảy thường xuyên suốt đông hè, nhưng đã thấy có thế có thể làm. Nếu muốn lâu dài, nên làm hẳn thành 2 nhánh, lại phải tăng thêm phu dịch, mới là lợi lâu dài." Chiếu lệnh hữu ty kê cứu, bảo đảm rõ ràng rồi tâu.

Tháng 8, ngày Nhâm Dần, sắc lệnh cho các Thái thú, Thứ sử dùng “Tứ Thiện Tam Tối” để khảo hạch Huyện lệnh, Hộ Bộ mỗi năm dâng tờ trình của Giám tư về việc khảo sát các Tri châu.

Ngày Đinh Mùi, Hàn Lâm Học Sĩ Tô Triệt tâu: "Thần nghe nói đường sông chảy về phía tây, bên trái Tôn Thôn đại khái đã hạ thấp xuống 2 trượng, mà tờ trình lại nói nước lũ tràn bờ, từ chỗ cửa mới mở chảy về phía đông vào Tôn Thôn, chỉ cao hơn 6–7 thước. Muốn nhân nước lũ 6–7 thước mà chiếm lấy 2 trượng lòng sông, thì đến đứa trẻ 3 tuổi cũng biết là khó. Thế mà triều đình lại sai Đô Thủy Sứ giả mở đường sông, tiến đặt cọc răng cưa, muốn ép cho sông chảy về phía đông. Lúc nước sông đang dâng cao, nếu đường sông chảy về phía tây không bị cắt dòng, thì việc ngăn cho chảy về phía đông, thật giống như trò trẻ con. Thần xin bệ hạ gấp lệnh cho hữu ty, thong thả xem xét thế nước chảy về đâu, theo lệ cũ nhiều năm nước lũ tràn, nhân chỗ tràn về phía đông mà dẫn vào cố đạo, để giải nỗi lo sớm tối của Bắc Kinh. Những chỗ đê điều hư hỏng vỡ lở, chỉ nên sửa chữa sơ lược, tránh cho vỡ tràn, đợi thế sông hơi ổn định rồi hãy bàn. Chẳng qua sau 1 tháng, nước lũ đã rút, thì thế chảy về phía tây ắt không thể đổi, mà lời nói bậy của bọn tiểu nhân, sẽ tự tan vỡ không cần công kích vậy."

Ngày Tân Dậu, Thái Hoàng Thái Hậu chiếu: "Từ nay về sau, đại lễ ở Minh Đường, không cho bá quan dâng biểu chúc mừng."

Ngày Ất Sửu, Đô Thủy Giám Câu Đương Công Sự Lý Vĩ tâu: "Mở phá đê thẳng, cho nước chảy vào cửa Tôn Thôn theo cố đạo, thế nước thuận nhanh, triều đình nên hết sức chặn dòng bắc, ấy là thượng sách. Nếu không minh chiếu hữu ty, lập tức cho sông trở lại, e rằng trên dưới chần chừ, bàn mãi không quyết, trong lúc ngóng trông, sẽ lỡ mất cơ hội. Xin phục đặt Tu Sông Ty." Chuẩn theo, lại lấy tên là Đô Đề Cử Tu Sông Ty.

Tháng 9, ngày Kỷ Mão, vào triều dâng lễ ở Cảnh Linh Cung.

Ngày Tân Tị, đại hưởng ở Minh Đường, xá tội thiên hạ, gia ân cho bá quan, ban tặng cho sĩ thứ, người già từ 90 tuổi trở lên.

Ngày Ất Mùi, kiểm điểm 7 điều văn võ triều trước, răn bảo bá quan tuân thủ.

Hữu Gián Nghị Đại Phu Phạm Tổ Vũ tâu: "Trước đây bệ hạ bãi Tu Sông Ty, trong ngoài không ai không cho là phải. Nay mới trải qua 3 mùa, lại khởi việc quay dòng sông, chỉ vì người chấp chính hổ thẹn vì lời nói trước sai lầm, nhất định muốn theo đuổi việc khởi đại công trình bậy bạ ấy, vốn sông không có việc mà người lại cố khuấy động. Cúi xin minh dụ đại thần, rộng nghe lời mọi người, dứt ý quay sông, chớ dùng tài lực hữu hạn để lấp vực sâu không lường, chớ vì một lời sai mà mong thành công việc ắt không thể thành. Xin bãi Đề Cử Tu Sông Ty, giải tán quan lại binh phu, còn việc bắc hà vỡ tràn, tùy nghi cứu hộ." Không trả lời.

Ban đầu, Liêu chúa cho rằng phong tục Khiết Đan, Hán nhân khác nhau, nhưng quốc pháp không thể thi hành khác biệt, bèn lệnh cho Da Luật Y Tốn và những người khác sửa định lại điều lệ. Lúc ấy, các quan hiệu định dựa theo cựu chế đời Trọng Hi, lược bỏ những điều trùng lặp còn 545 điều, lấy luật 173 điều, lại mới tăng thêm 71 điều, cộng 789 điều, những điều tăng thêm, trùng biên đến hơn 1.000 điều, đều phân loại sắp xếp. Đến niên hiệu Ất Thái Khang, lại lấy luật và điều lệ đối chiếu, tiếp tục tăng thêm 36 điều. Về sau nhân việc mà tăng sửa, đến năm Đại An thứ 3 thì dừng, lại tăng thêm 60 điều. Điều khoản đã rườm rà, người giữ luật không thể học hết, dân ngu không biết tránh đâu, kẻ phạm pháp rất nhiều, quan lại nhân đó làm bậy. Mùa đông, tháng 10, ngày Ất Tị, Liêu chúa chiếu rằng: "Pháp là để tỏ cho dân biết, khiến dân có thể tránh mà không thể phạm. Gần đây lệnh cho hữu ty biên soạn hình pháp, nhưng không thể hiểu rõ ý của trẫm, đặt ra nhiều điều khoản để lừa dân vào tội, trẫm rất không chấp nhận. Từ nay lại dùng cựu pháp, còn lại đều bỏ hết."

Ngày Mậu Thân, Hàn Lâm Học Sĩ Tô Triệt dâng “Thần Tông Ngự Chế Tập” 90 quyển, chiếu tàng trữ ở Bảo Văn Các.

Ngày Quý Sửu, ngự Nhĩ Anh Các, tiến đọc “Tam Triêu Bảo Huấn”.

Tháng 11, ngày Đinh Mão mồng 1, nước Liêu vì Yến Quốc Vương Diên Hỉ sinh con, đại xá, thân tộc của phi được tiến tước có phân bậc.

Ngày Quý Mùi, lấy Môn Hạ Thị Lang Tôn Cố làm Tri Xu Mật Viện Sự, Trung Thư Thị Lang Lưu Chí làm Môn Hạ Thị Lang, Lại Bộ Thượng Thư Phó Nghiêu Du làm Trung Thư Thị Lang. Trước đó, Lương Đảo, Lưu An Thế vào chầu ở Diên Hòa Điện, Thái Hoàng Thái Hậu lệnh kê tên những thần liêu có thể dùng mà dâng lên, Đảo, An Thế bèn tiến cử Nghiêu Du và Tô Tụng, đến đây Nghiêu Du được trọng dụng.

Ngày Ất Dậu, có sao màu đỏ vàng, đuôi dài, vệt sáng chiếu đất.

Ngày Kỷ Sửu, Thái Hoàng Thái Hậu từ chối lễ chúc mừng Nguyên nhật, lệnh bá quan dâng biểu.

Ngày Nhâm Thìn, sửa định pháp phạt 2 năm đồ dịch đối với việc Phát Vận, Chuyển Vận, Đề Hình dự tiệc yến có ca vũ.

Ngày Giáp Ngọ, Tri Hàng châu Tô Thức tâu: "Chiết Tây thiếu ăn đã rất nặng, năm nay vùng thủy hương Lưỡng Chiết gieo mạch rất ít, rất sợ sang năm ắt có lo đói kém, trộm cướp. Chuyển Vận Ti số thóc nộp cống và bù đắp nợ cũ cộng hơn 1.600.000 thạch, xin tạm miễn một nửa hoặc 2 phần 3." Chiếu cho phép lưu lại 1 phần 3 số gạo nộp cống. Do đó gạo không tăng giá quá mức, lại được ban 100 đạo độ điệp, đổi lấy gạo để cứu đói. Năm sau, đầu xuân, lại giảm nửa giá bán gạo Thường Bình, lại nấu cháo, thuốc, cứu sống được rất nhiều người.

Hàng châu gần biển, nước giếng mặn đắng, đời Đường, Thứ sử Lý Bí bắt đầu dẫn nước Tây Hồ, làm 6 giếng, dân nhờ đó đủ dùng. Đến đời Bạch Cư Dị lại đào sâu Tây Hồ, dẫn nước vào Vận Hà, tưới ruộng gần 1.000 khoảnh. Nhưng nước hồ nhiều cỏ bồng, từ đời Đường đến họ Tiền, năm nào cũng đào vét, đến khi nhà Tống dựng nghiệp thì bỏ, cỏ bồng tích lại thành ruộng, mà nước chẳng còn bao nhiêu. Vận Hà mất lợi của nước hồ, phải lấy nước sông, nước triều theo sông vào, tràn ngập phố phường, 3 năm một lần đào vét, thành đại họa cho dân cư, 6 giếng cũng gần như bỏ. Tô Thức mới đến, đào vét 2 sông Mao San, Diêm Kiều, lấy một sông Mao San chuyên nhận nước triều sông, lấy một sông Diêm Kiều chuyên nhận nước hồ, lại nhân sức dư mà sửa chữa 6 giếng, dân dần được lợi. Tô Thức nói: "Nếu lấy ruộng cỏ bồng, chất vào trong hồ, làm thành con đê dài thông suốt nam bắc, thì ruộng cỏ bồng mất đi mà người đi lại được tiện lợi." Bèn lấy phần dư của việc cứu đói, lại xin triều đình, được độ điệp để chiêu mộ người làm. Đê thành, bắc nam dài 13 dặm, trồng sen, liễu trên đó, trông xa như bức họa, người Hàng châu gọi là Tô Công Đê.

Tháng 12, ngày Đinh Dậu mồng 1, Chánh Nghị Đại Phu Chương Đôn vừa trừ tang, bị giáng làm Thông Nghị Đại Phu, Đề Cử Động Tiêu Cung ở Hàng châu. Trước đó, Lương Đảo và những người khác hặc tấu Chương Đôn dùng giá rẻ cướp ruộng dân, chiếu đợi mãn tang rồi cho chức ở cung quán, nên có sự bổ nhiệm này.

Ngày Quý Sửu, sửa định 2 điệu vũ trong triều nghi, đặt tên là “Uy Gia Tứ Hải”, “Hóa Thành Thiên Hạ”.

Ngày Giáp Dần, giảm bớt quân thú ở các lộ Phu Diên, cho về doanh.

Ngày Mậu Ngọ, vì khuyết Ngự Sử, lệnh Trung Thừa, Lưỡng Tỉnh mỗi nơi cử 2 người.

Ban đầu, Phạm Tổ Vũ nghe trong cung tìm nhũ mẫu, vì Hoàng đế mới 14 tuổi, chưa phải lúc gần nữ sắc, bèn dâng sớ khuyên tiến đức, yêu thân, lại xin Thái Hoàng Thái Hậu bảo hộ thân trên, lời rất thiết tha. Thái Hoàng Thái Hậu bảo: "Chuyện nhũ mẫu là lời đồn hão bên ngoài." Tổ Vũ đối rằng: "Lời bàn bên ngoài tuy hão, cũng đủ làm lời răn trước. Thần hầu bên tả hữu Kinh Diên, nghe được ngoài đường, thực ôm nỗi lo riêng, nên không dám tránh tội nói càn. Phàm việc nói trước khi chưa xảy ra, thì quả là quá, đến khi đã xảy ra rồi, thì lại không kịp nữa. Bệ hạ thà nhận lời nói khi chưa xảy ra, chớ để Chúng thần có nỗi hối hận không kịp."

Tháng ấy, Lưu An Thế lại nói: "Thần cuối tháng trước nghe tạm bãi Kinh Diên, tưởng rằng sẽ có yến tiệc. Nay lại nửa tháng, thần giảng đã lâu không được trông thấy thánh nhan. Gần đây dân gian ồn ào truyền rằng trong cung tìm nhũ mẫu, bèn nói bệ hạ dần gần nữ sủng, tiếng ấy lan truyền, thật tổn hại đức của Hoàng đế."

Hôm khác, Lữ Đại Phòng tâu việc, Thái Hoàng Thái Hậu bảo: "Lưu An Thế có sớ nói chuyện trong cung tìm nhũ mẫu, đó không phải là điều quan gia muốn, mà là vì một hai Tiểu Công chúa của Tiên đế còn cần uống sữa. Quan gia thường ở trong gian trước giường của ta, ngủ nghỉ trong nội thất, làm sao có chuyện ấy!"

Năm Nguyên Hựu thứ 5 (Liêu, Đại An năm thứ 6), Công nguyên năm 1090

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Đinh Mão mồng 1, ngự Đại Khánh Điện thiết triều.

Ngày Đinh Sửu, vào triều dâng lễ ở Cảnh Linh Cung.

Ngày Ất Dậu, Phạm Tổ Vũ dâng 4 đạo trát tử. Một đạo nói: "Quan Kinh Diên khuyết, nên chọn người lão thành. Hàn Duy phong tiết vốn cao, nếu triệu dùng vào chức Kinh Diên, dư luận tất cho là hợp." Đạo thứ hai nói: "Tô Tụng gần đây xin trí sĩ. Tụng bác học, nhớ dai, tinh thông điển cố, bên tả hữu bệ hạ, nên có người kiến văn rộng rãi để sẵn sàng trả lời hỏi han." Đạo thứ ba nói: "Tô Thức văn chương được thời đại tôn sùng, trung nghĩa hiến thân cho nước, gặp việc dám nói, há có thể để ông ta lâu xa rời triều đình!" Đạo thứ tư nói: "Triệu Quân Tích hiếu hạnh được chép trong ‘Anh Tông Thực Lục’, phụ đạo quân vương, không gì bằng hiếu; Cấp Sự Trung Trịnh Mục, là bậc kỳ lão trong quán các, giữ mình thuần chính; Trung Thư Xá Nhân Trịnh Ung, cẩn tĩnh, đoan khiết, lời nói, hành vi không càn. Ba người này đều nên đặt bên cạnh, giữ chức giảng đọc."

Tháng ấy, Liêu chúa đi đến Hỗn Đồng Giang.

Tháng 2, ngày Kỷ Hợi, chiếu cho Đô Thủy Sứ giả Ngô An Trì Đề Cử Tu Giảm Thủy Hà.

Người Hạ đến trả lại 149 quan lại, binh sĩ bị bắt ở Vĩnh Lạc, chiếu lấy 4 trại Mễ Chi, Gia Lô, Phù Đồ, An Cương trả lại cho họ, lại ước định giao cho quan vẽ rõ biên giới.

Tri Dĩnh Xương Phủ Phạm Thuần Nhân nghe triều đình bàn lại việc tu sửa sông, dâng sớ rằng: "Phạm Bách Lộc, Triệu Quân Tích xem xét trở về, trình bày hại của việc quay sông rất rõ. Hai ba tháng nay, lại nghe khởi việc này. Mong thánh ân lại hạ lệnh cho hữu ty, nếu lợi nhiều hại ít, còn mong thong thả mưu tính; nếu lợi ít hại nhiều, càng nên yên tĩnh." Sớ dâng lên, những người chủ trương việc sông không vui, muốn gác lại không thi hành. Thái Hoàng Thái Hậu nói: "Lời của Thuần Nhân có lý, nên theo lời xin của ông." Ngày Tân Sửu, chiếu bãi việc tu sửa Hoàng Hà.

Trước đó, phu dịch ở sông được phép nộp tiền để miễn phu, lệnh ban ra, trên dưới đều cho là tiện. Riêng Thuần Nhân lo lắng nói: "Sức dân từ đây càng khốn. Sức là do thân mà ra; tiền không phải là cái dân vốn có. Nay lấy cái họ không có, dân sao không khổ? Chỉ bọn nhà giàu không thân tự đi dịch mới cho là tiện. Vả lại, từ xưa sai phu không quá 500 dặm, nay miễn phu bằng tiền, thì không nơi nào không tới, nếu gặp quan lại bóc lột, thì hại dân không gì hơn thế."

Liêu chúa đi đến Song San.

Ngày Nhâm Dần, ngự Nhĩ Anh Các, giảng “Thượng Thư – Vô Dật thiên”, xong, chiếu ghi chép tường tận nghĩa lý đã giảng mà dâng. Theo lệ cũ, trước ngày Kinh Diên một ngày thì dâng nghĩa giảng, bắt đầu từ năm Nguyên Phong thứ 1, Thuyết Thư Lục Điền đặt ra; đến đây chiếu rằng, từ nay nghĩa giảng sẽ dâng riêng vào ngày hôm sau.

Ngày Quý Mão, chiếu: "Mưa thuận hơi sai, phàm các châu quân thuộc Ngũ Nhạc, Tứ Độc, lệnh Trưởng quan cầu đảo."

Ngày Đinh Mùi, giảm tội tù trong thiên hạ, từ tội trượng trở xuống đều tha.

Ban đầu, Văn Ngạn Bác lại vào Chính phủ, tròn một năm, liền xin từ chức. Chiếu rằng: "Tây Bá khéo dưỡng lão, nên Thái Công tự đến; Lỗ Mâu Công bên cạnh không có người như Tử Tư, thì bậc trưởng giả bỏ đi. Công tự cho rằng mưu thì giỏi, sao lại không vì triều đình mà tiếc?" Lại nói: "Đường Thái Tông trong buổi can qua, còn có thể triệu Lý Tĩnh lúc đã già, mà Mục Tông, Văn Tông trong lúc yên vui, lại không thể dùng Bùi Độ khi chưa bệnh, hiệu quả trị loạn, ở đó có thể thấy." Ngạn Bác đọc chiếu, kinh sợ, không dám xin đi nữa, lại ở thêm 4 năm. Đến đây xin đi mãi không thôi, ngày Canh Tuất, chiếu cho Ngạn Bác làm Thái Sư, Khai Phủ Nghi Đồng Tam Ti, Hộ Quốc Quân, Sơn Nam Tây Đạo Tiết Độ Sử trí sĩ, lệnh hữu ty chuẩn bị lễ sách mệnh. Ngày Nhâm Tý, Ngạn Bác xin miễn lễ sách, được cho. Ngày Giáp Tý, yến tiễn Ngạn Bác ở Ngọc Tân Viên.

Tháng 3, ngày Bính Dần mồng 1, Trung Đại Phu, Đồng Tri Xu Mật Viện Sự Triệu Chiêm mất, tặng thụy Ý Giản.

Ngày Đinh Mão, ban tiền cho gia đình cố Trực Học Sĩ Long Đồ Các Tôn Giác để lo tang sự.

Ngày Tân Mùi, Nữ Trực sang cống nước Liêu.

Ngày Nhâm Thân, lấy Thượng Thư Tả Thừa Hàn Trung Ngạn làm Đồng Tri Xu Mật Viện Sự, Hàn Lâm Học Sĩ Thừa Chỉ Tô Tụng làm Thượng Thư Tả Thừa.

Em của Trung Ngạn là Thuần Ngạn, vợ là con gái Tôn Cố, mỗi người đều vì quan hệ thân thích mà xin bãi chức, không cho. Trung Ngạn từng cùng Phó Nghiêu Du, Hứa Tương luận việc không hợp, đều xin bãi chính. Điện Trung Thị Ngự Sử Thượng Quan Quân nói: "Nhiệm vụ đại thần, cùng nước chia sẻ vinh nhục, trên triều đường phải lo hòa hiệp. Nếu hậm hực tranh luận, không kể thể thống, thì lấy gì làm gương cho bách liêu! Nghiêu Du, Tương tuy có lỗi tranh luận, nhưng việc đều do công, mong lệnh họ trở lại chức." Chuẩn theo.

Ngày Kỷ Mão, lấy Trực Học Sĩ Long Đồ Các, Tri Bạc châu Đặng Ôn Bá làm Hàn Lâm Học Sĩ Thừa Chỉ. Vương Nham Tẩu phong hoàn chiếu bổ nhiệm, không nghe. Ôn Bá vốn tên Nhuận Phủ, lúc ấy kiêng húy Cao Lỗ Vương, nên dùng tự mà hành.

Ngày Quý Mùi, bãi yến xuân.

Ngày Tân Mão, lấy Dương Úy làm Giám Sát Ngự Sử. Lưu An Thế, Chu Quang Đình nói: "Ngự Sử khuyết, nhiều lần chiếu lệnh cận thần cử người mình biết. Dương Úy không thuộc những người được cử, chưa rõ triều đình lấy danh nghĩa gì mà bổ nhiệm?" Không trả lời.

Ngày Nhâm Thìn, bãi việc ngự chơi Cùng Lâm Uyển, Kim Minh Trì.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Đinh Dậu, đặt Chưởng Pháp Quan ở Thống Quân Ty Lộ Liêu Đông Bắc.

Ngày Giáp Thìn, Lữ Đại Phòng và những người khác vì hạn mà xin bãi chức, chiếu trả lời không cho.

Hữu Quang Lộc Đại Phu, Tri Xu Mật Viện Sự Tôn Cố mất. Thái Hoàng Thái Hậu và Hoàng đế đều khóc thành tiếng, ngừng thiết triều 3 ngày, tặng Khai Phủ Nghi Đồng Tam Ti, thụy Ôn Tĩnh.

Tôn Cố lòng dạ thành thuần, không ưa kiêu ngạo, từng nói: "Người nên lấy thánh hiền làm thầy, bậc chỉ giữ được một tiết, không đáng học." Lại nói: "Lấy lòng yêu cha mẹ mà yêu vua mình, thì không gì là không hết sức." Phó Nghiêu Du nói: "Thanh tiết của Tư Mã Công, đôn đức của Tôn Công, chính là cái gọi là ‘không nói mà người tin’." Đời cho là lời luận sâu sắc.

Ngày Quý Sửu, chiếu cho quan giảng đọc sau khi ngự Kinh Diên lui, lưu lại 2 người vào Nhĩ Anh Các tâu đối.

Ngày Đinh Tị, chiếu vì hạn mà tránh điện, giảm bớt bữa ăn, bãi việc ngày mồng 1 tháng 5 thiết triều ở Văn Đức Điện.

Tháng 5, ngày Nhâm Thân, chiếu: "Pháp sai dịch còn chưa đầy đủ, lệnh Vương Nham Tẩu, Hàn Xuyên cùng Lưu An Thế xem xét tường tận, kê rõ lợi hại mà tâu."

Liêu chúa đóng quân ở Tán Thủy Nguyên.

Ngày Ất Hợi, mưa.

Ngày Kỷ Mão, ngự điện, phục lại bữa ăn.

Ngày Canh Dần, lấy Lương Đảo làm Hộ Bộ Thượng Thư, Lưu An Thế làm Trung Thư Xá Nhân. Đảo, An Thế đều vì xin bãi việc Đặng Ôn Bá làm Thừa Chỉ mà chiếu bổ nhiệm không theo, từ chối chức mới được thăng, không nhận.

Phạm Tổ Vũ lưu lại tâu đối, nói: "Năm Khánh Lịch thứ 1, ban ‘Quan Văn Giám Cổ Đồ Kí’ do Hoàng đế ngự chế để cho phụ thần xem; năm Hoàng Hựu thứ 1, triệu cận thần, Tam Quán, Đài Gián và Tông Thất xem ‘Tam Triêu Huấn Giám Đồ’. Nhân Tông Hoàng Đế ngoài việc giảng học, còn vẽ đồ giám cổ, không quên răn nhắc; lại vẽ việc 3 triều, muốn cho con cháu biết công liệt của Tổ Tông. Nguyện bệ hạ nhân lúc rỗi rãi xem sách, thỉnh thoảng xem đồ ấy, cũng là một mối của việc hiếu học không biết mệt vậy."

Tháng 6, ngày Tân Sửu, xét tù.

Ngày Giáp Dần, nước Liêu sai sứ xét tù ở Ngũ Kinh.

Từ đầu niên hiệu Nguyên Hựu, một phen đổi mới chính sự, đến năm thứ 5 này, lòng người đã yên; chỉ có đảng cũ đời Nguyên Phong, phân bố trong ngoài, phần nhiều khởi lời nói tà để lay động người đương chức. Lữ Đại Phòng, Lưu Chí lo lắng, muốn dần dần dùng họ, để bình oán cũ, gọi là “điều đình”, Thái Hoàng Thái Hậu nghi ngờ, không quyết. Ngày Ất Mão, Ngự Sử Trung Thừa Tô Triệt vào tâu đối, liền mặt mũi chỉ trích điều ấy là sai, lui về lại dâng sớ rằng: "Thần vừa rồi mặt luận rằng quân tử, tiểu nhân không thể cùng ở, thánh ý dường như không cho lời thần là sai. Nhưng thiên uy gần kề, lời nói gấp gáp, có điều chưa hết, thần mà không nói, thì ai cứu cái sai ấy? Thân cận quân tử, xa tiểu nhân, thì vua tôn, nước yên; xa quân tử, dùng tiểu nhân, thì vua lo, nước nguy. Lý ấy tất nhiên. Chưa từng nghe vì tiểu nhân ở ngoài, lo họ không vui, mà dẫn vào trong để tự rước họa. Cho nên thần cho rằng tiểu nhân tuy không thể giao phó tâm phúc, nhưng đến việc trấn thủ bốn phương, chạy việc tạp vụ, thì không thiên lệch bỏ sót cũng được. Nếu lại dẫn họ vào trong, thì cũng như lo trộm cướp muốn lấy của mà dẫn chúng vào phòng ngủ, biết hổ báo muốn ăn thịt mà mở cửa chuồng thả vào bãi chăn, không có lẽ ấy. Vả lại, quân tử, tiểu nhân, thế như băng với than, cùng ở tất tranh; một phen tranh rồi, tiểu nhân tất thắng, quân tử tất bại. Vì sao? Tiểu nhân tham lợi, nhẫn nhục, đánh thì khó đi; quân tử giữ mình, trọng nghĩa, bị ngăn thì lui. Cổ ngữ nói: ‘Một hương thơm, một mùi thối, mười năm vẫn còn mùi’, chính là nói việc này. Tiên đế thông minh thánh trí, gần bằng ba đời, mà bề tôi không thể thuận theo, tạo ra các pháp, trên trái ý trời, dưới mất lòng dân. Nhị Thánh theo điều dân mong, lấy đó mà đổi, thì những thần từng cầm quyền trước kia, nay triều đình tuy không đuổi bức, nhưng thế cũng không thể ở lại. Còn nhờ Nhị Thánh nhân từ, nuôi họ ở ngoài, đã là hậu lắm rồi. Thế mà người bàn việc mê hoặc bởi lời nhiều, lại muốn chiêu nạp họ, cùng họ cộng sự, gọi là ‘điều đình’. Bọn này nếu trở lại, há chịu về tay không sao! Ắt sẽ hại người ngay thẳng, dần dần khôi phục việc cũ, để thỏa tư oán. Bề tôi bị họa, còn không đáng nói; điều thần tiếc là Tông Miếu, triều đình vậy. Duy xin bệ hạ tự quyết từ thánh tâm, chớ để bị lời đồn lay động, chớ để tiểu nhân một phen tiến vào, lại có nỗi hối hận cắn rốn." Sớ dâng lên, Thái Hoàng Thái Hậu lệnh Tể phụ đọc trước rèm, nói: "Triệt nghi ta dùng lẫn thiện, ác, lời ấy rất trúng lý." Các thần đều phụ họa, thuyết “điều đình” bèn dứt.

Triệt lại tâu rằng: "Thần trộm thấy hiện nay tuy chưa phải là đại trị, nhưng kỉ cương của Tổ Tông vẫn còn đủ, dân vật ở châu quận cũng tạm yên. Nếu các đại thần tự sửa mình, giữ lòng công bình, không có ý sinh chuyện để cầu công, nhân chỗ tệ mà sửa pháp, làm thuật An Dân Tĩnh Quốc, thì dẫu có đảng khác, ai là người không hướng lòng về? Chỉ lo triều đình mỗi khi cử hành việc gì, phần nhiều không xét kĩ càng.

Trước đây Hoàng Hà chảy về phía bắc, đúng hợp tính nước, thế mà quan giữ việc nước lại đào bới, muốn dẫn cho chảy về phía đông, dời chỗ thấp lên chỗ cao, làm rối loạn lí của Ngũ Hành. Đến khi Bệ hạ sai sứ đi xem xét, biết là không thể làm được, mà vẫn còn có kẻ cố chấp không theo. Trải mấy năm nay, việc quay dòng sông tuy đã bãi, nhưng việc giảm nước vẫn còn, khiến cho sinh linh Hà Sóc tài lực đều khốn quẫn.

Nay nước Hạ, Thanh Đường bên ngoài đều đã thần phục thuận tòng, triều đình chiêu dụ hậu đãi, chỉ sợ đánh mất họ. Thế mà tướng lại ở Hi Hà dựng mới 2 bảo để xâm lấn ruộng đất màu mỡ của họ, lại bàn việc nạp Thuần Trung để đoạt tiết việt của họ, công chưa thể mong, tranh chấp đã hiện ra trước. Triều đình tuy biết là sai, rốt cuộc không sáng suốt xử trí, nếu cứ thế nuôi thành mối hiềm khích nơi biên giới, thì Quan Thiểm há còn yên ở được nữa! Hai việc như thế, chính là điều thần gọi là nên tự sửa mình, giữ lòng công bình, chớ sinh chuyện để cầu công vậy.

Xưa trước niên hiệu Gia Hựu, việc sai phái nha tiền ở hương xã, dân gian thường có nỗi lo phá sản. Sau niên hiệu Hi Ninh, đem bán phường chợ để thuê nha tiền, dân gian không còn biết đến nỗi khổ nha tiền nữa. Đến đầu niên hiệu Nguyên Hựu, chăm chăm theo cựu lệ, lại đồng loạt phục hồi việc sai phái, quan thu tiền phường chợ, dân xuất phí nha tiền, bốn phương kinh hãi ngoái nhìn, dư luận sôi sục. Rồi biết là không được, lại vội trở về phép thuê; đến mùa thu năm ngoái, lại phục hành phép sai phái.

Vả lại, phép thuê dịch đời Hi Ninh, 3 hạng hộ đều phải nộp tiền dịch. Hạng trên vì gia sản cao lớn, nộp tiền không kể xiết; hạng dưới xưa vốn không phải đảm đương dịch, nay cũng phải nộp tiền; cho nên 2 hạng hộ này không khỏi oán than. Còn như hạng trung, xưa vốn tự mình đảm đương dịch, nay lại chỉ nộp ít tiền, nên khi phép thuê hành, là tiện lợi nhất cho họ. Bãi phép thuê, thì 2 hạng trên dưới vui mừng nhảy nhót là điều có thể biết, chỉ riêng hạng trung lại hóa ra bị hại.

Như ở các huyện thuộc Kinh Kì, nhà hạng trung theo lệ nộp tiền dịch 3 quan, nếu trải 10 năm, cũng chỉ là 30 quan mà thôi. Nay phép sai dịch đã hành, các dịch vụ dùng sức tay chân là loại dịch nhẹ nhất; nông dân làm việc cho quan, mỗi ngày dùng 100 tiền, là khoản phí nhẹ nhất. Thế mà chi dùng 1 năm đã là 36 quan, 2 năm mãn dịch, phí tổn hơn 70 quan. Hết dịch trở về, ở hương rộng thì được rỗi 3 năm, ở hương hẹp thì chưa được 1 năm. Lấy đó mà so, thì phí tổn 5 năm sai dịch gấp đôi 10 năm thuê dịch. Thuế dịch phần nhiều xuất từ hạng trung, cho nên thiên hạ đều mong thuê mà chán ghét sai.

Hai việc như thế, chính là điều thần gọi là nên nhân chỗ tệ mà sửa pháp, làm thuật An Dân Tĩnh Quốc vậy. Bốn việc không bỏ, như bọn thần còn biết là sai, huống chi những kẻ trong lòng ôm ý khác, chí để ở sự phản phúc, mong nước có chỗ sai để mượn làm lời nói hay sao? Sợ rằng bọn họ đã ngầm ghi trong lòng, bày đặt nhiều lời gièm pha, đợi thời mà phát, để lay động tai nghe của quần chúng.

Cúi xin tuyên dụ cho các quan Tể Chấp, việc gì làm sai thì sửa, chớ nghi; phép gì chưa hoàn thì tu, chớ mỏi. Nếu lòng dân đã được, thì dị nghị tự tiêu, trong bốn bể đều được hưởng phúc, trên dưới cùng một lòng, há chẳng là điều tốt đẹp sao!"

Mùa thu, tháng 7, Liêu chúa đi đến Hắc Lĩnh.

Ngày Ất Dậu, người nước Hạ đến nói rằng việc vạch cương giới không nên lấy lệ ở Tùy châu. Chiếu rằng: "Đã bảo rõ cho các quan biên thần theo như ước rồi. Cương giới phong thổ của nước Hạ cũng phải noi theo đó."

Ban đầu, số ngạch lại viên định ra đời Nguyên Phong, người chủ việc vì muốn làm vừa lòng bọn lại, so với ngạch cũ tăng lên gần gấp bội. Triều đình lấy đó làm lo, bèn sai tùy việc mà cắt giảm. Có viên lại tên là Bạch Trung Phu, tâu với Tô Triệt rằng: "Định ngạch lại không khó. Xưa Lưu Nội Tuyển, nay là Tả Tuyển Thị Lang, việc phiền phức không gì hơn chỗ này. Trước đây lại ở Ty Tuyển chỉ hơn 10 người, nay lại ở Tả Tuyển đến mấy chục người, việc không hơn xưa mà dùng lại gấp bội, là vì trước kia không có pháp nặng, lộc nặng, lại thông thầu nhận hối lộ, nên không muốn người đông để chia phần thu vào, cho nên dốc sức làm việc, vất vả mà không tránh. Nay hành pháp nặng, cấp lộc nặng, hối lộ so với trước ít đi, nên không sợ người đông mà lại mong việc ít. Đó là đại yếu của việc nhiều ít ngạch lại. Phép cũ chia việc khó dễ làm 7 bậc, nặng thì đến 1 phân, nhẹ thì đến dưới 1 li, tích đủ mấy phân thì tính thành 1 người. Nay nếu thật lấy việc của mỗi Ty trong 2 tháng, định số phân của nó, thì hạn nhiều ít ngạch lại không thể trốn tránh được vậy."

Triệt cho lời ấy là phải, bèn trình bày đầy đủ với các quan Chấp Chính, xin căn cứ thực tế mà lập ngạch, đợi khi lại mãn năm được thăng chuyển ra ngoài hoặc vì việc mà chết thì không bổ sung nữa, đến đủ ngạch thì dừng, chẳng quá 10 năm, tự nhiên tiêu hết. Các quan Chấp Chính cho là phải, bèn chuyển sang Thượng Thư Tỉnh.

Mấy tháng sau, văn thư các Ty cung lên đều đã đủ, nhân đó cắt giảm thành văn bản, trình lên Tam Tỉnh. Tả Bộc Xạ Lữ Đại Phòng được bản ấy, rất mừng, muốn cho việc này tất phải do mình đưa ra, nên lại sai định riêng. Nhậm Vĩnh Thọ vốn là lại ở các Ty, người tinh nhanh mà xảo hoạt, từng dự biết việc ngạch lại đời Nguyên Phong, mỗi lần tấu vào, chỉ mình y nói được chỗ quanh co. Đại Phòng vui lòng với y, liền lập ra Ngạch Lại Phòng ở Thượng Thư Tỉnh, cho Vĩnh Thọ cùng vài người lại trông coi. Phàm tấu lên, ban xuống, đều do Đại Phòng tự chuyên, không qua hai Tỉnh nữa.

Một hôm, trong nội hạ xuống 2 tờ chiếu đã phê “khả” giao cho Trung Thư, 1 tờ là việc ngạch lại. Lại ở Tỉnh tâu với Trung Thư Thị Lang Lưu Chí, xin phong kín gửi sang Thượng Thư Tỉnh. Chí nói: "Khi trước văn thư đều ghi lục hoàng qua Môn Hạ, nay cũng phải phong qua." Đáp rằng: "Thượng Thư Tỉnh về việc ngạch lại, tất đã trực tiếp hạ xuống bản Tỉnh từ lâu, nay lầm đến đây." Chí nói: "Trung Thư không biết việc khác, phải theo pháp lệnh." Bèn làm lục hoàng.

Vĩnh Thọ thấy có lục hoàng, kinh ngạc nói: "Hai Tỉnh vốn không dự, sao lại có việc này?" Liền tâu với Đại Phòng, xin hai Tỉnh mỗi bên chọn lại đến cục cùng lĩnh việc ấy. Đại Phòng đem lời ấy nói với Chí, Chí nói: "Trung Thư hành lục hoàng là phép, há có ý cùng lại chia công? Nay lại khiến đến Đô Tỉnh chia phần công lao, là sao vậy?" Việc ngạch lại làm xong, bọn Vĩnh Thọ lại được gia ân ban thưởng có khác nhau.

Vĩnh Thọ nóng nảy cầu công lợi, khuyên Đại Phòng nhân việc ngạch lại mà mỗi ngày cắt giảm lại viên, lại dùng ý riêng yêu ghét mà đổi dời các lại ở các cục. Những lại bị gạt bỏ, ùn ùn đến Ngự Sử Đài kêu bất bình. Quan ở Đài nhân đó nói bọn Vĩnh Thọ người ấy mạo nhận thưởng, thiên vị riêng, không thể không trừng phạt; quan Gián lại tiếp lời mà nói. bọn Vĩnh Thọ đều bị đuổi, mà việc lại kêu về ngạch và lộc rốt cuộc vẫn chưa quyết được.

Lúc ấy Triệt đang làm Trung Thừa, tâu rõ: "Những điều mà Hậu Tỉnh đã xét định, đều là điều hợp với lòng người, thi hành rất dễ; còn những điều mà Ngạch Lại Phòng sửa đổi, đều là điều trái lòng người, giữ theo rất khó. Vả lại, đại tín không thể mất, nên sớm sai hữu ty đổi theo điều dễ, để yên lòng bọn lại." Đại Phòng biết mọi người không phục, bèn thong thả sai Đô Ty lại xét định thêm lần nữa, đại lược thi hành như lời bàn trước của Triệt.

Lưu Chí lúc đầu vì việc Ngạch Lại Phòng mà bàn với Lữ Đại Phòng hơi không hợp, sau Chí thăng làm Môn Hạ Thị Lang. Đến khi quan Đài, quan Gián cùng công kích Đại Phòng, Đại Phòng lấy cớ bệnh không ra. Chí mỗi lần trước mặt Hoàng đế bày tỏ đầu đuôi việc ngạch lại, nói: "Đó đều là những người bị giảm ngạch khua động oán giận, lời đường quan nghe được đều quá sự thực, không đáng trách phạt nặng." Đại Phòng một hôm nói với người rằng: "Khiến cho ý Hoàng thượng sáng tỏ không nghi, công của Lưu Môn Hạ là nhiều nhất." Nhưng sĩ đại phu ham lợi tranh đấu lẫn nhau, cho rằng hai người có hiềm khích, bèn dựng nên thuyết bè đảng.

Chí nói với Đại Phòng rằng: "Bọn ta trong lòng biết là không có gì khác, nhưng ngoài miệng người bàn như thế, đó không phải điều triều đình nên có, xin cùng tránh đi." Đại Phòng nói: "Việc đi cũng đã có lời xin rồi." Ngày Canh Dần, tâu việc xong, Chí ở lại một chút, tâu rằng: "Thần ở gần ngôi đã lâu, đồ đựng đầy ắt đổ, xin ban cho bộ xương, tránh đường cho người hiền." Lui ra rồi, liên tiếp dâng sớ, ra ở nhà riêng ngoài, quyết xin cho được. Vua sai Trung sứ triệu Chí vào đối, Thái Hoàng Thái Hậu dụ rằng: "Thị Lang chưa được ra, phải đợi khi Quan gia thân chính rồi mới có thể đi." Sứ giả mấy phen giục vào nhận việc, Chí bất đắc dĩ phải nhận mệnh.

Chẳng bao lâu, Lữ Đại Phòng xin từ chức, cũng không được cho. Đến khi Chí thăng làm Hữu Bộc Xạ, cùng Đại Phòng đồng liệt, chưa đầy 1 năm, người nói tranh nhau công kích Chí, Chí liền bị bãi. Thuyết bè đảng từ đó không thể phá, mối hiềm khích ấy vốn khởi từ việc ngạch lại.

Tháng 8, ngày Bính Ngọ, Hữu Chính Ngôn Lưu Đường Lão tâu rằng: "Thần cúi xem một thiên ‘Đại Học’, luận về thứ tự vào đức, xin chiếu cho các thần ở Kinh Diên giảng giải chú thích sách này dâng lên, để lúc thanh yến rỗi rãi, có thể dùng làm tài liệu xem xét." Vua theo đó.

Ban đầu, Đặng Ôn Bá vì mẹ mất mà để tang đủ kì, được bổ làm Lại Bộ Thượng Thư, Lương Đảo quyền làm Cấp Sự Trung, bác đi, đổi cho Ôn Bá làm Tri Bạc Châu, qua 1 năm, lại được triệu về làm Thừa Chỉ. Lương Đảo làm Ngự Sử Trung Thừa, cùng Hữu Gián Nghị Đại Phu Lưu An Thế, Hữu Gián Nghị Đại Phu Chu Quang Đình dâng sớ liên tiếp luận rằng: "Ôn Bá ra vào trong đảng Vương, Lữ, trước sau phản phúc. Nay việc tiến dụng ông ta, thực là mối then chốt cho sự thịnh suy giữa quân tử và tiểu nhân." Lại nói: "Ôn Bá từng thảo chế cho Thái Xác, xưng Xác có công định sách, để mê hoặc thiên hạ, xin bãi truất." Sớ dâng nhiều lần không được trả lời, bọn Đảo bèn cố xin ra ngoài. Ngày Canh Tuất, bèn cho Đảo làm Tri Trịnh Châu, Quang Đình làm Tri Bạc Châu, An Thế làm Đề Cử Sùng Phúc Cung. Lúc ấy Lưu Chí dâng sớ xin tạm cho Ôn Bá ra ngoài, giữ lại bọn Đảo, Tô Triệt cũng 3 lần dâng sớ luận việc này, đều không được nghe.

Cấp Sự Trung kiêm Thị Giảng Phạm Tổ Vũ dâng 8 thiên “Đế Học”.

Tháng 9, ngày Đinh Sửu, chiếu phục đặt chức Tập Hiền Viện Học Sĩ.

Ngày Đinh Hợi, lấy Tôn Huýnh làm Tri Bắc Ngoại Đô Thủy Thừa, Đề Cử Bắc Lưu; Lý Vĩ quyền phát khiển Bắc Ngoại Đô Thủy Thừa, Đề Cử Đông Lưu.

Mùa đông, tháng 10, ngày Quí Tị, bãi Đô Đề Cử Tu Sông Ty, theo lời Trung Thừa Tô Triệt.

Chiếu dẫn nước sông vào Biện.

Tháng 11, ngày Nhâm Tuất, nước Cao Ly sai sứ sang nước Liêu dâng cống.

Ngày Kỉ Tị, nước Liêu lấy Nam Phủ Tể Tương Đậu Cảnh Dung làm Vũ Định Quân Tiết Độ Sử. Cảnh Dung xét quyết oan ức tồn đọng, nhẹ nặng đều hợp, chẳng bao lâu báo rằng ngục đã trống.

Tô Triệt nhiều lần tâu về lỗi lầm của Hứa Tương, Tương cũng nhiều lần dâng biểu xin ra ngoài. Tháng 12, ngày Tân Mão mùng 1, lấy Tương làm Tư Chánh Điện Học Sĩ, Tri Định Châu.

Ngày Giáp Thìn, Thị Ngự Sử Thượng Quan Quân lại tâu rằng: "Lữ Đại Phòng cứng cỏi tự chuyên, không kể phải trái, mỗi khi có việc bổ nhiệm, đồng liêu không dám có ý khác, chỉ Hứa Tương đôi khi có chỗ bất đồng, Đại Phòng thường ôm hận riêng. Tô Triệt vốn cùng Đại Phòng thân thiện, mong hợp ý ông ta, hết sức gạt bỏ Tương, quyết cho bằng được. Tương đã vì ý kiến khác mà bị bãi, các quan Chấp Chính, Đài Gián đều lo theo hùa, thế là uy phúc đều về tay Đại Phòng, kỉ cương pháp lệnh từ đó hư hỏng." Nhân xin giải chức ngôn quan, bèn bị trách làm Tri Quảng Đức Quân.

Ngày Bính Thìn, cấm quân đại duyệt, ban cho bạc lá và lụa, bãi việc chuyển tư cách.

Năm ấy, Kinh Bắc hạn hán, Chiết Tây lụt lội.

Nước Liêu lấy 72 người Tiến Sĩ là bọn Văn Sung.