Bước tới nội dung

Tục tư trị thông giám/Quyển 87

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tục Tư trị thông giám, quyển 87  (2025)  của Tất Nguyên, do Cơ Như Tuyết dịch
Tống kỷ 87

Từ tháng Giêng năm Tân Tị (1101) đến tháng 6 nhuận năm Nhâm Ngọ (1102), Huy Tông Kiến Trung Tĩnh Quốc thứ 1 đến Sùng Ninh thứ 1, gồm 1 năm có dư

Huy Tông Thể Thần Hợp Đạo Tuấn Liệt Tốn Công Thánh Văn Nhân Đức Hiến Từ Hiển Hiếu Hoàng đế, tên húy là Cát, con trai thứ 11 của Thần Tông; mẹ là Khâm Từ hoàng hậu Trần thị. Năm Nguyên Phong thứ 5, tháng 10, ngày Đinh Tị, sinh ở trong cung; tháng giêng năm sau, được ban tên. Tháng 10, được trao chức Trấn Ninh quân Tiết độ sứ, phong Ninh quốc công. Khi Triết Tông lên ngôi, phong Toại Ninh quận vương; năm Thiệu Thánh thứ 3, kiêm Tiết độ sứ Bình Giang, Trấn Giang, phong Đoan vương; năm thứ 5, gia Tư không, đổi làm Tiết độ sứ Chiêu Đức, Chương Tín.

Năm Kiến Trung Tĩnh Quốc thứ 1 (Liêu, năm Thọ Xương thứ 7; tháng 2 đổi năm Càn Thống thứ 1), Công nguyên năm 1101

[sửa]

Mùa xuân, tháng giêng, ngày Nhâm Tuất mồng một, có khí đỏ nổi lên ở phương đông bắc, kéo dài sang tây nam, giữa lẫn khí trắng; sắp tan thì lại có khí đen ở bên. Hữu Chính ngôn Nhậm Bá Vũ nói:

Đầu năm chính nguyệt mà khí đỏ nổi lên lúc đêm tối. Ngày là dương, đêm là âm; đông nam là dương, tây bắc là âm; triều đình là dương, cung cấm là âm; Trung Quốc là dương, Di Địch là âm; quân tử là dương, tiểu nhân là âm. Đây là điềm âm mưu trong cung cấm, kẻ dưới can dự vào việc của bậc trên. Khí dần xông về phía tây, đến chính tây tan thành màu trắng; mà trắng chủ binh, ấy là điềm Di Địch lén nổi binh. Lòng trời nhân ái, lấy tai dị để răn. Xin bệ hạ tiến dùng trung lương, bãi truất gian nịnh, chỉnh chính danh phận, đánh dẹp kẻ gian ác, khiến tiểu nhân không dám nảy sinh lòng phạm thượng, thì tai dị có thể biến thành điềm lành.

Ngày Quý Hợi, có sao từ tây nam nhập vào sao Vĩ, ánh sáng rọi khắp mặt đất.

Quan Văn điện Đại học sĩ, Trung Thái Nhất cung sứ Phạm Thuần Nhân mất, thọ bảy mươi lăm tuổi.

Khi bệnh của Thuần Nhân nguy kịch, gọi các con lại, miệng đọc di biểu, sai môn sinh Lý Chi Nghi (李之儀) sắp xếp thành văn. Đại lược khuyên Hoàng đế giữ lòng thanh tĩnh, bớt ham muốn, tự ước thúc để tiện cho dân, dứt hẳn lời luận điệu bè đảng, xét rõ chính – tà, chớ khinh suất bàn việc biên thùy, đừng dễ dàng đuổi bãi ngôn quan. Lại biện minh việc Tuyên Nhân bị vu báng rằng: "Vốn là quyền thần lo thỏa cái giận riêng của mình, chẳng phải Thái Lăng (Triết Tông) thực cho là đương nhiên." Lại nói: "Đại để từng lo trước thiên hạ, mong không phụ cái học của thánh nhân, ấy là điều tiên thần[1] dùng để dạy thần, mà cũng là điều kẻ bề tôi nhỏ này dùng để thờ vua vậy." Có chiếu truy tặng Khai phủ nghi đồng tam ti, thụy là Trung Tuyên, đề bia rằng: "Thế Tế Trung Trực Chi Bi”.

Thuần Nhân tính khoan giản, không lấy thanh sắc mà gia lên người; việc nghĩa ở đâu thì đứng thẳng không chịu khuất. Từ khi áo vải đến lúc Tể tướng, liêm khiết tiết kiệm không đổi; những thứ bổng lộc được ban đều dùng để mở rộng nghĩa trang; ân điển nhiệm tử trước sau nhiều lần, phần lớn ưu tiên cho họ hàng xa. Từng nói: "Điều học suốt đời của ta, được ở hai chữ trung và thứ; dùng cả đời cũng không hết. Từ lúc lập triều sự quân, tiếp đãi đồng liêu, thân hòa tông tộc, chưa từng rời hai chữ ấy giây lát." Lại răn con cháu rằng: "Người tuy rất ngu khi trách người vẫn sáng; kẻ tuy có thông minh mà tha mình thì tối. Nếu có thể lấy lòng trách người mà trách mình, lấy lòng tha mình mà tha người, thì không lo không đạt tới địa vị thánh hiền." Thân tộc có người xin dạy, Thuần Nhân nói: "Chỉ có tiết kiệm mới giúp liêm khiết, chỉ có khoan thứ mới thành đức." Người ấy ghi lại, treo ở chỗ ngồi.

Liêu chúa từ tháng Chạp năm trước có bệnh, ngày Chính Đán, gắng gượng lên điện nhận chúc mừng. Ngày ấy, đi đến sông Hỗn Đồng.

Ngày Giáp Tuất, Hoàng thái hậu Hướng thị băng ở điện Từ Ninh, để lại di chiếu tôn Hoàng thái phi Trần thị (陳氏) làm Hoàng thái hậu.

Ngày ấy, Liêu chúa mất ở hành cung, thọ 70 tuổi, miếu hiệu là Đạo Tông. Di chiếu cho Yên quốc vương Diên Hy nối ngôi, Bắc diện Khu mật sứ Da Luật A Tô và Tri Khu mật viện sự Da Luật Nghiễm cùng nhận cố mệnh phò tá.

Đạo Tông khi mới lên ngôi, cầu lời nói thẳng, hỏi đạo trị nước, khuyến nông tang, hưng trường học, cứu tai tế nạn, rực rỡ đáng xem. Nhưng đến khi lệnh cấm báng nghị thi hành, thưởng cho việc tố cáo ngày càng nặng, bọn gian tà cùng tiến, hại đến cả cốt nhục; các bộ dần phản, binh đao không năm nào yên. Chỉ riêng việc mỗi năm cúng cơm cho tăng tới 36 vạn người, mỗi ngày xuống tóc 3000 người; sùng Phật quá mức, không biết lo việc nước. Điềm mất nước của Liêu đã hiện rõ.

Diên Hi lên ngôi trước linh cữu, quần thần dâng tôn hiệu là Thiên Tộ hoàng đế.

Ngày Đinh Sửu, đổi lăng mộ của Đại Hành Hoàng thái hậu làm Sơn lăng, sai Tăng Bố (曾布) làm Sơn lăng sứ.

Ngày Kỷ Mão, lệnh cho người làm việc trong các mạc phủ Hà, Thiểm nộp thóc, được miễn khảo thí mà bổ quan.

Tháng 2, ngày Nhâm Thìn mùng 1, nước Liêu đổi niên hiệu Càn Thống, đại xá. Có chiếu: "Kẻ bị Da Luật Y Tốn (耶律伊遜) vu cáo hãm hại, cho phục hồi quan tước; kẻ bị tịch thu gia sản thì trả lại; người bị lưu đày thì cho về."

Ngày Bính Thân, mưa đá.

Ngày Kỷ Hợi, tinh giản quân ở hai lộ Tần, Phụng.

Ngày Giáp Thìn, bắt đầu nghe chính sự.

Ngày Ất Tị, xuất nội khố và tiền Thường Bình các lộ, mỗi thứ 100 vạn, để làm kho dự trữ biên giới Hà Bắc.

Liêu chúa khi còn làm Yên quốc vương, Đạo Tông vì Tiêu Ô Nạp có công bảo hộ, sai người ấy phụ đạo. Ô Nạp nhiều lần lấy lời thẳng mà trái ý, Liêu chúa mới lên ngôi, liền đày Ô Nạp ra làm Liêu Hưng quân Tiết độ sứ, gia chức Thủ Thái Phó.

Ngày Giáp Dần, có chiếu giáng Tri Dương châu Lâm Hi (林希) đi Thư châu, giáng Tri Tùy châu Trương Thương Anh (張商英) làm Triêu phụng đại phu; là vì Hữu Tư gián Trần Hựu cho rằng xử phạt còn nhẹ, xin giáng nặng thêm, vì thế mới có lệnh này.

Ngày Đinh Tị, có chiếu: "Chương Đôn, hiện an trí tại Đàm châu, bị giáng trách, bổ làm Lôi châu Tư hộ tham quân, xếp vào hàng Viên ngoại lang."

Trước đó, Tả Chánh Ngôn Nhậm Bá Vũ (任伯雨) dâng sớ rằng

Chương Đôn lâu ngày trộm nắm quyền triều đình, mê hoặc quốc chính, che lấp bề trên, độc hại giới sĩ phu; nhân biến cố đột ngột của Tiên đế mà thừa cơ phô bày dị chí. Giả sử mưu ấy thành, thì sẽ đặt bệ hạ và Hoàng thái hậu vào chỗ nào! Nếu dung tha mà không giết, thì đại nghĩa trong thiên hạ không rõ, đại pháp không lập. Thần nghe sứ giả phương Bắc nói: ‘Năm ngoái, Liêu chúa đang dùng bữa, nghe tin Trung Quốc bãi Chương Đôn, liền buông đũa đứng dậy, hai lần khen hay, nói rằng Nam triều đã lầm dùng người này.’ Bắc sứ lại hỏi: ‘Sao chỉ xử trí như thế?’ Từ đó mà xét, không chỉ người trong nước đều cho là đáng giết, mà đến nước địch cũng đều cho là đáng giết vậy."

Sớ dâng 8 lần, chưa được trả lời. Gặp khi bọn Đài gián Trần Quán (陳瓘), Trần Thứ Thăng (陳次升) lại cực lực luận tội, bèn có việc giáng như thế.

Ban đầu, Tô Triệt bị giáng Lôi Châu, không cho ở công quán, phải thuê nhà dân. Chương Đôn lại cho là cưỡng đoạt nhà dân, hạ lệnh cho châu truy xét trị tội; nhưng vì khế ước thuê ghi rất rõ ràng, bèn thôi. Đến đây Chương Đôn hỏi nhà ở nơi dân, dân nói: "Trước kia ông Tô đến đây, vì Chương thừa tướng mà suýt làm tan nát nhà tôi; nay không thể được đâu."

Ban đầu, khi Đôn vào làm Tể tướng, vợ là Trương thị bệnh sắp chết, dặn rằng: "Quan nhân làm tể tướng, mong chớ báo thù." Sau khi mãn tang, Đôn nói với Trần Quán (陳瓘) rằng: "Nỗi đau mất vợ không sao chịu nổi, biết làm thế nào?" Quán nói: "Thay vì buồn thương vô ích, sao không nhớ lời bà ấy lúc sắp lâm chung?" Đôn không đáp được.

Nhậm Bá Vũ (任伯雨) lại nói Thái Biện (蔡卞) còn ác hơn Chương Đôn, bèn kể tội lớn của hắn có 6 điều rằng: "Một là vu dối công lao bảo hộ của Tuyên Nhân, muốn thi hành truy phế. Hai là từ Thiệu Thánh trở lại đây đày đuổi bề tôi, đều do Biện khởi xướng rồi mới làm. Ba là việc yếm thắng trong cung làm ra, Biện xin Dịch Đình đặt ngục, chỉ sai nội thần tra trị, Hoàng hậu vì đó mắc tội. Bốn là, Biên soạn, sắp đặt các chương sớ Nguyên Hựu, người bị kết tội đến mấy nghìn, chủ trương đều từ Biện mà ra. Năm là, kích nộ Triết Tông, khiến Trâu Hạo bị đày xa, lại xin trị tội thân cố tiễn đưa. Sáu là, Kiển Tự Thần (蹇序辰) dựng việc xem xét, giãi bày oan khuất, Đôn còn do dự chưa quyết, Biện dùng lời “hai lòng” để ép, Đôn liền trong ngày lập cục tra xét, sĩ đại phu mắc tội tới 830 nhà. Biện âm hiểm, xảo trá, hung hiểm, mầm ác ngút trời; môn sinh, cố lại đầy khắp trong ngoài; nay tuy trách phạt nhẹ, vẫn như còn ở triều, ai nấy run sợ, không dám hồi tâm hướng thiện. Triều đình tà chính thị phi không phân biệt được, cứ thế tiếp diễn, gian nhân lại tiến, an nguy thiên hạ e khó bảo toàn." Tấu vào, không xét.

Tháng 3, ngày Quý Hợi, lấy Tri Hàng châu Lữ Huệ Khanh (呂惠卿) làm Quan Văn Điện học sĩ, Đề cử Đỗng Tiêu cung.

Ngày Giáp Tý, bắt đầu ngự điện Tử Thần.

Ngày Ất Sửu, Liêu sứ đến báo tang, sai Tạ Văn Quán (謝文瓘), Thượng Quan Quân (上官均) đi điếu tế (Đạo Tông), Hoàng Thật (黃寔) chúc mừng việc (Thiên Tộ) lên ngôi.

Ngày Đinh Mão, Liêu chúa sai hữu ty đem gia thuộc nhà Trương Hiếu Kiệt (張孝傑) chia ban cho quần thần.

Ngày Giáp Tuất, Liêu chúa gọi tăng Pháp Di (法頤) xả giới ở nội đình.

Ngày Mậu Dần, lấy Tri Vô Dĩ Quân Trần Quán (陳瓘) làm Trứ Tác Tá Lang, Thực lục Viện kiểm thảo quan.

Ngày Nhâm Ngọ, vì gặp nhật thực, tránh điện, giảm bữa ăn; giảm tội cho tù nhân trong thiên hạ một bậc, từ tội lưu trở xuống đều được thả.

Điện trực Đạt Nhĩ Vượng Ha (達爾旺哈) nước Liêu, biết Liêu chúa ghét lời nói thẳng, trong lòng ghét Tiêu Ô Nạp, bèn vu cáo Ô Nạp lén mượn sừng tê trong nội phủ. Liêu chúa sai tra xét. Ô Nạp tâu rằng: "Thần từ trước đã có chiếu cho phép mỗi ngày lấy tiền kho 10 vạn làm chi phí riêng, thần chưa từng bừa lấy 1 đồng, lại chịu mượn sừng tê sao?" Liêu chúa càng giận, đoạt quan Thái phó của ông, giáng làm Ninh Biên châu Thứ sử. Từ đó, các quan trong triều càng ra sức mềm mỏng, nịnh hót.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Tân Mão mùng 1, không thấy nhật thưc.

Ngày Giáp Ngọ, dâng thụy cho Đại Hành Hoàng thái hậu là Khâm Thánh Hiến Túc. Ngày Ất Mùi, truy tôn Khâm Thánh Hoàng thái hậu thụy hiệu là Khâm Từ.

Ngày Đinh Dậu, ngự điện, khôi phục bữa ăn.

Ngày Nhâm Dần, có chiếu: "Các lộ có án nghi đáng tâu mà không tâu thì trị tội; không đáng tâu mà tự tiện tâu thì chớ bắt tội. Ghi làm lệnh."

Nhậm Bá Vũ ban đầu làm Hữu Chính ngôn, trong vòng nửa năm, phàm dâng một trăm tám bản sớ. Các đại thần sợ ông nói nhiều, bèn cho quyền Cấp sự trung, ngầm bảo rằng ít nói mới là phải; Bá Vũ phản bác, tranh luận càng gắt. Khi ấy Tăng Bố muốn điều hòa người phe Nguyên Hựu và Thiệu Thánh, Bá Vũ nói: "Nhân tài vốn không nên chia bè đảng, song từ xưa chưa từng có việc quân tử và tiểu nhân lẫn lộn cùng tiến mà có thể trị nước. Bởi quân tử dễ lui, tiểu nhân khó lui; dùng chung hai hạng ấy, rốt cuộc quân tử tự rời đi, còn tiểu nhân vẫn ở lại. Đường Đức Tông vì vậy mà gặp họa lưu lạc, niên hiệu Kiến Trung chính là lúc ấy, không thể không lấy làm răn." Rồi lại muốn đàn hặc Bố, Bố biết, dời làm Độ Chi Viên ngoại lang.

Tháng ấy, đất Liêu hạn hán.

Tháng 5, ngày Tân Dậu mùng 1, có mưa đá lớn, ban chiếu cho Tam tỉnh giảm bớt chức danh quan lại, tiết kiệm chi phí dư thừa.

Ngày Bính Dần, táng Khâm Thánh Hiến Túc hoàng hậu và Khâm Từ hoàng hậu ở lăng Vĩnh Dụ.

Ngày Canh Thìn, Thái tử thái bảo, Triệu Quận công Tô Tụng (蘇頌) mất, thọ 82 tuổi. Có chiếu truy tặng Tư không. Tụng khí cục rộng xa, tự giữ lễ pháp; tuy quý, phụng dưỡng như kẻ sĩ nghèo. Sáng tỏ điển cố, triều đình có chế tác, tất đến mà sửa cho đúng.

Ngày Bính Tuất, phụ thần chủ 2 Hoàng hậu vào Thái miếu.

Triều thỉnh lang Lương Khoan (梁寬) nói

Đầu niên hiệu Thiệu Thánh, gian thần được đặc tiến; khi ấy không chỉ sĩ phu trong triều đổi mặt a dua, mà kẻ đọc sách chốn thôn dã cũng mang lòng quan sát, dùng thuật tung hoành. Cử nhân Tất Tiệm, khi vào đình thí đối sách, muốn phụ họa thời lưu để mưu thứ hạng cao, lời lẽ không xét nặng nhẹ, làm tổn hại thể thống, lan truyền đến bốn cõi, thiệt hại không nhỏ. Lại như Phương Thiên Nhược đối sách, lấy việc không giết gia quyến các đại thần bị đày về Nam làm điều oán hận, lấy việc không tịch thu gia sản các công khanh Nguyên Hựu làm điều tiếc nuối. Thiên Nhược là kẻ áo vải đất Mân, với các đại thần Nguyên Hựu có thù oán gì! Chỉ vì Thái Biện cầm quyền, muốn trả thù riêng xưa kia. Thiên Nhược là môn sinh của Biện, làm chó săn chim ưng, hầu hạ như tôi tớ, lời lẽ còn điều gì không dám nói! Kính xét khoa chiếu sắp tới không xa, xin giao Bộ Lễ ban hành phép: mỗi khi đình thí, răn cấm thí sinh lập thành pháp, không được cuồng vọng, không trả lời lạc đề. Kẻ vi phạm, lỗi thuộc quan khảo thí, rồi mới bãi truất hạng người ấy, cốt để giảm bớt thói tục xấu.

Liêu chúa mới lên ngôi, liền bãi cấm vi trường. Tống Ngụy quốc vương Hòa La Cát (和囉噶) thỉnh rằng: "Thiên tử tuần hạnh là việc lớn, tuy đang trong thời lương ám, cũng không thể bỏ." Liêu chúa cho là phải, lại sai hữu ty theo đó chuẩn bị tuần hạnh. Tháng 6, ngày Canh Dần mùng 1, Liêu chúa đi đến Khánh châu.

Ngày Mậu Tuất, Liêu lấy Nam phủ Thẩm tướng Ngạch Đặc Lặc (額特勒) kiêm Nam viện Khu mật sứ.

Ngày Canh Tý, nước Liêu dâng tôn thụy Đạo Tông là Nhân Thánh Đại Hiếu Văn Hoàng Đế, truy thụy Ý Đức Hoàng hậu làm Tuyên Ý Hoàng hậu.

Ngày Nhâm Dần, nước Liêu lấy Tống Ngụy quốc vương Hòa La Cát (和囉噶) làm Thiên hạ binh mã Đại nguyên soái.

Ngày Giáp Thìn, giáng Hữu Tư gián Trần Hựu (陳祐) làm Thông phán Trừ châu. Hựu nhiều lần dâng chương hặc Tăng Bố (曾布) từ Sơn lăng về mà không xin ra ngoài, lại nói: "Chức Sơn lăng sứ từ trước vốn bị gọi là hung tướng; thời Trị Bình, Hàn Kỳ và thời Nguyên Phong, Vương Khuê không chịu đi, về sau còn có những điều bề tôi không nỡ nói ra." Lại nói: "Bố có ba điều đáng phải đi: một là sau khi từ sơn lăng trở về; hai là lúc vua còn chưa an táng, mà lại ngồi kiệu đi lại; ba là không nên sớm ban ân cho thuộc quan." Các chương đều để lại trong cung, Hựu bèn dâng nộp Tam Tỉnh, Bố bèn không vào triều, nên có mệnh ấy.

Sau 2 ngày, Tả Gián nghị đại phu Trần Thứ Thăng (陳次升) vào chầu, có dâng tờ sớ cứu Hựu, Hoàng đế không xét. Mà Hữu Tư gián Giang Công Vọng lại nói việc ấy, Hoàng đế nói: "Hựu muốn đuổi Tăng Bố, kéo Lý Thanh Thần làm Tể tướng, như thế sao dung được?" Công Vọng vội nói: "Từ khi bệ hạ chấp chính, đã đổi 3 quan ngôn, đuổi 7 gián thần. Nay Hựu nói lỗi của Tể tướng, là chức phận của ông ấy, sao có thể bảo là có ý khác!"

Trước đó, Tăng Bố rất ghét Lý Thanh Thần vì không theo mình, nhiều lần sai người nói với Giang Công Vọng rằng: chỉ cần nói một lời về Thanh Thần thì sẽ đối đãi bằng chức Gián nghị đại phu. Nhưng lời của Công Vọng lại như trên; về sau, Bành Nhữ Lâm vì bàn việc bãi Thanh Thần mà được chức Gián nghị đại phu, là như vậy.

Ngày Ất Tị, Liêu lấy Bắc Bình quận vương Thuần tiến phong Trịnh vương.

Ngày Đinh Mùi, Bắc viện Khu mật sứ A Tô gia Dụ Duyệt.

Ngày Mậu Thân, phong Hướng Tông Hồi (向宗回) làm Vĩnh Dương quận vương, Hướng Tông Lương (向宗良) làm Vĩnh Gia quận vương.

Nước Liêu lấy Đặc Lý Cổn A Lỗ Tát Cổ (特裡袞阿嚕薩古), Tể tướng Da Luật Nghiễm (耶律儼) tổng quản việc Sơn lăng. Ngày Tân Hợi, táng Nhân Thánh Đại Hiếu Văn Hoàng Đế và Tuyên Ý Hoàng hậu ở Khánh Lăng.

Ngày Mậu Ngọ, Thượng Thư Hữu Thừa Phạm Thuần Lễ (范純禮) bãi làm Tri Dĩnh Xương phủ.

Thuần Lễ đôn hậu, cương nghị, chính trực, Tăng Bố (曾布) sợ ông, kích Phò mã đô úy Vương Sân (王詵) rằng: "Bề trên muốn bổ ông làm Thừa Chỉ, Phạm Hữu Thừa không được." Sân giận. Gặp khi Sân quán đãi Liêu sứ, Thuần Lễ chủ yến, Sân vu rằng ông tự tiện chê tên ngự, bèn bãi truất ông.

Ngày Kỷ Mùi, ban “Đấu Sát Tình Lý Khinh Trọng Cách”.

Tả Tư gián Giang Công Vọng dâng sớ nói

Từ khi Tiên đế có ý kế thuật, mà người phò tá không phải, lấy a dua mình làm đồng, lấy trung với vua làm khác; mượn uy quyền để thỏa tư oán, khiến thiên hạ xao động, Thái Lăng không thể nối trọn cái đẹp của việc kế thừa. Nhân tài thời Nguyên Hựu đều do dư dưỡng của các đời Hy, Phong mà ra; sau khi bị Thiệu Thánh đày giáng, người còn sót lại không bao nhiêu. Thần Khảo và các bề tôi Nguyên Hựu vốn không có thù oán kiểu ‘bắn móc, chém tay áo’; Tiên đế vì tin lời kẻ thù mà bãi họ. Nay bệ hạ nếu dựng Nguyên Hựu làm danh, ắt sẽ có Nguyên Phong, Thiệu Thánh đối lại; có đối thì sinh tranh, tranh thì bè đảng lại lập. Chiếu đổi niên hiệu của bệ hạ cũng nói ‘nghĩ đến việc dựng Hoàng Cực, chỉnh ưa – ghét để tỏ cho người biết, lấy trung hòa làm gốc mà lập chính’. Hoàng thiên hậu thổ thực đã nghe lời ấy; nay nếu đổi khác, thì biết ăn nói sao với Hoàng thiên hậu thổ đây!

Khi ấy nội uyển hơi nuôi chim quý thú lạ, Công Vọng gắng nói không hợp với chính sự ban đầu, Hoàng đế nói: "Đã thả đi rồi." Chỉ có 1 con bạch nhạn, nuôi đã lâu, Hoàng đế cầm gậy đuổi, rốt cuộc không chịu đi, bèn khắc tên Công Vọng lên đầu gậy để ghi nhớ lời can. Gặp khi phủ sử của Thái vương Tự tố cáo lẫn nhau, có lời bất tốn, liên lụy đến vương, Công Vọng xin chớ lấy lời vô căn cứ mà đổ lên người chí thân, bèn bãi Tri Hoài Dương quân.

Mùa thu, tháng 7, ngày Nhâm Tuất, Hoàng đế bảo Tăng Bố: "Nhân tài ở ngoài có người dùng được, hãy ghi tên mà tiến cử." Lại hỏi: "Trương Thương Anh cũng dùng được chăng?" Bố nói: "Bệ hạ muốn giữ thế công bằng, dùng người trung dung, phá bỏ luận điệu bè đảng để điều hòa thiên hạ, ai dám nói là không phải! Nhưng hai phe Nguyên Hựu và Thiệu Thánh đều không nên thiên dùng. Thần trộm nghe Giang Công Vọng vì bệ hạ mà nói rằng: việc ngày nay, bên trái không thể dùng Tô Thức, Tô Triệt; bên phải không thể dùng Thái Kinh, Thái Biện, vì họ ôm tư thù, kình địch lẫn nhau. Xin bệ hạ suy nghĩ chín chắn, đừng để hai phe ấy được đắc thế, thì thiên hạ sẽ yên." Hoàng đế chỉ gật đầu mà thôi.

Em Bố là Hàn lâm học sĩ Triệu, vì tránh hiềm nghi mà ra Tri Trần châu, từng viết thư trách Bố rằng

Anh khác đường với Chương Đôn, mọi người đều biết. Trong khoảng năm Thiệu Thánh, Nguyên Phù, Đôn và Biện hễ có thể chèn ép anh thì không việc gì không làm. Nay anh vừa được Quan gia tin dùng, lẽ ra phải dẫn người thiện, phù trợ chính đạo, để dứt mầm tái khởi của Đôn, Biện; thế mà mấy tháng nay, kẻ đoan chính, sĩ phu lần lượt rời triều, còn những người được tiến dùng làm phụ thần, tòng quan, đài gián đều là kẻ từng theo Đôn, Biện. Một mai thế cuộc đổi khác, họ ắt đầu tiên kéo Đôn, Biện về để giữ địa vị; tai họa của họ Tăng, há tránh được sao! Gần đây ý vua đã đổi, đạo tiểu nhân ngày một thịnh; mai sau Đôn, Biện dẫu chưa đến, chỉ một Thái Kinh cũng đủ kiêm cả hai, nghĩ đến mà lạnh lòng.

Bố không cho là phải, đáp thư Triệu rằng: "Tôi từ Hi Ninh lập triều đến nay, thời sự nhiều lần đổi, chỉ vì không hùa theo Hi Ninh, Nguyên Phong, nên khỏi bị Nguyên Hựu giáng bãi; chỉ vì không phụ hội Nguyên Hựu, nên khỏi bị Thiệu Thánh hãm hại. Tự nghĩ cũng tạm có nghĩa lý, e chưa đến nỗi chuốc họa cho gia tộc đâu."

Ngày Quý Mùi, Chuẩn Bố, Thiết Li tiến cống nước Liêu.

Ngày Đinh Mão, lấy Trứ Tác lang Trần Quán (陳瓘) làm Hữu ti Viên ngoại lang. Quán gắng từ chức Thực Lục Kiểm Thảo quan, theo đó.

Ngày Bính Tuất, Tri Khu mật viện sự An Đảo bãi.

Theo lệ cũ, nội thị đi sứ, phải đem lời chỉ về trình viện, xét thực rồi mới được thi hành; về sau nhiều kẻ tự tiện bỏ qua. An Đạo xin xét trị việc ấy. Đô tri Diêm Thủ Cần kiêm chức khác, xin thôi mà không tâu, An Đạo cũng đàn hặc; vua truyền Thủ Cần đến xin lỗi An Đạo. Hác Tùy mắc tội, có kẻ đoán ý vua sắp dùng lại, muốn dựa ân xá làm bậc thang, An Đạo cũng tranh biện. Vì tuổi già xin tránh chức, bèn ra làm Tri Hà Nam phủ. Trước khi đi, dâng sớ nói: "Họa đảng ở Đông Kinh đã nảy mầm, xin cảnh giác cái mầm ‘dẫm lên sương’." Lời lẽ đặc biệt gay gắt.

Ngày Đinh Hợi, lấy Tưởng Chi Kì làm Tri Khu mật viện sự, Lại bộ Thượng Thư Lục Điền làm Thượng thư Hữu thừa, Đoan Minh điện học sĩ Chương Tiệp làm Đồng tri Khu mật viện sự.

Tháng 8, ngày Giáp Dần, lấy Hữu ti Viên ngoại lang Trần Quán (陳瓘) ra làm Tri Thái châu.

Trước đó Quán tiến lời rằng

Trình tự hữu vi của Thần Tông bắt đầu từ việc chỉnh đốn chính sự; chính sự đã lập thì tài dụng đầy đủ; tài dụng đầy đủ thì gốc rễ vững bền. Đó là lợi ích muôn đời của quốc gia, cũng là điều ngày nay cần tiếp nối. Thần gần đây nhân việc chức sự ở Đô Ty, xét kỹ các tờ chiếu lệnh ban xuống từ nội đình, cắt giảm biên chế và chi phí dư thừa, để ngăn dần việc tăng thuế, lo xa cho dân, thiên hạ rất may mắn. Nhưng kế sách hiện nay của triều đình lại chính vì thiếu tài chính mà lo; biên cương phía tây tuy đã ngừng binh, song chi phí không thể sớm bù đắp, vì thế đi đến chỗ tiêu hao tài lực gốc rễ, làm hỏng chính sách của Thần Khảo, mối họa tăng chức bổng lộc đã manh nha từ đây. Trong phạm vi chức sự của thần, xét theo lẽ không thể im lặng, nên nay soạn xong một bản Quốc Dụng Tu Tri, kính tâu lên.

Lại dâng Nhật lục biện, nói rằng: "Thần Trần Quán năm trước, ngày 18 tháng 5, vào đối ở Điện Tử Thần, dâng tờ tấu nói rằng: ‘Thần nghe Vương An Thạch có sách Nhật Lục hơn 70 quyển, ghi đầy đủ lời tấu đối, nghị luận trong thời Hy Ninh. Đó là sách do bề tôi ghi chép riêng, không phải điển chế của triều đình. Từ khi niên hiệu Thiệu Thánh sửa lại Thần Khảo Thực Lục, sử quan xin giao sách này cho Sử viện. Phàm những điều Nhật Lục, Thời Chính Ký, Thần Tông Ngự Tập không chép, thường chỉ căn cứ vào sách này mà truy nghị việc thưởng phạt, cho đến công đức của tông miếu, đều quy về bề tôi. Vì vậy thần xin ban chiếu cho sử quan sửa riêng, cắt bỏ chỗ không hợp, để thành điển chương không thể sửa đổi của một đời.’ Hôm ấy được phê giao cho Tam Tỉnh, về sau không nghe thi hành. Sở dĩ sử quan thời Thiệu Thánh xin giao Nhật Lục cho Sử viện, nay đều là vì đang giữ chức tể tướng, sự trái lẽ không gì lớn hơn thế. Thần nhân những điều mắt thấy, soạn thành một thiên Nhật Lục Biện, trình bày đầy đủ để tâu lên."

Hôm ấy, Trần Quán cùng Tả ty Viên ngoại lang Chu Ngạn Chu đến Đô đường yết kiến Tăng Bố, lấy thư trách Bố rằng: "Trọng sử riêng mà chán bỏ tông miếu, vì chi phí biên giới mà làm hỏng chính sách cũ, đó là lỗi của ngài. Trái chí của Thần Khảo, phá việc của Thần Khảo, nằm ở hai điều này, vậy mà ngài che đậy vá víu, người đời chưa dám bàn. Mai sau, Chúa thượng vì hai việc này mà hỏi ngài về đạo kế thừa, ngài sẽ lấy lời gì để đối đáp? Ngài từng có ơn tiến cử với Quán, Quán không dám phụ; vì thế mới luận cát hung, dâng lời ‘tiên giáp’, mong có ích cho ngài. Nếu ngài không xét tấm lòng ấy mà khước từ không nhận, thì lời hôm nay gọi là phụ ơn cũng được." Tăng Bố đọc xong thư của Trần Quán, tranh biện hồi lâu. Trần Quán sắc mặt không đổi, từ tốn đứng dậy nói: "Điều vừa bàn là quốc sự, phải trái có công luận, ngài không nên vội đánh mất lễ đãi kẻ sĩ." Quán lại đem Nhật Lục Biện, Quốc Dụng Tu Tri nộp cho Bố rồi lui ra.

Hôm sau, Quán liền đem hai thiên ấy cùng thư gửi Tăng Bố, làm tờ trạng trình lên Tam tỉnh và Ngự sử đài, xin tâu bày để đàn hặc. Tam tỉnh dâng lên, Hoàng đế ngoảnh hỏi Tăng Bố: "Như thế là báo ơn đó sao?" Bố nói: "Thần vào đầu niên hiệu Thiệu Thánh, ở Sử viện chưa đầy 2 tháng, thấy Thực Lục do thời Nguyên Hựu tu sửa, trong đó Tư Mã Quang Nhật Ký, Tạp Lục, hoặc lấy từ truyền văn, hoặc lấy từ khách tân; còn Vương An Thạch có Nhật Lục, đều là lời quân thần đối diện trao đổi nhiều lần, nên xin giao cho Sử viện để đối chiếu biên tu, đó là luận điểm chí công. Sau này việc sửa lại Thực Lục thời Thiệu Thánh là do Chương Đôn và Thái Biện, nay người coi Sử viện là Hàn Trung Ngạn. Trần Quán nói thần trọng sử riêng, chán tông miếu, thần không rõ là ý gì. Thần Tông lo việc tài chính, tuy nhiều năm dụng binh mà kho phủ nơi nơi đều đầy; đến thời Nguyên Hựu, tiêu tán vô lý, có ra mà không vào, nên kho tàng trống rỗng. Nay nói thần làm hỏng kế sách gốc rễ 30 năm, e rằng chưa công bằng." Hoàng đế nói: "Khanh một mực dẫn Quán, lại muốn bổ làm tả hữu sứ mà trẫm không cho. Hôm nay thế nào?" Bố hổ thẹn tạ. Mà bọn Hàn Trung Ngạn nói: "Quán tất muốn đi, nên cho 1 quận." Hoàng đế lệnh trách Quán, Trung Ngạn và Lục Điền đều nói: "Quán nói thật quá đáng, Tăng Bố lại có thể dung Quán." Bèn cho ra Tri Thái châu.

Bố ban đầu muốn Quán theo mình, sai người chiêu dụ, hứa sẽ trọng dụng; Quán nói với con là Chính Hối rằng: "Tao với Thừa tướng bàn nhiều điều không hợp, nay lại muốn lấy quan chức mà làm mồi nhử. Tao có 1 thư để lại Thừa tướng, mày hãy vì tao mà viết." Chính Hối lạy 2 lạy, xin được viết. Quán mừng, sáng cầm vào tỉnh, vừa ngồi vào chỗ, liền đưa thư ra. Bố giận lắm, qua 2 đêm, có mệnh Hải Lăng. Trung thư xá nhân Trâu Hạo (鄒浩), Hữu Gián nghị đại phu Trần Thứ Thăng (陳次升) đều xin giữ Quán, không theo.

Liêu chúa yết Khánh Lăng.

Tháng 9, ngày Kỷ Tị, có chiếu: "“Các lộ Chuyển vận ty, Đề cử ty, cùng các châu, quân nếu còn lợi ích bị bỏ sót có thể khảo xét, hoặc có nhân viên dư thừa, chi phí nổi trội cần cắt giảm, thì phải bàn xét kỹ lưỡng rồi tâu lên."

Ngày Nhâm Thân, Liêu chúa yết Hoài lăng.

Ngày Ất Hợi, Liêu chúa đi đến Ngẫu Ti điện.

Mùa đông, tháng 10, ngày Nhâm Thìn, Liêu chúa yết Càn lăng.

Ngày Quý Tị, Môn hạ thị lang Lý Thanh Thần bãi làm Tư Chánh điện Đại học sĩ, Tri Đại Danh phủ.

Ngày Giáp Thìn, Liêu chúa dâng thụy cho cha là Chiêu Hoài thái tử, thụy là Đại Hiếu Thuận Thánh Hoàng Đế, miếu hiệu Thuận Tông; mẹ là Tiêu thị là Trinh Thuận hoàng hậu. Liền truy tặng Tiêu Nham Thọ làm Đồng Trung thư Môn hạ Bình chương sự, Da Luật Tát Lạt, Da Luật Thác Bốc Gia đều truy phong Tất Thủy quận vương, Tiêu Tô Tát, Tiêu Thác Bốc Gia đều truy phong Lan Lăng quận vương; 5 người đều vẽ tượng đặt ở điện Nghi Phúc. Lại truy tặng Tiêu Hòa Khắc làm Long Hổ Vệ Thượng tướng quân. Trước đó Da Luật Thực Liệt vì theo Thái tử mà bị lưu đày ra Trấn châu, đến đây gọi về làm Ngự sử trung thừa.

Liêu chúa tuy truy tôn Thuận Tông, rốt cuộc không ai biết chỗ chôn ở đâu, Liêu chúa cũng không gấp tìm, về sau bèn không dựng lăng tẩm.

Tháng 11, ngày Canh Thân, lấy Lục Điền làm Thượng thư tả thừa, Lại Bộ Thượng Thư Ôn Ích làm Thượng Thư Hữu Thừa.

Ích ban đầu làm Tri Đàm châu, Trâu Hạo (鄒浩) bị đày Nam đi qua Đàm, chiều tối, vào trọ chùa thôn, Ích liền sai châu Đô Giám đem vài lính đêm ra khỏi thành, ép khiến lên thuyền, rốt cuộc lướt gió vượt sông mà đi. Các kẻ bị đuổi khác ở trong địa giới của ông, như bọn Phạm Thuần Nhân (范純仁), Lưu Phụng Thế (劉奉世), Hàn Xuyên (韓川), Lữ Hi Thuần, Lữ Đào, phần nhiều bị ông xâm nhiễu khốn bức; kẻ dùng việc vui lòng về ông.

Ngày Nhâm Tuất, lấy người Tây Phiên là Tích La Tát Lặc làm Tây Bình quân Tiết độ sứ, kiêm thủ lĩnh Mạc Xuyên.

Ngày Tân Mùi, ban ra nhạc chương ngự chế dùng cho lễ thân tế Nam Giao.

Ngày Canh Thìn, tế Trời Đất ở Viên Khâu, đại xá thiên hạ. Đổi Chương Tín Quân làm Hưng Nhân Quân, Chiêu Đức Quân làm Long Đức Quân. Đổi ngày đầu năm sang năm sau lấy niên hiệu là Sùng Nịnh, giao cho Tăng Bố chủ việc Thiệu thuật, theo lời thỉnh cầu của ông ta vậy.

Ngày Nhâm Ngọ, Tam tỉnh tâu việc xong, Tăng Bố một mình ở lại, dâng trình nội giáng: bức “Ái Mạc Trợ Chi Đồ” do Khởi cư lang Đặng Tuân Vũ (鄧洵武) dâng lên; lời thuyết của bức đồ cho rằng bệ hạ đang Thiệu thuật chí hướng của bề trên, mà quần thần không có ai trợ giúp. Bức đồ ấy theo lệ niên biểu trong sử thư, từ Tể tướng, Chấp chính, Thị tòng, Đài gián, Lang quan, Quán các, Học hiệu chia làm 7 ngăn; mỗi ngăn thông nhau ở bên cạnh; bên trái đề “Thiệu thuật”, bên phải đề “Nguyên Hựu”. Bên trái liệt người giúp Thiệu thuật, trong hàng Chấp chính chỉ có một mình Ôn Ích, còn lại mỗi ngăn chỉ 3–4 người, như bọn Triệu Đĩnh Chi (趙挺之), Phạm Trí Hư (范致虛), Vương Năng Phủ, Tiền Dật (錢遹) mà thôi. Bên phải liệt cả triều đều ở trong đó, đến hơn 100 người. Lại ở bên trái riêng lập một mục, dán tờ nhỏ, gỡ bỏ đi. Tăng Bố kín tâu việc gỡ bỏ tên các bề tôi, Hoàng đế nói: "Tuân Vũ nói không có Tể tướng Thái Kinh thì không được; vì không cùng phe với khanh, nên gỡ bỏ hắn." Tăng Bố nói: "Điều Tuân Vũ trình bày đã khác với điều thần thấy, thần sao dám cùng bàn." Hôm sau, bèn đổi giao cho Ôn Ích. Ôn Ích vui vẻ phụng hành, xin ghi sổ những người có dị luận; vì thế Hoàng đế quyết ý dùng Thái Kinh vậy.

Tháng 12, ngày Mậu Tý, nước Liêu lấy Khu mật Phó sứ Trương Lâm tri Khu mật viện sự, Hàn lâm học sĩ Trương Phụng Khuê làm Tham tri chính sự kiêm đồng tri Khu mật viện sự.

Tri Khu mật viện sứ nước Liêu là Việt quốc công Da Luật Nghiễm (耶律儼) dời phong làm Tần quốc công.

Da Luật Nghiễm (耶律儼) nhờ nịnh hót mà được Đạo Tông tin dùng; đến khi Liêu chúa lên ngôi, anh của Nguyên phi là Tiêu Phụng Tiên được Liêu chúa ưu ái, Da Luật Nghiễm (耶律儼) vốn kết giao với Phụng Tiên, lại càng lo việc a dua lấy lòng, Liêu chúa lại càng tín nhiệm. Từng có hiềm khích với Ngưu Ôn Thư, mỗi bên tiến cử người thân cận, bè đảng rối ren. Nghiễm cậy Tiêu Phụng Tiên làm chỗ dựa trong cung, Ngưu Ôn Thư không thể chống lại.

Ngày Canh Dần, lấy tri Hồng châu Diệp Tổ Hiệp làm Bảo Văn Các Đãi chế, thay Lữ Hi Thuần tri Dĩnh châu; Lữ Hi Thuần đổi tri Dĩnh Chương phủ. Hoàng đế cho rằng các soái ở Hà Sóc đều là người Nguyên Hựu, muốn đổi hết, nên Hi Thuần, Tổ Hiệp có mệnh ấy, đều do Tăng Bố thỉnh xin. Ban đầu Tăng Bố định triệu Tổ Hiệp làm Thị lang, Hoàng đế cho phép; Hàn Trung Ngạn cho là không được, bèn thôi.

Trước đó, những người từng bị giáng trách đều được ban chỉ nhờ ân xá mà khôi phục, chỉ riêng các tấu trình do Chương Đôn và Tô Triệt dâng thì không được thi hành. Con của Chương Đôn là Viện lấy kim chích máu dâng thư; Hoàng đế niêm phong thư của Viện giao cho Tăng Bố. Bố muốn giữ lại không tâu, nhưng không thành. Không bao lâu sau, người lo việc cho Đôn là Tăng Đản mang thư dài đến trao cho Bố, lại kèm một bản tấu, nêu 10 điều, trong đó có 4 điều nói rằng Chương Đôn có công với quốc gia, việc giáng trách quá nặng, nên thu dụng lại; lời lẽ phần nhiều là cuồng vọng. Hôm ấy, khi dâng thư của Viện, Hoàng đế khá khen lòng hiếu thảo, có ý thương xót. Tăng Bố xin tạm cho Chương Đôn chuyển đi một châu gần vùng Quảng Nam, Hoàng đế chấp thuận. Lại đem những điều Tăng Đản trình lên, Hoàng đế nói: "Phải cho bãi chức, biên quản." Sau đó Hàn Trung Ngạn xem thấy, nổi giận, xin xóa tên, đày đi Hồ Nam, triều đình thuận theo. Chương Đôn vì thế cũng không được chuyển về nội địa.

Tả bộc xạ Hàn Trung Ngạn bất đồng ý kiến với Tăng Bố, Bố nhiều lần tìm cách lấn át. Trung Ngạn nhiều lần xin bãi chức tể tướng nhưng không được chấp nhận. Ngày Giáp Ngọ, ra ở Đông Phủ, có chiếu bắt áp giải vào triều.

Ngày Mậu Tuất, Thái Kinh đang làm Đề cử Đỗng Tiêu cung, được phục Long Đồ các Trực học sĩ, tri Định châu.

Cung phụng quan Đồng Quán, người Khai Phong, tính khéo nịnh hót, giỏi đoán ý chỉ kín đáo của chúa, thường lo trước mà thuận theo, nên được sủng tín. Bèn sai đi Tam Ngô, tìm sách tranh kỳ xảo, ở lại Hàng châu nhiều tháng; Thái Kinh giao du với ông ta, không rời ngày đêm; phàm các thứ bình phong, quạt, đai do Thái Kinh vẽ, Đồng Quán ngày ngày đem vào cấm trung, lại kèm lời bàn tâu với Hoàng đế, do đó Hoàng đế để ý dùng Thái Kinh. Đạo lục Tả giai là Từ Tri Thường ra vào chỗ Nguyên Phù hoàng hậu, dùng bùa nước; Thái Học bác sĩ Phạm Trí Hư giao hảo với hắn, nhân đó tiến cử rằng Thái Kinh có tài làm Tể tướng. Từ Tri Thường vào cung nói việc ấy, rồi cung thiếp, hoạn quan cùng lời khen ngợi, bèn khởi dùng Thái Kinh làm tri Định châu.

Ngày Tân Sửu, lấy tri Tùy châu là Trương Thương Anh quyền Hộ bộ thị lang, chẳng bao lâu đổi sang Lại bộ.

Ngày Nhâm Dần, tri Trừ châu Phạm Thang được phục chức, tri Thiền châu. Thiếu phủ thiếu giám Hình Thứ, Quang Lộc thiếu khanh Lữ Gia Vấn, Tư nông thiếu khanh Lộ Xương Hành, đều bị phân ti; Hình Thứ tri Tùy châu, Lữ Gia Vấn tri Kì châu, Lộ Xương Hành tri Trừ châu. Thả cho người về vườn là An Đôn, Kiển Tự Thần, đều cho làm tán quan, ban từ. Thông Nghị Đại Phu Lâm Hi được truy phục Tư Chánh Điện Học Sĩ. Chẳng bao lâu lại có chiếu cho Thái Biện phục quan, ban từ.

Ngày Ất Tị, Liêu chúa xuống chiếu: "Việc đã thi hành dưới triều trước, không được trình cáo." Khi ấy đang trị đảng của Da Luật Y Tốn; đảng ấy phần nhiều đút lót quyền quý để cầu khoan miễn, Liêu chúa không ngộ, mà hạ chiếu này.

Ngày Bính Ngọ, phụng an thần ngự Thần Tông tại Cảnh Linh Tây Cung; ngày Đinh Mùi, đến cung hành lễ.

Ngày Kỷ Dậu, ban đức âm ở Tây Kinh, giảm tội tù 1 bậc, đồ trở xuống thì thả.

Ngày Quý Sửu, xuống chiếu: "Con cháu ruột của Chương Đôn được phép ở ngoài triều nhận sai phái chỉ định, không được tự tiện đến kinh sư và dâng chương sớ." Đó là theo lời Tăng Bố thỉnh cầu vậy.

Chánh Tự Bí thư tỉnh là Trần Sư Đạo (陳師道), tính tình cô cao cứng cỏi; là thông gia với Triệu Đĩnh Chi (趙挺之), nhưng vốn ghét con người ấy. Đúng lúc dự lễ tế Giao, trời rất lạnh, áo không có bông; vợ ông ta đến nhà Triệu Đĩnh Chi vay; Trần Sư Đạo hỏi lấy từ đâu, bèn trả lại, không chịu mặc, rồi mắc bệnh cảm lạnh; ngày Ất Mão, mất.

Năm ấy, vì tu sửa phụng sự Cảnh Linh Tây Cung, hạ lệnh cho 2 châu Tô và Hồ khai lấy đá Thái Hồ 4.600 viên.

Hà Đông động đất, kinh kỳ châu chấu, Lưỡng Chiết, Hồ Nam, Phúc Kiến hạn hán.

Năm Sùng Ninh thứ 1 (Liêu, năm Càn Thống thứ 2), Công nguyên năm 1102

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Đinh Sửu, Hà Đông, Đại Nguyên v.v. các quận động đất; xuống chiếu ban tiền cho nhà có người chết, sai biệt khác nhau.

Liêu chúa đi đến Áp Tử hà.

Tháng 2, ngày Bính Tuất mùng 1, vì Thánh Thụy Hoàng thái phi bệnh, xét giảm tội tù.

Ngày Tân Mão, Liêu chúa đi đến Xuân châu.

Ngày Giáp Ngọ, Hoàng thái tử Đản đổi tên là Huyên.

Lấy Thái Xác phối hưởng ở miếu Triết Tông.

Ngày Bính Thân, Hùng châu Phòng ngự thôi quan, tri Đặng châu Lục sự tham quân Chu Quăng (朱肱) tâu rằng: "Bệ hạ từ khi lên ngôi đến nay, 2 lần nhật thực, đều vào tháng chính dương; Hà Đông 11 quận động đất, đến nay chưa dứt, dân bị chấn chết, động đến hàng nghìn. Từ xưa tai dị, chưa từng có như thế. Thần không tránh chết, liều nêu lỗi của bậc phụ bật để xét ứng nghiệm của tai dị, lời lẽ kích thiết, chết cũng còn tội. Nhưng lòng trung cô quạnh, không dám im lặng, là vì ăn lộc của bệ hạ, nghĩ đến cái trọng của quốc gia, mà không dám lo cho tư mình." Lại đem thư dâng Tể tướng Tăng Bố kèm theo. Thư rằng:"Nay Giám sát Ngự sử Lưu Đảo, là môn nhân của tướng công. Tướng công làm Sơn lăng sứ, vời Lưu Đảo chưởng tiên biểu, lại tiến cử vào quán, tướng công đối với Lưu Đảo hậu lắm. Người như Lưu Đảo, đặt ở Từ Dịch, không thẹn; lấy Lưu Đảo làm Ngự sử thì không được. Tướng công có việc làm sai, Lưu Đảo chịu nói chăng? Nói thì quên ơn, không nói thì dối vua, đó không phải cách đặt Lưu Đảo. Nay Hữu Chánh Ngôn Phạm Trí Hư, anh là Thượng xá sinh Trí Quân, là cháu rể của tướng công. Phạm Trí Hư là em ruột của Trí Quân; người như Phạm Trí Hư, đặt ở Quán các, không thẹn; lấy Phạm Trí Hư làm Gián quan thì không được. Tướng công có việc làm sai, Phạm Trí Hư tranh thì trái thân, không tranh thì mất chức, cũng không phải cách đặt Phạm Trí Hư. Tướng công bên cạnh chiêu nạp tuấn kiệt, đào luyện thiên hạ, điều Chu Quăng bàn, chỉ đến Lưu Đảo và Phạm Trí Hư, là vì Đài gián là quan tai mắt của người Chúa, không như trăm chức có thể lược mà không bàn. Tướng công lấy môn nhân, thân thích làm Gián quan, Ngự sử, ấy là vì thế mà mặt trời mặt trăng bị bào thực, Trời Đất vì thế mà chấn động." Lại nói: "Tội ác của Chương Đôn không thể kể hết, lớn nhất có 4–5 điều. Tướng công ở Khu mật Phủ, ngồi nhìn im lặng, cũng không thể nói là không lỗi. Lại giáng các bề tôi Nguyên Hựu, Phạm Thuần Nhân có thể nói, tướng công chưa từng cứu; phế Nguyên Hựu Hoàng hậu, Cung Quái có thể nói, tướng công chưa từng cứu; đặt Gián quan vào chỗ chết, Hoàng Lý có thể nói, tướng công chưa từng cứu; sách lập Nguyên Phù Hoàng hậu, Trâu Hạo có thể nói, tướng công chưa từng cứu. 4–5 việc ấy, tội ác của Chương Đôn là lớn nhất, mà tướng công không nửa lời giúp, Chu Quăng trộm nghi. Cúi mong tướng công gặp tai mà sợ, rồi mới có thể dẹp thiên biến, đến lời thẳng. Điều nhỏ mọn Chu Quăng trông ở tướng công, chỉ như thế mà thôi." Có chiếu giao cho Tam tỉnh. Chu Quăng là người Ô Trình, em họ của Lễ bộ Thị lang Phục Chi.

Ngày Mậu Tuất, xuống chiếu: "Những kẻ sĩ có lòng ôm giữ đạo đức, lâu ngày chìm ở hàng dưới; hoặc học vấn và hạnh kiểm đều đầy đủ, có thể khích lệ phong tục, thì từ Đãi chế trở lên, mỗi người đều phải tiến cử 2 người mà mình biết."

Phụng Nghị Lang Triệu Thẩm mưu phản, bị xử tử.

Ngày Tân Sửu, lấy Thái Kinh tri Định châu làm Đoan Minh Điện Học Sĩ, tri Đại Danh Phủ; Thái Biện đổi tri Dương châu.

Trước đó, Đại Danh khuyết chức chủ soái, Tăng Bố tâu riêng với Hoàng đế rằng trong các đại thần từng giữ chức ở Lưỡng Phủ, chỉ còn Lưu Phụng Thế; Hoàng đế im lặng. Hàn Trung Ngạn bất hòa với Tăng Bố, ngầm muốn kết giao với Thái Kinh, bèn viện dẫn tiền lệ thời Hy Ninh, cho rằng từng có trường hợp bổ Học sĩ mà không nhất thiết phải qua Lưỡng phủ, nhân đó xin dùng Thái Kinh, vì vậy mới có mệnh lệnh này.

Thánh Thụy Hoàng thái phi Chu thị mất, truy tôn làm Hoàng thái hậu, dâng thụy là Khâm Thành.

Truy phong Khổng Lý làm Tứ Thủy hầu, Khổng Cấp làm Nghi Thủy hầu.

Tháng 3, ngày Đinh Tị, phụng an thần ngự Triết Tông tại Cảnh Linh Tây Cung Bảo Khánh Điện; ngày Mậu Ngọ, đến cung hành lễ.

Ngày Tân Dậu, lấy Binh bộ Thị lang Trâu Hạo làm Bảo Văn Các Đãi chế, tri Giang Lăng Phủ, vì Trâu Hạo xin bổ ra ngoài; chẳng bao lâu đổi tri Hàng châu.

Ngày Giáp Tuất, lấy tri Đại Danh phủ Thái Kinh làm Hàn lâm học sĩ Thừa chỉ, kiêm tu Quốc sử.

Tháng ấy, nước Liêu rét đậm, băng lại đóng.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Bính Tuất, xuống chiếu cho Trương Thương Anh quyền Lại bộ thị lang, bỏ chữ “quyền”.

Liêu chúa sai Bắc viện Khu mật sứ Da Luật A Tô (耶律阿蘇), Đồng tri Bắc viện Khu mật Tiêu Đức Lặc Đại trị đảng Da Luật Y Tốn; hữu ti lơ là, không ai để ý, lâu rồi mới lập án. Ngày Tân Hợi, ra lệnh giết đảng của Y Tốn, dời con cháu chúng ra biên; đào mộ Y Tốn, Trương Hiếu Kiệt, Tiêu Đức Lý Đặc, Tiêu Tích Sa, bổ quan chém thây, rồi đem gia thuộc của chúng chia ban cho nhà những người bị giết.

Khi ấy A Tô nhận hối lộ, phần nhiều bịa tội cho bọn gian đảng; Đức Lặc Đại không chế được, cũng hùa theo. Tiêu Đạt Hòa Khắc thân hại Thái tử, cũng nhờ hối lộ mà được miễn. Ngự sử Trung thừa Da Luật Thực Lặc (耶律實埒) dâng thư rằng

Thần trước kia bị gian thần hãm hại, bị đày ra biên quận, nay may mắn được triệu dụng, không dám im lặng. Thưởng phạt minh bạch thì người hiền được khuyến khích, hình phạt thỏa đáng thì kẻ gian tự tiêu tan; hai điều ấy cùng thực hiện thì thiên hạ không cần lao lực mà vẫn trị. Thần kính thấy Da Luật Y Tốn, xuất thân hèn kém mà giữ địa vị then chốt, lạm quyền làm ác, không sao kể xiết; che lấp sự sáng suốt của Tiên đế, vu hãm Thuận Thánh, dựng hại trung trực, làm bại hoại quốc gia, coi thường bề trên—xưa nay chưa từng có. Nhờ phúc của tông miếu xã tắc, bệ hạ nối nghiệp lớn; oan khuất nhiều năm, một sớm được rửa sạch—đó là lúc bệ hạ quyết đoán anh minh để thành tựu đạo hiếu. Như Tiêu Đức Lý Đặc vốn là đảng của Y Tốn, Da Luật Ha Lỗ cũng không sớm biện minh; nhờ minh xét của bệ hạ, cuối cùng mới định tội. Thần thấy bệ hạ đa nghi, nên quan hữu trách do dự, ngó chừng, không quyết liệt tra hỏi. Y Tốn khi ở triều Tiên đế, quyền sủng vô song; nếu Tiên đế thực sự coi án của Thuận khảo là đúng, thì Y Tốn đã là công thần—bệ hạ há có thể lập được ư! Tiên đế truất bỏ sủng hậu, chiếu để bệ hạ ở bên cạnh, ấy cũng là hối cải lỗi trước. Nay linh cốt còn chưa tìm được, mà việc tìm kiếm lại không gấp gáp. Sách nói: ‘Đức của bậc Thánh không gì hơn hiếu.’ Xưa Đường Đức Tông vì loạn lạc mất mẹ, nhớ thương bi ai, đạo hiếu càng rạng. Chu công giết Phi Liêm, Ác Lai, thiên hạ đều vui. Nay nghịch đảng chưa trừ, đại oan chưa báo, trên không thể an ủi anh linh Thuận khảo, dưới không thể giải nỗi phẫn uất của thiên hạ; oán khí kết tụ, sinh ra lụt hạn làm tai. Xin bệ hạ hạ minh chiếu, tìm nơi an táng của Thuận Khảo, thu trọn gian đảng để chỉnh đốn bang hiến, làm thỏa lòng trung nghĩa bốn phương, nêu rõ phép thưởng phạt của quốc gia; rồi thì đạo trị mới có thể thi hành. Thần kính chép riêng việc Thuận Thánh băng hà cùng các việc của Y Tốn dâng lên, liều chết tâu bày.

Thư dâng lên, không được đáp.

Tháng 5, ngày Đinh Tị, sao Huỳnh Hoặc vào Đẩu.

Ngày Canh Thân, Thượng thư Hữu bộc xạ Hàn Trung Ngạn bị bãi. Trung Ngạn làm Tể tướng, gọi về người bị lưu đày, tiến dùng sĩ trung trực, nên Trương Đình Kiên, Trần Quán, Trâu Hạo, Cung Quái, Giang Công Vọng, Thường An Dân, Nhậm Bá Vũ, Trần Thứ Thăng, Trần Quân Tích, Trương Thuấn Dân đều ở Đài gián, đều khen là được người; nhưng không hợp với Tăng Bố. Đến đây, Tả Tư gián Ngô Tài, Hữu chánh ngôn Vương Năng Phủ theo ý Tăng Bố, luận Trung Ngạn biến đổi pháp độ của Thần Tông, đuổi người tài của Thần Tông, bèn cho ra làm Quan Văn điện Đại học sĩ, xuất tri Đại Danh phủ.

Ngày Ất Sửu, bề tôi dâng lời rằng: "Thần khảo tại vị 19 năm, mọi pháp độ đều căn bản ở tiên vương. Đến thời Nguyên Hựu, đảng người cầm quyền làm rối loạn gần hết; bè gian coi thường bề trên, kẻ khởi xướng, kẻ hùa theo, đều là tội nhân của Thần khảo. Đến Thiệu Thánh truy xét, tuy đã đày đuổi; bệ hạ lên ngôi, lấy nhân đức dung dưỡng, cho họ tự mới, bỗng dưng kéo phục không theo tiệm tiến, trong ngoài hưởng ứng, dần dần lan rộng, gây hại càng lớn. Nay tên họ gian đảng đều đủ, hồ sơ rất rõ: có kẻ bàn luật, kẻ thi hành, kẻ xướng, kẻ hòa theo; tội có nặng nhẹ, tình có sâu cạn. Xin giao quan hữu trách phân tích, xử trí, để mỗi người chịu đúng tội, vài ngày là xong. Cúi mong sớm ban thi hành."

Có chiếu: "Tri Hà Nam ohủ An Đảo, tri Nhuận châu Vương Địch, tri Việt châu Phong Tắc, tri Dĩnh Xương Phủ Trần Thứ Thăng, đều đoạt chức; tri Ứng Thiên ohủ Lữ Trọng Phủ, lạc chức; cố Tư Chánh Điện học sĩ Lý Thanh Thần, đoạt chức và thu hồi các chức truy tặng và ân lệ ngoại lệ đã hưởng."

Trương Thương Anh từ Lại bộ Thị lang đổi làm Hình bộ Thị lang kiêm đồng tu Quốc sử; chẳng bao lâu lại kiêm Thị độc.

Ngày Canh Ngọ, bề tôi dâng lời rằng: "Triều trước giáng phế Tư Mã Quang cùng những người khác vì dị nghị hại chính, đã cáo dụ trong ngoài, thiên hạ đều biết. Lúc bệ hạ vừa lên ngôi, chưa kịp nắm trọn muôn việc, các bề tôi đương quyền không giữ công tâm, không rà xét sự trạng, trình bày đầy đủ, mà lần lượt kéo phục; nay lại chiêu mời dư luận, khiến việc càng phiền nhiễu. Cúi mong bệ hạ minh dụ các đại thần chấp chính, cùng bàn công khai, cân nhắc sự thể, xét nặng nhẹ của tình, định lớn nhỏ của tội, dâng lên xin Thánh quyết, đặc biệt ban xử trí. Ai hiển nhiên có thực tích dối Chúa hại nước, thì nên bỏ, không đáng cứu; còn kẻ liên lụy, cố chấp ý kiến vụng dại, tình không gian trá, xin theo ân rộng những năm gần đây, cho đường tự tân, thì khí thế thiên hạ sẽ yên, lời bàn tán sẽ dứt."

Ngày Ất Hợi, xuống chiếu: "Cố truy phục Thái tử Thái bảo Tư Mã Quang, Lữ Công Trứ, Thái sư Văn Ngạn Bác, Quang lộc Đại phu Lữ Đại Phòng, Thái trung Đại phu Lưu Chí, Hữu trung Tán đại phu Lương Đảo, Triêu Phụng Lang Vương Nham Tẩu, Tô Thức, mỗi người theo mức mà cắt giảm, truy phục 1 quan; các cáo sắc truy phục trước đây đều phải nộp lại. Vương Tồn, Trịnh Ung, Phó Nghiêu Du, Triệu Chiêm, Triệu Tuệ, Tôn Thăng, Khổng Văn Trọng, Chu Quang Đình, Tần Quan, Trương Mậu Tắc, Phạm Thuần Nhân, Hàn Duy, Tô Triệt, Phạm Thuần Túy, Ngô An Thi, Phạm Thuần Lễ, Trần Thứ Thăng, Hàn Xuyên, Trương Lỗi, Lữ Hi Triết, Lưu Đường Lão, Âu Dương Phỉ, Khổng Bình Trọng, Tất Trọng Du, Từ Thường, Hoàng Đình Kiên, Triều Bổ Chi, Hàn Kì, Vương Củng, Lưu Đương Thì, Thường An Dân, Vương Ẩn, Trương Bảo, Uông Diễn, Dư Sảng, Thang Vực, Trịnh Hiệp, Thường Lập, Trình Di, Trương Tốn v.v. 40 người, xử trí nhẹ nặng có sai. Chỉ Tôn Cố là người Thần Tông khi còn ở tiềm để, đã phục chức danh và quan tặng, được miễn truy đoạt. Nhậm Bá Vũ, Trần Hựu, Trương Đình Kiên, Thương Ỷ v.v., đều giao Lại Bộ, cho ở ngoài chỉ xạ sai khiển. Trần Quán, Cung Quái đều ban từ." Lời trách Tư Mã Quang v.v. đều do Tăng Bố thảo định. Lại có chiếu: "Phàm người bị trách giáng từ Nguyên Hựu đến nay và cuối Nguyên Phù, mà Hàn Trung Ngạn từng làm Tể thần, An Đảo là tiền Chấp chính, Vương Địch, Phong Tắc hiện là Thị tòng ở ngoài, cùng Tô Triệt, Phạm Thuần Lễ, Lưu Phụng Thế v.v. 57 người, đều lệnh Tam tỉnh ghi sổ, không được cho sai khiển ở kinh."

Hậu uyển muốn tăng sửa điện vũ, nội thị có người xin dùng kim bạc để trang sức, tính dùng 56 vạn 7000; Hoàng đế nói: "Dùng vàng làm bạc để trang sức đất gỗ, một khi hư thì không thể thu lại, rất vô vị." Có chiếu bãi truất.

Ngày Bính Tý, xuống chiếu: "Phàm từ Nguyên Hựu đến nay và cuối Nguyên Phù, chưa từng vì bè đảng phụ hội mà mắc tội, trừ những việc đã thi hành, từ nay về sau, hết thảy tha mà không hỏi; người ở chức ngôn trách cũng chớ lại tự tiện nói."

Ngày Kỷ Mão, Thượng thư Tả thừa Lục Điền bị bãi. Lục Điền chấp chính, cùng Tăng Bố kết, mà giữ luận nhiều gần khoan; thường muốn tham dùng nhân tài Nguyên Hựu, lại đặc biệt ghét chạy chọt; từng nói: "Thiên hạ nhiều việc, cần dùng người không theo thứ bậc. Lúc yên ổn, nhân tài không cách xa lớn, nên theo tư lịch mà tiến, chậm lại một chút, thì sĩ biết tự trọng." Lại nói: "Thế thiên hạ ngày nay như người bệnh nặng sắp khỏi, nên dùng thuốc mồi mà phụ dưỡng, đợi cho bình an. Nếu vì việc nhỏ mà đổi làm, là khiến nó cưỡi bắn vậy." Triều nghị muốn đổi để răn trị dư đảng Nguyên Hựu, Lục Điền nói không nên cùng trị. Có người nói tên Lục Điền ở trong đảng tịch, không muốn cùng trị, chính sợ tự đến mình; bèn cho ra tri Định châu.

Ngày Canh Thìn, lấy Hứa Tướng làm Môn hạ Thị lang, Ôn Ích làm Trung thư Thị lang, Hàn lâm học sĩ Thừa chỉ Thái Kinh làm Thượng thư Tả thừa, Lại Bộ Thượng thư Triệu Đĩnh Chi (趙挺之) làm Thượng thư Hữu thừa.

Thái Kinh vốn thân với Tôn Cao là Tồn điền Viên ngoại lang; Tôn Cao từng nói: "Họ Thái là người quý, nhưng tài không thắng đức, e để lại lo cho thiên hạ." Đến đây, Thái Kinh nói với Tôn Cao: "Ta nếu được dùng bởi Thiên tử, mong giúp ta." Tôn Cao nói: "Công nếu thật có thể cẩn giữ pháp của tổ tông, lấy chính luận mà giúp người Chúa, lấy tiết kiệm mà làm đầu cho trăm quan, và tuyệt miệng không nói việc binh, thì thiên hạ may lắm." Thái Kinh im lặng.

Triệu Đĩnh Chi (趙挺之) làm Trung thừa, cùng Tăng Bố kết, kiến nghị Thiệu thuật, bài kích các hiền Nguyên Hựu, do đó tiến vào chính phủ.

Tháng 6, ngày Kỷ Sửu, phụ thờ thần chủ Khâm Thành Hoàng hậu vào Thái miếu.

Ngày Tân Mão, Tả Tư gián Vương Năng Phủ nói: "Tăng Thành nhà giàu tiền của, bị gọi là Thanh tiền học sĩ, xin bãi chức sử quan của hắn." Tả Chánh Ngôn Ngô Tài nói: "Sử quan Vương Phòng, thời Nguyên Phong bị lặc đình, lại vì Khán Tường Tố Lý mà mắc tội, lại không có xuất thân, nên bãi." Ngày ấy, Tăng Bố một mình vào chầu, nói: "Ngô Tài vin dẫn Lữ Huệ Khanh, Kiển Tự Thần v.v., nghị luận không thắng; Vương Năng Phủ là con rể Ngô An Trì, gần đây An Trì bị truy tước chức danh; đều ôm tư oán, nên lấy đó công kích Tăng Thành, Vương Phòng, muốn làm tổn thương thần mà thôi." Hoàng đế nói: "Việc ấy trách ở Thái Kinh, không can đến khanh." Tăng Bố nói: "Thần cũng biết 2 người này là do Thái Kinh tiến cử, nhưng môn hạ sĩ của thần bị ngôn lộ công kích, thì người ta cho rằng thần tất dao động. Tiểu nhân dụng ý như thế, thần thật không yên. Khi người Nguyên Hựu đầy triều, thần một thân làm địch với mọi người, lúc ấy giúp thần chỉ có 3–4 người này. Nay đảng Nguyên Hựu vừa đi, mà người nói lại muốn xua đuổi hạng này, ấy là báo oán cho người Nguyên Hựu." Hoàng đế giật mình. Tăng Bố nhân nói: "Trương Thương Anh cũng là môn hạ sĩ của Chương Đôn, Vương Vị Chi là con rể hắn; lúc nghị luận, phần nhiều so với Chương Đôn, nên Trương Thương Anh hết sức xưng dẫn Phạm Trí Hư và Ngô Tài, là vì chí hướng cùng nhau. Nếu có điều trình bày, nguyện bệ hạ xét kỹ."

Ngày Nhâm Thìn, giảm tội tù ở Tây Kinh, Hà Dương, Trịnh châu 1 bậc; dân vì việc Sơn lăng mà đi dịch, thì miễn thuế của họ.

Liêu chúa vì mưa mà thôi săn, đóng ở Tán Thủy Nguyên.

Ngày Quý Mão, xuống chiếu: "Lục Tào Thượng thư có việc tâu bày, cho phép một mình lên điện."

Ngày Đinh Mùi, Nam Viện Đại Vương Thận Gia Nỗ của nước Liêu xin trí sĩ.

Ngày Kỷ Dậu, sao Thái Bạch ban ngày hiện.

Ngày Nhâm Tý, đổi Du châu làm Cung châu.

Ngày Quý Sửu, xuống chiếu phỏng theo “Đường Lục Điển” mà tu quan chế do Thần Tông định.

Phong Bá Di làm Thanh Huệ hầu, Thúc Tề làm Nhân Huệ hầu.

Tháng nhuận, ngày Giáp Dần mùng 1, đổi tên điện thờ thần ngự Triết Tông là Trọng Quang.

Ngày Kỷ Mùi, lấy Lữ Huệ Khanh đang làm Đề cử Đỗng Tiêu Cung làm Quan Văn Điện Học Sĩ, tri Hàng châu, chẳng bao lâu đổi Dương châu.

Ngày Canh Thân, nước Liêu sách thí Hiền lương. Lễ Bộ Lang trung Lưu Huy đối sách, nhiều trúng bệnh thời, được thăng làm Sử Quán Tu soạn. Lưu Huy giỏi làm văn, thưa giản mà có viễn lược, đương thời khen là được người. Chưa kịp yết kiến, đã mất.

Ngày Tân Dậu, Điện trung Thị Ngự sử Tiền Dật tâu rằng: "Thượng thư Hữu bộc xạ Tăng Bố, sức viện gian đảng Nguyên Hựu, chia đặt vào đường then chốt; ngầm đẩy trung hiền Thiệu Thánh, xa ném nơi tản địa. Xách kéo thông gia, vội ban mỹ quan; kéo dẫn hạng khinh phù, trộm cắp danh khí. Con rể yêu giao thông với gần tập; các con kết giao với sĩ thân; người đến cầu xin tụ như nan xe ở cửa; của đút lót ngày đầy nhà riêng; hít thở liền thành họa phúc; vui giận chợt đổi nóng lạnh. Móc kéo lời hư của người Tề, muốn phá tín sử Thiệu Thánh; cong theo thuyết sai của Pháp gia, khinh đổi điển hình truyền đời. Làm bề tôi không trung, không gì lớn hơn thế. Huống chi nhật thực, địa chấn, tinh biến, hạn tai, há là thường độ của thịnh thời có sai, mà chính do bậc cầm quyền không công mà vời đến. Xin sớm chính điển hình, để yên lòng trông của trong ngoài." Vì thế Tăng Bố liền dâng chương xin tội.

Ngày Nhâm Tuất, có chiếu cho Tăng Bố làm Quan Văn Điện Đại học sĩ, tri Nhuận châu.

Tăng Bố vào cuối Nguyên Phù, muốn đem Nguyên Hựu kiêm Thiệu Thánh mà thi hành, nên sức bài Thái Kinh, đuổi ra. Đến đầu Sùng Nịnh, biết ý Hoàng đế có chỗ hướng, lại muốn sức bài Hàn Trung Ngạn để chuyên chính. Chẳng bao lâu, Thái Kinh đã làm Hữu thừa, rất bất đồng với Tăng Bố. Gặp lúc Tăng Bố định dùng Trần Hựu Phủ làm Hộ bộ Thị lang, Thái Kinh ở trước sập tâu rằng: "Tước lộc là tước lộc của bệ hạ, sao lại để Tể tướng tư cho người thân!" Con rể Tăng Bố là Trần Địch, là con của Trần Hựu Phủ. Tăng Bố phẫn nhiên tranh biện, lâu rồi, tiếng sắc hơi gắt; Ôn Ích quát: "Tăng Bố, trước mặt sao được thất lễ!" Hoàng đế không vui mà bãi. Ngự sử bèn công kích, nói: "Tăng Bố cùng Hàn Trung Ngạn, Lý Thanh Thần giao thông làm tư, khiến con rể Ngô Tắc Lễ, cháu rể Cao Mậu Hoa qua lại bàn tính, cùng thành đảng Nguyên Hựu. Đến khi lên ngôi Tể tướng, lại cùng Lý Thanh Thần chia giao lìa đảng, ngày đêm tranh thắng, bèn nắm quyền thiên hạ, đều quy về mình, mà lòng oán vọng phóng túng. Nên chưa đến nửa tháng, trước bãi Thị Dịch, người trong ngoài trông gió mà theo chỉ, lời bàn biến pháp theo nhau mà đến. Vì thế Phạm Thuần Túy xin đặt nha tiền, để hại phép miễn dịch của Thần Tông; Lý Di Hành xin phục thi phú, để hại kinh thuật của Thần Tông. Lại sức dẫn Vương Cổ làm Hộ Bộ Thượng thư, Vương Địch làm Ngự sử Trung thừa; 2 người ấy là đảng Nguyên Hựu, mà dùng để nắm quyền khai hợp liễm tán, định luận thị phi khả phủ, há chẳng phải phá hoại pháp độ của Thần Tông sao!" Vì thế lại có chiếu cho Tăng Bố lạc chức, làm Đề cử Minh Đạo Cung, cư trú Thái Bình châu.

Lấy Hình Bộ Thị lang Trương Thương Anh làm Hàn lâm học sĩ.

Ngày Giáp Tý, xuống chiếu: "Quan châu huyện các lộ có trị tích nổi bật nhất, lệnh Lưỡng ti, soái thần mỗi bên cử 1 người."

Ngày Bính Dần, Bảo Văn Các Đãi chế, tri Hàng châu Trâu Hạo, đổi làm tri Việt châu.

Ngày Tân Mùi, xuống chiếu rằng: "Trẫm ngưỡng nghĩ Triết Tông Hoàng đế, vào cuối niên hiệu Nguyên Phù, sinh ra Việt vương; kẻ gian tạo điều sai trái, nói rằng không phải do Hoàng hậu sinh ra. Gần đây xem các tờ sớ cũ của chư liêu, vừa thấy chương kêu bày của Tiêu Phòng, lại đem xét khảo tường tận, thảy đều có chứng cứ rõ ràng. Khi ấy, hai cung đích thân đến trông nom vỗ về, các tần ngự và người chấp sự đứng ở bên; cớ sao người ngoài lại có thể vào cấm cung giết mẹ đoạt con, thực là điều không có gốc. Là em của người, nối ngôi kế tự, thừa kế tông miếu, há lại để bọn bề tôi giặc chỉ cầu tiếng tăm, lại làm hại thêm đại nghĩa bạn bè hòa mục kính nhường. Phỉ báng vu cáo, lừa dối dối trá, tội không gì lớn hơn! Trâu Hạo (鄒浩) có thể cho thi hành lại việc giáng truất trách phạt, để răn kẻ làm bề tôi mà không trung. Lại kiểm hội tờ tấu trát tử nguyên của Trâu Hạo (鄒浩), cùng chương kêu bày của Nguyên Phù Hoàng hậu, tuyên thị cho trong ngoài biết."

Ban đầu, Trâu Hạo (鄒浩) vì can gián việc lập Hoàng hậu mà bị giáng, chương sớ bị giữ lại trong cung, không ban xuống. Cuối năm Nguyên Phù, trở về triều, vào yết kiến, Hoàng đế trước hết nhắc đến việc can gián lập Hoàng hậu, khen ngợi than thưởng mấy lần, hỏi: "Bản thảo lời can gián ở đâu?" Đáp rằng: "Đốt rồi." Lui ra, nói với Trần Quán (陳瓘); Trần Quán (陳瓘) nói: "Họa chắc ở chỗ này chăng! Ngày khác kẻ gian bừa bãi đem ra một phong thư, thì không thể biện bạch được." Đến khi Thái Kinh (蔡京) cầm quyền, kiêng ghét Trâu Hạo (鄒浩), muốn gạt bỏ, quả sai đảng của hắn giả làm tấu của Trâu Hạo (鄒浩), nói rằng Lưu hậu giết Trác thị mà đoạt con của bà, lại có nhiều lời cuồng vọng chỉ trích; lại giả làm biểu của Nguyên Phù Hoàng hậu dâng lên Hoàng thái hậu, truyền rải trong ngoài. Hoàng đế thấy, giận dữ, bèn xuống chiếu trị tội Trâu Hạo, giáng làm Biệt giá Hành châu, an trí ở Vĩnh châu. Thái Kinh (蔡京) lại sai đảng của hắn soạn tạ biểu cho Nguyên Phù Hoàng hậu dâng lên, chiếu bảo đều đưa cho Sử quan.

Trâu Hạo (鄒浩) lúc mới được bổ chức gián quan, vào thưa với mẹ là Trương thị rằng: "Kẻ có trách nhiệm nói thẳng thì không thể im lặng, e hoặc vì thế mà để cha mẹ lo." Mẹ nói: "Mày có thể báo quốc, tao còn lo gì nữa!" Đến khi Trâu Hạo (鄒浩) 2 lần bị đày trách, mẹ ông vẫn không đổi ý ban đầu, người đời gọi là hiền.

Ngày Nhâm Thân, nước Liêu giáng Huệ Phi Tiêu thị làm thứ nhân, giam ở Nghi châu; các em trai đều bị tịch thu đưa vào Hưng Thánh cung.

Nước Liêu đang trị đảng của Da Luật Y Tốn (耶律伊遜); kẻ đầu sỏ đã nhờ hối lộ mà được miễn, mà sự liên lụy lan kéo lại chuyển sang đến kẻ vô tội. Ngự sử tri tạp sự Tả Xí Cung vì họ mà biện tích nỗi oan; Cảnh tuần sứ Mã Nhân Vọng vâng mệnh xét hỏi, xử bằng lòng công bình, người được cứu sống rất nhiều.

Ngày Mậu Dần, Tri Giang Ninh Phủ Đặng Hựu Phủ xin lấy từ đường Vương An Thạch do phủ học dựng, ghi vào điển tế tự; theo đó.

Ngày Nhâm Ngọ, truy giáng Lý Thanh Thần (李清臣) làm Vũ An quân Tiết độ phó sứ.

Ngày Quý Mùi, xuống chiếu: "Giám tư, soái thần, đối với trong bản lộ, từ tiểu sứ thần trở lên và trong các quan thân dân, ai có trí mưu dũng lược có thể làm tướng soái, mỗi người hãy tiến cử 1 người."

  1. chỉ người cha, ở đây là Phạm Trọng Yêm